i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Phương Đoàn
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận đã
nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ rất nhiệt tình của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo,
Khoa Lâm học, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học
Lâm Nghiệp
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS. Phạm Xuân Hoàn,
người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn
tốt nghiệp.
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các anh chị đang công tác
tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; UBND xã Minh Quang, huyện Tam
Đảo, đã tạo điều kiện về thời gian và giúp đỡ tác giả cả về vật chất và tinh thần
trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ông Vũ Văn Quyết, Trưởng phòng
QLKH, Ban Quản lý VQG Tam Đảo, Ông Trần Văn Hồng, Trạm trưởng trạm Kiểm
lâm xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, đã giúp đỡ trong quá trình đi điều tra, nghiên
cứu tại địa phương.
Mặc dầu đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn này sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy,
cô và các bạn đồng nghiệp.
Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Phương Đoàn
ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục .............................................................................................................. ii
Danh mục các chữ viết tắt ................................................................................. v
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
Danh mục các hình .......................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ......................... 3
1.1. Khái niệm kiến thức bản địa ................................................................... 3
1.1.1. Trên thế giới ..................................................................................... 3
1.1.2. Tại Việt Nam .................................................................................... 7
1.2. Đặc điểm và phân loại kiến thức bản địa.............................................. 10
1.3. Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa ............................................... 15
1.3.1. Trên thế giới ................................................................................... 15
1.3.2. Tại Việt Nam .................................................................................. 19
1.3.3. Các nghiên kiến thức bản địa liên quan đến rừng .......................... 20
1.4. Tầm quan trọng của kiến thức bản địa ................................................. 22
1.5. Thực trạng nghiên cứu và vận dụng kiến thức bản địa ở Việt Nam..... 25
CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................... 27
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 27
2.1.1. Mu ̣c tiêu tổ ng quát.......................................................................... 27
2.1.2. Mu ̣c tiêu cu ̣ thể ............................................................................... 27
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 27
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................... 27
iii
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 27
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 27
2.3.1. Một số đặc trưng cơ bản của người Sán Dìu ở Tam Đảo. ............. 27
2.3.2. Hệ thống kiến thức bản địa người Sán Dìu trong sử dụng và bảo vệ
rừng đầu nguồn. ........................................................................................ 27
2.3.3. Kiến thức bản địa của người Sán Dìu trong khai thác và sử dụng
rừng (gỗ và lâm sản ngoài gỗ). ................................................................. 27
2.3.4. Hệ thống kiến thức bản địa trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống. ........................................................................................................ 27
2.3.5. Một số đề xuất nhằm phát huy vai trò của KTBĐ trong quản lý
rừng........................................................................................................... 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 27
2.4.1. Phương pháp điều tra xã hội học, thu thập số liệu ......................... 27
2.4.2. Phương pháp quan sát, đánh giá.................................................... 29
2.4.3. Phương pháp chuyên gia ................................................................ 29
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU ............................................................................ 30
3.1. Đặc điểm tự nhiên ................................................................................. 30
3.1.1. Quá trình hình thành Vườn Quốc gia Tam Đảo ............................. 30
3.1.2. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích ..................................................... 31
3.1.3. Địa hình .......................................................................................... 32
3.1.4. Địa chất và thổ nhưỡng .................................................................. 33
3.1.5. Khí hậu, thủy văn ........................................................................... 35
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ..................................................................... 37
3.2.1. Dân cư và lao động......................................................................... 37
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất ................................................................... 38
3.2.3. Cộng đồng các dân tộc ................................................................... 39
3.2.4. Đời sống kinh tế ............................................................................. 41
iv
3.3. Hiện trạng công tác quản lý rừng ở vùng đệm VQG Tam Đảo ........... 42
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 47
4.1. Một số đặc trưng cơ bản của người Sán Dìu ở Tam Đảo ..................... 47
4.1.1. Nguồn gốc lịch sử .......................................................................... 47
4.1.2. Ngôn ngữ ........................................................................................ 47
4.1.3. Kinh tế ............................................................................................ 48
4.1.4. Văn hóa........................................................................................... 49
4.1.5. Tổ chức xã hội ................................................................................ 53
4.2. Hệ thống kiến thức bản địa người Sán Dìu trong sử dụng và bảo vệ
rừng đầu nguồn ............................................................................................ 53
4.3. Kiến thức bản địa của người Sán Dìu trong khai thác và sử dụng gỗ và
lâm sản ngoài gỗ. ......................................................................................... 57
4.4. Hệ thống kiến thức bản địa trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống ............................................................................................................ 67
4.4.1. Bảo tồn trang phục ......................................................................... 67
4.4.2. Bảo tồn tiếng nói, chữ viết ............................................................. 70
4.4.4. Bảo tồn dụng cụ lao động, sản xuất, trang phục truyền thống ....... 72
4.4.5. Bảo tồn nghề thuốc dân gian .......................................................... 73
4.4.6. Bảo tồn các phương tiện vận chuyển truyền thống ........................ 73
4.5. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn kiến thức bản địa của đồng bào Sán
Dìu tại VQG Tam Đảo. ................................................................................ 74
4.5.1. Giải pháp lôi cuốn người dân vào hoạt động QLBVR................... 74
4.5.2. Giải pháp gìn giữ và phát triển kiến thức bản địa của cộng đồng . 76
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ....................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
VQG
Vườn Quốc gia
QLBVR
Quản lý bảo vệ rừng
QLRBV
Quản lý rừng bền vững
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
KTBĐ
Kiến thức bản địa
KT-XH
Kinh tế - xã hội
UBND
Uỷ ban Nhân dân
HGĐ
Hộ gia đình
DTTS
Dân tộc thiểu số
CLB
Câu lạc bộ
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
1.1
So sánh kiến thức bản địa và kiến thức hàn lâm
10
3.1
Số liệu khí tượng của các trạm khí tượng trong khu vực Tam Đảo
34
3.2
Tổng lượng nước chảy của mùa lũ và mùa kiệt
36
3.3
Thống kê thành phần các dân tộc
39
4.1
Nguồn thu nhập của HGĐ có đủ sống không
54
4.2
Ông (bà) có vào rừng lấy gỗ, củi, các sản phẩm khác từ rừng không?
55
4.3
Nơi ông (bà) ở có hiện tượng đốt nương làm rẫy không
55
4.4
Ở nơi ông bà sống có nhiều người khai thác, mua bán, vận chuyển
gỗ và lâm sản từ rừng không?
55
4.5
Các kiểu rừng chính ở Tam Đảo
57
4.6
Hệ thực vật ở VQG Tam Đảo
58
4.7
Phân chia hệ thực vật Tam Đảo dựa vào giá trị kinh tế
58
4.8
Danh sách cây thuốc quý trong VQG Tam Đảo
64
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
3.1
Bản đồ phân khu VQG Tam Đảo
42
3.2
Tić h trữ củi, cành cây khô lấ y từ rừng về của 1 hô ̣ dân
43
4.1
Trang phục truyền thống và trang sức của dân tộc Sán Dìu
69
4.2
Thẻ Hội viên CLB hát Soọng cô và Sổ ghi lời bài hát
71
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng được xem là lá phổi xanh của thế giới giúp điều hòa khí hậu, cân bằng
sinh thái cho môi trường.Rừng là tài nguyên quý báu của quốc gia, là bộ phận quan
trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn về kinh tế - xã hội. Do vậy tài
nguyên rừng cần được quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững và đây cũng là xu thế
phát triển lâm nghiệp của thế giới hiện nay.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những tồn tại, đặc biệt diện tích rừng tuy có tăng
nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy giảm,
ở một số nơi diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá. Trong bối cảnh như vâ ̣y, quản lý rừng
bền vững là định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy tối đa tiềm năng của
ngành góp phần đóng góp vào nền kinh tế quốc dân; cải thiện đời sống người dân
vùng rừng núi; bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng.
Vùng dân tộc và miền núi phía Bắc Việt Nam gồm 15 tỉnh với diện tích 11
triệu ha chiếm 1/3 diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn sinh sống của nhiều dân
tộc ít người với gầ n 12,3 triê ̣u người, chiếm 14,27% dân số cả nước và bằng 18%
dân số của vùng dân tộc và miền núi. Đây là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan
trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái của cả nước; có
tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế
cửa khẩu, nhưng cũng là vùng khó khăn nhất, vùng sâu, vùng xa, biên giới, địa hình
hiểm trở, chia cắt phức tạp, dân cư phân tán, tỷ lệ đói nghèo cao nhất cả nước, sản
xuất chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định an
ninh, chính trị của đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để quản lý và phát triển rừng luôn cần
phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa kiến thức bản địa của đồng
bào DTTS và kiến thức khoa học kỹ thuật. Kiến thức bản địa đã và đang góp phần
quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên cứu
bảo tồn và phát huy giá trị kiến thức bản địa.
Hiện nay tỉnh Vĩnh Phúc là một tỉnh đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Với
nhiều điều kiện để phát triển, tất nhiên các chương trình, chính sách dự án luôn có
sự tác động đến mọi mặt đời sống xã hội do đó cần phải nghiên cứu kiến thức bản
địa của cộng đồng, đặc biệt là kiến thức bản địa của đồng bào DTTS. Trong đó có
2
Vườn Quốc gia Tam Đảo, một trong những rừng Quốc gia lớn ở Việt Nam và là
kho tài nguyên quý giá, nơi đây lưu giữ sự đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài
động, thực vật đặc hữu quý hiếm, là nơi dự trữ, bảo tồn và phục hồi các nguồn gen
phục vụ cho nghiên cứu khoa học. Rừng Tam Đảo còn có nhiều loài cây thuốc quý
hiếm do vậy là nguồn dược liệu hữu ích cho nhân dân quanh vùng. Song việc khai
thác tràn lan rừng quốc gia trong thời gian qua và công tác quản lý chưa hiệu quả đã
làm xói mòn đa dạng sinh học và suy kiệt các nguồn lực rừng, đặc biệt là ở tầm
thấp. Khu vực vùng đệm VQG Tam Đảo có đông dân tô ̣c Sán Dìu sinh số ng. Phần
lớn người dân ở đây tạo thu nhập từ hoạt động nông nghiệp trong khi đó vẫn sử
dụng tài nguyên từ VQG Tam Đảo như một nguồn cung cấp thực phẩm, chất đốt,
cây thuốc, nước uống, nước cho sản xuất nông nghiệp và là nơi chăn thả gia súc.
Để góp phần thực hiện có hiệu quả quản lý rừng ta ̣i VQG Tam Đảo, tác giả
đã chọn đề tài “Nghiên cứu kiế n thức bản điạ của người dân tộc Sán Dìu trong
quản lý rừng ta ̣i Vườn quố c gia Tam Đảo”. Đây là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn
cấp bách nhằm đánh giá hệ thống kiến thức bản địa của đồng bào Sán Dìu nhằ m
làm phong phú thêm những kiế n thức bản điạ đố i với sản xuấ t lâm nghiê ̣p ở miền
núi, góp phần vào công tác quản lý rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm kiến thức bản địa
1.1.1. Trên thế giới
Kiến thức bản địa (hay tri thức bản địa) (Indigenuos Knowledge) được coi
trọng và đặc biệt nghiên cứu vào thập kỷ 80 trở đi. Cho tới nay, khái niệm kiến thức
bản địa hay kiến thức truyền thống vẫn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,
tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử dụng. Mặc dù sử
dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng kiến thức bản địa được nghiên cứu
luôn là một hệ thống các kiến thức đặc hữu của cộng đồng người địa phương liên
quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh.
Nói đến tri thức bản địa, đầu tiên, cần thiết phải xác định khái niệm về dân
tộc bản địa. Trên thực tế, đây là khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa và mang tính
tương đối. Công ước 169 của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) định nghĩa về
người dân và bộ tộc bản địa là “những người có các điều kiện xã hội, văn hóa và
kinh tế phân biệt họ với các bộ phận khác của một cộng đồng quốc gia, và địa vị của
họ được quy định toàn bộ hoặc một phần bởi phong tục hay truyền thống, hoặc bởi
những luật lệ đặc biệt hay quy định của riêng họ”.
Năm 1978, Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Liên hợp quốc (WIPO), đã tiến
hành nghiên cứu và lần đầu tiên đưa ra khái niệm “tri thức truyền thống”. Ban đầu,
khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức (được coi là truyền thống) là “các
hình thức thể hiện văn hóa dân gian” (Expressions of Folklore). Vào năm 1982,
“các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa
dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác” đã
được WIPO phối hợp với UNESCO soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa
về “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian”. Đến nay thuật ngữ “tri thức truyền
thống” không chỉ giới hạn ở “các hình thức thể hiện văn hóa dân gian” mà còn bao
gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân
4
gian… Trong “Cẩm nang về tri thức bản địa” (tài liệu dịch), được NXB Nông
nghiệp ấn hành năm 2000, một định nghĩa cũng đã được đưa ra: Tri thức bản địa
(còn có thể gọi bằng những tên khác như "kiến thức địa phương", "kiến thức kỹ
thuật bản địa" hay "kiến thức truyền thống") là kiến thức mà người dân ở một
cộng đồng đã tạo nên và đang phát triển dần theo thời gian. Ngoài các khái niệm
kể trên, một số nước cũng có các quy định riêng về thuật ngữ tri thức bản địa - tri
thức truyền thống.
Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ kiến thức bản địa
(indigenous knowledge) hay tri thức địa phương (local knowledge) dùng để chỉ
những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian
dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên. Đó
là một phần của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết kiến thức bao gồm hệ
thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các
hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan ... Những kiến
thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của
cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và
chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi
của môi trường và xã hội. Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức
không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi
được ghi chép lại.
Cựu Tổng giám đốc UNESCO, Frederico Mayor đã định nghĩa kiến thức bản
địa (địa phương) như sau: “Dựa vào hàng thế kỷ sống gần gũi với thiên nhiên, các
dân tộc bản địa trên thế giới sở hữu những kho tàng tri thức khổng lồ về môi trường.
Sống trong tự nhiên và lớn lên cùng sự giàu có và đa dạng của hệ sinh hái phức tạp,
họ có sự hiểu biết về những đặc tính của cây cối và động vật, các chức năng của hệ
sinh thái và những kỹ thuật sử dụng và quản lý chúng một cách đặc thù và phù hợp.
Ở các cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển, người dân địa phương (có
khi là hoàn toàn) sống dựa vào những sản vật địa phương từ thức ăn, thuốc chữa
bệnh, nhiên liệu, vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác. Tương thích với điều đó,
5
kiến thức và quan niệm của người dân về môi trường và mối quan hệ của họ với
môi trường trở thành những thành tố quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa”
[46].
Song song với thuật ngữ kiến thức bản địa (IK) có thuật ngữ “tri thức chính
thống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần
lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là những kiến thức chuẩn
vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy
định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó kiến thức bản địa được truyền miệng từ
thế hệ này qua thế hệ khác rất hiếm khi được chép lại cẩn thận.
Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của kiến thức bản địa là tính đặc hữu, nó là
hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ
thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý nhất
định (R. Chambers, M.Warren,1992).
Cũng theo M. Warren định nghĩa: “tri thức bản địa là những hệ thống tri
thức và thực nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới
một nền văn hóa chuyên biệt” (dẫn theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998)
[35].
Xác định về thời gian và không gian thì tri thức bản địa là hệ thống kiến thức
tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với sự
đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993). Như vậy ở đây có
ba yếu tố góp phần hình thành nên kiến thức bản địa đó là môi trường địa lý xác
định, trong thời điểm không gian nhất định và là của một cộng đồng tại một khu vực
cụ thể đóng góp nên. Hay nói một cách khác, kiến bản địa hình thành trong điều
kiện không gian thời gian nhất định với sự đóng góp của một cộng đồng tại khu vực
cụ thể. Kiến thức bản địa luôn được kế thừa và phát triển, bản chất của nó là một
phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này qua đời khác, nó được hình
thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để
kiếm sống và nó chỉ tồn tại trong môi trường cụ thể (Nguyễn Duy Thiệu, 1996).
6
TS John Ambler cho rằng: “Tri thức địa phương có thể được phân biệt làm
hai loại chính. Một loại có thể được gọi là “tri thức kỹ thuật”. Một loại khác liên
quan đến các tên gọi như “luật lệ địa phương” hoặc là “phong tục” hay tục lệ.
Thuộc về một số tri thức kỹ thuật của người vùng cao có sự hiểu biết chi tiết về chế
độ ẩm trong vùng, về tiềm năng của đất đai, về kỹ thuật trồng trọt, về chọn giống,
về các loại động vật và thực vật. Thuộc về tục lệ không chỉ giới hạn trong các quy
tắc sinh hoạt như cưới xin, thừa kế, ma chay và nếp nhà truyền thống. Tục lệ còn
đóng vai trò quan trọng hơn trong nhiều hoạt động xã hội có tác động đến quản lý
tài nguyên thiên nhiên địa phương. Tục lệ cũng có thể quy định quy chế khác nhau
như: nguồn nước nào được phân phối cho hệ thống tưới tiêu ở vùng cao, ai được
phép hoạt động ở khu rừng nào, bao nhiêu súc vật có thể chăn thả ở những đồng cỏ
riêng, kỹ thuật canh tác nào được chấp nhận” (John Ambler, 1996).1
Louise Grenier (1998) lại xem “Kiến thức bản địa là vốn kiến thức duy nhất,
truyền thống và của một địa phương, tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thể
của những người dân bản địa trong một khu vực địa lý nhất định. Sự phát triển của
hệ thống kiến thức bản địa trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việc quản
lý môi trường tự nhiên, từ lâu đã là một vấn đề sống còn đối với những con người
đã sáng tạo ra chúng. Các hệ thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiến thức
mới liên tục được bổ sung. Các hệ thống này luôn đổi mới trong lòng nó và cũng sẽ
tiếp nhận, sử dụng và thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù hợp với điều
kiện của địa phương” [40].
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), một trong những thể chế kinh tế
quyền lực nhất trên thế giới hiện nay thì Tri thức bản địa là tri thức địa phương, là
nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi
lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng
1
Kinh nghiệm nghiên cứu phát triển miền núi: Một số nét khái quát từ châu Á, Báo cáo tại Hội thảo khoa
học “Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vùng Bình - Trị - Thiên, Huế, 25 đến 29-31996
7
đồng. Tri thức bản địa còn có cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề
đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương (World Bank, 1998)
Định nghĩa kiến thức bản địa theo quan điểm kiến thức kỹ thuật bản địa là
Hệ thống kiến thức bản địa là bao gồm tổ hợp kiến thức, kỹ năng, công nghệ hiện
tồn tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của một dân
tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Hệ thống kiến thức bản địa
của một dân tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử thách thời gian và
vẫn duy trì phát triển (CEFIKS). Như vậy trong cách tiếp cận này, kiến thức bản địa
được xem xét trên cơ sở hệ thống kiến thức kỹ thuật bản địa bao gồm tổ hợp kiến
thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại. Các tổ hợp này được xem là bản địa khi nó
tồn tại, phát triển trong một phạm vi nhất định và nó mang tính đặc hữu của một dân
tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Trên quan điểm hệ thống,
kiến thức bản địa luôn nhấn mạnh đến tính tổng thể, tất cả các thành phần trong hệ
thống đều có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Do đó các vấn đề nghiên cứu của đề
tài được đặt trong một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ lẫn nhau phản ánh được
các đặc trưng và giá trị của nó.
Như vậy, kiến thức bản địa là kiến thức được hình thành trong quá trình lịch
sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được
lưu truyền từ đời này qua đời khác, qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội. Kiến thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội
như sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu hái,
sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế hệ trong
giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tổ
chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong làng bản…
1.1.2. Tại Việt Nam
Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cụm từ “kiến thức bản địa”, “tri thức
địa phương”, “tri thức dân gian” đã được sử dụng trong một số công trình nghiên
cứu với nhiều tên gọi khác nhau. Lê Trọng Cúc đồng nhất “tri thức địa phương” với
“văn hóa truyền thống”; Ngô Đức Thịnh gọi là “tri thức dân gian”, “tri thức địa
8
phương”, “tri thức bản địa”; Hoàng Xuân Tý cho rằng ba khái niệm “kiến thức bản
địa”, “kiến thức truyền thống”, “kiến thức địa phương” gần đồng nghĩa với nhau;
Diệp Đình Hoa gọi là “bản sắc văn hóa tộc người” hay “tri thức tộc người”; Phạm
Quang Hoan gọi là “tri thức địa phương”, “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri
thức tộc người”; Nguyễn Duy Thiệu gọi là “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”,
“tri thức của người bản địa”; Trần Bình, Hmông Ký Slay gọi là “tri thức địa
phương”, “tri thức bản địa”; Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Hữu Thông gọi là “tri thức
dân gian”, “luật tục”; Khổng Diễn, Hoàng Hữu Bình, Nguyễn Ngọc Thanh, Đặng
Thị Hoa, Trần Hồng Hạnh, Trần Hồng Thu, Mai Văn Tùng, Lâm Minh Châu gọi là
“tri thức địa phương”; Hà Đình Thành, Vi Văn An, Trịnh Xuân Hóa gọi là “tri thức
dân gian”; Nguyễn Xuân Hồng gọi là “kiến thức bản địa”; Lê Văn Khoa, Trần Công
Khánh, Trần Văn Ơn, Nguyễn Thanh Thự, Vũ Trường Giang, Bùi Hoài Sơn,
Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Toàn gọi là “tri thức bản địa”...
Từ những cách gọi khác nhau như trên, các nhà nghiên cứu có những quan
niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của cụm từ “tri thức bản địa”. GS Phan
Hữu Dật (1998) xem “Tri thức bản địa là văn hóa tộc người, nhưng không phải là
toàn bộ văn hóa tộc người, mà chỉ là bộ phận có ích cho sự phát triển kinh tế - xã
hội của tộc người hiện nay, khi nó bổ sung cho tri thức hiện đại”
Kiến thức bản địa còn được gọi là kiến thức truyền thống hay kiến thức địa
phương. Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở một vùng địa lý
xác định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng (Theo Hoàng Xuân
Tý, 1998).
Lê Trọng Cúc (2002) cho rằng: “Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức
bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ
khác nhau. Tri thức địa phương được hình thành trong qúa trình lịch sử lâu đời, qua
kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức
khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất
và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội,
quan hệ giữa con người và thiên nhiên” [215].
9
Ngô Đức Thịnh (2004) định nghĩa “Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu
biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích luỹ trong qúa
trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong qúa trình sản xuất,
quan hệ xã hội và thích ứng môi trường. Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội. Tri thức bản
địa gồm các lĩnh vực sau: Tri thức về tự nhiên và môi trường (kể cả vũ trụ); tri thức
về bản thân con người (cơ thể học, dưỡng sinh, trị bệnh); tri thức về sản xuất, khai
thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tri thức về ứng xử xã hội và
quản lý cộng đồng; tri thức về sáng tạo nghệ thuật” (Ngô Đức Thịnh, 2004).
Trần Công Khánh và Trần Văn Ơn cho rằng: “ Tri thức bản địa là hệ thống
tri thức, bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong tục, tập quán, tín
ngưỡng, sức khỏe, tổ chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại
một khu vực địa lý cụ thể. Nó được hình thành trong quá trình sống và lao động của
cả cộng đồng, từ đàn ông, đàn bà, người lớn tuổi đến trẻ em. Nó được lưu giữ bằng
trí nhớ và lưu truyền bằng miệng” (Trần Công Khánh – Trần Văn Ơn, 2008).
Phạm Quang Hoan cho rằng: “Tri thức địa phương được hiểu ở các cấp độ
khác nhau. Một là, “tri thức địa phương” (hay “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”,
“tri thức tộc người”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc
người nhất định được tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng
đồng để mỗi tộc người sinh tồn, phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và
đang diễn ra. Nói cách khác, tri thức địa phương là phương thức ứng xử, là đặc tính
thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người. Cũng có thể
coi đó là bản sắc văn hóa tộc người. Hai là, “tri thức địa phương” là tri thức của các
cộng đồng tộc người cùng cộng cư trong một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa
nhất định. Trong trường hợp này, tri thức địa phương cũng phản ánh xu hướng giao
lưu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc người…”(Phạm Quang
Hoan, 2003).
10
1.2. Đặc điểm và phân loại kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa có đặc tính phân cấp độ thuộc lứa tuổi, giới tính và đặc
điểm của nhóm xã hội. Có những kiến thức chung, được tất cả mọi người trong
cộng đồng hiểu biết; có những kiến thức bản địa tồn tại theo gia đình, dòng họ chỉ
phạm vi một số người hiểu biết; lại có những kiến thức chuyên nghiệp – chuyên
biệt, chỉ có ở một số ít người mang tính đặc thù, ví dụ: bà mụ đỡ đẻ, thợ phác ghè
làm gốm, thợ rà che nấu đường muỗng…
Kiến thức bản địa được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân
trong cộng đồng được hoàn thiện củng cố dần và truyền lại cho thế hệ sau bằng
truyền khẩu, bằng các bài hát, ngôn ngữ, luật tục, (G.Broding và M.Schonberger,
2000) ...Để phân tích các đặc trưng của kiến thức bản địa, G.Broding và M.
Schonberger đã lập bảng so sánh kiến thức bản địa với kiến thức hàn lâm
(Academic knowledge) vốn dĩ của giới khoa học tồn tại ở các viện nghiên cứu,
trường đại học.
Bảng 1.1. So sánh kiến thức bản địa và kiến thức hàn lâm
Kiến thức bản địa
Kiến thức hàn lâm
Truyền miệng
Truyền bằng văn bản
Học qua quan sát và thực hành
Học qua lý thuyết được ứng dụng
Tiếp cận tổng thể hay hệ thống
Tiếp cận đơn lẻ bộ phận
Kiểu suy nghĩa trực giác
Lý luận phân tích và quy nạp
Chủ yếu định tính
Chủ yếu định lượng
Dữ liệu do người lao động làm ra (có Dữ liệu thu thập bởi các nhà chuyên
tính đại chúng)
môn (có tính cá biệt)
Dữ liệu dùng ngôn từ bản địa (địa Dùng ngôn ngữ đương đại
phương)
Môi trường như một bộ phận của những Quản lý môi trường có tổ chức, có thứ
mối quan hệ xã hội – thần linh
bậc, ngăn nắp
Dựa trên những kinh nghiệm thu thập và Dựa trên các định luật và học thuyết
tích luỹ
khoa học
11
Như vậy các khái niệm kiến thức truyền thống (tradition knowledge), kiến
thức bản địa (Indigenous Knowledge), kiến thức địa phương (local knowledge) đều
đề cập đến kinh nghiệm thuần thục của cộng đồng cư dân địa phương đã có quá
trình nghiệm sinh trong một thời gian dài, được xác định chắc chắn ở một vùng, một
dân tộc bản địa hay ở một cộng đồng địa phương. Kiến thức bản địa được bảo lưu
trong ký ức cộng đồng và hoàn thiện qua kế thừa phát triển của các thế hệ trong
cộng đồng.
Các đặc tính cơ bản của kiến thức bản địa bao gồm:
- Tính hệ thống là đặc tính cơ bản của kiến thức bản địa, khả năng bao hàm
rộng lớn ở nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp (kỹ thuật xen canh, chăn nuôi, quản lý
sâu bệnh, đa dạng cây trồng, chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, chọn giống cây trồng);
sinh học (thực vật học, kỹ thuật chăn nuôi); chăm sóc sức khoẻ con người (bằng các
phương thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên … nên việc
nghiên cứu kiến thức bản địa phải xem xét trong mối liên quan tổng thể trong cộng
đồng, các vấn đề đều có mối liên quan.
- Tính tiếp biến và tích hợp, luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh môi
trường là đặc tính quan trọng của kiến thức bản địa. Chính đặc tính này khiến cho
kiến thức bản địa luôn tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh.
- Tính đồng quy cũng là một đặc tính của kiến thức bản địa, hầu hết đó là sự
đồng quy về kỹ thuật bản địa, do đó đôi khi rất khó xác định một kỹ thuật hoặc một
phương pháp là bản địa; nó được nhập từ bên ngoài, hay đó là một sự kết hợp giữa
các yếu tố địa phương và kiến thức được đưa đến địa phương đó.
Kiến thức bản địa được hình thành trong hoạt động sống, thường xuyên được
kiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động
của cuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường của các cộng đồng người.
Nhìn chung kiến thức bản địa có một số đặc điểm sau:
- Đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi cộng đồng nhất định.
- Dựa trên những kinh nghiệm được tích lũy, kế thừa từ đời này qua đời khác
qua những kênh thông tin thầm lặng.
12
- Có quá trình nghiệm sinh (vận động thử nghiệm, tích luỹ và hoàn thiện theo
thời gian trong hoạt động sống của con người). Phù hợp với môi trường, văn hóa
từng vùng, từng cộng đồng, tộc người.
- Vận động và thay đổi phù hợp với những điều kiện mới, cơ cấu xã hội mới.
- Kiến thức bản địa được giữ trong ký ức và trong hoạt động sản xuất của
người dân và được trao lại cho thế hệ sau bằng phương pháp giáo dục truyền nghề
dân gian.
Kiến thức bản địa được chia sẻ và truyền bá thông qua ngôn ngữ nói, bằng
các ví dụ cụ thể và thông qua luật tục, tập quán, văn hoá của cộng đồng. Các hình
thức giao tiếp và tổ chức của cộng đồng có ý nghĩa sống còn đối với các quá trình ra
quyết định ở cấp độ địa phương; có ý nghĩa sống còn đối với việc bảo tồn, phát triển
và phổ biến các tri thức bản địa (Hà Hữu Nga,2009).
Dù sử dụng tên gọi như: tri thức bản địa, tri thức kỹ thuật bản địa, sinh thái
dân tộc học, tri thức địa phương, tri thức dân gian, tri thức truyền thống, tri thức
truyền thống về môi trường, khoa học của dân hay tri thức của người nông thôn,...
thì đối tượng mà người ta muốn nhắc đến là một hệ thống các tri thức đặc trưng của
các cộng đồng người địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với
môi trường tự nhiên xung quanh. Các cách gọi này cũng thể hiện rõ ràng cách
những người sử dụng tiếp cận vấn đề và đặt các vấn đề liên quan đến nó.
Dưới đây là một số các đặc điểm được thừa nhận chung tạm thời về tri thức
bản địa theo Roy Ellen và Holly Harris trong phần Giới thiệu của cuốn sách “Tri
thức bản địa về môi trường và những biến đổi” thay cho việc định nghĩa thế nào là
tri thức bản địa vốn vẫn đang là một vấn đề bàn luận của các nhà nghiên cứu:
- Tri thức bản địa mang tính địa phương, bắt nguồn từ một địa điểm cụ thể, là
một tập hợp của các kinh nghiệm có được từ những con người sống tại địa điểm đó.
Việc di chuyển những kiến thức này sang một địa điểm khác sẽ đưa đến nguy cơ
làm biến đối các tri thức này.
- Tri thức bản địa là những tri thức được truyền miệng, hoặc được chuyển
giao thông qua các hình thức mô phỏng hoặc mô tả. Ghi chép lại những tri thức này
13
bằng văn bản có thể làm thay đổi những thuộc tính đặc trưng của chúng. Ghi chép
lại có thể làm cho các tri thức này dễ tiếp cận và lâu bền nhưng lại cũng làm biến
đổi các tri thức này như trong trường hợp trên.
- Tri thức bản địa là hệ quả của các gắn kết thực tế trong đời sống hàng ngày
và liên tục được củng cố bằng các kinh nghiệm, các lần thử, các lỗi và các thử
nghiệm cẩn trọng. Những trải nghiệm này là sản phẩm tiêu biểu của rất nhiều thế
hệ. Những thất bại của các thử nghiệm này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
những người đang thực hành nó trong khi những thành công của các thử nghiệm
này có thể được coi là công cụ đo lường tốt cho lý thuyết thích nghi của Darwin.
- Tri thức bản địa có xu hướng là loại kiến thức mang tính thực tiễn và giả
thuyết – kinh nghiệm hơn là mang tính lý thuyết theo nghĩa chính xác nhất. Ở một
mức độ nào đó thì tính truyền miệng, phi văn bản, cũng như sự gắn kết của nó trong
các hoạt động thực tiễn hàng ngày và những hồi ức chứa đựng nó gây trở ngại cho
những kiểu tổ chức cần thiết cho sự phát triển của loại tri thức mang tính lý thuyết
suông.
- Truyền thống là “một nhân tố hay thay đổi và làm biến đổi không hồi kết”
khi được gắn với tri thức. Tri thức bản địa vì thế liên tục thay đổi, được tạo ra và tái
tạo, được khám phá và bị mất đi mặc dù dường như nó thường được thể hiện như
trong một trạng thái tĩnh.
- Tri thức bản địa được chia sẻ ở một mức độ lớn hơn rất nhiều so với các loại
tri thức khác, bao gồm cả tri thức khoa học. Đấy chính là lý do vì sao đôi khi nó còn
được gọi là “tri thức của dân”, một cách gọi bắt nguồn từ chính thế hệ của nó trong
đời sống sản xuất hàng ngày. Tuy nhiên, sự phân bố của tri thức bản địa vẫn mang
tính phân đoạn, phân biệt về mặt xã hội. Nó thường được phân biệt đối xứng trong
khuôn khổ một khu vực dân cư, ví dụ như theo giới hoặc tuổi hoặc được phân bố
trong ký ức của từng cá nhân riêng biệt. Cũng có thể là có các chuyên gia thông qua
các kinh nghiệm của họ, hoặc các nghi lễ hoặc quyền lực về mặt chính trị.
- Mặc dù tri thức bản địa có thể tập trung vào các cá nhân và có thể được đạt
đến bằng mức độ gắn kết với các nghi lễ hoặc các cấu trúc biểu tượng khác nhưng
sự phân bố của nó luôn gián đoạn. Nó không tồn tại trong một thể tổng thể mà ở
14
từng nơi và với từng cá nhân. Thực ra mà nói, tri thức bản địa không hẳn là được
chuyển giao từ cá nhân đến cá nhân mà trong từng thực hành và trong từng giao tiếp
xã hội trong đó, con người trao đổi với nhau.
- Việc coi tri thức bản địa mang tính chỉnh thể hợp nhất trong khuôn khổ của
các truyền thống văn hoá rộng lớn hơn, tách rời những vấn đề kỹ thuật với cái
không mang tính kỹ thuật, lý tính với cái không lý tính là cần được xem xét lại.
(Ellen, R, 2003: 4-5)
Có nhiều cách phân loại tri thức bản địa theo những tiêu chí khác nhau, tuỳ
thuộc vào từng chuyên ngành khoa học. Trong cuốn “Cẩm nang về tri thức bản địa 2000”, các tác giả đưa ra hệ thống phân loại và xác định các đặc điểm theo nhận
thức và chức năng. Trên cơ sở đó, tri thức bản địa có thể được chia thành các loại
sau: 1/ Thông tin, 2/ Kỹ thuật và thực hành, 3/ Tín ngưỡng, 4/ Các công cụ, 5/ Vật
liệu, 6 Thực nghiệm, 7/ Tri thức về các nguồn tài nguyên sinh học, 8/ Sự hiểu biết
về nguồn nhân lực, 9/ Giáo dục, và 10/ Giao tiếp. Ngô Đức Thịnh, sau khi đồng
nhất khái niệm tri thức bản địa với tri thức dân gian lại cho rằng: “Tri thức dân gian
có thể được chia thành 4 loại: 1/ Tri thức về tự nhiên và môi trường, 2/ Tri thức về
bản thân con người, 3/ Tri thức về sản xuất, và 4/ Tri thức về quản lý xã hội và cộng
đồng” (Ngô Đức Thịnh: Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá Việt Nam, H, 1996).
Với đặc điểm của ngành mình (nghiên cứu về các quá trình tộc người, văn
hoá tộc người trong bối cảnh liên tục phát triển), các nhà Dân tộc học thường phân
loại tri thức bản địa như sau:
- Sự nhận biết các yếu tố tự nhiên (đặc điểm địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, các
đặc tính sinh học của động - thực vật, khí hậu - thời tiết, nguồn nước…), các kinh
nghiệm khai thác, sử dụng và quản lý các yếu tố đó.
- Các tri thức liên quan đến quá trình mưu sinh (các phương thức sinh kế cụ thể,
các giống cây trồng - vật nuôi, mùa vụ, công cụ…).
- Các tri thức liên quan đến đời sống vật chất (thôn làng, nhà cửa, trang phục, đồ
ăn - thức uống, phương tiện vận chuyển).
15
- Các tri thức trong việc quản lý xã hội (thiết chế tự quản thôn làng với vai trò
của luật tục, người già và các thủ lĩnh, dòng họ và gia đình).
- Các tri thức trong đời sống tinh thần (tín ngưỡng, lịch pháp, y - dược thuật,
các chuẩn mực trong ứng xử và giao tiếp xã hội, các loại hình văn học, nghệ
thuật dân gian).
Sự phân loại theo phương pháp dân tộc học không mâu thuẫn với cách phân
loại của các ngành khoa học khác. Nó có một ưu điểm là mang tính bao quát toàn
diện hơn hẳn so với các ngành khoa học chuyên sâu. Tuy nhiên, trong bối cảnh của
một nền khoa học liên - đa ngành, sự kết hợp giữa công tác nghiên cứu cơ bản về
dân tộc học với các ngành khoa học chuyên sâu là hết sức cần thiết.
1.3. Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa
1.3.1. Trên thế giới
Trước khi kiến thức bản địa đạt được vị trí trung tâm của các mối quan tâm
như hiện nay nó cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn, được ủng hộ hoặc bị bác bỏ,
được bao hàm hoặc được lề hoá ra khỏi các chương trình phát triển tại nhiều nơi
trên thế giới. Nhưng thăng trầm đã và đang xảy ra đối với kiến thức bản địa luôn
được đặt trong mối tương quan với hệ thống kiến thức khoa học của phương Tây và
những tiêu chí được dùng để làm công việc phân biệt giữa hai loại hệ thống kiến
thức này chính là vai trò và sự trao đổi của hai hệ thống kiến thức này trong các
chương trình phát triển trên toàn thế giới
Bối cảnh thế giới giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, khái niệm “phát
triển” theo từng giai đoạn biến đổi của nền kinh tế thế giới được bồi đắp dần lên với
các nghĩa mới bổ sung. Bắt đầu từ giai đoạn phát triển tập trung chủ yếu vào việc
khôi phục nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến, tiếp theo sau giai đoạn này là sự tăng
trưởng đồng đều trên mọi lĩnh vực của cuộc sống nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản
của con người và dần nâng cao chất lượng cuộc sống cho loài người. Chủ nghĩa
phát triển đến giai đoạn này như là một đại chủ nghĩa, siêu lý thuyết phủ bóng lên
16
toàn thế giới. Các nhà phát triển đến từ các nước phương Tây, được trang bị bằng
hệ thống khoa học và kiến thức của phương Tây đến các nước thứ ba nhằm “phát
triển” các nước này và mở rộng công cuộc truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học.
Trong công cuộc này, họ coi các nguồn kiến thức địa phương như là những trở ngại
cần phải được vượt qua để có thể đạt tới mục tiêu của các công cuộc phát triển. Các
nhà làm công tác phát triển coi truyền thống và các giá trị truyền thống của các tộc
người trên thế giới như những gì yếu kém, lạc hậu, cần được huỷ bỏ hơn là được
động viên để sử dụng. Tính hợp pháp của kiến thức truyền thong bị nghi ngờ. Đặc
biệt đối với những chương trình phát triển theo mô hình “trên – dưới” 2
Bắt đầu từ những năm 60-70 của thế kỷ 20, việc lề hoá kiến thức bản địa và
vai trò của các tộc người bản địa được xem xét lại. Mối quan tâm, thiện cảm dành
cho những kiến thức địa phương, kiến thức truyền thống ngày càng nhiều lên.
Những lợi ích và hạn chế rõ ràng của kiến thức bản địa về môi trường của các tộc
người bản địa trên thế giới đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược phát triển
của các quốc gia đã khiến cho vai trò của nó và tiếng nói của những tộc người bản
địa ngày càng thu hút nhiều chú ý từ cộng đồng thế giới
Sự quan tâm của Ngân hàng thế giới (World Bank) như là một thể chế kinh
tế quyền lực toàn cầu đối với kiến thức bản địa (kiến thức bản địa về môi trường)
vừa là hệ quả của hai bối cảnh trên nhưng đồng thời, nó củng cố và mở rộng phạm
vi quan tâm của toàn thế giới đối với tri thức bản địa. Năm 1998, Ngân hàng Thế
giới thiết lập chương trình kiến thức bản địa cho sự phát triển. Chương trình này có
mục đích học tập từ các hệ thống kiến thức địa phương phục vụ cho các thực hành
phát triển tại các cộng đồng đó và từ đó, mở rộng tính ứng dụng của các kiến thức
này. Ngân hàng Thế giới tuyên bố rằng họ cần trao cho những người nghèo trên thế
giới cái quyền không chỉ là người tiếp nhận các kiến thức khoa học phát triển mà họ
Cách tiếp cận “trên - dưới” trong quản lý, thực hiện các dự án hoặc các chương trình phát triển đã từng là phương cách
tiếp cận chủ đạo và cũng đã đạt được nhiều thành tựu nhất định trong quản lý chính sách, và phát triển kinh tế. Cách tiếp
cận này dựa trên một số luận điểm chính sau: 1/ Các chính sách thiết lập các mục tiêu rõ ràng đặt để từ đó có thể đánh giá
được mức độ mục tiêu được thực hiện. 2/ Các chính sách cũng rõ ràng đặt ra các công cụ thể có thể đạt được các mục tiêu
đã được đặt ra. 3/ Có một chuỗi bắt đầu bằng một thông điệp từ trên đưa xuống và các phần việc được xem xét tiến hành
trong cái chuỗi đó.
2
17
phải là những người đóng góp, những người đóng vai trò chủ đạo trong phát triển
của chính họ. James D. Wolfensohn, Chủ tịch của Ngân hàng thế giới cho rằng: “Tri
thức bản địa là một phần không thể thiếu trong văn hoá và lịch sử của một cộng
đồng địa phương. Chúng ta cần thiết phải học hỏi từ các cộng đồng địa phương để
có thể thúc đẩy quá trình phát triển” (Gorjestani, 2000:1). Chương trình này được
tiến hành tập trung tại các nước châu Phi nhằm mục đích giảm tỉ lệ đói nghèo và
hướng tới các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Ngân hàng Thế giới đề ra.
John Briggs và Joanne Sharp cho rằng: Thực tế mà nói thì Ngân hàng Thế
giới vẫn đang nhìn nhận kiến thức bản địa dưới con mắt suy xét của người tin rằng,
khoa học chính thống phương Tây có quyền thế trong việc quyết định các kiến thức
khác kiến thức phương Tây có thể được sử dụng hay không sử dụng. Đây là một sự
trao đổi đơn tuyến. Kiến thức bản địa và tộc người bản địa được trao quyền để nói
và tham gia, nhưng với điều kiện được sự kiểm chứng và xác nhận của các nhà khoa
học phương Tây. Kiến thức bản địa sẽ được sử dụng chỉ khi nào nó được chứng
minh một cách rõ ràng là phù hợp với mục tiêu phát triển của các chương trình của
Ngân hàng thế giới. Như vậy thì có hay không có sự thừa nhận khách quan và chân
thực về vai trò thực sự của kiến thức bản địa trong cách đánh giá của Ngân hàng thế
giới hướng tới mục tiêu của sự phát triển bền vững.
Trong giai đoạn thống trị của chủ nghĩa phát triển, hệ thống khoa học kỹ
thuật phương Tây được coi là kim chỉ nam, là phương tiện duy nhất có thể giúp các
nước thứ ba đạt tới sự phát triển. Kiến thức khoa học phương Tây được coi là siêu
việt và cần được truyền bá trên toàn cầu. Tuy nhiên, sự thất bại của chủ nghĩa này ở
nhiều trường hợp đã khiến nhiều người nghi ngờ về quyền năng của hệ kiến thức
này như nó đã từng được thừa nhận trong giai đoạn hoàng kim.
Khoa học phương Tây cũng chỉ nên được xem như một loại kiến thức bản
địa hoặc địa phương, loại kiến thức được này sinh trong môi trường thiết chế
phương Tây và đã được lan truyền rộng rãi khắp thế giới nhờ vào sự thiết lập của
các mối quan hệ quyền lực mang tính thực dân và thực dân mới. Vì vậy sự thống trị
của kiến thức phương Tây không phải là do nó đạt gần tới một sự thật tối cao nào,