Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

Phong tục hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.18 MB, 60 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

ĐỖ THỊ TUẤT

PHONG TỤC HÔN NHÂN
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC

1

HÀ NỘI - 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo này
là trung thực, chính xác.

ĐỖ THỊ TUẤT

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo cáo này
đã được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã đ-

PHONG TỤC HÔN NHÂN

ược ghi rõ nguồn gốc.



CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN

Nội, ngày tháng năm 2017
Ở HUYỆN QUANG BÌNH – Hà
TỈNH
HÀ GIANG
Sinh viên
ĐỗHỌC
Thị Tuất
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI

Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC

Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TÍNH

2

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn toàn
thể các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, tạo điều kiện
cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Tính cán bộ
giảng dạy của Khoa Ngữ văn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài này.

Vì thời gian thực tập có hạn nên Khóa luận tốt nghiệp của tôi không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy
cô giáo để Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Đỗ Thị Tuất

3


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................................. 2
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................ 7
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu ..................................................................................................................... 8
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .............................................................................. 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 10
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................................... 10
6. Cấu trúc của khoá luận ............................................................................................................. 11
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TUYỂN ................................................................. 12
Ở HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG ......................................................................... 12
Lịch sử hình thành ............................................................................................................... 12

1.
1.1.


Khái quát về điều kiện tự nhiên ....................................................................................... 12
1.1.1. Vị trí địa lí ...................................................................................................... 12
1.2.2 Địa hình .............................................................................................................. 12
1.2.3 Khí hậu ............................................................................................................... 13
1.2.4 Tài nguyên.......................................................................................................... 13

1.2.

Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội ............................................................................... 14

1.3. Khái quát về dân tộc Dao Tuyển ........................................................................................... 15
1.3.1 Tên gọi, dân số và sự phân bố ............................................................................ 15
1.3.2 Lịch sử cư trú ..................................................................................................... 16
1.3.3 Hoạt động kinh tế ............................................................................................... 17
1.3.4 Tổ chức xã hội.................................................................................................... 18
1.3.3.1 Văn hóa vật chất ............................................................................................. 18
1.3.3.2 Tục lệ xã hội ................................................................................................... 19
1.3.5 Các đặc trưng văn hoá ........................................................................................ 20

4


1.3.5.1 Tôn giáo, tín ngưỡng ....................................................................................... 20
1.3.5.2 Văn học nghệ thuật.......................................................................................... 24
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................................................ 26
Chương 2: HÔN NHÂN TRUYỀN THỐNG ............................................................................... 27
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN HUYỆN QUANG BÌNH .............................................................. 27
2.1 Quan niệm và nguyên tắc trong hôn nhân .................................................................................. 27
2.1.1 Quan niệm về hôn nhân ...................................................................................................... 27
2.1.2 Nguyên tắc trong hôn nhân ................................................................................................. 28

2.1.2.1 Nguyên tắc hôn nhân đồng tộc ........................................................................ 28
2.1.2.2. Nguyên tắc không trùng tên đệm.................................................................... 30
2.1.2.3.Nguyên tắc tính tuổi hợp ................................................................................. 31
2.1.2.4. Nguyên tắc không có thai trước hôn nhân ..................................................... 31
2.2 Hôn nhân truyền thống của người Dao Tuyển ........................................................................... 32
2.2.1. Lễ so tuổi........................................................................................................................... 32
2.2.2 Lễ dạm ngõ......................................................................................................................... 35
2.2.3. Lễ ăn hỏi............................................................................................................................. 36
2.2.4 Lễ cưới ............................................................................................................................... 37
2.2.5 Lễ lại mặt sau đám cưới ..................................................................................... 43
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................................................ 44
Chương 3: NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TRONG NGHI LỄ
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN ...................................................................... 45
3.1 Những giá trị truyền thống ......................................................................................................... 45
3.1.1 Giá trị lịch sử....................................................................................................................... 45
3.1.2.Giá trị đạo đức .................................................................................................................... 46
3.1.3.Giá trị bảo lưu tôn giáo tín ngưỡng cổ truyền .................................................................... 49
3.1.4. Giá trị bảo lưu văn hóa nghệ thuật cổ truyền ..................................................................... 50
3.2 Những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân...................................................................................... 51
3.2.1 Các yếu tố biến đổi.............................................................................................................. 51

5


3.2.2 Nguyên nhân của sự biến đổi ............................................................................................. 52
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................................................ 53
KẾT LUẬN ...................................................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................ 58
PHỤ LỤC......................................................................................................................................... 59


6


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với một nền văn hóa đa dạng trong
thống nhất. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, mỗi dân tộc đã tạo
dựng cho mình một kho tàng văn hóa đồ sộ, một truyền thống văn hóa riêng để phân
biệt với các dân tộc khác. Những giá trị văn hóa đó tạo nên bản sắc văn hóa tộc
người, làm thành những chuẩn mực để phân biệt tộc người này với tộc người kia.
Trong các tộc người thiểu số ở nước ta, người Dao có dân số khá đông, xếp
vào hàng thứ 9 với khoảng 751.067 người (2009), cư trú chủ yếu ở các tỉnh vùng
cao biên giới phía Bắc như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng
Sơn... Người Dao có nhiều nhóm ngành khác nhau lại cư trú trên địa bàn nhiều tỉnh
đã tạo nên những sắc thái văn hóa phong phú và đa dạng. Trong số 7 nhóm Dao địa
phương thì ở Hà Giang có Dao Tuyển, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Tuyển, Dao
Lô Gang và Quang Bình là một trong những huyện tập trung đông người Dao
Tuyển.
Người Dao Tuyển ở Quang Bình bảo tồn được nhiều loại hình văn hóa dân
gian và nếp sống của cộng đồng có tính chất tộc người. Nói đến văn hóa dân tộc
không thể không kể đến tập quán cưới xin - một phong tục, nghi lễ đời người, đánh
dấu bước mở đầu, hình thành gia đình. Cưới xin chiếm một vị trí quan trọng trong
đời sống văn hóa Việt Nam nói chung và từng tộc người nói riêng, trong đó có dân
tộc Dao Tuyển - một dân tộc thiểu số có nền văn hóa khá đa dạng và đặc sắc, trong
đó tập quán cưới xin là một sinh hoạt văn hóa hội tụ cả văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần của người Dao Tuyển. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, sự giao lưu văn
hóa diễn ra trên diện rộng, nhiều phong tục tập quán trong đó có tập quán cưới xin

7



của người Dao Tuyển đang có sự biến đổi mạnh mẽ. Chính vì vậy, vấn đề bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang là việc làm cấp thiết.
Với các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu “Phong tục hôn nhân của
người Dao Tuyển huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp cử nhân ngành Việt Nam học.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1945 ít
được các nhà nghiên cứu quan tâm đến. Các công trình nghiên cứu về người Dao
ở giai đoạn này gần như chỉ thiên về giới thiệu sơ lược nguồn gốc, địa bàn cư trú,
trang phục… Căn cứ vào các thư tịch hiện còn lại, việc ghi chép, tìm hiểu về lịch
sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người Dao đã được các nhà Nho tiến hành
từ thế kỷ XVIII. Đầu tiên phải nhắc đến là trường hợp nhà bác học Lê Quý Đôn,
trong tác phẩm nổi tiếng Kiến văn tiểu lục (1778) của mình, ông đã giới thiệu sơ
lược về nguồn gốc, cuộc sống, cách ăn mặc của một nhóm người Man (Dao) ở Việt
Nam [4]. Mặc dù mới giới thiệu một cách sơ lược về nhóm người Man nhưng Lê
Quí Đôn cũng đã đưa ra được những đặc điểm bên ngoài cơ bản nhất giúp chúng ta
phân biệt được tộc người này với các tộc người thiểu số khác. Người thứ hai phải
kể đến là tiến sĩ Hoàng Bình Chính trong cuốn Hưng hóa xứ phong thổ lục (1778),
đây là cuốn sách được viết theo thể loại địa chí, nhưng ở đó ông đã ghi chép và
giới thiệu khái quát về trang phục, phong tục của người Dao ở Lào Cai [1]. Người
thứ ba là nhà sử học Phạm Thận Duật trong năm 1856 ông viết tác phẩm Hưng
Hóa ký lược, ở mục phong tục tập quán ông đã giới thiệu về phong tục, tập quán
của các dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, trong đó ông dành nhiều trang viết về dân tộc
Dao. Có thể thấy, mặc dù đó chưa phải là các công trình chuyên biệt về tộc người
Dao, nhưng các tác giả thời phong kiến của Việt Nam bước đầu đã có ý thức đề
cập đến nguồn gốc, phong tục, tập quán của tộc người này một cách tương đối có
hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ thế kỷ XVIII, người Dao ở Việt Nam đã
được quan tâm tìm hiểu, ghi chép. Nhưng do nguồn tư liệu còn bị hạn chế nên hầu
8



hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sơ lược về tên
gọi, một vài nét đặc sắc về phong tục, tập quán, trang phục của người Dao. Nhưng
đó là nguồn tư liệu đáng tin cậy để tìm hiểu về nguồn gốc, quá trình di cư, địa bàn
cư trú của người Dao ở Việt Nam.
Cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu về người Dao và văn hoá
người Dao, sơ lược điểm qua như sau:
- Các công trình viết về người dân tộc thiểu số có đề cập đến người Dao: Tác
giả Hoàng Nam (1998) trong sách Bước đầu tìm hiểu văn hoá tộc người văn hoá
Việt Nam [6], đã đề cập đến điều kiện tự nhiên, môi trường văn hoá các dân tộc ở
Việt Nam, trong đó có người Dao; Tác giả Nguyễn Đăng Duy (2004) với sách
Nhận diện văn hoá dân tộc thiểu số Việt Nam [2], trong đó có người Dao, cung cấp
cho người đọc những thông tin chung về văn hoá dân tộc người Dao.
- Các công trình viết riêng về người Dao và văn hoá người Dao:
+ Cuốn Người Dao ở Việt Nam (1971) của tập thể tác giả Bế Viết Đẳng,
Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến [3], là công trình đã đề cập
khá toàn diện về đời sống của người Dao trên lãnh thổ Việt Nam như dân số, địa
vực, tên gọi các nhóm Dao, các hình thái kinh tế. sinh hoạt văn hoá vật chất, văn
hoá tinh thần, sinh hoạt xã hội và những đổi mới trong đời sống của người Dao từ
cách mạng tháng Tám đến năm 1971.
+ Cuốn Sách cổ người Dao - tập 3 “Những bài ca giáo lý” do Trần Hữu Sơn
chủ biên (2009) [12], là một trong những bộ sách ghi chép lại những lời hay ý đẹp
mang tính chất răn dạy giáo lý của người Dao.
- Các công trình về đám cưới người Dao:
+ Tác giả Trần Hữu Sơn (2001) trong cuốn Lễ cưới người Dao Tuyển [8], đã
trình bày khái quát chung về người Dao Tuyển và mô tả về lễ cưới của người Dao
Tuyển khá đầy đủ chi tiết với cách tiếp cận dân tộc học.

9



Như vậy, cho đến nay có khá nhiều đề tài đi sâu khảo sát về hôn nhân và
việc cưới xin của người Dao Tuyển ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Giang nói
riêng . Đề tài “Phong tục hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang
Bình, tỉnh Hà Giang ” được thực hiện trên tinh thần khảo sát trung thực, đầy đủ,
trình tự đám cưới của người Dao Tuyển ở một địa bàn cụ thể, hy vọng sẽ bổ sung
thêm cho những thành quả của các tác giả đi trước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Khảo sát thực tế nghi lễ hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang
Bình, tỉnh Hà Giang. Từ đó cung cấp tư liệu cụ thể và trung thực về đám cưới
người Dao Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang phục vụ cho nghiên cứu và
thực tiễn bảo tồn và phát huy văn hoá tộc người nói chung và người Dao nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghi lễ hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện
Quang Bình, tỉnh Hà Giang, bao gồm nội dung trình tự trước và sau lễ cưới.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu các nghi lễ trong
hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học là
chính. Thông qua việc điền dã, tiến hành phỏng vấn một số thầy mo, người cao
tuổi trong làng và quan sát thực tiễn đám cưới của người Dao Tuyển ở huyện
Quang Bình.
Bên cạnh đó, phương pháp tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu đã công
bố: tập hợp và kế thừa các công trình nghiên cứu về người Dao nói chung và Dao
Tuyển nói riêng và cũng được sử dụng để thực hiện đề tài. Trước khi tiến hành
điều tra khảo sát, người nghiên cứu tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến
10



vấn đề nghiên cứu như sách, luận văn, luận án, bài tạp chí, báo mạng…Trên cơ sở
đó phân tích, thống kê, so sánh các tư liệu, tài liệu thu thập được, phát hiện những
vấn đề chưa được đề cập và giúp cho việc nghiên cứu đạt hiệu quả.
6. Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, nội dung của khoá luận được trình
bày trong 3 chương chính:
Chương 1: Khái quát về lịch sử cư trú và điều kiện tự nhiên của người Dao
Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang
Chương 2: Hôn nhân truyền thống của người Dao Tuyển ở huyện Quang
Bình, tỉnh Hà Giang
Chương 3: Những nghi lễ truyền thống và sự biến đổi trong nghi lễ hôn nhân
của người Dao Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang

11


Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG
1. Lịch sử hình thành
Là đơn vị hành chính mới của tỉnh Hà Giang, Quang Bình được thành lập
trên cơ sở của các xã được tách ra từ 3 huyện Hoàng Su Phì, Bắc Quang và Xín
Mần. Toàn huyện có 15 đơn vị hành chính, bao gồm 14 xã và 1 thị trấn.
Ngày 01/12/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 146/2003/NĐ - CP về
việc thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
Huyện Quang Bình được thành lập trên cơ sở 52.767 ha diện tích tự nhiên và
42.947 nhân khẩu (gồm toàn bộ các xã Bản Rịa, Yên Thành, Yên Bình, Bằng
Lang, Xuân Giang, Nà Khương, Yên Hà, Tiên Yên, Hương Sơn, Tân Trịnh, Vĩ
Thượng, Tân Bắc) của huyện Bắc Quang; 17.013 ha diện tích tự nhiên và 5.457 nhân
khẩu (gồm toàn bộ các xã Tiên Nguyên, Xuân Minh) của huyện Hoàng Su Phì; 7.683
ha diện tích tự nhiên và 2.482 nhân khẩu (toàn bộ xã Tân Nam) của huyện Xín Mần.

1.1.

Khái quát về điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lí
Huyện Quang Bình nằm ở phía bắc giáp huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần;
phía đông giáp huyện Bắc Quang; phía nam giáp với một phần của huyện Bắc
Quang và huyện Lục Yên (tỉnh Yên Bái); phía tây giáp với huyện Bảo Yên (tỉnh
Lào Cai).
1.2.2 Địa hình
Huyện Quang Bình thuộc vùng thấp của tỉnh Hà Giang, chia làm 3 loại hình
cơ bản: Địa hình đồi núi cao (trung bình từ 1.000 - 1.200 m), dạng lượn sóng; địa
hình đồi núi thoải (trung bình từ 1.000 - 1.200 m), có dạng đồi núi bát úp hoặc
12


lượn sóng; địa hình thung lũng (gồm các dải đất bằng thoải và những cánh đồng
ven sông suối).
1.2.3 Khí hậu
Quang Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của
gió mùa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,50c, lượng mưa trung bình khoảng
3.500 - 4.000 mm/năm.
1.2.4 Tài nguyên
* Tài nguyên khoáng sản
Huyện Quang Bình, hiện nay có nguồn tài nguyên như: Mỏ chì, kẽm, mê ka,
quặng sét, vàng sa khoáng; nguồn vật liệu cát, sỏi, đá xanh.
* Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên của huyện Quang Bình là 79.188,04 ha với nhiều loại
đất phân bố ở các dạng địa hình khác nhau, kết hợp với sự phân hóa của khí hậu
nên có điều kiện để quy hoạch khai thác phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp

chuyên canh theo hướng hàng hóa, là cơ sở để xây dựng nên những thương hiệu
hàng hóa nổi tiếng của quê hương Quang Bình.
Ở các xã có địa hình núi cao như: Xuân Minh, Tân Bắc, Tân Trịnh, Tiên
Nguyên, Yên Thành, Bản Rịa... là vùng thuận lợi cho phát triển chăn nuôi đại gia
súc, trồng cây lâm nghiệp, cây dược liệu và phát triển Chè Shan tuyết... Thương
hiệu chè Tiên Nguyên, Xuân Minh đã từng bước được khẳng định và tìm được chỗ
đứng trên thị trường.
* Tài nguyên rừng
Diện tích rừng nguyên sinh với thảm thực vật tương đối phong phú, đa dạng
với nhiều loại động, thực vật quý, hiếm như: Gỗ trai, nghiến, đinh, sến...có tác
dụng bảo vệ môi trường sinh thái, chống sói mòn, sạt lở, đồng thời còn có thể phát
triển hoạt động du lịch sinh thái, là điểm đến hấp dẫn đối với những người yêu
13


thích thiên nhiên. Diện tích rừng trồng (rừng kinh tế) phát triển tương đối mạnh,
góp phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho công
nghiệp giấy và vật liệu xây dựng...
Ở các xã, thị trấn vùng thấp như Yên Bình, Bằng Lang, Xuân Giang, Yên
Hà, Hương Sơn, Tiên Yên, Vĩ Thượng và phần đồi núi thấp của các xã vùng cao
địa hình có dạng đồi núi bát úp hoặc lượn sóng tương đối thuận lợi cho phát triển
các loại cây công nghiệp, cây ăn quả (cam, quýt) với quy mô lớn.
* Tài nguyên nước
Quang Bình có nguồn nước mặt khá dồi dào thông qua hệ thống sông suối
gồm 02 con sông chính là sông Chừng (Sông con 2) và Sông Bạc. Có nhiều suối
nhỏ phân bố tương đối đồng đều ở các xã, thị trấn rất thuận lợi cho việc nuôi trồng
thuỷ sản, xây dựng các công trình thuỷ lợi, cung cấp nước cho sản xuất nông
nghiệp và xây dựng các nhà máy thuỷ điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân
dân.
1.2.


Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội

Là huyện nằm ở phía nam của tỉnh Hà Giang, cách không xa trung tâm tỉnh
lỵ với nền sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp là chủ yếu, Đảng bộ huyện đã tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế bằng nhiều giải pháp như: Đẩy mạnh phát
triển sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực (giảm
dần tỷ trọng sản xuất nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp - xây
dựng và thương mại - dịch vụ). Tổng giá trị tăng thêm năm 2013 đạt 990,4 tỷ đồng;
thu nhập bình quân đầu người đạt 16,2 triệu đồng.
Bằng cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của địa
phương, huyện đã quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đẩy mạnh phát
triển 5 cây (lúa, ngô, chè, cam, lạc) 2 con (trâu, lợn); tổ chức lại sản xuất; nhân dân
chủ động về thời vụ, phòng chống dịch bệnh, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực
14


hiện thâm canh, luân canh, xen canh tăng vụ, xây dựng mô hình phát triển sản xuất.
Đã có nhiều mô hình như: Mô hình đầu tư có thu hồi để tái đầu tư tại 3 xã (Tân
Bắc, Yên Hà và Hương sơn), 12 mô hình cánh đồng mẫu; mô hình trồng cam theo
hướng tiêu chuẩn VietGAP tại 2 xã (Yên Hà và Hương sơn); thí điểm trồng cây vụ
đông tại 3 xã (Vĩ Thượng, Xuân Giang và thị trấn Yên Bình), Mô hình cải tại vườn
đồi gắn với xây dựng nông thôn mới tại 15 thôn/15 xã, thị trấn, Mô hình Tổ quản
lý bảo vệ rừng tại 3 xã trọng điểm (Nà Khương, Xuân Giang và Bằng Lang) thí
điểm việc quản lý cưa xăng ở xã Nà Khương.
Phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các dự án thủy điện, năm 2011 đã khánh thành
đưa vào vận hành, khai thác nhà máy thủy điện sông Chừng (sông Con 2) công
xuất 19,5 MW; Nhà máy thủy điện Bản Măng (xã Bản Rịa) công xuất 2 MW. Nhà
máy thủy điện sông Bạc công xuất 42 MW. Toàn huyện có 3 trạm hạ thế. 109/135

thôn,tổ dân phố có điện lưới đến trung tâm, số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia
đạt 83%. Tạo cơ chế, thu hút đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất và chế biến các sản
phẩm nông - lâm nghiệp, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng các tổ nghề truyền
thống.
Toàn huyện có 13/15 xã, thị trấn có chợ nông thôn và hoạt động thường
xuyên, hơn 450 hộ cá thể và Hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tổng
hợp.
1.3. Khái quát về dân tộc Dao Tuyển
1.3.1 Tên gọi, dân số và sự phân bố
Dao là tên gọi chính thức của cộng đồng Dao ở Việt Nam. Trước đây mang
nhiều tên gọi khác nhau như: Mán, Động, Trại, Xá,… Người Dao tự gọi mình là
Kềm Miền, Kìm Mùn hoặc Dìu Miền. Theo tiếng Dao thì Kềm hoặc Kìm là rừng
còn Miền hoặc Mùn là người. Bởi vậy, Kềm Miền hay Kìm Mùn có nghĩa là người
15


của núi rừng. Hiện nay tộc người Dao ở nước ta được nhà nước công nhận chính
thức và được các nhà khoa học xếp vào nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao thuộc ngữ
hệ Nam Á. Dựa vào kết quả tổng điều tra dân số năm 1999 thì người Dao ở nước ta
có 620.538 nhân khẩu, chiếm 0,8% tổng dân số cả nước, đứng vào hàng thứ 9
trong bảng danh mục các tộc người ở Việt Nam.
Người Dao cư trú tập trung ở 18 tỉnh như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao
Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lai
Châu, Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Thanh Hóa, Đắc Lắc, Đồng Nai,
Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Người Dao ở Việt Nam thuộc về hai phương ngữ:
* Phương ngữ thứ nhất gồm hai ngành lớn là Đại Bản và Tiểu Bản.
- Ngành Đại Bản có các nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh phán
- Ngành Tiểu Bản có Dao Tiền (Dao Đeo Tiền)
* Phương ngữ thứ hai gồm có hai ngành: Dao Quần Trắng (Dao Họ, Mán Đen) và
Dao Làn Tiẻn. Trong đó Dao Làn Tiẻn có hai nhóm nhỏ là Dao Thanh Y và Dao

Tuyển (Dao Áo Dài, Dao Chàm, Dao Bằng Đầu, Dao Slán Chỉ). Như vậy, Dao
Tuyển là một nhóm nhỏ của ngành Dao Làn Tiẻn thuộc về phương ngữ thứ hai.
1.3.2 Lịch sử cư trú
Ở Hà Giang, dân tộc Dao đứng thứ 3 về dân số, sau người H’mông và người
Tày, chiếm 15,14% dân số toàn tỉnh. Người Dao phân bố ở hầu hết khắp các
huyện, đông nhất là Vị Xuyên: 21,988 người. Tuy vậy, chưa có tài liệu nào cho
biết người Dao Tuyển đến Hà Giang từ bao giờ. Qua tài liệu điền dã, nhiều dòng
họ Dao Tuyển mới từ Trung Quốc sang Hà Giang được 8 - 10 đời. Tại đây, họ cư
trú thành làng (giắng hay giằng) với tên gọi theo đặc điểm địa hình, địa vật…Trước
đây, làng của họ mang tính tự quản, đứng đầu là ông giằng châu, từ năm 1960
thêm chức trưởng thôn. Tiếng nói của già làng, trưởng họ, thầy cúng rất quan

16


trọng. Nhiều làng có chủ miếu, chuyên trông coi, cúng miếu vào các ngày tuần tiết
vào các dịp cúng lớn trong năm.
1.3.3 Hoạt động kinh tế
Người Dao Tuyển là cư dân nông nghiệp canh tác nương rẫy và làm ruộng
lúa nước. Trước đây nương rẫy là hình thức canh tác chủ yếu và phổ biến nhưng về
sau người Dao Tuyển đã biết khai phá làm ruộng lúa nước hoặc ruộng bậc thang.
Trong canh tác nương rẫy đồng bào Dao rất chú trọng khâu chọn đất. Để có nương
tốt phải chọn đất có nhiều mùn và ở phía mặt trời mọc vì sẽ đón được nhiều ánh
nắng mặt trời.
Đồng bào ở đây chỉ làm nương trong 3 vụ sau đó bỏ hoang từ 4 - 6 năm rồi
mới quay lại gieo trồng tiếp. So với việc canh tác nương rẫy thì việc khai phá
ruộng lúa công phu hơn cần có sự tham gia của cả dòng họ, cả làng. Làm ruộng lúa
nước năng suất cao và đời sống ổn định hơn nên đồng bào Dao Tuyển ngày nay
canh tác ruộng lúa nước phổ biến hơn trước.
Người Dao Tuyển có tục ngữ:

“Làm nương không bằng làm ruộng
Làm ruộng trời hạn không lo
Làm nương trời hạn không được ăn”
[13; tr.11 - 12].
Ở Quang Bình, người Dao Tuyển còn phát triển trồng quế. Đồng bào đã biết
kết hợp trồng quế với làm ruộng lúa nước, trồng quế xen canh với lúa nương và
sắn đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với việc phát triển trồng quế, trồng chè, trồng
bông, cây ăn quả, người Dao Tuyển dần phá vỡ thế độc canh cấy lúa nương,
chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhờ đó đời sống được
nâng cao. Bên cạnh đó, người Dao Tuyển ở Quang Bình còn tiến hành chăn nuôi.
Trước đây chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp, lấy sức kéo cho nông
17


nghiệp, lấy thực phẩm phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng như lễ cấp sắc,
lễ làm chay, lễ cúng Bàn Vương… Ngày nay chăn nuôi còn để đem bán và trao đổi
hàng hóa. Họ chăn nuôi các loại con như: trâu, bò, dê, ngựa, nuôi cá…
1.3.4 Tổ chức xã hội
1.3.3.1 Văn hóa vật chất
* Ăn uống
Xưa kia do điều kiện kinh tế khó khăn, lương thực còn thiếu nên ngoài gạo
ra trong các bữa ăn hàng ngày người Dao Tuyển còn phải ăn ngô "mùng may", đao
"pang". Ngày nay do cuộc sống được nâng cao hơn nên họ ăn cơm tẻ là chủ yếu.
Ngoài các món lương thực, người dân ở đây còn thường xuyên dùng các loại thực
phẩm như: rau pang làm từ cây đao, củ đao được làm bột, ngọn đao dùng làm rau
nấu canh ăn rất ngọt.
Tiếp đến lá rau đắng "pua" còn gọi là mướp đắng rừng, chỉ dùng lá xào ăn
mới không đắng, nếu nấu canh rất đắng. Một loại rau thường dùng nhất đó là rau
mét "tùng pan". Loại rau này được trồng bằng hạt theo mùa vụ, dùng lá nấu canh
hoặc xào ăn rất ngon.

Tiếp đến là rau mướp "cà đây" cũng dùng lá nấu canh. Đu đủ " cùng qua"
cũng là món mà người Dao Tuyển thường dùng để xào làm nguyên liệu cho bữa ăn
hàng ngày. Ngoài ra khi đi rừng họ còn tìm được hoa chuối rừng “cà đíu” thái nhỏ
ngâm nước nấu canh gà hoặc cá thì quả là tuyệt vời.
Một loại rau nữa có tên trong thực đơn hàng ngày của người Dao Tuyển là
rau rớn được dùng xào hoặc nấu canh cho bữa cơm. Để các món ăn hấp dẫn hơn
người Dao Tuyển thường sử dụng các loại gia vị như: muối ớt, rau thơm các loại.
Muối ớt được làm từ ớt tươi, thái nhỏ trộn lẫn với bột canh hoặc muối tiêu giã
thành bột, có thể vắt thêm nước chanh. Muối ớt làm nước chấm, có vị cay, chua, ăn
rất ngon. Các loại rau thơm thường được sử dụng nhất là rau húng các loại... Các
18


món rau, nấu canh hoặc xào nếu mua hoặc đi săn được thú rừng người ta sẽ nấu lẫn
thịt thú rừng đó với rau ăn rất ngon và bổ.
Trong ngày lễ, tết đồng bào Dao Tuyển còn làm nhiều loại bánh như: bánh
mật, bánh dầy tròn, bánh dầy dài, bánh chưng gù, bánh gio… Ngoài ra vào ngày
tết, lễ, hội thịt lợn và thịt gà là thực phẩm không thể thiếu. Ngay cả khi mùa gặt
hoặc mùa cấy người Dao Tuyển cũng thịt lợn, nếu ăn không hết họ sẽ dùng kỹ
thuật ướp để ăn lâu dài. Thịt được thái mỏng, rắc đều muối, rượu và lá gia vị bóp
đều rồi cho vào lọ đậy thật kín. Có thể úp thêm một cái bát bên ngoài nắp lọ rồi
dùng vôi chát kín có thể giữ được cả năm. Người Dao Tuyển còn nấu rượu từ thóc
nếp, sắn, ruột cây báng.
* Nhà cửa
Người Dao Tuyển có 3 loại hình nhà cửa khác nhau: nhà sàn, nhà nửa sàn
nửa đất và nhà đất tường gỗ, phên tre.
Ở vùng sông Chảy, người Dao Tuyển ở nhà sàn. Hiện nay nhà sàn đều làm
bắng gỗ có 5 gian. Nhà sàn chia làm hai phần theo chiều dọc. Phần trước là nơi đặt
bếp, đặt khung cửi, đồ dùng. Phần sau là nơi ngủ, nơi thờ cúng.
Ở vùng thung lũng sông Hồng thường ở nhà nửa sàn nửa đất. Nhà chia làm

hai phần: nền đất để sinh hoạt, phần sàn để ngủ. Bàn thờ ở gian giữa, đối diện với
cửa chính.
Ở các xã vùng thấp, người Dao Tuyển thường ở nhà nền đất. Nhà cũng
được chia làm 3 phần theo chiều dọc. Một phần để đồ đạc sinh hoạt, bếp, ở chính
giữa là bàn thờ, bên kia là nơi ngủ.
1.3.3.2 Tục lệ xã hội
Chế độ hôn nhân là hôn nhân một vợ một chồng. Nguyên tắc ngoại hôn
dòng họ chi phối mọi quan hệ hôn nhân. Lễ cưới của người Dao Tuyển gồm lễ so

19


tuổi, lễ dạm hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Sau khi cưới phần lớn người con gái về ở
hẳn nhà chồng. Bên cạnh đó cũng có trường hợp cư trú bên nhà vợ.
1.3.5 Các đặc trưng văn hoá
Người Dao Tuyển theo tín ngưỡng đa thần, trong đó Đạo Giáo và Vật linh
giáo nổi trội. Hầu hết các gia đình có bàn thờ và cúng tổ tiên vào các dịp tết. Văn
nghệ dân gian của họ rất phong phú, kể các các thể loại trò chơi cổ truyền. Người
Dao Tuyển có nhiều tri thức y học dân gian. Mỗi gia đình có những bài thuốc chữa
các bài thông thường, nhiều làng còn có thầy lang giỏi. Khi bị ốm mà bói ra ma
làm, họ còn kết hợp dùng thuốc và cúng. Họ tính ngày, tháng, năm theo lục thập
hoa giáp như người Hoa, Việt…song không lấy giờ Tý để khởi điểm mà lấy giờ
Dần. Họ rất quan tâm đến ngày tốt để mở đầu các việc hệ trọng.
1.3.5.1 Tôn giáo, tín ngưỡng
Tôn giáo tín ngưỡng có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của
người Dao Tuyển. Điểm nổi trội trong tôn giáo tín ngưỡng của họ là chịu ảnh
hưởng sâu sắc của Tam giáo. Trong đó ảnh hưởng sâu đậm nhất là Đạo giáo.Đạo
giáo ra đời ở Trung Quốc và đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của
người Dao Tuyển, được họ tiếp và cải biến phù hợp với điều kiện xã hội của mình.
Thực tế cho thấy: Hầu hết các vị thần linh của Đạo giáo đều trở thành

hệthống thần linh của người Dao Tuyển như hệ thống miếu vạn thần là hệ thống
miếu thờ thần của Đạo giáo. Ngoài ra, có hệ thống bùa chú, vũ khí trừ tà như đạo
tiên (soi đạo), đồng linh (chuông đồng), thần trượng (gậy thần), đại lực xoa (đinh
ba đại lực) đều là vũ khí của Đạo giáo.
Bên cạnh Đạo giáo, Phật giáo cũng ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống của
người Dao Tuyển. Những phép thuật của Phật như uống nước thiêng, tư tưởng hóa
kiếp luân hồi của Phật giáo đều thâm nhập vào đời sống tinh thần của người Dao

20


Tuyển. Bên cạnh đó, các hình thức xem tử vi tướng số, xem ngày tháng tốt, thực
hiện các nghi lễ cưới xin, làm nhà mới đều được sử dụng rộng rãi.
Sau Đạo giáo, Phật giáo, đời sống của người Dao Tuyển còn chịu ảnh hưởng
của Nho giáo. Biểu hiện rõ nhất trong việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái thầy cấp
sắc.Tuy ảnh hưởng của Tam giáo nhưng tàn dư tôn giáo vẫn tồn tại. Đó là tàn dư
ma thuật tình yêu với các loại bùa ngải, ma thuật làm hại với quan niệm về ma Ngọ
Hải. Đặc biệt là tín ngưỡng liên quan đến việc chữa bệnh phát triển khá mạnh. Từ
quan niệm hồn đến nguyên nhân ốm đau, bệnh tật do là do bị hồn ma bắt, đến việc
cúng bái chữa bệnh.
Các tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp tồn tại với nhiều hình
thức như việc cầu cúng miếu làng, làm phép thuật trừ sâu bệnh, tổ chức lễ cúng
cơm mới.
Tín ngưỡng dân gian của người Dao Tuyển gồm nhiều hình thức như thờ
cúng tổ tiên, thờ thần bản mệnh cộng đồng, sa man giáo và đặc biệt là đạo giáo đã
chi phối mạnh mẽ đời sống tôn giáo. Trong đó thờ cúng tổ tiên là hình thức tín
ngưỡng quan trọng của người Dao Tuyển.
- Thờ cúng tổ tiên và các vị thần che chở cho gia đình:
Thờ cúng tổ tiên, tổ tiên của người Dao Tuyển gọi là “Cha Phìn”. Tổ tiên
người Dao Tuyển là những người đã khuất trong dòng họ tính từ 6 đời trở xuống.

Đồng bào chỉ cúng tổ tiên vào các ngày năm mới, cúng cơm mới và tết 6/6.
+ Thờ thần hộ mệnh:
Bên cạnh thờ tổ tiên, mỗi dòng họ người Dao Tuyển đều thờ một vị thần hộ
mệnh cho gia đình. Thần nhà được thờ ở bàn thờ đặt tại gian giữa nhà đối diện với
cửa chính. Khi làm xong nhà mới, gia chủ phải mời thầy cúng dựng bàn thờ thần
nhà. Người Dao Tuyển cũng như các dân tộc Dao khác còn thờ ông tổ cộng đồng
dân tộc Dao là ông tổ Bàn Vương.

21


Người Dao coi việc thờ cúng Bàn Vương là một việc làm liên quan đến vận
mệnh của mỗi người, mỗi dòng họ và của cả dân tộc.
+ Thờ thần bà mụ “má mụ”:
Bà mụ trong tín ngưỡng của người Dao là bà mẹ vĩ đại. Bà có khả năng làm
cho những linh hồn tại núi Hoa Sơn đến đầu thai tại nơi trần thế thông qua cách
sinh đẻ của người phụ nữ. Bà mụ còn là người chăm sóc phù hộ cho đứa bé và sức
khỏe sản phụ. Do vậy phải cúng lễ bà mụ ít nhất 3 lần trong thời gian người phụ nữ
mang thai. Cứ 3 tháng lại cúng một lần để bà mụ bảo vệ cho mẹ con sản phụ. Ngay
cả khi đã sinh nở rồi người Dao Tuyển vẫn phải cúng bà mụ trong lễ đặt tên, đầy
tuổi của đứa trẻ.
Người Dao Tuyển quan niệm “vạn vật hữu linh”, đây là cơ sở hình thành
nên tín ngưỡng đa thần. Họ cho rằng vạn vật đều có linh hồn, bất kể nơi nào cũng
có các vị thần cai quản cho nên họ thờ rất nhiều các vị thần thánh trong nhà và
trong làng.
- Thờ thần bảo vệ làng bản
+ Thờ thần làng:
Đây cũng là một trong những vị thần hết sức quan trọng trong đời sống tâm
linh của người Dao Tuyển. Thần làng là vị thần có công lập ra làng, được coi như
ông tổ của làng và được thờ tại miếu làng.

Hàng năm vào ngày mồng 1 tháng giêng tất cả dân làng đều đến thắp hương
và đặt lễ các loại bánh trái tại miếu thờ của làng rồi cầu xin phúc, lộc cho bản thân
và gia đình. Người cầu nguyện không được nói thành lời mà chỉ để trong tâm
niệm.
Bên cạnh đó còn thờ thần thiên lôi, thần nước, thần thổ địa… Như vậy
hệthống thần thánh của người Dao Tuyển rất đa dạng và phức tạp. Họ quan niệm
vạn vật hữu linh nên trong mỗi lĩnh vực lại có một vị thần cai quản riêng. Vì vậy

22


để đáp ứng được nhu cầu tâm linh của mình họ phải thờ tất cả các vị thần đó tuỳ
theo thời gian, địa điểm và lễ vật khác nhau.
- Thờ thần nông và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp
Là cư dân nông nghiệp, kinh tế tự cấp tự túc, dựa chủ yếu vào nông nghiệp.
Bởi vậy đối với người dân Dao Tuyển thần nông "dằn lồng" là thần có ý nghĩa
nhất. Vào tháng 6 âm lịch hàng năm, nếu năm nhuận có thể cúng vào tháng 5 (âm
lịch).
+ Lễ cúng thóc mới:Trong các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp của đồng
bào nơi đây thì lễ cúng thóc giống là một trong những lễ cúng không thể thiếu.
Thường thường lễ cúng này được tiến hành trước khi đem thóc giống tra nương.
Người ta lập một đàn cúng trước bàn thờ tổ tiên, đặt vào đó một chum thóc giống,
lấy một tờ giấy bản vẽ hình tròn tượng trưng cho mặt trời, hình một người đứng
thẳng cầm nông cụ, vẽ một đàn gà, cá…Tờ giấy này được kẹp chặt vào một que
nứa rồi cắm vào chum thóc giống. Khi cúng xong họ đem chum thóc giống đi tra,
khi tra thóc giống ở trên nương xong họ sẽ đem tờ giấy đó đi đốt.
+Lễ cúng cơm mới: Cúng cơm mới là lễ tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho mùa màng tốt
tươi, lúa ngô đã có thể thu hoạch. Trước hết người Dao Tuyển gặt lấy ít thóc đầu
mùa đem về phơi khô, giã thành gạo và nấu cơm. Sau đó họ đặt cơm mới và các
thức ăn như thịt gà, thịt lợn, và một bát canh rau lên bàn thờ tổ tiên. Khi chủ gia

đình làm lễ cúng tổ tiên xong, toàn thể gia đình quây quần ăn uống với nhau. Cuối
bữa cơm mỗi người trong gia đình cố ý để thừa trong bát một ít cơm, một ít thức ăn
và hôm ấy người ta không rửa bát với ngụ ý là sau này cơm gạo sẽ đầy nhà.
+Lễ cúng hồn lúa: Lễ cúng này được tổ chức vào thời gian vừa thu hái xong.
Đồng bào ở đây quan niệm rằng mỗi bông lúa, hạt thóc đều có hồn, ở ruộng
chúng được gần nhau nhưng khi con người thu hái làm hồn lúa bị thất lạc do rơi
vãi, nên cần phải cúng để gọi hồn lúa về sum họp.

23


1.3.5.2 Văn học nghệ thuật
Một nét khác cũng góp phần làm giàu thêm đặc trưng văn hóa người Dao
Tuyển đó là: Người Dao Tuyển có kho tàng văn học dân gian khá phong phú. Đó
là dân ca, truyện cổ dân gian, câu đố, tục ngữ… Nhờ có chữ viết (chữ Nôm Dao)
mà nền văn học Dao được ghi chép trong các bộ sách cổ, trong các sách tôn giáo.
Do đó văn học dân gian còn được bảo tồn.
- Dân ca: Dân ca vẫn là nhu cầu không thể thiếu của người Dao Tuyển ở Quang
Bình. Trong vòng tuần hoàn của một cuộc đời con người từ khi trong bụng mẹ đến
khi chết đi, mỗi giai đoạn đều có những bài hát mang đậm bản sắc dân tộc.
Ngoài ra theo trình tự dòng chảy của thời gian, mùa vụ lại có các bài rất
khác nhau. Chẳng hạn: Năm mới tháng giêng con trai, con gái vui chơi trong l ễ
hội ném còn thì hát bài "vủng plau". Đến giữa tháng giêng, khi lúa trên nương đã
bén rễ, các cặp trai gái đi làm cỏ nương cũng cất lên lời tâm sự "cang xỉ".
Trong đám cưới, việc hát đối cũng là một thủ tục không thể thiếu. Khi đi đón
dâu, đến nhà gái bên nhà trai sẽ hát xin dâu. Khi đưa dâu về nhà trai lại tiến
hànhhát báo với tổ tiên về công việc cưới xin và nhập thành viên mới…
- Truyện cổ dân gian: Người Dao Tuyển có cả một kho tàng truyện cổ dân gian đặc
sắc. Hình thức lưu truyền chủ yếu qua truyền miệng trong dân gian. Ý nghĩa của
truyện không nằm ngoài ngụ ý giáo dục con người sống chan hòa, yêu thương mọi

người, ở hiền gặp lành...
- Câu đố: Để phản ánh toàn bộ các công việc và cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày của nhân dân số lượng các câu đố đã được sản sinh rất đồ sộ. Với số lượng
lớn như vậy khó có thể biết hết được nhưng hầu như đã là người Dao Tuyển ai
cũng thuộc vài câu:
“Con lạy xuống, bố quát to là cái gì?
Trả lời: Súng hỏa mai "phẳn trong hoặc"
Mẹ càng kêu, la, con càng lớn đẫy, đố là gì?
24


Trả lời: cái thoi dệt vải "phạt bui"
[13; tr.65 - 66]
Như vậy câu đố là 1 hình thức nghệ thuật của dân gian. Nó phục vụ ngay các
nhu cầu tinh thần của người lao động và phản ánh về cuộc sống sinh họat thường
ngày của họ.
- Tục ngữ: Giống như câu đố, kho tàng tục ngữ trong nghệ thuật dân gian
người Dao Tuyển cũng hết sức phong phú đa dạng. Nó phản ánh toàn bộ cuộc sống
sinh hoạt của người dân lao động. Nó gắn bó với họ trong từng hoạt động thường
ngày, do vậy dù bất cứ ai cũng có thể ngâm nga vài câu những phút cao hứng.
Sốlượng câu tục ngữ rất đồ sộ. Nội dung phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, mang
ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
“Rền nhằn trong cu háo nhằn tàu
(Cha ông xây dựng con cháu hưởng phúc)
Hoặc: Thu sủn pặt pành pắn nhổn vay
Pu quay pằn gòng tặt sẻ mềnh
(Số kiếp con người trời đã định
Giàu nghèo ai trách được số trời)
[13; tr.27]
Nội dung các câu tục ngữ mang nặng ý nghĩa giáo dục con người biết cách

ứng xử với con người, thiên nhiên và xã hội.
- Thơ ca dân gian: Thơ ca dân gian của người Dao Tuyển rất phong phú với
nhiều loại hình như:
Thơ ca lao động gắn liền với lao động, phản ánh kinh nghiệm sản xuất,
gieo trồng, đặc biệt xuất hiện bài ca đối đáp nam nữ mang tính chất giao duyên trên
khung cảnh lao động:
“Lấy sợi dệt vải cả hai lần
Sinh con nối dõi nhờ cả hai
25


×