TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
-------------------
ĐÀM THỊ HỒNG NHUNG
NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
THỜI KÌ ĐỔI MỚI
(1986 – 2015)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THÙY LINH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành khóa luận, em đã nhận đƣợc
sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Lịch sử – Trƣờng ĐHSP Hà
Nội 2. Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của thầy cô, đặc biệt là ThS. Nguyễn Thùy
Linh – ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận. Em cũng xin
gửi lời cảm ơn tới cán bộ của thƣ viện Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2, cùng các cán
bộ thƣ viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, Bộ công thƣơng, Tổng cục thống kê đã
cung cấp cho em nhiều tài liệu có giá trị để em hoàn thành công trình này.
Là một sinh viên lần đầu tiên nghiên cứu khoa học nên khóa luận của em
còn có nhiều thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp của các
thầy cô và bạn bè để cho khóa luận của em đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Đàm Thị Hồng Nhung
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài khóa luận này là do sự cố gắng nghiên cứu, tìm
hiểu của bản thân cùng với đó là sự giúp đỡ nhiệt tình của ThS. Nguyễn Thùy
Linh.
Công trình này không bị trùng lặp với các kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác.
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Đàm Thị Hồng Nhung
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Kí hiệu
Chữ viết tắt
ACFTA
Hiệp định thƣơng mại tự do ASEAN - Trung Quốc.
ADB
Ngân hàng Phát triển châu Á.
AFTA
Khu vực thƣơng mại tự do ASEAN.
AIFTA
Hiệp định thƣơng mại tự do ASEAN - Ấn Độ.
AKFTA
Hiệp định thƣơng mại tự do ASEAN – Hàn Quốc.
APEC
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dƣơng.
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á–Âu.
BTA
Hiệp định thƣơng mại song phƣơng.
CEPT
Chƣơng trình ƣu đãi thuế quan có hiệu lực chung.
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
EU
Liên minh châu Âu.
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
GATT
Hiệp ƣớc chung về thuế quan và mậu dịch.
GDP
Tổng sản phẩm nội địa.
G20
Nhóm các nền kinh tế lớn.
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế.
NICs
Nƣớc công nghiệp mới.
ODA
Viện trợ phát triển chính thức.
SEV
Hội đồng tƣơng trợ kinh tế.
SNG
Cộng đồng các quốc gia độc lập.
TTP
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dƣơng.
WB
Ngân hàng thế giới.
WTO
Tổ chức thƣơng mại thế giới.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu................................................ 5
6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 6
7. Kết cấu của khóa luận ................................................................................ 7
NỘI DUNG ....................................................................................................... 8
Chƣơng 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGOẠI THƢƠNG
VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015 ................................................. 8
1.1. Khái quát hoạt động ngoại thƣơng Việt Nam trƣớc năm 1986 ............ 8
1.2. Bối cảnh quốc tế và Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015............... 14
1.2.1. Bối cảnh quốc tế từ năm 1986 đến năm 2015 ............................. 14
1.2.2. Bối cảnh Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015 .......................... 22
1.3. Chủ trƣơng của Đảng và chính sách của nhà nƣớc đối với ngoại
thƣơng ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015 ......................................... 27
1.3.1. Nhà nước xóa bỏ tính chất độc quyền trong kinh doanh ngoại
thương........................................................................................................ 27
1.3.2. Đổi mới trong cơ chế quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa ............... 29
1.3.3. Nhà nước đang từng bước áp dụng một số biện pháp khuyến
khích xuất khẩu ......................................................................................... 31
1.3.4. Ngoại thương Việt Nam thực hiện “đa dạng hóa mặt hàng, đa
phương hóa thị trường” ............................................................................ 31
1.3.5. Nhà nước đảm bảo tín dụng cho xuất khẩu .................................... 32
Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................ 34
Chƣơng 2. HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM TỪ NĂM
1986 ĐẾN NĂM 2015 .................................................................................... 35
2.1. Hoạt động ngoại thƣơng Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1995 ....... 35
2.1.1. Về kim ngạch xuất nhập khẩu ...................................................... 35
2.1.2. Về cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu ............................................ 39
2.1.3. Về cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu.............................................. 41
2.2. Hoạt động ngoại thƣơng Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2015 ....... 43
2.2.1. Về kim ngạch xuất nhập khẩu ......................................................... 45
2.2.2. Về cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu ............................................... 48
2.2.3. Về cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu.............................................. 54
2.3. Đặc điểm và tác động của ngoại thƣơng đến kinh tế, chính trị, xã
hội Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015 ................................................... 57
2.3.1. Đặc điểm ngoại thương Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015 ..... 57
2.3.2. Tác động của ngoại thương Việt Nam đến kinh tế, chính trị, xã
hội Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015 ................................................ 59
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................ 63
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 67
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và cán cân thƣơng mại
giai đoạn 1976 – 1985 ..................................................................... 9
Bảng 1.2. Xuất – nhập khẩu theo hai khu vực giai đoạn 1976 – 1985 .......... 11
Bảng 2.3. Cơ cấu xuất khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 1986 – 1995.... 39
Bảng 2.4. Cơ cấu nhập khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 1986 –
1995............................................................................................... 40
Bảng 2.5. Thị trƣờng xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ................................... 42
giai đọan 1986 – 1995. .................................................................................... 42
Bảng 2.6. Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa................................... 45
giai đoạn 1995 – 2015 ..................................................................................... 45
Bảng 2.7. Cơ cấu xuất khẩu phân theo nhóm hàng giai đoạn 1996 – 2000.... 49
Bảng 2.8. Tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu nhập khẩu hàng hóa .............. 52
Bảng 2.9. Cơ cấu thị trƣờng xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai
đoạn 1995 – 2015 .......................................................................... 55
Biểu đồ 2.1. Tỉ trọng của 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất năm 2015 ........ 53
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Một hệ quả quan trọng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ là vào
những năm 80 của thế kỉ XX, nhất là sau Chiến tranh lạnh, trên thế giới đã
diễn ra xu thế “toàn cầu hóa”. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng
lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hƣởng tác động lẫn nhau, phụ
thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Chính vì thế, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là xu thế tất yếu khách quan.
Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với sự phát
triển khoa học – kĩ thuật, sự phát triển nhảy vọt của lực lƣợng sản xuất do
phân công lao động quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Kinh tế thị trƣờng
là một nền kinh tế mở, do đó mỗi nƣớc cần có những mối quan hệ với thị
trƣờng thế giới, không một quốc gia nào tách khỏi thị trƣờng thế giới mà có
thể phát triển kinh tế của mình. Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam
cũng đang từng bƣớc một chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng
xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế là vấn đề quan trọng của
công cuộc đổi mới, trong đó có vấn đề ngoại thƣơng.
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xƣớng và lãnh đạo công
cuộc đổi mới, đƣa đất nƣớc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – hội, tiến vào
thời kì đẩy mạnh CNH – HĐH. Những chủ trƣơng, chính sách mới đã gợi mở,
khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất
của xã hội để mở đƣờng cho sản xuất phát triển. Từ sau khi mở cửa, cải cách
nền kinh tế Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định trên đƣờng phát
triển. Để có đƣợc kết quả đó chúng ta không thể phủ nhận đƣợc những đóng
góp của ngoại thƣơng – chiếc cầu nối giữa kinh tế Việt Nam với kinh tế thế
giới. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi xu hƣớng toàn cầu hóa và khu
vực hóa bùng nổ thì Việt Nam lại càng cần mở cửa để hòa nhập với sự phát
1
triển của quốc tế, tránh tụt hậu. Càng mở cửa, hòa nhập thì hơn bao giờ hết,
ngoại thƣơng lại càng khẳng định vị trí quan trọng của mình.
Nghiên cứu về vấn đề ngoại thƣơng Việt Nam thời kì đổi mới từ năm
1986 đến năm 2015 có ý nghĩa lý luận sâu sắc về vấn đề: thực trạng của nền
ngoại thƣơng Việt Nam trong thời kì đổi mới, cũng nhƣ những chủ trƣơng
chính sách phát triển của Đảng và Nhà nƣớc, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hƣớng CNH – HĐH, vấn đề thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, vấn đề xã
hội.
Nghiên cứu vấn đề này còn mang ý nghĩa thực tiễn làm sáng tỏ thực
trạng về vấn đề vấn đề phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam trong thời kì đổi
mới cũng nhƣ hoạt động xuất nhập khẩu và ảnh hƣởng tích cực cũng nhƣ
những mặt còn hạn chế của đối với tình hình phát triển chính trị, kinh tế, xã
hội Việt Nam.
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về ngoại thƣơng nhƣng chƣa có
công trình nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề ngoại thƣơng Việt Nam từ năm
1986 đến năm 2015 làm đối tƣợng nghiên cứu.
Xuất phát từ những ý nghĩa trên, tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề ngoại
thƣơng Việt Nam trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2015 là rất cần
thiết. Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Ngoại thương Việt Nam thời kì
đổi mới (1986 – 2015)” làm đề tài khóa luận.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sự phát triển của ngoại thƣơng Việt Nam đã thu hút đƣợc sự quan
tâm của nhiều nhà khoa học nhƣng chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế ngành.
Điều này đƣợc thể hiện qua các công trình sau:
uận án tiến sĩ khoa học kinh tế với đề tài “ ối quan hệ gi a inh tế đối
ngoại và sự tăng trư ng inh tế của Việt Nam trong điều iện nền inh tế m ”
1994 của tác giả ê Thị Minh Tâm đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn
2
của mối quan hệ giữa kinh tế đối ngoại và tăng trƣởng kinh tế. Phân tích định
tính và định lƣợng mối quan hệ đó. Đồng thời nêu lên những thuận lợi, thách
thức của kinh tế Việt Nam, qua đó đề xuất các giải pháp nh m nâng cao hiệu
quả kinh tế đối ngoại, trong đó có vấn đề ngoại thƣơng.
Cuốn sách “Quản lí kinh tế đối ngoại của Việt Nam” (2001) của tác giả
Thế Đạt (Nxb Hà Nội) đã trình bày rõ những quan điểm của Đảng cộng sản
và Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với lĩnh vực kinh tế
đối ngoại nói chung và ngoại thƣơng Việt Nam nói riêng. Đồng thời, cuốn
sách còn trình bày một cách khái quát sự phát triển của ngành ngoại thƣơng từ
năm 1945 đến năm 2000.
Tác giả Nguyễn Sinh Hùng với bài viết “Phát triển thị trường tài chính,
nâng cao hiệu quả tài chính đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”
trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam Tháng 3/2005 đã chỉ ra các giải
pháp đẩy mạnh phát triển tài chính ở nƣớc ta, đồng thời nêu ra những giải
pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của tài chính đối ngoại và chủ
động hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tác giả ê Danh Vĩnh với bài viết “Các vụ kiện thương mại và việc chủ
động phòng chống trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” trên tạp chí
Cộng sản Tháng 6/2005 đã chỉ ra những khó khăn trong lĩnh vực ngoại
thƣơng khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, đồng thời nêu ra một
số biện pháp chủ động phòng tránh các vụ kiện thƣơng mại của nƣớc ngoài.
Năm 2005, tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã xuất bản cuốn sách“Giáo trình
kinh tế đối ngoại Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2005), giáo trình cung
cấp những vấn đề về kinh tế đối ngoại Việt Nam trên cơ sở đã có những kiến
thức cơ bản về kinh tế Việt Nam; khái quát về kinh tế đối ngoại, kinh tế đối
ngoại – một bộ phận quan trọng của kinh tế Việt Nam từ năm 1954 đến nay;
Ngoại thƣơng Việt Nam; thị trƣờng ngoại hối Việt Nam; Đầu tƣ trực tiếp
3
nƣớc ngoài tại Việt Nam; Viện trợ phát triển chính thức ở Việt Nam; Hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam; Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập
kinh tế quốc tế…
Cuốn sách “Giáo trình inh tế ngoại thương” 2006 của GS, TS. Bùi
Xuân ƣu; PGS,TS. Nguyễn Hữu Khải Nxb Lao động – xã hội) đã cung cấp
những định hƣớng cơ bản về kinh tế ngoại thƣơng, ngoại thƣơng Việt Nam
qua các thời kì một cách khái quát nhất, chiến lƣợc và chính sách thƣơng mại
quốc tế của Việt Nam.
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành nhƣ
tạp chí kinh tế và phát triển, tạp chí kinh tế và dự báo, tạp chí kinh tế châu Á –
Thái Bình Dƣơng, tạp chí khoa học và xã hội, thời báo kinh tế Việt Nam, tạp
chí kinh tế đối ngoại…hay các văn kiện của Đảng lần thứ VI, VII, VIII… các
bài viết trên các trang web nhƣ gos.gov.vn, vietnamnet.vn, customs.gov.vn
đều chú trọng phân tích về những vấn đề kinh tế cũng nhƣ kim ngạch, hoạt
động buôn bán xuất nhập khẩu Việt Nam trong thời kì nhất định…
Nhìn chung, các cuốn sách cũng nhƣ những văn kiện và tạp chí nói trên
đều nêu lên các vấn đề lý luận, các khái niệm, các vấn đề chủ yếu về đối
ngoại nói chung, đồng thời cũng nêu lên các nhân tố tác động đến ngoại
thƣơng Việt Nam trong thời kì đổi mới.
Tuy nhiên, chƣa có một công trình khoa học nào đề cập hoặc nghiên cứu
về vấn đề ngoại thƣơng cũng nhƣ tác động của nó đối với sự phát triển chính
trị, kinh tế, xã hội Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015. Vì vậy, việc nghiên
cứu vấn đề “Ngoại thương Việt Nam thời kì đổi mới (1986 – 2015)” là rất
cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nêu rõ những nhân tố tác động đến
ngoại thƣơng Việt Nam thời kì đổi mới mới (1986 – 2015) rồi từ đó tìm ra thực
4
trạng của hoạt động ngoại thƣơng và tác động của nó đối với kinh tế, chính trị,
xã hội Việt Nam. Từ đó hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò của kinh tế ngoại thƣơng
nói riêng, công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày những nhân tố tác động đến ngoại thƣơng Việt Nam thời kì
đổi mới (1986 – 2015).
Phân tích tình hình ngoại thƣơng Việt Nam thời kì đổi mới (1986 –
2015. Từ đó đánh giá những tác động của ngoại thƣơng đối với kinh tế, chính
trị, xã hội Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các lĩnh vực của ngoại thƣơng Việt Nam, trong đó đặc biệt là 3 lĩnh vực
nổi bật nhất: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất nhập
khẩu và thị trƣờng xuất nhập khẩu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ngoại thƣơng Việt Nam trong phạm vi xác định là:
Về thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2015. Năm 1986, với quan điểm
nhìn thẳng vào những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng và phát
triển nền kinh tế theo cơ chế quan liêu, bao cấp. Với chủ trƣơng chuyển sang
nền kinh tế thị trƣờng, Đảng và Nhà nƣớc đã mở ra một bƣớc ngoặt quan
trọng, chuyển ngoại thƣơng theo hƣớng nền kinh tế mở, đa phƣơng hóa quan
hệ và đa dạng hóa hình thức.
Về không gian: Việt Nam và các nƣớc có mối quan hệ ngoại thƣơng.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành đƣợc khóa luận này, tôi sử dụng chủ yếu là nguồn gốc
nhƣ:
5
Nguồn tƣ liệu gốc: Các văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, các sách
niên giám thống kê qua các năm (1985 – 2015) của Tổng cục thống kê và
Tổng cục hải quan Việt Nam.
Các tài liệu tham khảo của một số các học giả về vấn đề ngoại thƣơng
nhƣ: Sách lí luận về ngoại thƣơng, các tài liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa
(1986 – 2015), các tài liệu tham khảo của các nƣớc khác về vấn đề ngoại
thƣơng.
Các tạp chí kinh tế nhƣ: Tạp chí kinh tế châu Á – Thái Bình Dƣơng, thời
báo kinh tế Việt Nam.
Các bài viết nghiên cứu về vấn đề ngoại thƣơng trên các trang web nhƣ:
gos.gov.vn, vietnamnet.vn, customs.gov.vn…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phƣơng pháp luận sử học Mácxít và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh để
xem xét, đánh giá và nhận xét các sự kiện, hiện tƣợng lịch sử đảm bảo tính
đúng đắn, khoa học, tính logic, tính hệ thống trong nghiên cứu lịch sử.
Sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp với phƣơng pháp logic, trong đó
chủ yếu là phƣơng pháp lịch sử.
Ngoài ra còn sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ: đối chiếu, thống kê, so
sánh.
6. Đóng góp của khóa luận
Về nội dung: Đề tài đã dựng đƣợc bức tranh khái quát về quá trình
chuyển biến của ngoại thƣơng Việt Nam thời đổi mới. Trong đó bao gồm cả
sự chuyển biến trong từng giai đoạn của những lĩnh vực có liên quan.
Khóa luận đã khai thác, xây dựng đƣợc một hệ thống tƣ liệu có giá trị
góp phần nghiên cứu ngoại thƣơng Việt Nam từ góc nhìn lịch sử. Kết quả
nghiên cứu của đề tài có thể phục vụ quá trình học tập, giảng dạy lịch sử Việt
Nam tại trƣờng Đại học và Trung học phổ thông và cung cấp nguồn tƣ liệu
6
tƣơng đối có hệ thống cho những ai quan tâm đến kinh tế đối ngoại Việt Nam
thời đổi mới.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết
cấu của khóa luận gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Những nhân tố tác động đến ngoại thƣơng Việt Nam từ năm
1986 đến năm 2015.
Chƣơng 2: Hoạt động ngoại thƣơng Việt Nam từ năm 1986 đến năm
2015.
7
NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015
1.1. Khái quát hoạt động ngoại thƣơng Việt Nam trƣớc năm 1986
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc, cùng với công
cuộc xây dựng kinh tế, phát triển đất nƣớc, hoạt động ở lĩnh vực ngoại thƣơng
có những thuận lợi mới. Chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác hiệu quả
tiềm năng của đất nƣớc đất đai, rừng, biển, khí hậu, tài nguyên thiên
nhiên… để đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, phát
triển ngoại thƣơng, mở rộng hợp tác kinh tế – khoa học – kĩ thuật với nƣớc
ngoài, thu hút vốn và kĩ thuật của nƣớc ngoài. Đại hội Đảng lần thứ IV 1976
đã đề ra chiến lƣợc phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam là “Phấn đấu
hoàn thành về cơ bản quá trình đưa inh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong hoảng thời gian 20 năm và chủ trương đẩy
mạnh công nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý
trên cơ s phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ” [21; tr67 – 68]. Nhƣng
bên cạnh những thuận lợi mới chúng ta lại đứng trƣớc những khó khăn đặc
biệt là những hạn chế nên hoạt động ngoại thƣơng thời kỳ này vẫn còn yếu
kém, chƣa bứt lên đƣợc. Nhập siêu vẫn là đặc trƣng cơ bản của cán cân ngoại
thƣơng suốt cả thời kỳ này khiến tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa thấp:
8
Bảng 1.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và cán cân thƣơng mại
giai đoạn 1976 – 1985
Năm
Tổng kim
ngạch xuất
nhập khẩu
1976
1977
1978
1979
1980
1981
1982
1983
1984
1985
Tổng số
1226,8
1540,9
1630,0
1846,6
1652,8
1783,4
1998,8
2143,2
2394,6
2555,9
18773,0
Kim
Kim
ngạch
ngạch
xuất khẩu nhập khẩu
222,7
322,5
326,8
320,5
326,8
401,2
526,6
606,5
649,6
698,5
4423,5
1004,1
1218,4
1303,2
1526,1
1314,2
1382,2
1472,2
1526,7
1745,0
1857,4
14349,5
Cán cân thƣơng mại
Trị giá
Tỉ lệ %
-881,4
-815,9
-976,4
-1205,6
-975,6
-981,0
-945,6
-910,2
-1095,4
-1158,9
-9926,0
22,2
28,3
25,1
21,0
25,8
29,0
35,8
40,4
37,2
37,6
30,8
(Nguồn: Niên giám thống ê qua các năm)
Bảng số liệu trên cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng dần qua các
năm, nếu nhƣ năm 1976 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là 1226,8 thì đến
năm 1985 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã lên đến 2555, 9 tăng gấp 2,1 lần.
Nhìn chung quy mô ngành ngoại thƣơng từ năm 1976 đến năm 1985 còn
tƣơng đối nhỏ bé, từ hơn 1 tỉ USD đến hơn 3 tỉ USD/năm. Trong đó, nhập
khẩu bao giờ cũng cao hơn xuất khẩu từ 4,5 lần (1976); 3,8 lần (1977); 4,0 lần
(1978); 4,8 lần (1979); 3,9 lần (1980); 3,5 lần (1981); 2,8 lần (1982); 2,5 lần
(1983); 2,7 lần (1984); 2,7 lần 1985 . Xu hƣớng chung là tỉ lệ bình quân xuất
nhập khẩu đều tăng năm sau cao hơn năm trƣớc. Tỉ lệ tăng trƣởng bình quân
trong 10 năm 1976 – 1985) của xuất khẩu cao hơn tỉ lệ tăng của tổng kim
ngạch buôn bán hai chiều và của nhập khẩu. Trong khi tỉ lệ tăng trƣởng bình
quân trong 10 năm của xuất khẩu là 13,5% thì của xuất khẩu cộng lại là
8,4%/năm và của nhập khẩu chỉ có 7%/năm.
9
Nhập siêu vẫn là đặc trƣng cơ bản, dễ nhận thấy của cán cân ngoại thƣơng
suốt cả thời kì này. Trị giá xuất khẩu tuy có tăng nhƣng trong 10 năm (1976 –
1986 nhƣng cũng chỉ đảm bảo đƣợc 30,8% tổng số tiền nhập khẩu. Cán cân
thƣơng mại quốc tế luôn nhập siêu và nhập siêu luôn có xu hƣớng tăng.
Sự yếu kém của ngoại thƣơng Việt Nam thời kì này còn thể hiện rất rõ ở
chỗ các sản phẩm xuất khẩu vừa nhỏ bé về số lƣợng, vừa đơn điệu về cơ cấu
chủng loại, chất lƣợng và bao bì. Chiếm trên 80% tổng giá trị kim ngạch xuất
khẩu vẫn là các hàng nông – lâm sản, tiểu thủ công, mỹ nghệ và khoáng sản...
nghĩa là chủ yếu vẫn là các sản phẩm thô hoặc sơ chế, các sản phẩm của công
nghiệp chế tạo, chế biến còn chiếm tỉ lệ rất thấp.
Hầu hết các loại hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống đều
phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần do sản xuất trong nƣớc không đảm bảo.
Ngoài sắt thép, xăng dầu, máy móc, thiết bị còn nhập khẩu cả hàng tiêu dùng.
Kể cả những loại hàng hóa lẽ ra sản xuất trong nƣớc có thể đáp ứng đƣợc nhƣ
lúa gạo, vải mặc. Trong những năm 1976 – 1985 đã nhập khẩu 60 triệu mét
vải các loại và gần 1,5 triệu tấn lƣơng thực quy gạo.
Chính những yếu kém này cùng những ràng buộc phiền hà của cơ chế
quản lí cũ chƣa đƣợc tháo gỡ đã khiến Việt Nam bị hạn chế nhiều trong việc
mở rộng thị trƣờng, tìm kiếm bạn hàng mới, ảnh hƣởng tiêu cực đến hoạt
động ngoại thƣơng, đặc biệt là hàng xuất khẩu và phát triển hàng xuất khẩu,
làm cho chính sách kinh tế của Việt Nam nhìn chung vẫn là dựa chủ yếu vào
sự hợp tác với các nƣớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và tăng
cƣờng hợp tác toàn diện với Liên Xô và phát triển hợp tác với các nƣớc SEV,
theo hƣớng liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đồng thời mở rộng thích đáng
quan hệ kinh tế với các nƣớc ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa. Trong toàn bộ
hoạt động kinh tế, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lƣợc của toàn Đảng, toàn
dân ta là ra sức tăng xuất khẩu để nhập khẩu.
10
Ngay từ những năm 60 chúng ta đã thiết lập đƣợc quan hệ với hơn 40
nƣớc nhƣng trên thực tế, các hoạt động thƣơng mại của Việt Nam với các
nƣớc bên ngoài chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi các nƣớc xã hội chủ
nghĩa. Xuất khẩu sang các nƣớc này thƣờng xuyên chiếm hơn 70% tổng kim
ngạch xuất khẩu và nhập khẩu từ các nƣớc này cũng thƣờng xuyên chiếm trên
80% tổng kim ngạch nhập khẩu. Về quan hệ hợp tác với các nƣớc ngoài xã
hội chủ nghĩa, Việt Nam tăng cƣờng quan hệ kinh tế – thƣơng mại với một số
nƣớc tƣ bản chủ nghĩa và các nƣớc đang phát triển nhƣ: Nhật Bản, Pháp, Đức,
Thụy Điển, Ấn Độ, Đài oan, Hồng Kông, Thái an, Singapore… nhờ đó tỉ
trọng kim ngạch xuất khẩu sang các nƣớc này trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Việt Nam đã tăng đến 39,1% năm 1985
và 46,8% 1986 , trong đó Nhật
Bản là một trong năm bạn hàng lớn nhất của Việt Nam.
Bảng 1.2. Xuất – nhập khẩu theo hai khu vực giai đoạn 1976 – 1985
Khu vực I – Các nƣớc XHCN
Khu vực II – Các nƣớc TBCN
và các nƣớc đang phát triển
Xuất
Nhập
Cán cân
Xuất
Nhập
Cán cân
khẩu
khẩu
ngoại thƣơng
khẩu
khẩu
ngoại thƣơng
1976
132,9
557,5
-414,6
89,8
446,6
-356,8
1977
221,2
505,5
-284,3
101,3
712,9
-611,8
1978
246,7
518,2
-271,5
80,1
785,0
-704,9
1979
235,0
797,8
-562,8
85,5
728,3
-642,8
1980
225,0
455,1
-529,2
112,7
559,1
-446,4
1981
235,0
947,8
-712,2
164,6
434,4
-268,8
1982
337,1
1087,9
-750,8
189,5
384,3
-194,8
1983
381,3
1140,5
-579,2
235,2
386,2
-151,0
1984
407,9
1232,6
-824,7
241,7
512,4
-270,7
1985
425,8
1408,1
-982,3
272,7
449,3
-176,5
Năm
(Nguồn: Niên giám thống kê qua các năm; Đơn vị: triệu Rúp – USD)
11
Nhìn chung, trong quan hệ xuất – nhập khẩu với 2 khu vực, khu vực I
vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thời kỳ này. Với khu vực II, tuy tỷ trọng còn
thấp nhƣng phản ánh những tín hiệu tốt hơn cho quan hệ ngoại thƣơng Việt
Nam do trong thời kì này nƣớc ta đang bị các nƣớc phƣơng Tây thực hiện bao
vây cấm vận kinh tế. Với khu vực I, kim ngạch xuất nhập khẩu có gia tăng
đều qua các năm nhƣng theo chiều hƣớng xấu, đó là sự gia tăng tuyệt đối của
kim ngạch nhập khẩu hơn rất nhiều so với kim ngạch xuất khẩu. Nếu nhƣ năm
1976 tỉ lệ nhập khẩu là 557,5 triệu Rúp – USD thì đến năm 1985 đã lên đến
1408,1 triệu Rúp – USD tăng 2,5 lần, còn giá trị xuất khẩu nếu nhƣ năm
1976 là 132,9 triệu Rúp – USD thì đến năm 1985 đã là 425,8 triệu Rúp –
USD tăng 3,2 lần. Còn với khu vực II kim ngạch xuất nhập khẩu cũng gia
tăng nhƣng phản ánh ở mức tăng lên của kim ngạch xuất khẩu, còn kim ngạch
nhập khẩu tƣơng đối ổn định qua các năm. Vì vậy, thâm hụt cán cân ngoại
thƣơng của khu vực này ngày càng giảm, từ chỗ thâm hụt 356,8 triệu Rúp –
USD năm 1976 xuống còn 176,6 triệu Rúp – USD năm 1985.
Thời kì này chúng ta cũng đã ký đƣợc nhiều hiệp định buôn bán song
phƣơng mới, tạo điều kiện để đến năm 1985 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
2555,9 triệu Rúp – Dollar, tăng gấp 2 lần so với 1975 và có tốc độ tăng
trƣởng bình quân hơn 8%/năm. Một mốc đáng kể của quá trình tham gia liên
kết kinh tế quốc tế của Việt Nam là việc Việt Nam tham gia Hội đồng tƣơng
trợ kinh tế SEV (tháng 6/1978). Tham gia vào tổ chức kinh tế thế giới này của
phe xã hội chủ nghĩa càng thể hiện sự hợp tác toàn diện và sâu rộng trong tất
cả các lĩnh vực của Việt Nam với các nƣớc trong phe xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, hiệu quả của việc nƣớc ta tham gia khối SEV rất hạn chế, vì chức năng
trao đổi hàng hoá giữa các thành viên của nó chủ yếu thông qua hình thức
hàng đổi hàng và quyết toán ghi sổ chứ không căn cứ trên các nguyên tắc của
thị trƣờng. Khối SEV không có ngân sách riêng để tài trợ cho các dự án và
12
chƣơng trình hợp tác mà hoàn toàn phụ thuộc vào cơ chế “xin – cho” song
phƣơng. Các quyết định và “luật chơi” trong khối SEV chủ yếu mang nặng
tính chủ quan và phục vụ cho mục đích chính trị, đặc biệt là sự ganh đua giữa
Liên Xô và Mỹ. Và trụ cột của khối SEV là Liên Xô, song bản thân Liên Xô
cũng bị hạn chế rất nhiều, gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, đặc biệt từ năm
1970 trở đi, nên không thể hỗ trợ đƣợc nhiều cho các hoạt động của khối
SEV.
Sau khi thống nhất, nƣớc ta đã kế thừa địa vị thành viên của chế độ Sài
Gòn cũ tại Ngân hàng Thế giới (WB) từ tháng 8/1976 và Quỹ tiền tệ Thế giới
(IMF) từ tháng 9/1976. Tháng 9/1977, Việt Nam trở thành thành viên chính
thức của Liên hợp quốc. Liên hợp quốc đã kêu gọi các thành viên của tổ chức
này giúp đỡ Việt Nam, nhờ vậy Việt Nam đã nhận đƣợc từ các quỹ trong hệ
thống phát triển của Liên hợp quốc khoản vốn ODA không hoàn lại khoảng
500 triệu USD. Nhờ có khoản vốn hết sức quý báu này trong điều kiện chúng ta
bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, chúng ta đã sử dụng nó để thực
hiện một số chƣơng trình hợp tác viện trợ và đào tạo, giúp chúng ta có thể tiếp
cận đƣợc với tri thức và công nghệ hiện đại, tiên tiến, đào tạo một cách cơ bản
đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý. Đây chính là những tiền đề hết sức quan
trọng chuẩn bị cho nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
mạnh mẽ trong thời kỳ tiếp theo.
Tóm chung lại ta thấy, ngoại thƣơng Việt Nam giai đoạn trƣớc 1986 còn
rất nhỏ bé, hạn chế... Những hạn chế này phần nào có cả những nguyên nhân
khách quan gây ra, nhƣng phần không nhỏ là bởi do đƣơng lối, chính sách của
Chính phủ Việt Nam còn nhiều vƣớng mắc, sai trái. Điều này lý giải tại sao
sau 10 năm kể từ khi thống nhất đất nƣớc (1976), mặc dù các điều kiện trong
nƣớc cũng nhƣ quốc tế đã có nhiều thuận lợi cho Việt Nam phát triển kinh tế
đối ngoại đặc biệt là ngoaị thƣơng, nhƣng hoạt động ngoại thƣơng của nƣớc
13
ta vẫn còn lần chần, chƣa có bƣớc tiến nào đáng kể. Cho đến năm 1985 Việt
Nam đạt đƣợc kim ngạch xuất khẩu cao nhất so với các năm trƣớc đó nhƣng
cũng chỉ đến con số xấp xỉ 700 triệu Rúp – USD. Nếu so với các nƣớc khác,
giá trị kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu ngƣời của Việt Nam năm này là
khoảng 12 Rúp – USD, thuộc vào loại thấp nhất thế giới. Giai đoạn 1975 –
1986 Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực và cố gắng đẩy mạnh các hoạt động
kinh tế quốc tế với tƣ cách là một quốc gia độc lập, thống nhất và có chủ
quyền, song những nỗ lực và cố gắng này không đạt đƣợc những kết quả
mong đợi, thậm chí nó không đủ lực để ngăn nổi chiều hƣớng suy thoái,
khủng hoảng của nền kinh tế nƣớc ta do tác động của việc duy trì quá lâu cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, sự mở rộng và kéo dài cuộc Chiến
tranh lạnh ở bán đảo Đông Dƣơng.
1.2. Bối cảnh quốc tế và Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2015
1.2.1. Bối cảnh quốc tế từ năm 1986 đến năm 2015
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn đến những chuyển biến căn
bản về tình hình quốc tế. Một trật tự thế giới mới đã đƣợc hình thành với đặc
trƣng lớn nhất là thế giới chia thành hai phe: Phe tƣ bản chủ nghĩa và phe xã
hội chủ nghĩa do hai siêu cƣờng Mỹ và iên Xô đứng đầu mỗi phe. Lúc này
những rạn nứt trong quan hệ Xô – Mỹ ngày lớn, đặc biệt là trong vấn đề Đông
Âu. Với ảnh hƣởng và sự giúp đỡ của Liên Xô, hàng loạt các nƣớc Đông Âu
đã thực hiện những cải cách tiến bộ, trở thành những nƣớc dân chủ nhân dân.
Trong khi đó Mỹ tìm mọi cách ngăn cản quá trình cách mạng ở Đông Âu,
ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và thực hiện mƣu đồ bá chủ thế
giới. Chính vì thế sau khi Tổng thống Roosevelt qua đời, H.Truman lên làm
Tổng thống đã bắt đầu thực hiện chính sách cứng rắn với Liên Xô b ng các
phát động Chiến tranh lạnh. Chiến tranh lạnh làm cho cuộc chạy đua vũ trang
giữa hai cực Xô – Mỹ, hai khối Đông Tây bắt đầu từ thập niên 50 lên đến
14
đỉnh cao vào thập niên 70 với việc tăng cƣờng ngân sách quốc phòng, củng cố
khả năng phòng thủ tối đa của mình. Tuy nhiên sang đến những năm 80 đặc
biệt là từ nửa sau những năm 80 của thế kỉ 20, tình hình thế giới có sự chuyển
biến mạnh mẽ, tác động tới tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự chuyển biến
đó bao gồm:
Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ có bƣớc phát triển
nhảy vọt và đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn.
Từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học – công
nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi măt đời sống của
các quốc gia, dân tộc. Bắt đầu từ những năm 40 của thế kỉ XX, khởi đầu từ
nƣớc Mỹ. cũng nhƣ cách mạng công nghiệp ở thế kỉ XVIII – XIX, cuộc cách
mạng khoa học – kĩ thuật ngày nay diễn ra là do những đòi hỏi của cuộc sống,
của sản xuất nh m đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của
con ngƣời,nhất là trong tình hình bùng nổ dân số thế giới và sự vơi cạn
nghiêm trọng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt từ sau Chiến
tranh thế giới thứ hai.
Đặc điểm lớn nhất của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật ngày nay là
khoa học trở thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp. Khoa học gắn liền với kĩ
thuật, khoa học đi trƣớc mở đƣờng cho kĩ thuật. Đến lƣợt mình, kĩ thuật lại đi
trƣớc mở đƣờng cho sản xuất. Khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, đã
trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ. Với quy
mô rộng lớn, nội dung sâu sắc và toàn diện, nhịp điệu vô cùng nhanh chóng,
cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã đƣa lại biết bao thành tựu kì diệu và
những thay đổi to lớn trong đời sống nhân loại. Nền văn minh thế giới có
những bƣớc nhảy vọt lớn. Các nƣớc làm chủ đƣợc khoa học – công nghệ tiên
tiến phát triển nhanh chóng, làm cho khoảng cách giàu nghèo giữa các nƣớc
ngày càng tăng.
15
Chính cuộc cách mạng khoa học và công nghệ này cũng đã làm cho nền
kinh tế thế giới ngày càng đƣợc quốc tế hóa cao. Đứng trƣớc tình hình đó bất
cứ một quốc gia nào cũng không thể thoát li nền kinh tế chung của thế giới.
Các nƣớc phải thay đổi để phù hợp với tình hình mới, mỗi nƣớc có sự điều
chỉnh khác nhau:
Các nƣớc phát triển tập trung đầu tƣ các ngành kinh tế có hàm lƣợng kĩ
thuật cao, có nhu cầu chuyển giao vốn và công nghệ, điều tiết kinh tế b ng chính
sách thuế khóa và tiền tệ, đồng thời thực hiện tƣ nhân hóa kinh tế nhà nƣớc.
Các nƣớc đang phát triển liên tục cải cách cơ cấu cả kinh tế và xã hội,
lựa chọn chiến lƣợc xuất khẩu, nâng cao trình độ giáo dục và dân trí, tiến
hành mở cửa để khai thác lợi thế quốc gia, đồng thời đẩy mạnh hợp tác trong
khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, các nƣớc xã hội chủ nghĩa chuyển đổi cơ
cấu từ quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng.
Thứ 2, Xu thế toàn cầu hóa kinh tế
Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển mạnh mẽ về quy mô, hình
thức và nội dung sự lƣu chuyển hàng hóa, dịch vụ và những nguồn lực những
yếu tố sản xuất qua biên giới quốc gia và trên quy mô toàn cầu đạt mức cao
chƣa từng có. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ
những mối liên hệ, những ảnh hƣởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau
của tất cả các khu vực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới với sự phát triển
nhanh chóng của quan hệ thƣơng mại quốc tế, sự sáp nhập và hợp nhất các
công ti thành tập đoàn lớn đặc biệt là các công ti khoa học kĩ thuật nh m tăng
cƣờng khả năng cạnh tranh trên thị trƣơng trong và ngoài nƣớc, làn sóng này
đặc biệt tăng nhanh vào những năm cuối thế kỉ XX, bên cạnh đó là sự ra đời
của các tổ chức kinh tế, thƣơng mại, tài chính quốc tế và khu vực (WTO,
IMF, WB, APEC… các tổ chức này có vai trò ngày càng quan trọng trong
việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực.
16
Tuy nhiên, toàn cầu hóa hiện nay có hai mặt, vừa tích cực, vừa tiêu cực
vì thế nó đặt ra cả cơ hội và thách thức cho các quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam đó là:
Mặt tích cực thể hiện chủ yếu là tạo ra cơ hội (tất nhiên là không nhƣ
nhau) cho tất cả các nƣớc tiến nhanh hơn trên con đƣờng phát triển của mình
nếu biết tận dụng thời cơ trong giao lƣu, hợp tác quốc tế, đi tắt, đón đầu, phát
huy đƣợc sức mạnh tổng hợp của dân tộc và của thời đại.
Mặt tiêu cực thể hiện chủ yếu ở chỗ, hiện nay toàn cầu hóa đang bị các
nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển, các tập đoàn tƣ bản tài chính cũng nhƣ các
tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia thao túng. Chính vì vậy, xu thế toàn cầu hóa
kinh tế đã buộc tất cả các quốc gia trên thế giới điều chỉnh, thay đổi chiến
lƣợc phát triển kinh tế nh m ổn định tình hình trong nƣớc đồng thời giao lƣu,
hợp tác với các nƣớc khác trong xu thế đa dạng hóa, đa phƣơng hóa quốc tế.
Nhƣ thế, toàn cầu hóa là thời cơ lịch sử, là cơ hội rất to lớn cho các nƣớc phát
triển mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra những thách thức to lớn.
Tác động của những thay đổi sâu sắc về kinh tế và khoa học – công nghệ
làm cho giữa các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa cũng có sự thay đổi lớn về vị trí và
tƣơng quan lực lƣợng. Mỹ với ƣu thế vƣợt trội các nƣớc tƣ bản về mặt quân
sự, kinh tế và khoa học công nghệ triển khai nhiều chiến lƣợc khác nhau nhƣ
“Vƣợt trên ngăn chặn”, “Can dự và mở rộng”…nh m duy trì vị trí lãnh đạo và
ảnh hƣởng của mình trong hệ thống các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Trung Quốc,
Nhật Bản, EU, NICs, Ấn Độ tăng cƣờng chiến lƣợc phát triển kinh tế, khoa
học công nghệ và sự hợp tác quốc tế thúc đẩy xu thế đa cực hình thành trên sự
rạn nứt của trật tự Ianta và từng bƣớc tạo dựng sự cân b ng mới trong quan hệ
quốc tế. Sự chuyển biến to lớn của cục diện thế giới thời kì 1986 – 1995 đã
tác động mạnh mẽ đến tình hình khu vực Đông Nam Á. Xuất phát từ lợi ích
chung là hòa bình và hợp tác phát triển, các nƣớc ASEAN phải thay đổi chính
17
sách theo hƣớng đẩy mạnh hợp tác trong nội bộ, lấy hợp tác kinh tế để thúc
đẩy hợp tác an ninh – chính trị nh m tạo thế cân b ng chiến lƣợc mới giữa
khu vực với các cƣờng quốc và tạo đƣợc vị thế có lợi nhất cho mình. Xu thế
đối thoại khu vực giữa hai nhóm nƣớc ASEAN và Đông Dƣơng đƣợc mở ra
từ tháng 02/1985 tiếp tục đƣợc thúc đẩy mạnh mẽ để tiến tới xây dựng một
Đông Nam Á hòa bình, ổn định và phồn vinh.
Thứ ba, cục diện thế giới thay đổi nhanh chóng và phức tạp
Đến đầu những năm 80 của thế kỉ XX, cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên
Xô và Mỹ đã khiến cả hai siêu cƣờng phải huy động một khoản ngân sách rất
lớn để tạo ra một kho vũ khí khổng lồ có thể hủy diệt một khối lƣợng vật chất
gấp nhiều lần trái đất và toàn thể nhân loại. Việc huy động ngân sách quốc
phòng quá lớn đã ảnh hƣởng xấu đến chƣơng trình kinh tế, đến việc nâng cao
đời sống nhân dân và giảm sút thế mạnh của cả hai nƣớc. Trong khi cả hai
siêu cƣờng ra sức chạy đua vũ trang thì các nƣớc Tây Âu, Nhật Bản vƣơn lên
mạnh mẽ về kinh tế, trở thành những đối thủ cạnh tranh lợi hại của Liên Xô
và Mỹ. Chính vì vậy cả hai nƣớc Xô – Mỹ đều cần phải thoát ra khỏi thế đối
đầu để củng cố vị thế của mình.
Từ nửa sau thập niên 80, sau khi M. Gorbachyov lên cầm quyền ở Liên
Xô, quan hệ Xô – Mỹ đã thực sự chuyển từ đối đầu sang đối thoại để giải
quyết những vấn đề trong quan hệ giữa hai nƣớc và quan hệ quốc tế. Ngày
02/12/1989, tại Manta, Tổng bí thƣ Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachyov
và Tổng thống Mỹ G. Bush đã có cuộc gặp gỡ không chính thức. Trong cuộc
gặp này, hai bên đã chính thức tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh
giữa hai nƣớc, đồng thời cũng chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt làm
cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng trong suốt 40 năm qua. iên Xô và
Trung Quốc bình thƣờng hóa quan hệ ngoại giao. Xu thế hòa dịu trong quan hệ
quốc tế là cơ sở cho mọi sự hợp tác cả về trên tất cả các mặt chính trị – kinh tế và
văn hóa – xã hội.
18