Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

bai tieu luan Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.7 KB, 24 trang )

Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Vấn đề con người đã được đặt ra từ rất sớm. Lịch sử loài người là lịch sử
tiếp cận vấn đề con người. Vì lẽ đó, nhiều quan điểm cho rằng, vấn đề con
người không phải là vấn đề mới mẻ. Không đúng! Vấn đề con người còn là vấn
đề lớn hay không, không phải được xem dét dưới góc nhìn thời gian mà phải
tiếp cận nó từ góc nhìn bản chất. Như vậy vấn đề con người có vẻ củ, nhưng nó
lại luôn mới mẻ, luôn có vấn đề phải nói rằng, nó là vấn đề của mọi vấn đề.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
vấn đề xây dựng con người trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện
nay” cho bài tiểu luận nhằm góp phần hệ thống lại những quan niệm về con
người trong lịch sử triết học. Đồng thời, thấy được tầm quan trọng của chiến
lược con người của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Bố cục bài tiểu luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận trong quan niệm của Hồ Chí Minh về vấn đề
con người.
Chương 2: Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người và vấn đề xây
dựng con người trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện
nay.

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 1


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

B. PHẦN NỘI DUNG.
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ


VẤN ĐỀ CON NGƯỜI.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp nói: “Trong lịch sử tư tưởng nhân loại từ xưa
đến nay, đã có nhiều học thuyết, tư tưởng đề cập đến số phận con người, phản
ánh tâm tư, nguyện vọng của con người muốn được giải tỏa khỏi những bế tắc
trong cuộc sống, giải thoát khỏi những hạn chế ràng buộc của tự nhiên, xã hội
và của bản thân con người. Đó chính là tư tưởng nhân văn, nhân đạo được thể
hiện ở những mức độ, trình độ khác nhau, tiếp cận từ những giác độ khác
nhau”.
Như vậy để có được quan niệm khoa học về con người trong thời đại Hồ
Chí Minh, lịch sử đã từng tiếp cận vấn đề con người bằng những phương pháp
khác nhau.
1. Một số quan điểm phi mácxit về vấn đề con người.
1.1. Quan điểm về con người trong triết học Phương Đông.
Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử
triết học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất của
con người? Mối quan hệ giữa con người với thế giới? Con người có thể làm gì
để giải phóng mình, đạt tới tự do?...Đây cũng chính là quan điểm nhân sinh
quan – một nội dung cấu thành thế giới quan triết học.
Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này
hay vấn đề khác. Đồng thời, tùy theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường
phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác
nhau trong việc lý giải về con người. Mặt khác trong khi giải quyết những vấn
đề trên, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 2


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh


trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau: Duy vật hoặc duy tâm, biện
chứng hoặc siêu hình…
Trong nền Triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm
cổ - trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu.
Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ
giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản
tính con người Thiện (Nho gia) và bản tính con người là Bất Thiện (Pháp gia).
Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão Tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải
quyết vấn đề bản tính con người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính Tự
Nhiên của con người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận
khác nhau về bản tính con người là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác
nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan
điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ.
Khác với Triết học Trung Hoa, các nhà tư tưởng của các trường phái Triết
học Ấn Độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác,
giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu
hình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan. Kết luận về bản tính vô ngã, vô
thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự giác ngộ
là một trong những kết luận độc đáo của Triết học Đạo Phật.
1.2. Quan điểm về con người trong triết học Phương Tây.
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học Phương Tây từ cổ đại Hy Lạp trải
qua giai đoạn Trung cổ, Phục Hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triết học
về con người vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt.
Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết
học về con người trong nền Triết học Phương Tây có nhiều điểm khác với nền
Triết học Phương Đông. Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học
duy vật đã lựa chọn giác độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con người
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 3



Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

và các vấn đề khác có liên quan. Ngay từ thời Cổ đại, các nhà Triết học duy vật
đã từng đưa ra quan niệm về bản chất vật chất tự nhiên của con người, coi con
người cũng như vạn vật trong giới tự nhiên không có gì thần bí, đều được cấu
tạo nên từ vật chất. Tiêu biểu là quan điểm của Đeemcrit về bản tính vật chất
nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn của con người. Đây cũng là tiền đề
phương pháp luận của quan điểm nhân sinh theo đường lối Êpiquya…
Chủ nghĩa duy vật siêu hình quan niệm: Con người là một sinh vật, cái
giá trị nhất ở con người là cái sinh vật, bản chất người là bản chất sinh vật. Còn
những cái như tư tưởng, tình cảm, ước mơ, hoài bão… chỉ là thứ trừu tượng,
mơ hồ…không có giá trị hiện sinh. Với quan niệm coi bản chất con người là
sinh vật, chủ nghĩa duy vật siêu hình về con người đẩy tới việc giải quyết vấn
đề con người chỉ là sự thỏa mãn về nhu cầu vật chất, nhu cầu sinh vật của con
người, kích thích con người lao vào cuộc sống vật chất tầm thường, đẩy một bộ
phận người chạy theo lối “sống gấp” – lối sống theo nhịp điệu hối hả, tranh thủ,
gấp gáp, sống nhanh lên vượt lên thời gian, vượt ra không gian, sống ích kỷ,
sống chỉ biết mình, không biết đến đồng loại…
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng: Con người là một thực thể linh hồn, cái giá
trị lớn nhất ở con người là phần hồn, phần hồn là cái sống mãi, cái vĩnh hằng,
còn phần xác là cái gì ngắn ngủi thoáng qua, nó rồi cũng nhanh chóng ra đi –
trở về với cát bụi. Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của Platon
thời Cổ đại Hy Lạp, Đêcactơ trong nền triết học Pháp thời Cận đại và Heeghen
trong nền triết học Cổ điển Đức. Do không đứng trên lập trường duy vật, các
nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự
nhiên. Với Platon, đó là bản tính bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt
đối, với Đêcactơ, đó là bản tính phi kinh nghiệm (apriori) của lý tính, còn với
Hêghen, thì đó chính là bản chất lý tính tuyệt đối…


HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 4


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Quan niệm duy tâm về con người đã ảnh hưởng đến một bộ phận không
nhỏ, khiến họ khước từ cuộc sống hiện thực, một cuộc sống phải sản xuất, đấu
tranh để tồn tại vì hạnh phúc con người, để hướng về một thế giới hư vô, phó
thác cuộc đời cho số phận.
Cả hai cách tiếp cận trên về con người đều dẫn đến chủ nghĩa cực đoan
về con người. Họ đã từ tuyệt đối hóa đền thần bí hóa mặt tinh thần của con
người, hạ thấp mặt sinh học (phần xác) và ngược lại, không thấy được con
người là một thể thống nhất giữa mặt vật chất và tinh thần.
Trong nền triết học Phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coi
những vấn đề triết học về con người là trung tâm của những suy tư triết học mà
tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrot.
Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài macxit còn có
một hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề
triết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan
điểm trừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong
lý giải nhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải
phóng con người. Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt quan bởi quan
niệm duy vật biện chứng của Triết học Mác – Lênin về con người.
2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về con người.
- Con người là gì?
Triết học Mác đã kế thừa quan điểm về con người trong lịch sử triết học
và đã đi tới một quan niệm toàn diện về con người: con người vừa là một thực

thể tự nhiên nhưng đồng thời cũng vừa là một thực thể xã hội; hai phương diện
tự nhiên và xã hội tồn tại trong tính thống nhất với nhau, quy định lẫn nhau tạo
thành cơ sở hiện thực cho sự tồn tại của mỗi con người với tư cách là người.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là giới tự
nhiên. Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 5


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu
tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói: giới tự nhiên là “thân
thể vô cơ của con người”; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của
quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố
duy nhất quy định bản chất của con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt
giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó. Trong lịch sử
đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con
người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”,
hoặc con người động vật có tư duy…Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ
vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà
chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề
con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. “Có thể phân biệt con
người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng
được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con
người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước

tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật
chất của mình”.
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải
biến giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì
tái sản ra toàn bộ giới tự nhiên”.
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;
hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con
người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 6


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn
ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định
hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá
nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển
của con người luôn luôn bị quyết đinh bởi ba hệ thống quy luật khác nhau,
nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự
phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến
dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy
luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người
như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã
hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn
chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối

quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học
và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái
sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị
tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ
giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội
trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của
con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài
vật. Nhu cầu sinh học phải được “nhân hóa” để mang giá trị văn minh con
người và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu
cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo
thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.
- Bản chất của con người?
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 7


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người
vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối
quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa
người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và
mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, Các Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”.

Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly
mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định,
sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong
điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những
giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ.
Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc,
thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con
người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa
là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con người, mặt tự
nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những
nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội. Quan niệm bản chất
con người là tổng hòa những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức
đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con
người.

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 8


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Chương II
QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
I. QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người.
Khi nói về con người, M.Gorki, nhà văn lỗi lạc của nước Nga Xô viết đã

từng thốt lên: “... Con người! Tiếng ấy thật tuyệt diệu! Tiếng ấy vang lên kiêu
hãnh và hùng tráng biết bao...” (Dưới đáy), vì thế, từ xưa đến nay, các bậc vĩ
nhân, các nhà triết học, các nhà tư tưởng, các nhà khai sáng ra các tôn giáo lớn
trên thế giới... đều vì con người, hướng về con người bằng tất cả tấm lòng yêu
thương, trân trọng. Con người đã trở thành trung tâm của mọi hoạt động nghiên
cứu. Đặc biệt, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề
con người được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, đúng bản chất của
nó hơn cả.
Vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung
tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngay khi nước ta vừa giành được độc lập sau bao năm nô lệ, Người đã khẳng
định trong tuyên ngôn Độc lập: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình
đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc”. Và thậm chí đến cuối đời, qua bản Di chúc thiêng liêng, ta cũng thấy
được tình yêu thương bao la, vô bờ ấy: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình
thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh
niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn
và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 9


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được nhìn nhận vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Tư tưởng
đó được thể hiện rõ trong lý luận của Người về cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong kháng chiến, Người nhấn mạnh là

cần phải xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, phát huy tính sáng tạo của quần
chúng nhân dân để kháng chiến và kiến quốc. Trong xây dựng xã hội chủ nghĩa,
bao giờ Người cũng coi trọng những yếu tố khách quan vì những yếu tố này
luôn gắn liền và tác động đến con người. Người khẳng định, muốn xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội trước tiên cần phải có “con người xã hội chủ
nghĩa”. Đó là những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, có phẩm chất đạo
đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”; phải nghiêm khắc
chống chủ nghĩa cá nhân và ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng “như ngọc
càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Quan niệm của Bác về con
người rất toàn diện, có cái tốt và cái xấu, do đó, theo người “phải làm cho phần
tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”.
Hồ Chí Minh luôn hướng về con người với tấm lòng yêu thương, trân
trọng. Người có niềm tin rất lớn vào con người. Ngươi đã từng nói “Hiền dữ
phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Lòng tin đó được hình
thành ở Người từ những ngày cắp sách đến trường và phát triển lên trong thời
gian bôn ba tìm đường cứu nước. Niềm tin đó càng được khẳng định khi Người
bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin vì đó chính là “con đường để giải phóng của
chúng ta”. Người đã thâm nhập vào thế giới của những con người “dưới đáy”
xã hội, tìm hiểu họ, hướng họ đến với ngày mai và cũng ở nơi đó, Người càng
hiểu sâu sắc bản chất thật sự của khẩu hiệu mị dân mà bọn thực dân đang hô
hào trên các nước thuộc địa: “Tự do, bình đẳng, bác ái”! Càng tin vào con
người, tin vào quần chúng bao nhiêu thì tình thương yêu của Người đối với họ
càng to lớn bấy nhiêu. Càng yêu dân, Người càng chăm lo đến nâng cao dân trí,
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 10


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh


chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, phát triển giáo dục vì Người từng khẳng định
rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người ước mong dân tộc ta phải
“sánh vai với các cường quốc năm châu”, đất nước đẹp giàu, nhân dân no ấm.
Chắt lọc từ tinh hoa văn hóa đông tây, được bổ sung, hoàn thiện trên nền
tảng tư tưởng về con người của Mác-Lênin và hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam,
Hồ Chí Minh cho rằng: Nhân cách, phẩm chất, năng lực của con người không
phải có sẵn mà là do tu dưỡng, rèn luyện, qua quá trình được giáo dục và tự
giáo dục. Con người cần phải làm cuộc cách mạng bản thân trước khi thực hiện
cuộc cách mạng ngoài xã hội.
Hồ Chí Minh coi con người là mục tiêu, động lực của cuộc cách mạng.
Người nói: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có những con người xã hội
chủ nghĩa” [6,303] và “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác
ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” [5,495].
Theo Người, sự thịnh suy của một quốc gia, một dân tộc phần lớn là phụ
thuộc vào nhân tố con người. Vì vậy, phát triển con người toàn diện là vấn đề có
ý nghĩa chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người từng nói: “Vì lợi ích
mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [6,222].
Tùy vào mỗi cuộc cách mạng, mỗi chế độ xã hội mà có những mẫu hình riêng
về con người toàn diện. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản của phát triển con
người toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đức và tài, trong đó đức là gốc.
Theo Người: “Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách
mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù giỏi mấy cũng không lãnh đạo
được nhân dân” [4,252]. Theo Hồ Chí Minh, con người sức có mạnh mới gánh
được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền
tảng mới hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.
2. Bản chất con người mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh:

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 11



Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Nhận thức được vai trò to lớn của con người, đặc biệc trong thời kỳ đổi
mới đang quá độ lên CNXH hiện nay, Hồ Chí Minh nhận xét: muốn xây dựng
CNXH trước hết cần có con người CNXH. Mà con người CNXH phát triển toàn
diện chính là con người có tinh thần làm chủ xã hội, có trí thức văn hoá và khoa
học, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức cách mạng, cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân.
Con người mới được đặt ra là một mục tiêu cơ bản, đồng thời là động lực của
sự nghiệp cách mạng của nhân ta ngày nay, được xây dựng cùng với xây dựng
nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là "con người Việt Nam toàn
diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý
thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn
hoá, quan hện hài hoà trong quan hệ gia đình, cộng đồng, xã hội".
Tổng hợp lại đó là những phẩm chất nhân cánh về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, trí tuệ, tài năng thể hiện sức mạnh nội lực của con người Việt Nam
ngày nay phải có trong hành động để giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng
CNXH và bảo vệ tổ quốc. Đó là con ngươì sống có lý tưởng cao đẹp và có năng
lực hoạt động biến lý tưởng thành hiện thực.Có những phẩm chất nhân cách đó,
con người chúng ta vẫn vững vàng, tự chủ thực hiện thành công nhiệm vụ trung
tâm công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN mà không
bị tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường và không bị biến chất bởi kẻ
thù thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình (tr 255, 256, xây dựng con người mới
phù hợp với sự phát triển của đất nước và thời đại, PGS.Hồ Kiêm Việt,
Nxb.CTQG).
3. Phương pháp xây dựng con người mới:
Để phát triển những phẩm chất nhân cách đó, trong toàn xã hội phải kết
hợp giáo dục hệ tư tưởng (chủ nghĩa Mác-lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường

lối của Đảng) với giáo dục lòng tự hào dân tộc và các truyền thống yêu nước,
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 12


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường, nhân nghĩa và thông minh sáng tạo,
đồng thời động viên toàn dân vươn tới tiếp cận những đỉnh cao văn minh nhân
loại, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, những giá trị văn hoá nghệ
thuật tiên tiến trên thế giới.
Đảng viên là hạt nhân trong đội ngũ cán bộ của bộ máy Nhà nước và các
tổ chức chính trị xã hội. Quan điểm "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau"
không bao giờ lỗi thời, giờ đây đang cần toàn đảng nghiêm chỉnh thực hiện để
khôi phục lại lòng tin của quần chúng, khắc phục hiện tượng dân chỉ tin đảng
nói chung, không còn nguyên vẹn niềm tin đối với những đảng viên cụ thể. Giải
pháp nêu gương trong xây dựng con người không phát huy được hiệu quả, cũng
như trong sự nghiệp cách mạng, ở chiến lược xây dựng con người, xây dựng
đảng luôn luôn giữ vai trò then chốt. (tr 265, 266, Hồ Kiếm Việt).
Bên cạnh công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên thì tư tưởng Hồ
Chí Minh cũng đề cập đến vấn đề cấp bách là phải giáo dục tư tưởng cho thanh
niên học sinh, sinh viên, đặc biệt là về chính trị. Đối với họ, chính trị đứng
ngoài cuộc sống hằng ngày, đó là công việc của chính khách, của các lãnh tụ,
của các nhà ngoại giao, của các tổ chức chính trị, các đảng phái, sự tham gia
chính trị vào công việc của họ chỉ làm rắc rối thêm các mối quan hệ.
Tóm lại, những luận điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con
người mới phù hợp với sự phát triển của đất nước là cơ sở phương pháp luận
cho thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới XHCN trong giai đoạn phát
triển mới của cách mạng nước ta.

II. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CNXH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Đảng ta đánh giá về chiến lược xây dựng con người mới:
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ
nam cho hành động, vì thế tư tưởng Hồ Chí Minh về con người thống nhất với
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 13


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

tư tưởng, quan điểm của Đảng ta. Ngày nay, khi mà cả nước đang bước vào hội
nhập sâu rộng với nền kinh tế quốc tế, để đưa đất nước “sánh vai với các cường
quốc năm châu” và để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp hiện đại thì chiến lược phát triển con người càng được chú trọng hơn
bao giờ hết, con người phải trở thành mục tiêu và động lực cho sự phát triển.
Trước mắt và cả về lâu dài ta có rất nhiều việc cần làm để thực hiện chiến lược
đó nhưng trước tiên, trong lúc này, các cấp, các ngành cần phải ra sức đẩy mạnh
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ra sức
thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; quyết tâm xây dựng
nước ta thành một xã hội thực sự công bằng, dân chủ, văn minh như Bác Hồ
từng mong muốn.
"Nghị quyết đại hội VIII và nghị quyết đại hội IX của Đảng đã khẳng
định: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người
Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh" (tr 552, 553,phát triển con người trong quan
niệm của C.Mac và Ăngghen con người cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam).
"Phát triển con người Việt Nam - đó chính là động lực, là mục tiêu nhân
văn, là nền tảng, là cơ sở lâu bền, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội mà Đảng ta đang lãnh
đạo nhân dân ta từng bước thực hiện".
"Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo
định hướng XHCN được đề ra từ đại hội VI của Đảng, giờ đây chúng ta đang
bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Định hướng phát triển như văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 14


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

thứ IX của Đảng đã một lần nữa nhấn mạnh, nhằm mục tiêu xây dựng nước ta
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có cơ sở vật chất - kỹ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất; phát huy cao độ nội lực; đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh,
có hiệu quả và bền vững; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công
nghệ, kết cấu hạ tầng...ngày càng được tăng cường, tăng trưởng kinh tế đi liền
với phát triển văn hoá, từng bước cải triện đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi
trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh;
thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, về thực
chất là phát triển con người, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho quần chúng
nhân dân lao động. Mọi sự phát triển của xã hội trong các lĩnh vưc chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội đều do con người quyết định và đều hướng về con

người, và cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn của mỗi người, mỗi gia đình trong
cộng đồng dân tộc Việt nam. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định
hướng XHCN vì mục tiêu con người đó phải lấy sự phát triến con người Việt
Nam làm thước đo chung.
Không phải cho đến nay chúng ta mới nhận thấy điều đó, mà ngay từ
những buổi đầu tiên, tiến hành sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng ta đã
nhiều lần lần khẳng định: "Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc của
con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta", chăm lo cho hạnh phúc
của mọi người, mọi nhà đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là
nhiệm vụ trung tâm. Quán triệt quan điểm đó, cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng ta đã khẳng định: "Phương hướng lớn
của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công
bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, kết hợp tốt tăng trưởng
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 15


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đới sống tinh thần, giữa đáp
ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể
và cộng đồng xã hội" (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, Nxb.Sự thật Hà Nội 1991, tr 13).
2. Thực trạng của việc thực hiện chiến lược xây dựng con người mới
của Đảng và lối sống đạo đức của người dân ta hiện nay:
2.1. Thành tựu đạt được và những hạn chế trong chiến lược xây dựng
con người mới của Đảng:
Trong chiến lược xây dựng con người của Đảng ta, mà then chốt là vấn
đề giáo dục-đào tạo, Đảng ta đã giải quyết một số vấn đề mà tại hội nghị lần thứ

sáu Ban chấp hành Trung ường khoá IX Đảng ta đã khẳng định: Qua 5 năm
thực hiện nghị quyết, nền giáo dục nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hành phổ cập trung học cơ sở ở một số
tỉnh, thành phố trình độ dân trí và chất lượng nguồn lực con người được nâng
lên, chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến bước đầu. Sự nghiệp giáo dục
ngày càng được đề cao và được toàn xã hội quan tâm.
Song bên cạnh những thành tựu đạt được, nền giáo dục nước ta còn đứng
trước nhiền khó khăn, yếu kém, nhất là về chất lượng và quản lý nhà nước về
giáo dục. Cơ cấu giáo dục còn bất hợp lý, mất cân đối, nhiều nhu cầu nhân lực
của nền kinh tế chưa được đáp ứng (kết luận của hội nghị lần thứ sáu Ban chấp
hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương khoá
VIII...Tạp chí cộng sản số 25, 2002).
Tuy nhiên, sau nhiều năm phát triển giáo dục-đào tạo ở nước ta, như nghị
quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã chỉ rõ, chưa
đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực cho công cuộc
đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Nghị quyết hội nghị đã chỉ ra 5 yếu kém (về quy mô cơ cấu,
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 16


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

về đội ngũ giáo viên, về chất lượng và hiệu quả, về kỷ cương trong giáo dục, về
thực hiện công bằng xã hội) của ngành giáo dục và đào tạo của nước ta. Số liện
thống kê xác nhận, chúng ta có hơn 10.000 giáo sư, PGS, Tiến sĩ, Thạc sĩ chiếm
2,3% tổng số lao động xã hội. Trong đó lĩnh vực khoa học công nghệ chiếm
15,4%, nhưng 67,5% của tổng số cán bộ kỹ thuật ấy lại làm việc trong lĩnh vực
phi vật chất, còn sản xuất kinh doanh chỉ chiếm 32,7% (cán bộ khoa học - kỹ

thuật cao trực tiếp làm việc trong các lĩnh vực sản xuất của Thái Lan là 58,8%,
Hàn Quốc 48%, Nhật 64,4%). Trong khi cơ cấu và phân bổ cán bộ khoa học và
công nghệ chưa cân đối, còn nhiều bất hợp lý, thì cán bộ có trình độ cao, giỏi
chỉ lại tập trung làm việc chủ yếu ở cấc cơ quan trung ương. Rõ ràng ở cơ sở và
các đơn vị sản xuất kinh doanh lại đang rất thiếu cán bộ có trình độ cao. Bộ
giáo dục và đào tạo nhận định: để có mức tăng trưởng 9-10% GDP thì tốc độ
tăng trưởng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật phải đạt từ 4-5%/năm. Trên thực
tế, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực nhưng đào tạo chuyên gia trình độ cao mới chỉ
đạt từ 2-3%/năm.
Về văn hoá, cơ bản chúng ta đã phổ cập được ở diện rộng, nhưng trình độ
chung của người lao động vẫn còn ở mức thấp, lao động có trình độ cấp 1
chiếm 12,72%, cấp 2 có hơn 40%, cấp 3 vào khoảng 30%, trung học chuyên
nghiệp 6,84%, đại học 11%.
Trong giáo dục đại học chúng ta lại chậm đổi mới về nội dung, chương
trình, phương pháp giảng dạy. Phần đông sinh viên học chay, nghe giảng thụ
động, môn nào cũng học và trả lời bài thuần tuý về mặt lý thuyết, học thuộc
lòng những quy tắc, kinh nghiệm, không có thời gian đi thực tế, suy luận, phát
triển óc sáng tạo...
2.2. Thực trạng đạo đức của cán bộ, Đảng viên và thanh niên Việt Nam
hiện nay:

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 17


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà nước ta đang
tiến hành hiện nay đang tồn tại song song hai vấn đề về lối sống đạo đức của

con người mà tiêu biểu là đội ngũ cán bộ, Đảng viên - những người chủ trì của
đất nước, đó là hai mặt tích cực và tiêu cực.
Mặt tích cực được thể hiện ở chỗ vẫn có nhiều người vẫn duy trỳ và phát
huy được phẩm chất đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, sống và làm
việc theo lý tưởng của Đảng, có lối sống văn minh, ý chí phấn đấu xây dựng
nước nhà giàu mạnh và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Bên cạnh đó tồn tại mặt trái là lối sống tiêu cực về đạo đức của một bộ
phận cán bộ, đảng viên mà hội nghị Trung ương lần thứ sáu đã nhận định: "Tình
trạng cán bộ thoái hoá, biến chất chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Trong đội
ngũ cán bộ vẫn tồn tại tình trạng trì truệ, thiếu trách nhiệm và tính chiến đấu
chưa cao". Biểu hiện của tình trạng thoái hoá khá phức tạp và đa dạng như bệnh
chuyên quyền độ đoán, không tôn trọng dân chủ, bệnh quan liêu xa rời thực
tiễn, xa rời nhân dân, bệnh xu nịnh và tâm lý cầu an hưởng lạc, không giám đấu
tranh bảo vệ cái đúng, chống cái sai, chống chủ nghĩa cá nhân, thực dụng; chủ
nghĩa địa phương hẹp hòi; lối sống xa hoa, đua đòi, thậm chí mê tín, dị
đoan...Không chỉ có vậy mà còn có: ''biểu hiện của tư tưởng sùng ngoại, tôn
sùng Chủ Nghĩa Tư Bản, chạy theo lối sống của xã hội tiêu thụ, tuyệt đối hoá
giá trị vật chất, tiền bạc ''văn hoá'' lai căng, tự ti dân tộc, thậm chí phai nhạt ý
thức giai cấp, niềm tin và lý tưởng cộng sản...đã xuất hiện một cách báo động".
Trong tất cả những vấn nạn đó phải đặc biệt quan tâm đến nạn tham nhũng, có
thể coi tham nhũng đang là quốc nạn, là vấn đề chính trị ở nước ta.
Trên đây là một số tồn đọng đang nổi cộm trong hàng ngũ cán bộ, đảng
viên - những người chủ trì trong công cuộc xây dựng đất nước ta trong thời kỳ
hiện nay, và một lực lượng cũng cần nhắc đến đó là giới trẻ, lớp thanh niên những người chủ tương lai của đất nước. Bên cạnh những thanh niên thông
HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 18


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh


minh, sáng tạo và nghị lực, biết tận dụng mọi cơ hội, mọi khả năng để vượt qua
những thử thách của cuộc sống xứng đáng là người chủ tương lai của đất nước,
thì vẫn tồn tại không ít lớp thanh niên có thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm, bi quan,
chán nản, trông chờ ỷ lại hay có những hành động mang tính cực đoan, chạy
theo lợi ích cá nhân, cơ hội, vụ lợi, chạy theo cái xấu, đua đòi, giả dối,...Thậm
trí trong lối sống thanh niên hiện nay đang tồn tại lối sống văn hoá thứ cấp: nhu
cầu, thị hiếu, năng lực, văn hoá của thanh niên chưa định hình, đang có những
biến đổi, biến động sâu sắc, phong phú và phức tạp.
Thể chất bao gồm những yếu tố cơ bản như hình dáng, tầm vóc, chiều
cao, trọng lượng...Đây là những tiêu chuẩn quan trọng đầu tiên phải có của
người cán bộ. Tại đại hội lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Sự cường tráng
về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài
sản trí tuệ và vật chất cho xã hội" (văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb.CTQG Hà Nội, 1996, tr 30).
Một tiêu chí quan trọng khác không thể thiếu của người cán bộ trong sự
nghiệp đổi mới đất nước là phải có phẩm chất tốt; đạo đức trong sáng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: đạo đức cách mạng là cái gốc rất quan trọng,
rằng: "Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài năng cũng vô dụng" (Hồ Chí
Minh toàn tập, tập 11, Nxb.CTQG Hà Nội, 2000, tr 329). Công cuộc đổi mới
toàn diện của đất nước trên mọi lĩnh vực là một sự nghiệp cách mạng, do vậy
không thể không cần đến những con người vừa có sức khoẻ, vừa có đạo đức và
tài năng.
Phát triển mặt đạo đức của người cán bộ trong sự nghiệp đổi mới là phát
huy tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì
lợi ích chung, là xây dựng lối sống lành mạnh, văn minh "cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư", là phát huy truyền thống nhân - nghĩa của dân tộc.Yêu

HVTH: Lê Đức Thọ


Trang 19


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

cầu này là đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ cán bộ, bởi có vậy, họ mới có thể
hoàn thành sứ mệnh "là người đầy tớ, công bộc của nhân dân".
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, sự
nghiệp đổi mới của chúng ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội to lớn,
nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Nếu thiếu trí thức, kém về ngoại
ngữ, không có kỹ năng phân tích, tổng kết thực tiễn, nắm bắt các vấn đề đặt ra,
và do vậy không đưa ra được những quốc sách phù hợp, kịp thời, thực hiện có
hiệu quả,...người cán bộ sẽ không theo kịp và bị thực tiễn cuộc sống vượt qua.
Việc xây dựng người cán bộ trong sự nghiệp đổi mới sẽ là phiến diện,
thiếu sót nếu chỉ chú ý phát triển về mặt thể chất, đạo đức và trí tuệ mà xem nhẹ
hoặc coi thường yêu cầu phát triển về mặt thẩm mỹ. Như chúng ta đã biết, chân
- thiện - mỹ là một chỉnh thể giá trị toàn vẹn. Điều đó có nghĩa là các mặt thể
chất, trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ trong con người luôn gắn liền với nhau. Coi
trọng sự phát triển mặt thẩm mỹ của người cán bộ mang ý nghĩa nhân văn to
lớn. Vì thế, ngay sau khi giành độc lập, Đảng ta đã chủ trương xây dựng và phát
triển một nền giáo dục toàn diện nhằm rèn luyện, bồi dưỡng cho con người Việt
Nam trên tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới
nền giáo dục nước ta nói chung và chiến lược cán bộ nói riêng càng phải coi
trọng các yếu tố đó. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH, Đảng ta khẳng định: "Cần xây dựng con người với trình độ tri thức,
đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao" (Cương lĩnh xây dựng Đảng trong
thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1991, tr 10).
Người cán bộ trong sự nghiệp đổi mới không thể thiếu yếu tố năng động
và thích nghi, đó là sự nhạy bén, linh hoạt trong mọi hoàn cảnh và điều kiện; là
sự mền dẻo trong tư duy, sáng suốt trong hành động, sắc xảo trong quan hệ, "dĩ

bất biến, ứng vạn biến" theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 20


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Ngày nay, chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, do vậy tính năng động, khả năng thích nghi cao là những yếu tố vô
cùng cần thiết đối với người cán bộ. Nếu không có những yếu tố này, người cán
bộ có thể rơi vào bị động, không làm chủ được trong mọi hoàn cảnh, tình
huống. Nhờ sự năng động, thích nghi người cán bộ sẽ tìm ra được những giải
pháp "đột phá" trong mọi hoàn cảnh có vấn đề, chẳng hạn, trong quá trình mở
cửa và hội nhập, người cán bộ giỏi có thể làm sống dạy một doanh nghiệp hay
một vùng kinh tế...
Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi người cán bộ phải có phong cách lãnh đạo.
Xây dựng phong cách lãnh đạo của người cán bộ ngày nay là hình thành, phát
triển và rèn luyện tác phong làm việc đĩnh đạo, bình tĩnh, sáng suốt, nhanh
nhạy, phương pháp làm việc khoa học, lấy hiệu quả công việc, lấy mục đích vì
nhân dân làm chuẩn giá trị. Phong cách đó đối lập với lề lối làm việc bảo thủ, trì
trệ chậm đổi mới kiểu "sáng vác ô đi, tối vác về"...Xây dựng tác phong lãnh đạo
chính là góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách người cán bộ trong thời kỳ
mới. Đó là yếu tố không thể thiếu để người cán bộ có thể hoàn thành trách
nhiệm: vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân
dân như chủ tịch Hồ chí Minh đã dạy.

HVTH: Lê Đức Thọ


Trang 21


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

KẾT LUẬN
Sự nghiệp đổi mới là một quá trình tất yếu khách quan để thúc đẩy sự
phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực. Thực tiễn của công cuộc đổi mới
trong gần hai thập kỷ qua đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng ta. Bước
vào giai đoạn mới, sự nghiệp lớn lao này đang đặt ra những yêu cầu cao hơn về
chất lượng nguồn nhân lực nói chung và lực lượng cán bộ lãnh đạo nói riêng.
Nó đòi hỏi phải có những lớp cán bộ phát triển toàn diện, đủ sức lãnh đạo và tổ
chức nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh" (văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.
CTQG, Hà Nội, 2000, tr 22) đã đề ra. Bởi vậy, chúng ta phải tiếp tục tăng
cường công tác đào tạo, bồi dưỡng trẻ hoá cán bộ; phải có sự xem xét, đánh giá,
bổ nhiệm đúng cán bộ, từng bước có chính sách thoả đáng đối với cán bộ các
cấp, nhất là ở cấp cơ sở. Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác xây
dựng cán bộ, cần phải tích cực chống bệnh quan liêu, kinh nghiệm chủ nghĩa và
giáo điều chủ nghĩa; phải gắn liền với công tác xây dưng Đảng với quá trình
đấu tranh chống tham nhũng và cuộc vận động xây dựng chỉnh đón Đảng.

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 22


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Bộ Giáo dục và Đào tạo - Giáo trình triết học - NXB Lý luận Chính trị
- Hà Nội 2006.
2- C.Mác và Ph.Ăngghen - Toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
2002 - Tập 3.
3- C.Mác và Ph.Ăngghen - Toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
2002 - Tập 20.
4- Hồ Chí Minh - Toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2000 Tập 5.
5- Hồ Chí Minh - Toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2000 Tập 8.
6- Hồ Chí Minh - Toàn tập - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2000 Tập 9.
7- La Quân Kiệt - Tu dưỡng đạo đức, tư tưởng - NXB Chính trị Quốc gia
- Hà Nội 2003.
8- Phạm Tất Dong (chủ biên)- Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt
Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
2001.
9- Phạm Minh Hạc (chủ biên) - Vấn đề con người trong sự nghiệp cộng
nghiệp hóa, hiện đại hóa - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1996.

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 23


Tiểu luận môn Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

MỤC LỤC

HVTH: Lê Đức Thọ

Trang 24




×