Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Quá trình gia nhập và mối quan hệ giữa Anh với Liên minh châu Âu (1973-2016)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.27 MB, 73 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

======

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

QUÁ TRÌNH GIA NHẬP VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA ANH VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU
(1973-2016)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

ThS. NGUYỄN THỊ NGA

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và trân thành nhất tới các
thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, Viện
nghiên cứu châu Âu, thƣ viện Quốc gia, thƣ viện trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nội 2, thƣ viện trƣờng Học viện Ngoại giao, bạn bè và ngƣời thân đã giúp em
hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Th.s Nguyễn Thị Nga ngƣời
đã trực tiếp giành thời gian và tâm huyết hƣớng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khóa luận bằng tất cả năng
lực của mình nhƣng do thời gian hạn chế, kiến thức chƣa chuyên sâu nên
khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót. Vì vậy em rất


mong nhận đƣợc những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để giúp
em hoàn thiện khóa luận một cách tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hằng


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
là trung thực và chƣa hề đƣợc công bố trong các công trình khác. Các
thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và
đƣợc phép công bố.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hằng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu................................................ 4
3.3. Phạm vi ngiên cứu ...................................................................................... 4
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................... 5
5. Đóng góp của đề tài....................................................................................... 5
6. Bố cục của đề tài ........................................................................................... 6

CHƢƠNG 1: QUÁ TRÌNH NƢỚC ANH GIA NHẬP LIÊN MINH CHÂU
ÂU ..................................................................................................................... 7
1.1. Sự ra đời và hoạt động của Liên minh châu Âu trƣớc năm 1973 .............. 7
1.1.1. Sự ra đời của cộng đồng than thép châu Âu ........................................... 9
1.1.2. Từ ESCE đến Cộng đồng châu Âu (EC)............................................... 11
1.1.3. Sự ra đời của liên minh châu Âu ( EU) ................................................. 13
1.2. Những nguyên tắc và tiêu chí mở rộng thành viên của Liên minh châu Âu
......................................................................................................................... 15
1.3. Quá trình Anh gia nhập Liên minh châu Âu ............................................ 16
CHƢƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA ANH VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU
(1973 – 2016) .................................................................................................. 21
2.1. Tình hình quan hệ Anh - EU .................................................................... 21
2.2.1. Về chính trị, ngoại giao ......................................................................... 21
2.2.2. Kinh tế ................................................................................................... 25
2.2.3. Quốc phòng, an ninh ............................................................................. 33
2.2.4. Văn hóa - xã hội .................................................................................... 35
2.2.5. Một số lĩnh vực khác ............................................................................. 37


2.2. Vấn đề Brexit ........................................................................................... 39
2.2.1. Thế nào là Brexit ................................................................................... 39
2.2.2. Nguyên nhân Anh thực hiện Brexit ...................................................... 40
2.3.3. Một số nhận xét về vấn đề Brexit ......................................................... 53
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 63
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu thế của thế giới trong
những năm đầu thế kỉ XXI. Xu hƣớng tăng cƣờng hợp tác, liên kết khu vực và
quốc tế đã ảnh hƣởng tích cực đến các quốc gia và các khu vực trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, các quốc gia muốn tiến bƣớc cùng dòng chảy của thời đại,
không có con đƣờng nào khác ngoài việc chủ động hội nhập trên nguyên tắc
vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm tìm kiếm và bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc.
Liên minh châu Âu là một thể chế đa quốc gia hoàn thiện nhất, là một trung
tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của thế giới, là điển hình cho cơ chế hợp
tác khu vực, một hệ thống thể chế xuyên quốc gia và liên chính phủ với thiết
chế thị trƣờng chung, đồng tiền chung và các chính sách thƣơng mại chung,
đƣợc xem là một trong các trụ cột của nền kinh tế thế giới. Đáp ứng xu hƣớng
phát triển lớn của toàn cầu và yêu cầu phát triển, từ năm 1973, nƣớc Anh trở
thành thành viên của cộng đồng Châu Âu. Trong suốt quá trình từ khi gia
nhập EU, Anh đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của tổ
chức khu vực lớn và hiệu quả nhất thế giới này.
Tuy nhiên, cũng chính trong quá trình phát triển hội nhập của châu Âu
này, lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực bị cọ xát gay gắt, và luôn tồn tại hai xu
hƣớng; hƣớng tâm và ly tâm. Xu hƣớng ly tâm ngày càng thể hiện rõ, đặc biệt
ở Anh. Câu chuyện Anh có thể trở thành quốc gia thành viên đầu tiên rời bỏ
Liên minh châu Âu bỗng nhiên trở thành vấn đề nghiêm túc sau chiến thắng
ngoạn mục của Thủ tƣớng David Cameron trong cuộc tổng tuyển cử ở Anh
hồi tháng 5/2016. Kết quả cuối cùng, Anh lựa chọn sự ra đi khỏi Liên minh
châu Âu. Sự kiện có tá động to lớn đến tất cả các lĩnh vực của nƣớc Anh, và
tƣơng lai phát triển của EU.

1


Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ Anh – EU từ khi Anh gia
nhập đến khi rời bỏ EU không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn đáp ứng

yêu cầu thực tiễn sẽ đƣợc nhìn nhận đúng đắn và thực chất hơn quan hệ trong
nội bộ tổ chức EU, đặt biệt là quan hệ Anh - EU. Từ kết quả nghiên cứu cho
phép chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự hội nhập của Việt
Nam trong quá trình liên kết, tham gia vào các tổ chức khu vực để đạt đƣợc
hiệu quả cao nhất và hạn chế những khó khăn, hay những bất đồng trong mối
quan hệ với các tổ chức khu vực.
Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, ngƣời viết muốn lựa chọn đề
tài “Quá trình gia nhập và mối quan hệ giữa Anh với Liên minh châu Âu
(1973-2016)” để nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi nhắc tới mối quan hệ của Liên minh châu Âu với các nƣớc trên thế
giới nhƣ Mỹ, Việt Nam đã đƣợc đông đảo các học giả, các nhà sinh thái học,
các nhà sử học trên thế giới quan tâm ở các góc độ khía cạnh khác nhau.
Nhƣng khi nhắc tới mối quan hệ giữa Anh và Liên minh châu Âu thì rất khan
hiếm và hầu nhƣ chƣa có. Vì đây là một vấn đề rất hấp dẫn để nghiên cứu.
Trong cuốn “chủ nghĩa tư bản cuối thế kỉ XX và thập niên đầu thế kỉ XXI
một cách tiếp cận từ lịch sử” nhà xuất bản Đại Học Sƣ Phạm, của tác giả
Trần Thị Vinh. Trong cuốn sách nói về một số lí luận của Chủ nghĩa tƣ bản và
một số nƣớc tƣ bản điển hình nhƣ tƣ bản Mỹ, Nhật này. Trong cuốn sách này
tác giả giành một chƣơng để nới về sự hình thành và phát triển của Liên minh
châu Âu nhƣ lịch sử hình thành, quá trình mở rộng và một số thành tựu cơ
bản và những thách thức của Liên minh châu Âu. Đặc biệt tác giả cũng đã
phân tích quá trình đàm phán và gia nhập EU của Anh.
Trong cuốn “Liên minh châu Âu” của Đào Duy Ngọc, nhà xuất bản
Chính trị quốc gia năm 1995 cũng đã đề cập đến những vấn đề của Liên châu

2


Âu. Tuy không đề cập trực tiếp đến quan hệ Anh – EU nhƣng tác giả cũng đã

cho thấy đƣợc những quan điểm chính trị, an ninh, quốc phòng của các thành
viên trong đó có Anh.
Tiếp theo là cuốn “Tiến trình thống nhất tiền tệ của EU”, nhà xuất bản
Chính trị quốc gia của tác giả Kim Ngọc đã nhắc tới việc thống nhất tiền tệ ở
các quốc gia châu Âu, tại sao lại phải thống nhất tiền tệ. Nƣớc Anh có tham
gia tiến trình thống nhất tiền tệ hay không và lý do vì sao họ lại không tham
gia.
Trong cuốn “Sổ tay tổng quan chính sách thương mại của liên minh
Châu Âu”, nhà xuất bản Công Thƣơng năm 2015 đã đƣa ra những số
liệu mà các nƣớc thành viênLiên minh châu Âu đã đóng góp cho tổ chức này
trong đó có nƣớc Anh.
Cùng với tƣ liệu của một số tạp chí, báo và các công trình nghiên cứu
của các thầy cô và các bạn sinh viên ở trƣờng đại học và cao đẳng cả nƣớc đã
cung cấp cho ngƣời viết rất nhiều tƣ liệu về quá trình gia nhập và hoạt động
của Anh trong Liên minh châu Âu .
Bên cạnh những công trình trong nƣớc, về quan hệ Anh – EU cũng đã
đƣợc nhiều nhà nghiên cứu nƣớc ngoài đề cập đến trên những lĩnh vực khác
nhau. Về quan hệ kinh tế, phải kể đến nghiên cứu của Dominic Webb and
Matthew Keep (2016), In brief: UK-EU economic Relations, The House of
Commons Library. Với những số liệu, biểu đồ về hợp tác kinh tế giữa Anh –
EU đây thực sự là nguồn tƣ liệu tham khảo hữu ích cho ngƣời viết.
Quan hệ hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Anh – EU lại đƣợc đề cập
trong nghiên cứu của Richard G. Whitman (2016), The UK and EU foreign,
security and defence policy after Brexit: integrated, associated or detached?
National Institute Economic Review 238(1), pp.43-50. Do tính chất một bài
nghiên cứu nên những phân tích của tác giả còn mang tính chất khái quát.

3



Ngoài ra còn phải kể đến các công trình nghiên cứu nhƣ: Dominic Webb
and Matthew Keep (2016), In brief: UK-EU economic Relations, The House
of Commons Library, Briefing paper; Pol Morillas (2016), THE BREXIT
SCENARIOS: Towards a new UK-EU relationship, documents CIDOB 07.;
Prof. Dr. Eberhard Sandschneider (2014) (Hrsg.), The United Kingdom and
the European Union: What would a “Brexit” mean for the EU and other
States around the World?,Deutschen Gesellschaft für Auswärtige Politik. Đây
là những nghiên cứu đánh giá về sự kiện Brexit. Dù vậy, quan hệ Anh – EU
trƣớc năm 2016 cũng nhƣ những chính sách của Anh đã đƣợc đề cập đến và là
nguồn tƣ liệu tham khảo cho ngƣời viết.
Nhƣ vậy, dù đã có nhiều bài nghiên cứu, sách tham khảo liên quan đến
đề tài này nhƣng hiện tại chƣa có một công trình nào mang tính tổng hợp,
chuyên sâu về mối quan hệ của Anh với Liên minh châu Âu trên các lĩnh vực
chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội. Vì vậy, tác giả quyết định chọn
đề tài “Quá trình gia nhập và mối quan hệ giữa Anh với Liên minh châu Âu
(1973-2016)” làm đề tài khóa luận của mình
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tƣợng của đề tài là quá trình gia nhập và quan hệ của Anh – EU
trong giai đoạn 1973 - 2016.
3.2. Nhiệm vụ
- Tái hiện lại quá trình trở thành thành viên Liên minh châu Âu của Anh.
- Phân tích mối quan hệ của Anh với Liên minh châu Âu từ năm 1973
đến năm 2016.
- Đánh giá những mối quan hệ Anh - EU và hiện tƣợng Brexit năm 2016.
3.3. Phạm vi ngiên cứu
- Về không gian: Quá trình gia nhập và những hoạt động của Anh trong

4



EU
- Về Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ khi nƣớc Anh bắt đầu gia
nhập năm 1973 đến khi xả ra sự kiện brexit năm 2016
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngƣời viết đã nghiêm túc kế thừa về
mặt tài liệu và lý luận của các công trình đi trƣớc có liên quán đến đề tài.
Nguồn tài liệu này gồm có sách, báo, tạp chí lƣu giữ tãi các thƣ viện, viện
nghiên cứu và các luận văn, luận án liên quan
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thế giới quan và phƣơng pháp luận Mác - Lênin, khóa luận sử
dụng phƣơng pháp chuyên ngành đó là phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp
logic.
Khóa luân vận dụng các phƣơng pháp của các khoa học liên ngành nhƣ
phƣơng pháp nghiên cứu kinh tế, phƣơng pháp của khoa học quan hệ quốc tế,
phƣơng pháp cụ thể và các phƣơng pháp khác.
5. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Bằng việc dựng lại bức tranh toàn diện về quá trình
nƣớc Anh gia nhập EU cho đến khi nƣớc này tiến hành chƣng cầu ý dân về
quá trình rời khỏi EU; đề tài sẽ cho chúng ta thấy đƣợc tác động của những
yếu tố trong nƣớc và quốc tế tại những thời điểm nhất định đến việc thực thi
những chính sách khác nhau của các quốc gia. Đặc biệt, trong mọi mối quan
hệ quốc tế song phƣơng hay đa phƣơng thì lợi ích quốc gia luôn luôn đƣợc đặt
lên hàng đầu.
Về mặt thực tiễn: Với những nghiên cứu đƣợc tổng hợp từ nhiều nguồn
tƣ liệu khác nhau, đề tài sẽ phần nào cho chúng ta tìm ra nguyên nhân của
việc Anh rời EU cũng nhƣ những tác động, ảnh hƣởng của hiện tƣợng đó.

5



Ngoài ra, đề tài sẽ là nguồn tƣ liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
học tập về Liên minh châu Âu, về một giai đoạn lịch sử nƣớc Anh hiện đại
nói riêng và lịch sử thế giới hiện đại nói chung.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
khóa luận đƣợc kết cấu thành hai chƣơng:
Chƣơng 1: Quá trình nƣớc Anh gia nhập Liên minh châu Âu
Chƣơng 2: Mối quan hệ giữa Anh với Liên minh châu Âu (1973 – 2016)

6


CHƢƠNG 1: QUÁ TRÌNH NƢỚC ANH GIA NHẬP LIÊN MINH
CHÂU ÂU
1.1. Sự ra đời và hoạt động của Liên minh châu Âu trƣớc năm 1973
Ý tƣởng về một châu Âu hợp nhất có một quá trình lịch sử lâu dài. Các
đế chế nổi tiếng trong lịch sử châu Âu thời cổ trung đại đến thời cận hiện đại
đã từng dùng chiến tranh và vũ lực để thống nhất lãnh thổ của các quốc gia
trên lục địa châu Âu và thiết lập sự thống trị của mình. Bên cạnh đó mơ ƣớc
về một châu Âu hợp nhất trong hòa bình và hợp tác cũng xuất hiện sớm. Ngay
từ thế kỉ XVIII Montesquieu đã từng nói đến châu Âu nhƣ một quốc gia bao
gồm nhiều tỉnh. Trong thế kỉ XIX, nhà văn Pháp, Italia và Ba Lan đã viết về
một châu Âu hợp nhất nhƣ là một giải pháp để chấm dứt các cuộc chiến tranh,
xung đột kéo dài giữa các quốc gia ở châu Âu. Victor Hugo đã đề cập đến
một quốc tịch châu Âu cho các công dân của lục địa này.
Thuật ngữ hợp chủng quốc châu Âu (United states of Europe) đã đƣợc
các nhà chính trị gia châu Âu và bên ngoài châu Âu đề cập đến từ rất sớm. sau
chiến tranh thế giới thứ nhất, Sáng kiến về thành lập một liên minh toàn châu

Âu để khẳng định sự hòa giải giữa hai quốc gia Pháp-Đức đƣợc đề xuất.
Năm1923 chính trị gia ngƣời Áo Richard Coudennhove kalergi mở đầu phong
trào thống nhất châu Âu ( Pan Europa Mouvement). Richard đƣợc công nhận
là ngƣời sáng lập phong trào vận động cho một châu Âu hợp nhất trong
những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
Dự án đầu tiên của việc thành lập lên hiệp châu Âu gắn liền với tên tuổi
của Aristide Briand (1862-1932) Ngoại trƣởng Pháp những năm (1925-1932)
và Gustav Stresemann (1878-1929) - Ngoại trƣởng Đức trong những năm
(1923-1929) cả hai đƣợc nhận giải thƣởng Nobel Hòa bình năm 1926. Đƣợc
sự ủng hộ của Tổng thống Pháp lúc bấy giờ là Edouar Heriot, Ngoại trƣởng
Pháp Briand và ngƣời đồng nhiệm của mình ở Đức, ngoại trƣởng Gusstav

7


Stresemann đã xây dựng dự án về việc thành lập Liên hiệp châu Âu trong bối
cảnh châu Âu trong thập niên 1920 đang tràn trề hi vọng vào một nền an ninh
tập thể sau chiến tranh. Năm 1929, Ngoại trƣởng Pháp Briand đã trình bày
trƣớc Hội Quốc Liên dự án về việc thành lập liên hiệp các quốc gia châu Âu
trên cơ sở sự liên kết và hợp tác các quốc gia châu Âu về kinh tế, chính trị-xã
hội. Các chuyên gia kinh tế, trong đó có Jonh M.Keynes đã ủng hộ cho ý
tƣởng này. Ngay trong năm sau đó, ngoại trƣởng pháp Briand đã hoàn thành
bản ghi nhớ về việc tổ chức hệ thống liên hiệp các dân tộc châu Âu. Năm
1931, cựu thủ tƣớng pháp Edouar Herriot (1872-1951) xuất bản cuốn sách với
tựa đề “Hợp chúng quốc châu Âu” ủng hộ cho dự án thành lập một liên hiệp
châu Âu. Tuy nhiên, những biến động của thế giới những năm tiếp theo, cuộc
đại suy thoái kinh tế thế giới bùng nổ, sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít và
nguy cơ chiến tranh đã khiến cho dự án về châu Âu thống nhất rơi vào lãng
quên.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã để lại một châu Âu hoang tàn, đổ

nát và sau đó bị chia cắt thành hai phần Đông và Tây kể từ khi bắt đầu cuộc
Chiến tranh lạnh kéo dài hơn 4 thập niên. Châu Âu mang một diện mạo chính
trị mới cùng với sự hận thù giữa các dân tộc sau cuộc chiến tranh tàn khốc
nhất trong lịch sử nhân loại. Lần đầu tiên sau nhiều thế kỉ, châu Âu không còn
là trung tâm quyền lức của thế giới và thậm chí bị phụ thuộc vào cƣờng quốc
bên ngoài. Trong bối cảnh đó, ý tƣởng hóa giải hận thù, gắn kết dân tộc vì sự
phục hồi và hƣng thịnh của châu Âu lại trỗi dậy.
Thủ tƣớng Anh W. Churchill là một trong số những chính khách châu
Âu ủng hộ cho việc thành lập Hợp chúng quốc châu Âu nhƣ một phƣơng tiện
để giữ gìn hòa bình anh ninh châu Âu. Ngay từ năm 1930, trong bài viết nổi
tiếng đăng trên tạp chí Saturday Evening Post ngày 15/12, Churchill lập luận
rằng, việc thành lập một cộng đồng châu Âu thống nhất là điều có thể thực

8


hiện đƣợc trên cơ sở sự hợp tác của các quốc gia ở châu Âu lục địa. sau đó,
Churchill đã soạn thảo một bản ghi nhớ về hợp chúng quốc châu Âu nhƣ một
phƣơng tiện để giữ gìn hòa bình và an ninh châu Âu [13;361]. Ngay sau khi
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Trong bài phát biểu tại trƣờng đại học
Zurich (Thụy Sĩ) năm 1946, thủ tƣớng Anh Churchill một lần nữa kêu gọi
việc thành lập một gia đình châu Âu thống nhất – một châu Âu hợp chủng
quốc để kiến tạo hòa bình, an ninh và thịnh vƣợng ở châu Âu. Ông cũng đƣa
ra đề nghị về việc thành lập Hội đồng châu Âu (Council of Europe) trong bài
phát biểu của mình.
Các nhà lãnh đạo châu Âu lúc này cũng nhận thức đƣợc sự cần thiết của
việc thành lập Hội đồng châu Âu nhƣ một bƣớc khởi đầu cho quá trình hợp
nhất châu Âu. Nhằm mục tiêu đó, năm 1948, các nhà chính trị gia và những
nhà nghiên cứu hàng đầu châu Âu đã tiến hành cuộc hội thảo tại Hague, Hà
Lan để thảo luận về việc thành lập hội đồng châu Âu. Ngày 5/5/1949, Hội

đồng châu Âu chính thức thành lập với sự tham gia của 10 nƣớc châu Âu
thông qua việc kí kết hiệp ƣớc London. Mục tiêu hoạt động của Hội đồng
châu Âu nhằm vào việc bảo vệ nền dân chủ và nhân quyền theo những gì đã
đƣợc xác định trong công ƣớc châu Âu. Hội đồng châu Âu bao dồm 10 nƣớc
sáng lập: Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Ireland, Italia, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy,
Thụy Điển, Anh và các nƣớc tham gia sau đó, đƣa tổng số lên tới 47 thành
viên tính đến hiện nay. Hội đồng châu Âu là một tổ chức ngoài Liên minh
châu Âu danh sách các nƣớc thành viên Hội đồng châu Âu không hoàn toàn
giống các nƣớc thành viên EU và hoạt động cũng không giống nhau. Tuy
nhiên, các hoạt động đƣợc phối hợp với nhau nhằm mục tiêu duy trì hòa bình,
dân chủ và nhân quyền ở châu Âu.
1.1.1. Sự ra đời của cộng đồng than thép châu Âu
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc đã tạo ra một cục diện chính trị

9


quốc tế hoàn toàn mới so với trƣớc. Với ƣu thế của mình, Mỹ và Liên Xô trở
thành hai siêu cƣờng trong trật tự thế giới mới - trật tự Yanta. Châu Âu, trung
tâm của cuộc chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, hoàn toàn bị kiệt quệ và mất đi
vai trò của mình trong quan hệ quốc tế. Do bị tàn phá trong chiến tranh, tại
thời điểm năm 1945 xuất cảng ngoại thƣơng của các nƣớc tây Âu giảm mạnh
trong thị phần thế giới. Tỷ lệ này của Anh, Pháp và tây Đức tƣơng ứng chỉ
còn là 7,41%, 0,94% và 0,80% so với 40,8% của Mỹ. Không chỉ bị tàn phá
châu Âu còn bị chia cắt thành hai khu vực với mô hình kinh tế- xã hội đối
nghịch nhau. Tây âu ảnh hƣởng của Mỹ trong khi hầu hết các nƣớc đông âu
lựa chọn con đƣờng xã hội chủ nghĩa (XHCN) với sự giúp đỡ, lãnh đạo của
Liên Xô.
Sau chiến tranh, vấn đề quan trọng đặt ra cho châu Âu không chỉ là khắc
phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế mà quan trọng hơn là vấn đề giữ

gìn hòa bình lâu dài cho khu vực, nơi trong nhiều thế kỷ thƣờng xuyên có
những nghi kỵ xung đột và các cuộc chiến tranh tàn khốc, đẫm máu. Để đảm
bảo đƣợc mục đích an ninh cho khu vực nhƣ vậy, ngoài việc ngăn chặn chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi, một vấn đề then chốt với châu Âu lúc này là giải quyết
mối quan hệ giữa hai nƣớc đƣợc xem là thù địch truyền kiếp đó là Pháp và
Đức ( từ 1870 đến 1945 Pháp và Đức đã sảy ra 3 cuộc chiến tranh với những
hậu quả nặng nề. Để giải quyết đƣợc vấn đề này việc đƣa hai nƣớc vào một
khuôn khổ hợp tác chung là điều cần thiết. Đúng lúc này Pháp và Đức lại
đang đối mặt với việc tranh chấp vùng saar – vùng giàu tài nguyên khoáng
sản, đa số dân cƣ ở đây nói tiếng Pháp, sau chiến tranh thế giới thứ II trở
thành vùng tự trị thân Pháp. Trƣớc thực trạng này Pháp đã đƣa ra “sáng kiến
Jean Monnet”- sáng kiến xác lập thị trƣờng chung Than và Thép giữa Pháp và
Đức của Jean Monnet, ngƣời đứng đầu viện kế hoạch quốc gia Pháp. Sáng
kiến của Monnet đã đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng một châu Âu thống

10


nhất, làm sống lại ý tƣởng thống nhất châu Âu xuất hiện từ thế kỉ XVII. Sáng
kiến Monnet đã trở thành kế hoạch Schumann về việc thành lập cộng đồng
than và thép châu Âu (EU) ngày nay. Ngày 9/5/1950 (sau này đƣợc gọi là
ngày châu Âu), Ngoại trƣởng Pháp Robert Schumann có bài viết đƣợc phát
biểu dƣới cái tên “Tuyên bố Schumann” với đề xuất rằng Pháp và Đức và bất
kì quốc gia châu Âu nào khác đều có thể liên kết với nhau về các nguồn
nguyên liệu than và thép. Toàn bộ nền sản xuất than và thép của Đức và Pháp
đƣợc đặt dƣới sự cai quản của một cơ quan quyền lực chung. Cơ quan này để
ngỏ cho các nƣớc châu Âu khác tham gia.
Than và thép lúc này là nguồn lực chủ chốt đối với bất kì chƣơng trình
tái vũ trang nào, do vậy việc đặt chúng dƣới sự quản lí chung là một lợi ích
sống còn của Pháp chống lại việc tái vũ trang của Đức. Kế hoạch này đã làm

tăng thêm khả năng đảm bảo an ninh của Pháp trƣớc Đức. Nƣớc Đức dƣới sự
lãnh đạo của Thủ tƣớng Konrad Adenauer đã chấp nhận đề xuất của Pháp và
các quốc gia khác là Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúcxămbua cũng nhất trí tham gia.
Ngày 18/4/1951, sáu quốc gia này đã kí hiệp ƣớc Rome để thành lập cộng
đồng than và thép châu Âu (ECSC). Hiệp định có hiệu lực là 50 năm với ba
mục tiêu cơ bản là “ giữ gìn hòa bình, thống nhất về kinh tế và thống nhất về
chính trị” cộng đồng than thép đƣợc xem là viên gạch đầu tiên đặt nền tảng
cho một châu Âu hòa bình thống nhất, là hạt nhân lịch sử đầu tiên cho quá
trình hội nhập châu Âu. Sau 50 năm tồn tại và phát huy hiệu quả, ngày 23
tháng 7 năm 2002 Hiệp ƣớc đã đƣợc giới hạn.
1.1.2. Từ ECSC đến Cộng đồng châu Âu (EC)
Mục tiêu ban đầu của ECSC là thông qua thị trƣờng chung than và thép
để thúc đẩy và nâng cao mức sống cho ngƣời dân các nƣớc thành viên. Tuy
nhiên, thực chất tổ chức này không chỉ nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế mà
hƣớng tới việc giải quyết các vấn đề chính trị là hòa giải quan hệ Pháp-Đức,

11


kiểm soát, kiềm chế Đức để vừa phát triển vừa giữ gìn hòa bình.
Việc ra đời Cộng đồng Than và Thép châu Âu đánh dấu một bƣớc quan
trọng và là sự khởi đầu cho việc tiến tới một châu Âu thống nhất. Lần đầu tiên
trong lịch sử 6 nƣớc trong khu vực đã từ bỏ một phần chủ quyền của mình, dù
chỉ là một phần rất hạn chế, vì mục đích chung của khu vực.
Ngày 1/1/1953 hệ thống thuế quan của ECSC , loại thuế quan đầu tiên
của châu Âu bắt đầu có hiệu lực thi hành trong khi thị trƣờng chung than thép
đã đƣợc tạo dựng với sự dỡ bỏ thuế quan, hạn chế sản lƣợng về nguyên liệu
thô. Qua thực tế hoạt động, ECSC đã chứng tỏ đƣợc hiệu quả của mình khi
giải quyết đƣợc những khủng hoảng, đảm bảo sự phát triển cân bằng trong
việc sản xuất. Sản xuất thép tăng 4 lần so với những năm 50, chất lƣợng ngày

càng tốt hơn, giá thành rẻ hơn. Sản lƣợng than có thấp hơn đôi chút nhƣng
công nghệ sản xuất an toàn hơn và đảm bảo điều kiện bảo vệ môi trƣờng tốt
hơn. Ngoài ra hệ thống sử lý xã hội của ECSC với tính hiệu quả của nó cũng
đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khủng hoảng. Năm 1954 tòa án
châu Âu cũng bắt đầu hoạt động sử lý các vấn đề trong ECSC.
Từ thành công này, các quốc gia thành viên đã cố gắng thúc đẩy quá
trình hội nhập của Châu Âu cả về quy mô của ECSC cũng nhƣ mở rộng hợp
tác sang khía cạnh chính trị và kinh tế nói chung.
Về mặt chính trị các nƣớc cố gắng thành lập một Cộng đồng phòng thủ
châu Âu (EDC) tháng 2 năm 1954, ngay sau khi kí Hiệp định Pari. Tuy nhiên
dự định này đã thất bại do sự phản đối của pháp và sự thiếu vắng mô hình
tƣơng tự tại thời điểm đó.
Xét về kinh tế ECSC đã có những bƣớc phát triển mạnh. Sau một thời
gian hoạt động các quốc gia này đã quyết định tiến thêm một bƣớc nữa trong
việc thực hiện hội nhập về kinh tế. Tại cuộc họp ngoại trƣởng ECSC vào
tháng 5/1955 tại Messia (Italia), ngoại trƣởng 6 nƣớc này đã đề xuất việc

12


thành lập thị trƣờng chung châu Âu. Sau gần một năm thảo luận và xem xét
ngày 25/3/21957 hiệp định Rome đƣợc kí kết ( có hiệu lực từ 1/1/58) để tạo
dựng Cộng đồng Năng lƣợng nguyên tử châu Âu (EURATOM) và Cộng đồng
Kinh tế châu Âu (EEC).
EEC ra đời không chỉ nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thƣơng mại, sản xuất
giữa các nƣớc thành viên mà còn có đóng góp quan trọng về mặt chính trị,
tiến tới thực hiện một châu Âu thống nhất về cả chịnh trị. Việc lập EEC gắn
với việc hình thành thị trƣờng chung theo các giai đoạn thể hiện từng bƣớc
tính chất siêu quốc gia và mở biên giới cho tự do lƣu thông hàng hóa, dịch vụ,
lao động, tiền vốn.

Cùng với EEC, việc ký EURATOM thể hiện nỗ lực của các nƣớc thành
viên nhằm đối phó với tình trạng thiếu năng lƣợng thông thƣờng của những
năm 50. Mục đích chung của EURATOM là hình thành và phát triển các
ngành công nghiệp nguyên tử, từ đó đảm bảo cho các nƣớc thành viên ngày
càng độc lập hơn về nguồn năng lƣợng này.
Hoạt động hiệu quả của ba cộng đồng ECSC, EEC, EURATOM đã góp
phần thúc đẩy đáng kể tiến trình thống nhất châu Âu về cả phạm vi hoạt động
cũng nhƣ thể chế điều hành. Tháng 4/1965 các nƣớc đã kí hiệp định Merger
hợp nhất các thiết chế của ba cộng đồng trên thành cộng đồng châu Âu (EC).
1.1.3. Sự ra đời của liên minh châu Âu ( EU)
Với việc xuất hiện cộng đồng châu Âu EC, ba mục tiêu cơ bản đã đạt
đƣợc là tạo lập hòa bình lâu dài cho khu vực bắt đầu từ việc hòa giải mối quan
hệ Pháp-Đức, liên kết bƣớc đầu về kinh tế và từ đó tạo nền tảng cho một sự
liên minh chặt chẽ hơn về chính trị cho châu Âu. Từ lúc này chỉ có một ủy
ban châu Âu và một hội đồng các bộ trƣởng và một quốc hội châu Âu.
Hoạt động thành công bƣớc đầu của EC đã thuyết phục các nƣớc Đan
Mạch, Irelad và Anh quyết định gia nhập EC năm 1973, đƣa tổng số thành

13


viên của EC lên 9 thành viên. Chín thành viên hoạt động trên cơ sở sáp nhập
các thể chế ECSC, EEC và EURATOM tạo ra cho EC những khó khăn nhất
định trong việc phối hợp các chính sách.
Trƣớc thực tế này, các nhà lãnh đạo EU nhận thấy rằng họ cần phải thúc
đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế của khu vực, tiền đề để thực hiện mục tiêu
giữ gìn hòa bình và thúc đẩy hợp tác về chính trị. Cùng vào thời điểm này
Bretton Woods sụp đổ, tạo nên sự bất ổn cho thị trƣờng tiền tệ thế giới, một
trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và
1979. Đây là một động lực khiến các nƣớc EC cần phải xích lại gần nhau hơn

về chính sách kinh tế và tiền tệ nhằm đối phó với những khó khăn hiện tại
đồng thời tăng sự liên kết giữa các nƣớc thành viên trong lĩnh vực kinh tế. Kết
quả là một thỏa thuận về việc thành lập tiền tệ châu Âu (EMS) đƣợc kí kết
năm 1979 nhằm ổn định tỉ giá hối đoái giữa các nƣớc thành viên và xây dựng
quá trình liên kết tiền tệ dài hạn của EC góp phần đảm bảo sự phát triển của
liên minh thuế quan và thị trƣờng đơn nhất. Hệ thống này đƣợc xây dựng trên
cơ sở của đồng EU ( đơn vị tiền tệ châu Âu) tiền thân của đồng euro ngày nay
và trên cơ chế tỷ giá hối đoái (ERM), theo đó các đồng tiền dao động trong
một biên độ nhỏ cố định. ERM đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập
Liên minh kinh tế và tiền tệ EMU sau này.
Năm 1981 Hy Lạp ra nhập EC sau sáu năm đàm phán. Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha cũng trải qua thời gian 10 năm để trở thành thành viên của EC
vào năm 1986 lá cờ chung màu xanh da trời của cộng đồng với 12 ngôi sao đã
xuất hiện trên bầu trời châu Âu.
Với việc nhân đôi thành viên của mình (từ 6 lên 12) và chiếm hơn 1/5
khối lƣợng thƣơng mại thế giới ảnh hƣởng về kinh tế và chính trị của EC tăng
lên rõ rệt. Tuy hiên điều đó cũng làm phức tạp hơn quá trình ra quyết định của
EC.

14


Tháng 2/1986, các nƣớc thuộc Cộng đồng châu Âu ký đạo luật châu Âu
đơn nhất (SEA), tạo thêm một bƣớc cho sự thống nhất của châu Âu. Đạo luật
sửa đổi Hiệp ƣớc Rome nhằm định rõ các bƣớc của quá trình lập chính sách
nhờ đó đã thúc đẩy đƣợc việc áp dụng các điều luật, nghị quyết cần thiết để
thành lập thị trƣờng chung đƣợc đƣa ra trong hiệp ƣớc Rôme năm 1957.
1.2. Những nguyên tắc và tiêu chí mở rộng thành viên của Liên minh
châu Âu
Sau khi hiệp ƣớc Maasticht có hiệu lực, những tiến bộ về thể chế và

chính sách đã tạo điều kiện thuân lợi cho việc mở rộng các lĩnh vực hợp tác
và mở rộng số lƣợng các thành viên mới của EU. Đầu thập niên 1990 với sự
kiện nƣớc Đức thống nhất, lãnh thổ của EU đƣợc mở rộng, mặc dù số lƣợng
thành viên không tăng lên. Sau khi chiến tranh kết thúc có ít nhất 18 nƣớc
châu Âu có nguyện vọng gia nhập EU, trong đó có 7 nƣớc Đông Âu, 6 nƣớc
cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và 5 nƣớc thuộc liên bang Nam Tƣ cũ. Làn sóng
các nƣớc có nguyện vọng tham gia EU dâng cao đã đặt ra yêu cầu xem xét lại
các mặt thể chế những tiêu chí gia nhập EU. Trong cuộc họp của Hội đồng
châu Âu Conpenhagen tháng 6/1993, các thành viên thông qua Công ƣớc
Conpenhagen với các điều kiện chuẩn để gia nhập EU. Theo đó, các nƣớc
muốn trở thành thành viên EU phải đạt đƣợc 3 tiêu chí cơ bản:
- Về chính trị, phải là nƣớc dân chủ, tôn trọng nhân quyền và pháp luật
quốc tế
- Về kinh tế, phải có nền kinh tế thị trƣờng tự do và có tiềm năng vƣợt
qua áp lực cạnh tranh kinh tế tƣ bả chủ nghĩa.
- Về tƣ pháp, có năng lực đáp ứng những nghĩa vụ và yêu cầu của hệ
thống luật pháp do EU quy định.
Qúa trình đàm phán ra nhập EU của các nƣớc thành viên Hiệp hội Mậu
dịch tƣ do (EFTA) đƣợc bắt đầu từ năm 1990. Tuy nhiên, sau khi các cuộc

15


đàm phán kết thức vào năm 1994, chỉ có 3 nƣớc Áo, Phần Lan, Thụy Điển gia
nhập EU vào tháng 1/1995. Đây là lần mở rộng thứ năm, số thành viên EU
lên 15 nƣớc, với diện tích lãnh thổ đƣợc mở rộng thêm 1/3 và là lần đầu tiên
trong lịch sử, EU có đƣờng biên giới chung với nƣớc Nga [13; 377].
1.3. Quá trình Anh gia nhập Liên minh châu Âu
Sau thế chiến thứ hai, những cảm xúc dân tộc chủ nghĩa đã đƣợc củng cố
ở Anh vì quốc gia này là một cƣờng quốc ở của châu Âu, một nƣớc thuộc phe

chiến thắng chủ nghĩa phát xít. Khi đó, ngƣời Anh đã nhìn thấy các ý tƣởng
hội nhập nhƣ là một liên minh của ngƣời bị đánh bại. Ngoài ra, đảng Lao
động giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1945, đã nghi ngờ về chính
phủ thống trị - dân chủ của sáu nƣớc thành viên Cộng đồng Than và Thép
châu Âu (ECSC). Chính phủ lo ngại rằng sự tham gia của Anh vào Cộng đồng
Than và Thép sẽ làm suy yếu những chính sách bảo vệ ngƣời lao động Anh.
Khi sáu nƣớc ECSC mời Anh Quốc tham gia vào năm 1950, chính phủ Lao
động đã từ chối, họ cho rằng các ngành công nghiệp than và thép của Anh đã
bị quốc hữu hoá và do đó không thể quản lý quốc tế đƣợc. Năm 1951, Đảng
Bảo thủ lên nắm quyền thì những quan điểm đó cũng không đƣợc thay đổi.
Trên thực tế, nƣớc Anh đã chậm trễ bỏ lỡ cơ hội trong quá trình hội nhập
châu Âu. Mặc dù Thủ tƣớng Anh Churchill là một trong số những chính
khách châu Âu khởi xƣớng cho quá trình hợp nhất châu Âu từ những năm
trƣớc Chiến tranh thế giới thứ hai, nhƣng ông lại ủng hộ mạnh mẽ cho sự độc
lập của đảo quốc Anh đối với các nƣớc ở lục địa châu Âu. Những năm sau
chiến tranh, với tƣ cách là một cƣờng quốc thắng trận, các nhà lãnh đạo Anh
chủ trƣơng chú trọng đến các mối quan hệ với các nƣớc trong Khối thịnh
vƣợng chung và các khu vực thuộc đế chế Anh cũng nhƣ tăng cƣờng quan hệ
với Mĩ nhiều hơn với phần còn lại của châu Âu. Thủ tƣớng Anh Churchill
nhìn nhận sự kiện thành lập ECSC năm 1951 nhƣ một kế hoạch của hai quốc

16


gia Pháp, Đức và quyết không tham gia. Việc nƣớc Anh không tham gia
ECSC đƣợc các chính trị gia Mĩ đánh giá là một sai lầm nghiêm trọng trong
thời kì hậu chiến, khiến cho nƣớc này chậm chân trong việc tham gia vào
những quyết định quan trọng nhất trong buổi ban đầu của quá trình hợp nhất
châu Âu [13; 371].
Trong những năm 1950, tình hình kinh tế kém thuận lợi hơn đối với

nƣớc Anh, đặc biệt là so với các nền kinh tế lục địa đang bùng nổ. Ngoài ra,
các mối quan hệ chính trị với Khối thịnh vƣợng chung đã mất. Năm 1957, khi
ECSC củng cố Hiệp ƣớc Rôma, Anh Quốc đã ủng hộ khu vực mậu dịch tự do
và từ chối gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC). Ý tƣởng về một khu
vực mậu dịch tự do là duy trì mối quan hệ Anh Quốc với Khối thịnh vƣợng
chung và loại trừ các sản phẩm nông nghiệp (đã chống lại Chính sách Nông
nghiệp Chung (CAP)). Thật vậy, với CAP, một mức thuế bên ngoài phổ biến
đƣợc áp dụng cho các sản phẩm nhập khẩu trong khi Khối thịnh vƣợng chung
đã cung cấp nhiều sản phẩm nông nghiệp cho Anh Quốc. Năm 1959, Vƣơng
quốc Anh ký hiệp ƣớc Stockholm với Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Thụy
Sỹ, Áo và Bồ Đào Nha để thành lập Khu vực Thƣơng mại Tự do châu Âu
(EFTA). EFTA không thành công nhƣ mong đợi của nƣớc Anh. Lúc bấy giờ,
Mĩ đã khuyến khích Anh tham gia EEC.
Năm 1961, Thủ tƣớng Chính phủ thuộc Đảng Bảo thủ Macmillan đã đƣa
ra ý tƣởng mở đàm phán về sự “bám dính” vào EU (cũng nhƣ Ireland và Đan
Mạch) [24]. Quyết định của De Gaulle năm 1963 có thể đƣợc giải thích bằng
hai yếu tố. Trƣớc hết, Mĩ đã ủng hộ mạnh mẽ ý tƣởng của Vƣơng quốc Anh
trong EEC và De Gaulle đã coi nó nhƣ là một "liên bang" đe doạ. Thứ hai,
Anh đƣợc mời tham gia các cuộc đàm phán về nông sản vào năm 1962 và cố
gắng đặt câu hỏi về các quy tắc cơ bản của Chính sách Nông nghiệp Chung
(CAP) và điều này không thể chấp nhận đƣợc đối với De Gaulle.

17


Trong thời điểm kinh tế châu Âu trì trệ và sau cuộc khủng hoảng của
chiếc ghế trống (De Gaulle từ chối ngồi trong các cuộc họp), trong khi Anh
đang phải đối mặt với tình hình kinh tế và tiền tệ khó khăn, Thủ tƣớng Wilson
tuyên bố một nhu cầu “bám dính” vào tháng 5 năm 1967 tại Hạ viện. De
Gaulle đã thẳng thắn chống lại việc mở rộng sang Anh, trong khi Georges

Brown, Thƣ ký Văn phòng Ngoại giao, đã thay đổi chiến lƣợc đàm phán cam
kết cho một Cộng đồng mạnh mẽ không chỉ về mặt kinh tế mà còn trong các
lĩnh vực chính trị và quân sự; Điều này đƣợc cho là để trấn an De Gaulle
trong trƣờng hợp tái vũ trang của Đức. Tuyên bố của Ủy ban đã ủng hộ việc
mở rộng một khi các khó khăn kinh tế sẽ vƣợt qua, nhƣng Pháp vẫn giữ vị trí
của mình. De Gaulle cáo buộc nƣớc Anh có "sự thù địch sâu xa" đối với việc
xây dựng châu Âu. Ông cho biết Luân Đôn "thiếu quan tâm" trong thị trƣờng
chung và sẽ đòi hỏi một "sự chuyển đổi cơ bản" trƣớc khi gia nhập EEC. Ông
cho rằng thị trƣờng chung hiện nay không tƣơng thích với nền kinh tế, nhƣ nó
hiện nay, của Anh. Ông đã đƣa ra một số khía cạnh của nền kinh tế Anh, từ
hoạt động làm việc cho nông nghiệp, mà ông nói đã làm cho nƣớc Anh không
tƣơng thích với châu Âu. Chỉ sau khi De Gaulle từ chức vào năm 1969,
Vƣơng quốc Anh có thể tiếp tục đàm phán để gia nhập Cộng đồng Kinh tế
châu Âu.
Năm 1970, Đảng Bảo thủ đã giành đƣợc thắng lợi trong cuộc bầu cử và
Edward Heath trở thành Thủ tƣớng Anh. Khi đó, Anthony Barber và Sir Alec
Douglas-Home chịu trách nhiệm tiến hành các cuộc đàm phán về sự “bám
dính” của Anh Quốc. Ba nguyên tắc dẫn dắt đàm phán này: Acquis
Communautaire (tất cả những gì đã đạt đƣợc của EEC) phải đƣợc duy trì,
Thỏa thuận La Hay mở cánh cửa cho Liên minh Kinh tế và Tiền tệ không thể
bị nghi ngờ, các biện pháp tạm thời không thể sửa đổi các hiệp ƣớc hiện có.
Đàm phán rất khó khăn. Trƣớc tiên, họ tập trung vào các chi tiết để trì hoãn

18


thời điểm thảo luận về các điểm không đồng thuận - các biện pháp tạm thời
đối với Chính sách Nông nghiệp chung, đóng góp của Anh vào ngân sách
cộng đồng và xuất khẩu đƣờng vào Khối thịnh vƣợng chung.
Cuối cùng, một thỏa thuận đã đạt đƣợc vào tháng 6 năm 1971. Đã có sự

chia rẽ mạnh mẽ giữa đảng Bảo thủ và đảng Lao động. Theo Stephen Tindale,
cộng sự tại Trung tâm Cải cách Châu Âu, "trong những năm 1960 và 70, đảng
Lao động chống lại “Châu Âu”” [24]. Vào năm 1960, một nhà lãnh đạo của
đảng Lao động Hugh Gaitskell, đã nói rằng việc Anh gia nhập EEC có nghĩa
là kết thúc một ngàn năm lịch sử. Harold Wilson, ngƣời đứng đầu đảng Lao
động cam kết với phƣơng châm "không có sự tham gia của đảng Bảo thủ",
nhƣng đề xuất của Edward Heath thuộc đảng Bảo thủ gửi tới Quốc hội đã
chiếm đa số trong 356 phiếu thuận ủng hộ gia nhập EU (244 chống lại).
"Heath đã thực sự nói rằng EEC là về kinh tế - do đó có tên là Cộng đồng
Kinh tế châu Âu. Không có cuộc tranh luận lớn nào vào thời điểm đó, và
không có cuộc trƣng cầu dân ý.
Năm 1973, nƣớc Anh chính thức gia nhập EEC - tiền thân của EU.
Ireland và Đan Mạch cũng gia nhập Anh Quốc để trở thành những thành viên
mới nhất của Cộng đồng, đƣa tổng số thành viên lên 9. Nhƣ vậy, năm 1973 đã
kết thúc một chặn đƣờng đàm phán trắc trở của Anh đồng thời cũng mở ra
một mối quan hệ không phải lúc nào cũng bằng phẳng giữa Anh với EEC rồi.
Tiểu kết
Nhƣ vậy để đạt đƣợc những thành tựu to lớn nhƣ ngày nay, trở thành
một tổ chức khu vực lớn nhất và thành công nhất châu âu đã trải qua một qúa
trình ra đời lâu dài. Liên minh châu Âu đƣợc thành lập xuất phát từ những ý
tƣởng thống nhất lãnh thổ và đời sống kinh tế.
Đáp ứng xu hƣớng phát triển lớn của toàn cầu và yêu cầu phát triển, từ
năm 1973, nƣớc Anh trở thành thành viên của cộng đồng Châu Âu. Trong

19


suốt quá trình từ khi gia nhập EU, Anh đã đóng một vai trò quan trọng trong
sự phát triển chung của tổ chức khu vực lớn và hiệu quả nhất thế giới này.


20


×