TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
CAO VĂN LỢI
TÊN ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN
THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP BẢO TỒN,
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TÒ HE XUÂN
LA (PHÚ XUYÊN – HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC
HÀ NỘI – 2017
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
CAO VĂN LỢI
THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP BẢO TỒN,
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TÒ HE XUÂN LA
(PHÚ XUYÊN – HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt nam học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ NHUNG
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Thực trạng và biện pháp bảo
tồn, phát triển làng nghề Tò he Xuân La”, tác giả khóa luận thường xuyên nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo
trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.
Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Nguyễn Thị
Nhung, cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy
cô.
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
Cao Văn Lợi
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô
giáo Nguyễn Thị Nhung. Trong khi thực hiện tôi có tìm hiểu, tham khảo một số
tài liệu của các tác giả, các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, tôi xin cam đoan khóa luận:
“Thực trạng và biện pháp bảo tồn, phát triền làng nghề Tò he Xuân La (Phú
Xuyên – Hà Nội)” là kết quả nghiên cứu của riêng cá nhân tôi không trùng lặp với
bất kỳ kết quả nào trước đó.
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
Cao Văn Lợi
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .....................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu ...............................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu: ..........................................................................................3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: .....................................................................4
5. Phƣơng pháp nguyên cứu, nguồn tài liệu: .........................................................4
6. Đóng góp của đề tài: ............................................................................................4
7. Bố cục của đề tài: .................................................................................................5
CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÒ HE XUÂN LA ....................6
1.1. Lý luận về làng nghề .........................................................................................6
1.1.1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm làng nghề ....................................................6
1.1.2. Điều kiệt hình thành làng nghề .....................................................................7
1.1.3. Tiêu chuẩn công nhận làng nghề. .................................................................8
1.2. Khái quát về làng Xuân La ............................................................................10
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên .................................................................10
1.2.2. Dân cư, kinh tế ..............................................................................................13
1.2.3. Di tích lịch sử ở Xuân La .............................................................................14
1.2.4. Đời sống văn hóa người dân Xuân La.........................................................16
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TÒ HE Ở XUÂN LA (PHÚ
XUYÊN – HÀ NỘI)................................................................................................19
2.1. Lịch sử nghề và tổ nghề ..................................................................................19
2.2. Nghề nặn Tò he ở Xuân La ............................................................................22
2.2.1. Nguyên liệu và cách sơ chế ..........................................................................22
2.2.2. Dụng cụ thực hiện ........................................................................................27
2.2.3. Kỹ thuật..........................................................................................................29
2.2.4. Thế hệ nghệ nhân của làng nghề Tò he Xuân La ......................................30
2.2.5. Vị trí, vai trò của sản phẩm Tò he ................................................................33
2.2.6. Giá trị văn hóa của Tò he .............................................................................34
2.3. Bí quyết và cách thức truyền nghề ................................................................36
2.4. Thị trƣờng tiêu thụ Tò he ...............................................................................38
2.5. Thực trạng nghề Tò he ...................................................................................39
2.6. Vấn đề thu nhập ..............................................................................................41
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TÒ
HE XUÂN LA .........................................................................................................45
3.1. Giải pháp bảo tồn, phát triển Tò he ..............................................................45
3.1.1. Tuyên truyền về nghề Tò he .........................................................................45
3.1.2. Mở rộng và phát triển thị trường. ................................................................47
3.2. Tăng cƣờng tổ chức và đào tạo tại làng nghề Xuân La ...............................50
3.3. Nâng cao vai trò của chính quyền nhà nƣớc đối với nghề Tò he ...............53
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................58
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghề thủ công Việt Nam có truyền thống quý báu từ lâu đời, truyền
thống được gắn liền với những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng
những sản phẩm thủ công truyền thống với những nét độc đáo tinh xảo và
hoàn mỹ. Các sản phẩm của nghề thủ công truyền thống đều có một vị trí hết
sức quan trọng trong đời sống văn hóa - vật chất của mỗi người dân bởi vì nó
xuất phát từ nhu cầu của người dân. Đúng như lời đánh giá của cựu Bộ trưởng
Trần Hoàn tại hội nghị: “Làng nghề truyền thống Việt Nam 1995”, có nói:
“Làng nghề thủ công Việt Nam là linh hồn là tinh hoa của văn hóa dân tộc.
Nó sự kết hợp giữa sự sáng tạo với tài năng và lao động của nghệ nhân. Sự đa
dạng về sản phẩm thủ công truyền thống đã góp phần tạo nên sự khởi sắc, đa
dạng cho các ngành nghề thủ công Việt Nam, đưa các làng nghề truyền thống
trở thành một nhân tố quan trọng trong bảng màu văn hóa của dân tộc. Thế
nhưng, vẫn còn có những làng nghề thủ công truyền thống mang trong mình
những giá trị độc đáo kết tinh từ bản sắc văn hóa của một dân tộc lại đang
đứng trước nguy cơ mai một và thất truyền. Làng nghề mà tôi muốn nhắc tới
đây chính là nghề nặn Tò he làng Xuân La xã Phượng Dực huyện Phú Xuyên
thành phố Hà Nội. Tò he là sản phẩm đồ chơi dân gian độc đáo, nó vừa mang
bản sắc dân tộc vừa mang tính khoa học, Tò he có tầm quan trọng trong cuộc
sống học tập vui chơi giải trí và rèn luyện tính thẩm mỹ cho trẻ em. Những
người tạo ra nó mặc dù chưa đủ nâng các sản phẩm của mình lên hàng mỹ
nghệ (vì sản phẩm không để được lâu) nhưng các sản phẩm này đã để lại cho
người xem những tình cảm thấm đượm. Ngôn ngữ khối trong Tò he giàu tính
biểu cảm, tính nhịp điệu mang nét gợi nhớ. Nó giản dị như ca dao, là tích tụ từ
trí tuệ của nhân dân qua bao nhiêu thế hệ. Tò he thực sự là món ăn tinh thần
rất gần gũi với người dân Việt Nam. Mới đây thôi (2005) Tò he còn được
1
chọn là một 5 trong những mặt hàng nghệ thuật truyền thống tiêu biểu của
Việt Nam tham gia trong chương trình giao lưu văn hóa Việt - Mỹ. Sự kiện
này đã đánh dấu cho sự khởi sắc của một làng nghề thủ công truyền thống mà
đã có thời gian tưởng chừng đã bị mai một. Nó như luồng gió mát thổi vào
bức tranh làng quê Xuân La vốn ảm đạm và nghèo nàn. Tuy nhiên bẵng đi sau
sự kiện này làng Tò he Xuân La lại tiếp tục hơi thở nhọc nhằn của một vùng
quê nghèo. Sự quan tâm của các cơ quan chức năng cũng thưa dần bởi vậy mà
cả một làng quê với nghề truyền thống giàu bản sắc dân tộc như vậy, được
nhiều bạn bè trên thế giới biết đến nhưng lại không có đủ kinh phí để xây
dựng và duy trì một Câu lạc bộ làng nghề để gìn giữ, phát triển và quảng bá
nét đẹp truyền thống của làng nghề. Quả là một điều hết sức đáng buồn.
Hơn nữa trước xu thế hội nhập và phát triển nghề Tò he có dấu hiệu bị
mai một vì sự manh mún, mỗi người chạy một nơi tha phương cầu thực mà
không đủ ăn. Nếu như cứ để tình trạng như vậy không có sự quan tâm giúp đỡ
của Đảng và Nhà nước, các cơ quan, chính quyền địa phương một cách thiết
thực và sâu sắc hơn nữa thì sẽ rất dễ dẫn đến nghề truyền thống độc đáo này
sẽ chỉ còn là quá khứ đẹp mà thôi. Do vậy vấn đề cấp thiết đặt ra lúc này là
phải tìm hiểu nghiên cứu một cách cụ thể và sâu sắc nhằm đưa ra những biện
pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của nghề thủ công độc đáo - nghề
nặn Tò he. Vì lý do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài nghề nặn Tò he Xuân
La cho bài Khóa luận tốt nghiệp. Tôi hy vọng thông qua bài Khóa luận này sẽ
đóng góp một phần không nhỏ vào công tác bảo tồn và phát triển những giá
trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
2. Lịch sử nghiên cứu
Nguyên cứu về các làng nghề thủ công truyền thống và các hình thức
trò chơi dân gian nói chung hiện nay đã có rất nhiều bài báo, tạp chí và cả
những bài nghiên cứu khoa học đề cập đến. Bên cạnh đó còn có rất nhiều học
2
giả nổi tiếng nghiên cứu về vấn đề này như: tác giả Nguyễn Mạnh Hùng với
cuốn: “ Phong trào mỗi làng một sản phẩm”; tác giả Bùi Văn Vượng với: “
Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”; Cố GS Trần Quốc Vượng: “
Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm” cùng với Đỗ Thị Hảo là tác phẩm:
“ Làng nghề, phố nghề Thăng Long Hà Nội”,…Và còn rất nhiều học giả khác
trong đó có đề cập đến rất nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng
của Việt Nam như: Gốm Bát Tràng, dệt lụa Hà Đông, đúc đồng Ngũ Xã, nghề
thêu Xuân Nẻo,…Trong khi đó nghề nặn Tò he Xuân La thì mới chỉ được
nhắc đến trên những bài báo, tạp chí hay những bài phóng sự mang tính chất
giới thiệu còn hầu như chưa có mặt trong những cuốn sách, các công trính
nghiên cứu khoa học. Nó chưa thực sự trở thành một cơ sở tài liệu khoa học
để những độc giả quan tâm tìm hiểu nghiên cứu. Luận văn thạc sĩ của tác giả
Trương Công Nguyên chỉ là một trong số rất ít những đề tài nghiên cứu về
nghề nặn Tò he và nó cũng đề cập khá lâu từ năm 2001. Do vậy với tình hình
có nhiều thay đổi như hiện nay đòi hỏi chúng ta phải có những công trình
nghiên cứu khoa học 7 mới, đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện và sâu sắc về
nghề thủ công truyền thống với sản phẩm trò chơi dân gian độc đáo này. Đó
là cơ sở để gìn giữ và phát huy những tinh hoa văn hóa của dân tộc.
3. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua bài khóa luận này thì mục đích nghiên cứu tập trung vào
những điểm sau:
- Tìm hiểu những giá trị văn hóa độc đáo, những nét tiêu biểu, đặc sắc
mà sản phẩm Tò he mang lại đối với người dân địa phương nói riêng và người
dân Việt Nam nói chung. Thông qua đó chúng ta thấy được giá trị to lớn của
nó từ đó tuyên truyền giáo dục việc gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
3
- Nghiên cứu thực trạng nghề nặn Tò he Xuân La với những thuận lợi
và khó khăn là cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm duy trì và phát triển
dân gian cổ truyền trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng: Đối tượng nguyên cứu của luận văn là làng nghề truyền
thống Tò he Xuân La thuộc xã Phượng Dực huyện Phú Xuyên thành phố Hà
Nội.
4.2. Phạm vi nguyên cứu:
Thời gian: Từ khi làng nghề truyền thống Tò he Xuân La được hình
thành cho đến nay.
Không gian: Làng nghề Tò he Xuân La tại xã Phượng Dực huyện Phú
Xuyên Thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp nguyên cứu, nguồn tài liệu:
Để thực hiện bài khoá luận này tôi đã thực hiện những phương pháp
sau:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tìm và thu thập những bài báo, tạp chí,
phóng sự có nội dung liên quan đến đề tài làng nghề Tò he và tham khảo một
số bài viết, các đề tài nghiên cứu về nghề và làng nghề thủ công truyền thống
của một số học giả để phụ vụ cho bài viết của mình.
- Phương pháp khảo sát thực địa khảo sát thực tế nghề nặn Tò he Xuân
La một số mặt: lịch sử, kinh tế, văn hóa…
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành gặp gỡ một số nghệ nhân, người
dân làng nghề. Tìm hiểu một cách đầy đủ, đánh giá một cách khoa học về
thực trạng, tiềm năng, và giá trị đích thực của Tò he để từ đó đề ra giải pháp
gìn giữ một làng nghề trong hoạt động kinh doanh du lịch.
6. Đóng góp của đề tài:
- Phân tích và đánh giá thực trạng của làng nghề Tò he Xuân La.
4
- Đưa ra những giải pháp để bảo tồn văn hóa của làng nghề Tò he
truyền thống.
7. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bài khóa luận
gồm có 3 chương chính sau:
Chương 1: Tổng quan về nghề Tò he Xuân La.
Chương 2: Thực trạng làng nghề nặn Tò he ở Xuân La.
Chương 3: Biện pháp bảo tồn và phát triển làng nghề Tò he Xuân La
5
CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÒ HE XUÂN LA
1.1. Lý luận về làng nghề
1.1.1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm làng nghề
Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát
triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát
triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn.
Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái
niệm về làng nghề. Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểm
tương đồng với nhau và được tóm tắt như sau:
Khái niệm thứ nhất: Làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông
thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động
và số thu nhập so với nghề nông. “Tìm hiểu về làng nghề và vai trò của làng
nghề của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” tác giả Huỳnh Đức Thiện.
Khái niệm thứ hai: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một
thôn, có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh
doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị
sản phẩm của toàn làng. “Tìm hiểu về làng nghề và vai trò của làng nghề của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” tác giả Huỳnh Đức Thiện.
Các khái niệm làng nghề ở trên chỉ ra rằng làng nghề gồm 2 từ “làng”
và “nghề” ghép lại. Trong đó, “làng” dùng để chỉ cộng đồng dân cư sinh sống
ở nông thôn với hoạt động kinh tế truyền thống là sản xuất nông nghiệp, còn
“nghề” gắn liền với hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Nhìn chung, các khái
niệm làng nghề đã phản ánh được đầy đủ những đặc điểm của làng nghề Việt
Nam. Vì đa số làng nghề đến nay vẫn giữ được những đặc trưng chủ yếu như
sau:
6
- Làng nghề gồm một hoặc nhiều cụm dân cư sống cùng một khu vực
địa lý được gọi là làng. Làng ở đây được hiểu là thôn, ấp, bản, làng, buôn,
phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn. Cư dân
làng nghề thường có quan hệ với nhau về kinh doanh lẫn dòng tộc, tạo nên
mối quan hệ chặt chẽ về văn hóa kinh tế và xã hội ở làng nghề.
- Làng nghề thu hút được số lượng đáng kể hộ gia đình và lao động của
làng tham gia sản xuất phi nông nghiệp. Nghề phi nông nghiệp của làng nghề
thường là các ngành nghề truyền thống như: đan nát, sơn mài, chạm khắc,
gốm sứ, dệt sợi…Làng nghề có thể có một nghề duy nhất hoặc cùng một lúc 2
nghề khác nhau.
- Làng nghề sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, với mục
đích là kinh doanh để thu lợi nhuận, bởi mức độ tiêu dùng của làng nghề rất
thấp. Thị trường của làng nghề gồm thị trường nội địa và thị trường xuất
khẩu.
- Hộ sản xuất gia đình là loại hình sản xuất chiếm số lượng nhiều nhất
ở làng nghề. Ngoài ra, ở làng nghề còn có sự tham gia của các loại hình sản
xuất khác như: hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu
hạn.
1.1.2. Điều kiệt hình thành làng nghề
Nghiên cứu sự phân bố của các làng nghề cho thấy, sự tồn tại và phát
triển của các làng nghề cần phải có những điều kiện cơ bản nhất định:
Một là, gần đường gia thông. Hầu hết các làng nghề cổ truyền đều nằm
trên các đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông
thủy bộ.
Hai là, gần nguồn nguyên liệu. Hầu như không có làng nghề nào lại gắn
bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản
xuất của làng nghề.
7
Ba là, gần nơi tiêu thụ hoặc thị trường chính. Đó là những nơi tập
chung dân cư với mật độ khá cao, gần bến sông, bãi chợ và đặc biệt là rất gần
hoặc không quá xa các trung tâm thương mại.
Bốn là sức ép về kinh tế. Biểu hiện rõ nhất thường là sự hình thành và
phát triển của các làng nghề ở những nơi ít ruộng dất, mật độ dân số cao, đất
chặt người đông, thêm vào đó có khi còn là do chất đất hoặc khí hậu không
phù hợp làm cho nghề nông khó có điều kiện phát triển để đảm bảo thu nhập
và đời sống dân cư trong làng.
Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng. Nếu không có
những người tâm huyết với nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có khả
năng ứng phó với những tình huống xấu, bất lợi thì làng nghề cũng khó có thể
tồn tại một cách bền vững.
1.1.3. Tiêu chuẩn công nhận làng nghề.
Tiêu chuẩn xác định làng nghề nhiều làng, xã ở Việt nam sản xuất tiểu
thủ công nghiệp nhưng không thể xác định tất cả là làng nghề. Công việc xác
định là làng nghề đó có đủ tiêu chuẩn là làng nghề để có chính sách quản lý
và hỗ trợ làng nghề phát triển ổn định hơn là cần thiết. Do đó, các địa phương
trong nước phải có tiêu chuẩn làng nghề thống nhất. Tiêu chuẩn làng nghề
thực tế vẫn chưa thống nhất giữa các địa phương trong những năm qua. Một
số địa phương đã tự xây dựng tiêu chuẩn làng nghề dựa trên đặc điểm làng
nghề của địa phương. Tỉnh Bình Thuận đưa ra tiêu chuẩn làng nghề: “Số hộ
hoặc lao động làm nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở làng đạt từ 35%
trở lên so với tổng số hộ, lao động của làng hoặc có ít nhất trên 40 hộ và trên
100 lao động có nghề”. Tỉnh Tây Ninh cũng đưa ra tiêu chuẩn làng nghề: “Số
hộ hoặc lao động làm nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở làng đạt từ
20% trở lên so với tổng số lao động của làng hoặc có ít nhất trên 50 hộ và trên
120 lao động có cùng một nghề”…năm 2006, Bộ nông nghiệp và Phát triển
8
nông thôn đã ban hành thông tư số 116/2006/TT- n y 18/12/2006 hướng dẫn
thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/ - CP ngày 7/7/2006 về
phát triển ngành nghề nông thôn. Trong Thông tư này, Bộ NN và PTNN đã
đưa ra 03 tiêu chuẩn của làng nghề gồm: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa
bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh
ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, chấp hành tốt
chính sách, pháp luật của nhà nước. Qua khảo sát làng nghề cho thấy tiêu
chuẩn của Bộ NN&PTNT là phù hợp với tình hình chung của các làng nghề ở
Việt nam. Các địa phương nên sử dụng tiêu chuẩn làng nghề của Bộ NN và
PTNN để tiến đến có một tiêu chuẩn làng nghề thống nhất trên cả nước. Sử
dụng tiêu chuẩn làng nghề trên cả nước sẽ giúp công tác quản lý các làng
nghề địa phương thống nhất. Tiêu chuẩn làng nghề cũng cần điều chỉnh theo
thời gian, được xây dựng trên tiêu chí định lượng và định tính, đồng thời phản
ánh được các đặc điểm của làng nghề gồm:
- Nhóm yếu tố định lượng:
+ Tỷ lệ số hộ tham gia sản xuất ngành nghề so với tổng số hộ làng
nghề.
+ Tỷ lệ số hộ lao động tham gia sản xuất ngành nghề so với tổng số lao
động của làng.
+ Tỷ lệ thu nhập của ngành nghề so với tổng thu nhập của dân cư ở
làng nghề.
- Nhóm yếu tố định tính.
+ Sản phẩm có tính mỹ nghệ, mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc
của từng địa phương hoặc dân tộc.
+ Sản xuất theo những quy trình ổn định và được lưu truyền từ đời này
sang đời khác.
+ Sản xuất hàng hóa để đáp ứng thị trường với mục đích kinh doanh.
9
Trong các tiêu chí trên, tiêu chí tỷ lệ số hộ và lao động tham gia sản
xuất phi nông nghiệp có thể chuyển sang tiêu chí số lượng hộ và lao động
tham gia sản xuất phi nông nghiệp để tính toán, xác định và công nhận làng
nghề đạt chuẩn thuận tiện hơn.
1.2. Khái quát về làng Xuân La
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Phượng Dực là 1 trong 28 xã, thị trấn nằm ở phía Trung - Tây huyện
Phú Xuyên thành phố Hà Nội cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km về phía
Tây theo đường giao thông quốc lộ 1A ( Hà Nội - Sài Gòn ) với vị trí :
Phía bắc giáp xã Nghiêm Xuân, huyện Thường Tín.
Phía tây giáp xã Hồng Vinh.
Phía nam giáp xã Văn Hoàng.
Phía đông giáp xã Đại Thắng.
Xã có tổng diện tích là 653.76 ha, dân số trên 9000 người chia làm 3
thôn gồm: thôn Phượng Vũ, thôn Đồng Tiến và thôn Xuân La. Trong 3 thôn
của xã Phượng Dực thì Xuân La là thôn lớn nhất và nổi bật với dân số đông
và có làng nghề truyền thống đa dạng như: chạm đục, điêu khắc gỗ, may màn,
cao bông và đặc biệt là nghề nặn Tò he rất độc đáo mà hiện nay chỉ còn duy
nhất ở Xuân La là hình thành một làng nghề.
Thôn Xuân La nằm ở vị trí:
Phía đông nam giáp xã Đại Thắng.
Phía tây nam giáp xã Văn Hoàng.
Phía tây bắc giáp thôn Phượng Vũ.
Phía đông bắc giáp xã Văn Tự, Huyện Thường Tín.
Thôn Xuân La có diện tích thổ canh là 1.427.496
cư là 225.000
, diện tích đất thổ
lấy số liệu năm 2010(nguồn trưởng thôn). Thôn được chia
làm 4 xóm: Xóm Cà, Xóm Thượng, Xóm Trung, Xóm Hạ.
10
Xuân La là một thôn nhỏ thuộc khu vực đồng bằng châu thổ Sông
Hồng cái nôi của nền văn minh lúa nước, cội nguồn của nhưng tinh hoa văn
hóa dân tộc mà ông cha ta đã lưu truyền cho đến ngày nay. Với vị trí thuận lợi
của vùng đất này đã tạo nên điều kiện khí hậu có nét đặc trưng của nhiệt đới
chia làm 4 mùa rõ rệt tạo nên cơ cấu mùa vụ đã dạng. Thôn Xuân La xã
Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Xưa kia có tên gọi là làng
Chạ Xuân. Cái tên này cũng bắt nguồn từ một quá trình lịch sử lâu dài. Đó là
sau khi nước ta dành được quyền tự chủ từ thế kỷ X trải qua triều đại quân
chủ: Đinh - Tiền Lê - Trần - Hậu Lê - Mạc -Trịnh Lê - Nguyễn. Từ đời nhà
Trần về trước huyện Phú Xuyên trong đó có làng Xuân La thuộc huyện Phù
Lưu, châu Thượng Phúc. Đời Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Triệu (15161522) đổi tên là huyện Phú Nguyên. Đến đời nhà Mạc vì kỵ tên húy của vua
Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) nên huyện lại đổi tên là Phú Xuyên. Tên này
còn được lưu cho đến này nay.
Huyện Phú Xuyên có 4 xã là: Phượng Dực, Hồng Minh, Chí Trung và
Phú Túc nhưng xã Phượng Dực nổi tiếng là vùng đất văn hiến. Trước đây từ
đời nhà Lê cách đây trên 260 năm, Phượng Dực vẫn thuộc Thường Tín cho
mãi đến năm 1953 mới cắt về huyện Phú Xuyên. Đây là vùng đồng bằng
chiên trũng, dân Phượng Dực chỉ làm ruộng một vụ - vụ chiêm. Theo truyền
thuyết làng Xuân La có chung địa bàn dân cư với thôn Phượng Vũ hay nói
cách khác Phượng Vũ là đất tổ của Xuân La. Tương truyền rằng hàng tháng
khi nghe tiếng trống đình thì mọi người kéo nhau về hội tụ nhưng nhiều lần
quy ước đó không thành hiện thực với những người ở quá xa nên một số
người đã rời hẳn xuống gò đất nổi này dựng đình lập làng. Lúc đầu làng có
tên là làng Chạ (Kẻ Chạ) rồi vì lý do định cư vào giữa mùa xuân nên đổi
thành Chạ Xuân và sau khi khai khẩn làm ăn ở vùng đất bao la nên cái tên
Xuân La ra đời.
11
Cũng theo truyền thuyết xưa làng ngụ trên một vùng cao hình “Linh
Quy nằm phục” theo ý kiến của Nguyễn Văn Tướng 86 tuổi cho biết: “Linh
Quy nằm phục” là 1 trong 4 địa danh tứ linh của huyện Phú Xuyên:
Hoàng Long
(long)
Ngọc Lâu
(ly)
Phượng Vũ
(phượng)
Xuân La
(quy)
Phía nam của làng trước đây có 99 gò nhỏ, tương truyền là đất Nhạn
đậu (đất lành Nhạn đâu). Phía đông nam có những mảnh đất mang địa danh
“đất Cờ Quạt”, “đất Thuyền Rồng”
Phía nam có đường Nghiên Bút.
Phía đông bắc có đường mang tên là đường Vọ sau đổi thành đường
Vọng.
Phía đông bắc có đường khúc Tương.
Trên địa bàn làng có 3 ao lớn: ao cả, ao trung, ao giao. Tương truyền là
nơi trú ngụ của quân Cụ Lĩnh Đồn. Ở đó đã từng chứa những chiếc thuyền lớn
có thể bay qua những mặt đường có chiều rộng hơn 1m. Theo người dân kể
lại: Xưa kia làng có 3 chiếc giếng nằm ở đầu làng và cuối làng. Xưa giếng
làng là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt rất quan trọng. Tương truyền khi
động thổ đào giếng các bô lão phải tiếng hành làm lễ xin âm dương, đào 3
nhát Mai đặt bát úp xuống chỗ đó để xem màu nước, chất nước rồi mới cho
khơi.
Chiếc giếng đầu làng được gọi là: “Hoa sen”
Chiếc giếng ở cuối làng gọi là: “Giếng Chùa” nghe nói rằng nước giếng
được đem đi nấu trà thì không ở đâu ngon bằng.
Chiếc giếng ở giữa làng vào mùa nước lớn thường bị ngập cho đến mùa
xuân làng thường cử những trai đinh khỏe mạnh xuống lấp mạnh bủng, nạo
12
vét giếng. Tương truyền nước của giếng này thường lẫn nhiều mảnh vụn lá
“gối” làm cho nước đục nhờ nhưng lấy nước đó tắm thì sẽ trị được nhiều
bệnh. Nhưng hiện nay cả 3 giếng này cùng với 3 giếng ao đều bị vấp cả.
Người dân chuyển sang sử dụng nước giếng khoan để sinh hoạt. Trong tương
lai họ sẽ thay thế giếng khoan bằng hệ thống nước máy.
1.2.2. Dân cư, kinh tế
So với hai thôn Phượng Vũ và Đồng Tiến thì thôn Xuân La có diện tích
cũng như dân số đông hơn cả. Trên 4000 người với hơn 900 nóc nhà (2016).
Nơi đây không có đồng bào dân tộc sinh sống, cơ bản lại đồng nhất về tôn
giáo nhờ vậy mà việc đưa ra các chính sách quản lý cũng rất dễ dàng. Độ tuổi
dân số ở mức trung bình. Độ tuổi cao nhất từ 97 - 98 tuổi. Dân cư sống tập
chung thành từng cụm lớn nên có sự gắn kết rất chặt chẽ với nhau đã thể hiện
được tính đoàn kết chung sức chung lòng xây dựng quê hương của người dân
nơi đây.
Xuân La cũng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ như: Vũ, Lê, Đặng,
Chu, Đào, Nguyễn, Phạm, Vương và họ Kiều. Trong đó 2 dòng họ được coi là
lâu đời nhất Họ Đặng và họ Nguyễn. Và tất cả những dòng họ trong thôn đều
có tổ chức ngày giỗ của họ mình:
Họ Nguyễn ngày giỗ họ là ngày 16 tháng 6 (âm lịch)
Họ Đặng ngày giỗ họ là ngày 15 tháng 4 (âm lịch)
Họ Vũ ngày giỗ họ là ngày 5 tháng 5 (âm lịch)
Họ Chu ngày giỗ họ là ngày 14 tháng 7 (âm lịch)
Thông qua ngày giỗ họ này họ mong muốn giáo dục con cháu của
mình luôn tưởng nhớ đến công ơn của tổ tiên ông bà đã phấn đấu học tập lao
động.
Xuân La cũng như bao làng quê khác ở Việt Nam đều là có nền văn
minh lúa nước có lịch sử hàng ngàn năm trước. Nghề chính của người dân
13
Xuân La là trồng lúa với cây hoa màu để cung cấp lương thực, thực phẩm cho
chính đời sống của người dân nơi đây. Ngoài nghề chính là trồng lúa nước
làng Xuân La còn có nghề phụ như: may màn, chạm khắc gỗ…Và đặc biệt có
nghề truyền thống mang đậm nét màu sắc văn hóa dân gian của người xưa để
lại đó là nghề nặn “chim cò” nay được gọi là nghề nặn Tò he. Tò he đã được
Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đánh giá cao là một nghề cổ truyền độc đáo
trong nước mà nay chỉ còn duy có ở Xuân La.
Nằm ở vùng đồng bằng chiêm trũng, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp
nên đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, giao thông hạn chế, trình độ văn
hóa chưa cao nhưng nhờ sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước từ năm
1992 với chính sách khôi phục các làng nghề truyền thống nên kinh tế của
Xuân La đã có sự khởi sắc và ngày càng phát triển. Các nghề phụ xưa nay thì
cũng đã trở thành nghề lao động mang lại thu nhập chính cho người dân nơi
đây. Theo chỉ thị của xã Phượng Dực thì thôn sẽ phấn đấu đạt 55% cho các
hoạt động thủ công nghiệp dịch vụ và thương mại, giảm xuống còn 45% hoạt
động sản xuất nông nghiệp. Năm 2015 toàn xã thu nhập bình quân tính chung
toàn xã là 950000đ/người/ năm. Đây là con số rất đáng mừng đối với vùng đất
nông thôn còn nhiều khó khăn này. Hy vọng Xuân La sẽ vẫn tiếp tục bước
nhưng bước tiến mới trong tương lai.
1.2.3. Di tích lịch sử ở Xuân La
Xuân La quả thực là một vùng đất giàu bản sắc văn hóa bởi nơi đây còn
những dấu tích của nền văn hóa lâu đời của hình ảnh của mái đình bến nước
cây đa, ngôi chùa cổ kính, miếu thờ linh thiêng và đặc biệt là những ngày
hội làng náo nức đông vui thì nền văn hóa đó lại bộc lộ một cách sâu sắc
hơn.
* Đình Xuân La
14
Từ khi rời Phượng Vũ xuống lập ấp, khai canh, địa bàn Xuân La đồng
trắng nước trong, đời sống nhân dân rất cơ cực, nhưng không vì thế mà
người Xuân La quên đi những nét đẹp văn hóa truyền thống. Theo các cụ
cao tuổi được biết thì lúc đầu đình làng được xây dựng bằng tranh tre, nứa lá
và chỉ có một gian đại bái ở cuối làng mà này còn lại một địa danh mang tên:
“nền đinh”. Năm 1938 do đời sống của nhân dân khá lên và trong làng xuất
hiện một số hiền tài đã góp của xây dựng lại đình. Cũng như hầu hết các
ngôi đình xây dựng vào đầu thế kỷ XIX. Thời kỳ nghệ thuật kiến trúc điêu
khắc đình làng Việt Nam còn đang tiếp nối các giai đoạn trước. Trong tâm
thức cuả người Xuân La ngôi đình thực sự của họ rất đẹp. Đình gồm 3 đại
bái, 1 gian hậu cung với cấu trúc hình “chuôi vồ” thờ “Tản Viên Sơn
Thánh”. Toàn bộ kèo được làm bằng gỗ lim, được chạm khắc theo những đề
tài tứ linh, tứ quý tinh xảo bằng tay khối óc của những người thợ Xuân La.
Nhưng đến năm 1950 đình đã bị giặc pháp đốt, các sắc phong bị đốt cháy
hết, đến năm 1997 dân làng dựng lại đình nhưng dời vị trí về phía đầu làng.
Đình được xây dựng bằng gạch và vôi vữa nhưng vẫn theo cấu trúc ngôi
đình cũ. Trong đình vẫn giữ lại ngai thờ xưa và bộ bát biểu, riêng hoàng phi
câu đối hương án đều làm mới và lấy nguyên mẫu từ đền Và (Ba Vì –Hà
Nội).
* Chùa Xuân La (chùa Linh Quy)
Ngôi chùa có vị trí ở cuối làng có tên là: “Linh Quy Tự” (chùa Linh
Quy). Chùa được xây dựng vào đúng với kiến trúc của ngôi chùa Việt. Chùa
theo mặt bằng nguyên kiến trúc, theo kết câu chữ công. Mặt trước của chùa có
những ao lớn - đây là một biểu tượng theo lối phương Đông. Trước chùa có
tiền đường và thượng điện, phía sau là nhà hậu để thờ thổ chùa, thờ mẫu, thờ
những người có công với chùa. Hai bên tả hữu là nhà khách, nhà của các tăng
ni và nhà bếp.
15
Năm 1950 chùa cũng bị đốt cùng với đình đến hư hỏng rất nặng nhưng
sau đó người dân xây dựng lại rất khang trang. Hiện nay trong chùa còn bài trí
rất nhiều pho tượng, các đồ thờ, một quả chuông đồng có ghi “kim Quy tự
chung” cùng các câu đối trên đó.
*Hội làng Xuân La
Ở Xuân La, hội lớn nhất trong năm là hội đình được tổ chức từ ngày
15 đến ngày 18 tháng giêng âm lịch. Các cụ cao tuổi kể lại rằng: Trước khi
đình bị tàn phá quy mô của hội rất to. Ngoài việc tổ chức tế rước, chơi các trò
chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, đập niêu, cờ, đấu vật…Trong ký ức cũ của
người Xuân La thì hội làng vô cùng náo nhiệt, từ già đến trẻ ai cũng náo nức
chờ đón. Mỗi dịp hội làng là mỗi dịp người dân tạp gác những lo toan công
việc hàng ngày để sống trong niềm vui bình dị. Và dĩ nhiên, ngày hội làng của
Xuân La không thể thiếu những chú Tò he. Quê hương đã sản sinh ra một thứ
đồ chơi truyền thống gắn liền với các lễ hội. Mỗi dịp hội làng là mỗi dịp các
người trong làng thi tài với nhau xem ai nặn đẹp hơn rồi khi chia tay ai cũng
hả hê vui thích hẹn nhau hội năm sau lại thi tài với nhau. Sau khi đình làng bị
giặc đốt cháy lễ hội đã ngừng hẳn và cho đến năm 1999 nhân dịp khánh thành
ngôi đình mới cho xây dựng lại làng mới tiếp tục tổ chức lễ hội. Theo ý kiến
của các chính quyền địa phương và các đoàn thể thì do nguồn kinh phí hạn
hẹn nên làng cứ 3 năm tổ chức một lần, 2017 là năm Xuân La mở hội lớn với
nhất nhiều phần thi trong phần hội như kéo co, đấu vật, bịt mắt bắt dê, đu
quay và đặc biệt là hội thi nặn Tò he của các nghệ nhân trong làng để tìm ra
người nặn những con Tò he đẹp và hấp dẫn du khách.
1.2.4. Đời sống văn hóa người dân Xuân La
Ngoài sự phong phú về đời sống văn hóa, mảnh đất Xuân La còn đa
dạng bởi sự đóng góp của các ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống đã
tạo ra những nét văn hóa truyền thống đậm chất dân tộc. Đặc biệt người dân
16
Xuân La còn tạo ra những làn điệu, câu hát dân ca góp phần tô đẹp cho truyền
thống văn hóa của con người nơi đây. Những làn điệu lời ca đã nuôi dưỡng
tâm hồn bao người con trên mảnh đất nghèo vật chất mà giàu văn hóa này.
Với lịch sử hình thành vốn xuất phát từ những người dân lao động thủ công
quen với việc sử dụng đôi bàn tay và khối ốc để sáng tạo ra những sản phẩm
độc đáo tinh tế phục vụ cho mọi người nên việc học hành ở đây không được
chú trọng nhưng mấy năm đây do thay đổi tư duy và định hướng nghề của
mình có giá trị kinh tế thấp nên việc học hành được chú tâm nhiều hơn tỉ lệ đỗ
đại học chiếm 10% đến 12%. Để phát huy truyền thống cách mạng, nếp sống
của làng và dựa trên cơ sở pháp luật của nhà Nước ban hành. Nguyện vọng
của người dân nơi đây là giữ gìn được truyền thống văn hóa của làng xây
dựng quê hương mình ngày càng giàu đẹp mà vẫn giữ bản sắc văn hóa. Vì
vậy người dân Xuân La đã xây dựng bản quy ước của làng, đồng tâm nhất trí
phấn đấu đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nếp sống mới, phát
huy truyền thống yêu quê hương, tôn trọng kỷ cương pháp luật, bảo vệ an
ninh trật tự an toàn xã hội.
Bản quy ước của làng gồm 5 chương với 17 điều có nội dung chính
như sau:
Những quy định chung
Chương I: Nếp sống trong gia đình và ngoài xã hội.
Chương II: Nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, mừng thợ, mừng
sinh nhật, lễ hội, bài trừ mê tín dị đoan.
Chương III: Bảo vệ phát triển sản xuất, bảo vệ các công trình công cộng,
bảo vệ môi trường giữ gìn cảnh quan làng xóm.
Chương IV: Bảo vệ an ninh trật tự giữ gìn kỷ cương làng xóm.
Chương V: Tổ chức thực hiện khen thưởng kỷ luật.
17
Kết luận chƣơng 1: Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn
với lịch sử phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Xuân La cũng là một
làng nghề sản xuất truyền thống của nước ta, đó là nghề Tò he mà chỉ còn
duy nhất nơi đây hình thành một làng nghề. Xuân La quả thực là một vùng
đất giàu bản sắc văn hóa bởi nơi đây còn những dấu tích của nền văn hóa
lâu đời của hình ảnh của mái đình bến nước cây đa, ngôi chùa cổ kính, miếu
thờ linh thiêng và đặc biệt là những ngày hội làng náo nức đông vui thì nền
văn hóa đó lại bộc lộ một cách sâu sắc hơn.
18
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TÒ HE Ở XUÂN LA
(PHÚ XUYÊN – HÀ NỘI)
2.1. Lịch sử nghề và tổ nghề
Đến với Xuân La từ người già cho đến trẻ nhỏ không ai là không thuộc
câu đồng dao:
“Tò he cụ bán mấy đồng?
Con mua một chiếc cho chồng con chơi.
Chồng con đánh hỏng thì thui
Con mua chiếc khác con chơi một mình”.
Xưa kia Tò he là sản phẩm mang nhiều ý nghĩa: ăn chơi, cũng lễ, thú
vui… Cái tên “Tò he” cũng tồn tại trong dân gian khá lâu và người làm nghề
có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất vẫn là làng Xuân La (Phượng Dực - Phú
Xuyên - Hà Nội). Theo các cụ trong làng kể lại thì nghề nặn Tò he có lịch sử
trên 300 năm tuổi. Nhưng đến nay chưa có thông tin chính xác về cái nghề Tò
he này có từ bao giờ? và cũng lạ thật chẳng phải nghề bí truyền nhưng suốt
hơn 300 năm qua duy chỉ có người làng Xuân La mới biết làm và tinh thục
được thứ đồ chơi gọi là Tò he này. Nghề truyền nghề, đời nối đời người đàn
ông Xuân La thường gắn với việc nặn Tò he từ lúc còn nhỏ đến lúc ngã tóc
xuống.
Nghề nặn Tò he khởi đầu bằng đất sét, rơm rạ. Cổ nghệ nhân Nguyễn
Văn Phiên người có công lớn trong việc giữ gìn lưu truyền nghề kể lại: ngày
xưa Xuân La nghèo lắm. Đến tết trung thu, trẻ con không có quà để chơi. Ông
cha ta mới nghĩ ra cách lấy đất sét nặn những con giống, lấy rơm rạ nung nồi
lấy gạch non phết màu rồi phơi khô mang cho trẻ em chơi. Sau đó một thời
gian người ta chuyển sang dung bột gạo để nặn Tò he, trẻ chơi xong là có thể
ăn con giống. Thời trước, khi mà đời sống nhân dân Xuân La còn nghèo, đồ
19