Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT học TRẦN lê bảo KHÁNH TCHH k15 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (205.78 KB, 28 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC

Đề tài:

“Sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay”
Người thực hiện: Trần Lê Bảo Khánh
Người hướng dẫn: TS. Phạm Đào Thịnh
Lớp: TCNH K15.1
Khoá: 2015-2017

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài....................................................................................1
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.....................................................2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC ..............................................................
1.1. Khái niệm về đạo đức ...........................................................................3
1.2. Nguồn gốc của đạo đức .........................................................................3
1.2.1. Các quan niệm trước Mác về đạo đức ..........................................3
1.2.2. Quan niệm của Mác về đạo đức....................................................4
1.3. Vai trò của đạo đức ................................................................................4
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ ................................................6


2.1. Đạo đức qua các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử .........................6
2.1.1. Đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thủy.................................6
2.1.2. Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ..........................................7
2.1.3. Đạo đức trong xã hội phong kiến..................................................7
2.1.4. Đạo đức trong xã hội tư bản..........................................................8
2.1.5. Đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa.....................................9
2.2. Đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa .....9
2.2.1. Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trường ........................10
2.2.2. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức ...................13
CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ..................................................................................15
3.1. Thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay trong nền kinh tế thị
trường....................................................................................................................15


3.2. Một số giải pháp nhằm xây dựng đạo đức phù hợp với kinh tế thị
trường ...................................................................................................................17
3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật................................17
3.2.2. Đề cao, chú trọng công tác giáo dục đạo đức..............................18
3.2.3. Tôn trọng và phát huy các chuẩn mực đạo đức xã hội, truyền
thống......................................................................................................................19
KẾT LUẬN..........................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................23


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một phạm trù đặc trưng của xã hội loài người. Đạo đức đã
được con người nghiên cứu từ rất lâu. Nó gắn liền với cuộc sống của con
người và có mặt trong tất cả các mối quan hệ của con người. Mối quan hệ
giữa người với người chủ yếu được xây dựng trên cơ sở các qui tắc đạo đức
xã hội. Qua các thời kỳ, phương thức sản xuất ngày càng phát triển đã làm
thay đổi bản chất mối quan hệ con người: con người có nhiều mối quan hệ
hơn, rộng hơn, phức tạp hơn,... Từ đó, các qui tắc đạo đức xã hội cũ cũng trở
nên không còn hiệu lực đối với cuộc sống lao động; nó cần có thêm những
qui tắc ứng xử mới phù hợp hơn để hướng dẫn hành vi con người trong mối
quan hệ mới.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to
lớn. Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của nhân
dân từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành quả đạt được thì công cuộc đổi mới cũng đang đặt ra cho chúng
ta nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó có vấn đề xuống cấp của đạo
đức. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện này, em chọn “Sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
tiểu luận của mình.
2. Mục tiêu của đề tài
Đề tài này chủ yếu dựa trên lý luận triết học nhìn nhận sự biến đổi của
đạo đức tương ứng với các hình thái kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Từ
những lý luận đó, nhìn nhận và đánh giá sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền
HV: Trần Lê Bảo Khánh

1



BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay nhằm
đưa ra những giải pháp cơ bản để xây dựng một nền đạo đức phù hợp với
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là
sự kết hợp sử dụng các phương pháp như: phương pháp lôgic và lịch sử,
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so sánh,…
Trên cơ sở đó kết hợp hài hòa giữa các phương pháp để làm rõ vấn đề cần
nghiên cứu một cách hiệu quả nhất, trong đó có kế thừa có chọn lọc những tài
liệu có sẵn trong kho tàng lý luận.

CHƯƠNG 1

HV: Trần Lê Bảo Khánh

2


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC
1.1. Khái niệm về đạo đức

Khái niệm đạo đức theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác
“Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp
những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều
chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội và của người khác trong mối quan hệ
giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng xã hội.”
1.2. Nguồn gốc của đạo đức
1.2.1. Các quan niệm trước Mác về đạo đức
Những tư tưởng về đạo đức đã xuất hiện cách đây hơn 26 thế kỷ, phát
triển từ thấp đến cao, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thông qua
sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tư tưởng đạo đức có trước. Tư tưởng về
đạo đức trước Mác có nhiều quan niệm khác nhau.
Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội là những hình thái
biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó. Do vậy, những
chuẩn mực là do thần thánh tạo ra để răn dạy con người. Mọi biểu hiện đạo
đức của con người đều là biểu hiện của cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên.
Và tiêu chuẩn để thẩm định thiện – ác chính là sự phán xét của đấng siêu
nhiên đó.
Quan niệm về đạo đức của những nhà triết học duy tâm như: Platon
(427 - 347 TCN), I. Kant (1724 - 1804), P. Heeghen (1770 - 1831),... tuy
không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”
để lý giải về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Chính vì vậy, quan niệm về
đạo đức của họ có trước và độc lập với những hoạt động với những hoạt động
mang tính xã hội của con người. Hay nói cách khác, họ đã thần bí hóa đạo
đức.
Các nhà duy vật như: Đêmôcrit (460 - 370 TCN), Êpyquya (431 - 270
TCN), L.Phơbach (1084 - 1872),... đã nhìn thấy được đạo đức trong quan hệ
HV: Trần Lê Bảo Khánh

3



BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

giữa người với người và chống lại sự thần bí của đạo đức mà chủ nghĩa duy
tâm đã áp đặt cho nó. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt điều kiện lịch sử và về
thế giới quan nên đối với các nhà triết học duy vật, con người chỉ là một thực
thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên
giai cấp, dân tộc và thời đại.
Những người theo quan điểm Đác-Uyn lại tầm thường hóa chủ nghĩa
duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là đồng
nhất với những bản năng bầy đàn của động vật. Đối với họ, đạo đức về thực
chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ xã
hội.
1.2.2. Quan niệm của Mác về đạo đức
Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác và Ăngghen quan niệm đạo
đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó bên ngoài xã hội, bên
ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của những
năng lực “tiên thiên”, mà đạo đức được sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối
hợp hành động của con người trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu
tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển.
Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ
đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát
triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp.
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan,
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan
hệ người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu
quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người
càng có đạo đức. Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy

chừng nào con người còn tồn tại” (Mác, Ăngghen toàn tập T3, NXB CTQG,
H 1995, tr 43)

HV: Trần Lê Bảo Khánh

4


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

1.3. Vai trò của đạo đức
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con
người. Đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm
bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển. Sống trong xã hội, con người
phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức
hoạt động phù hợp nhằm kết hợp lợi ích của mình với lợi ích cộng đồng. Từ
đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng.

CHƯỚNG 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ

HV: Trần Lê Bảo Khánh

5


BÀI THU HOẠCH


TCNH – K15.1

2.1. Đạo đức qua các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử
Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử
xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Do đó, sự phát triển của các hình
thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao đã dần dần làm cho đạo đức ngày càng
được hoàn thiện.
2.1.1. Đạo đức trong xã hội công xã nguyên thủy
Trong chế độ công xã nguyên thủy, đời sống xã hội chủ yếu dựa trên
chế độ công hữu về tài sản. Tài sản của người nguyên thủy chỉ là một số công
cụ và đồ tiêu dùng do mỗi người tự chế tạo một cách thô sơ. Trong xã hội
công xã nguyên thủy không có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượng
người bóc lột người, con người không có đầu óc làm giàu,... Họ cùng nhau hái
quả, đánh bắt cá, làm nhà, kỷ luật và quy tắc lao động được duy trì bằng sức
mạnh của số đông người trong bộ tộc uy tín và sự tôn kính đối với người tộc
trưởng.
Việc coi trọng, tuân thủ các hành vi ứng xử trong giao tiếp và các hoạt
động cụ thể của cộng đồng là biểu hiện ý thức đạo đức của người nguyên
thủy. Mỗi người thực hiện bất kỳ một hành vi đạo đức nào bao giờ cũng theo
thói quan, đối với họ việc bắt chước các mẫu hoạt động đạo đức là một yêu
cầu bắt buộc. Nhờ đó các tập quán, phong tục, các điều cấm kị, lễ nghi, các
định kiến, dư luận xã hội đã tồn tại rất lâu đời trong cuộc sống.
Trình độ phát triển rất thấp về kinh tế - xã hội và văn hóa của con người
nguyên thủy đã làm cho họ có một số đặc điểm gần giống như một loài động
vật như hoạt động ăn thịt người ở thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyên
thủy, hoạt động đó chỉ mất khi nền kinh tế và văn hóa của xã hội phát triển
cao hơn, và trở thành một hoạt động thất đức.

HV: Trần Lê Bảo Khánh


6


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

2.1.2. Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ
Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ tiến bộ hơn một bậc so với chế
độ công xã nguyên thủy do có sự xuất hiện của giai cấp dẫn tới sự tan vỡ của
ý thức đạo đức thống nhất trong nội bộ cộng đồng xã hội.
Việc xuất hiện quan hệ sản xuất mới là chủ nô chiếm hữu tư liệu sản
xuất và người nô lệ. Loài người đã bắt đầu hình thành một nền đạo đức mới.
Đó là đạo đức của nô lệ và đạo đức của chủ nô, hai nền đạo đức này đối lập
với nhau về cơ bản. Tầng lớp người giàu (chủ nô) tự cho mình là người “có
đức hạnh, người thượng lưu, quí tộc” còn những người nghèo (nô lệ) là
những người “không có phẩm hạnh, người thấp hèn, hạ đẳng”.
Sự nô dịch của số ít (do giàu có mà trở thành mạnh) đối với số đông (do
nghèo khổ mà trở thành yếu) giờ đây được bảo đảm bởi một lực lượng xã hội
mới – nhà nước, tình trạng bình đẳng nhường chỗ cho đẳng cấp. Nó quy định
nội dung cơ bản của đạo đức, đẩy tới hai cực đối lập gay gắt: chủ - tớ, trên –
dưới, mệnh lệnh – phục tùng, tốt của người giàu – xấu của người nghèo.
Tính chất đó quy định các nội dung khác nhau của quan niệm về tốt –
xấu trong giai cấp này hay giai cấp kia. Cuộc sống tôi tớ chỉ được đánh giá
ngang với giá trị của các vật dụng, các con vật.
Chế độ nô lệ dạy người nô lệ phải phục tùng tuyệt đối. Những đạo đức
cao cả của người nô lệ như: lòng dũng cảm, chí khí, nhân phẩm…đã bị chủ nô
xem như lời thách thức, sự bất kính.
2.1.3. Đạo đức trong xã hội phong kiến
Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất. Khác với nô lệ,

người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao
động cá nhân đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết. Tuy nhiên,
địa chủ vẫn có quyền đuổi nông dân ra khỏi lãnh địa của mình, nhưng không
có quyền giết họ. Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội phong kiến, nhưng
địa vị người nông dân cũng thấp kém và lệ thuộc như nô lệ. Sự phụ thuộc về
HV: Trần Lê Bảo Khánh

7


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địa
chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến.
Trong xã hội phong kiến tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức: đạo đức của
giai cấp phong kiến, đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động.
Trong đó, đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến là đạo đức của giai cấp
phong kiến.
2.1.4. Đạo đức trong xã hội tư bản
Chế độ tư bản là một bước tiến của xã hội, vì nó đập tan xiềng xích của
chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng chiếm hữu của phong kiến, mở ra thị trường
trong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiến
lên.
Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản
dẫn đến biến đổi cả hệ thống đạo đức xã hội. Chủ nghĩa cá nhân tư sản là
nguyên tắc cơ bản của đạo đức tư sản. Quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa kích thích các nhà tư bản làm giàu và định hướng trong ý thức, hành vi
đạo đức của họ. Họ coi việc làm giàu bằng mọi cách và mọi giá là hoạt động

chính, là mục đích cao nhất của cuộc sống. Các nhà tư bản bốc lột người công
nhân trên cơ sở bốc lột giá trị thặng dư bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.
Xã hội tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nền
sản xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động
phát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt. Ngoài những mặt tích cực
đó, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn
đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con
người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm.
2.1.5. Đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Đạo đức trong xã hội tư bản bao gồm nhiều kiểu đạo đức khác nhau:
đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức của
những lực lượng xã hội khác. Các kiểu đạo đức này thường xâm nhập vào
HV: Trần Lê Bảo Khánh

8


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

nhau, đan xen và không ngừng đấu tranh với nhau, tạo nên con đường phát
triển xã hội trên cơ sở khẳng định mặt tích cực, tiến bộ, triệt tiêu mặt lạc hậu,
mở rộng khả năng phát triển đạo đức trong tương lai của một xã hội mới – xã
hội xã hội chủ nghĩa.
Khi chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi và các giai cấp bóc lột trong xã hội bị
tiêu diệt thì đạo đức cộng sản cũng được toàn dân thừa nhận, nó trở thành đạo
đức thống trị.
Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạo
đức loài người. So với những đạo đức trước đây, đạo đức cộng sản là một

hình thái đạo đức tiên tiến nhất vì đạo đức cộng sản vì đời sống vật chất, tinh
thần của con người mà tiêu diệt thế giới bóc lột và lập nên chủ nghĩa cộng
sản, giải phóng con người khỏi áp bức, bốc lột, bất công.
2.2. Đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa
Hiện nay đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm. Thực chất của
đổi mới kinh tế là tập trung chuyển đổi mô hình kinh tế từ mô hình kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường là hình thái kinh tế, trong đó toàn bộ các yếu tố
“đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Sự phát triển của
kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. Từ
đó tạo điều kiện cho nền sản xuất lớn có tính xã hội hoá cao ra đời; đồng thời
chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ quản
lý có trình độ, lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dùng là
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lí của nhà nước, theo định hướng XHCN. Hiện nay, nền kinh tế thị
HV: Trần Lê Bảo Khánh

9


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

trường ở nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển, vấn đề đặt ra là cần
phải hoàn thiện hơn nữa về cơ chế, chính sách quản lý phù hợp với định

hướng XHCN. Trong suốt chặn đường đổi mới đã qua, chúng ta đã khẳng định
hướng đi của mình là một lựa chọn đúng đắn. Khẳng định này thể hiện rõ nét
qua những thành tựu to lớn đã đạt được thời gian đổi mới trên tất cả các lĩnh
vực đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội.
2.2.1. Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trường
Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của ý thức xã hội,
một mặt bị quy định bởi cơ sở hạ tầng của tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có
tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn
tại xã hội. Vì vậy trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa đạo đức có vai trò rất to lớn.
Một là, đạo đức góp phần định hướng mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Ở đây xã hội mới không phải là sự cộng sinh giữa chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa xã hội mà là sự phản ánh tổng thể các mối quan hệ biện
chứng của các nhân tố xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu của
sự định hướng, vừa hiện diện từ đầu ngay trong sự định hướng đó với biểu
hiện là những nhân tố hợp thành mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Những nhân
tố đó là “nhà nước của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo,
cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng”, “tăng trưởng kinh tế gắn liền với
tiến bộ và công bằng xã hội”.
Như vậy, mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa của cách mạng nước ta
đồng nhất với mục tiêu của chủ nghĩa nhân đạo là làm cho mọi người đều có
cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hai là, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
ngay từ trong bản chất đã chứa đựng yếu tố luân lý đạo đức.
HV: Trần Lê Bảo Khánh

10



BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

Trong điều kiện xã hội tư bản, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, mục đích của người sản xuất hàng hóa là thu được giá trị thặng dư,
tức là bóc lột lao động thặng dư của người lao động để gia tăng tư bản tư
nhân, còn thỏa mãn nhu cầu đời sống của con người chỉ là phương tiện để đạt
mục đích. Ngược lại nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác
hẳn về chất so với nền kinh tế thị trường khác. Ở đây kinh tế nhà nước đóng
vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng cho toàn bộ nền
kinh tế. Nhiệm vụ của nó là giải phóng lực lượng sản xuất, lấy việc nâng cao
hiệu quả của kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống nhân dân là mục tiêu hàng
đầu trong việc khuyến khích các thành phần kinh tế. Muốn vậy, đòi hỏi phải
sử dụng hợp lý, hữu hiệu các nguồn vốn (thiết bị, nguyên liệu, nhân lực) để
nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo đảm chất lượng sản phẩm và bảo vệ quyền
lợi cho người tiêu dùng là biểu hiện của các quan niệm giá trị đạo đức.
Ba là, các tiêu chuẩn đạo đức góp phần cấu thành nên tính nhân
văn trong hoạt động kinh tế của các chủ thể
Thực tiễn cho thấy, động lực của sự phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài những nhân tố kinh tế, còn có các nhân tố phi
kinh tế, nhân tố tinh thần đạo đức như: tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã
hội, ý thức độc lập tự chủ, tự cường của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đó
chính là những tình cảm và giá trị đạo đức cao đẹp của người Việt Nam. Dựa
trên những giá trị đó, mọi tài năng sáng tạo, mọi nguồn lực to lớn của đất
nước, của nhân dân ta sẽ được tập hợp và phát huy để hướng vào mục tiêu
đưa nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, sánh vai cùng
các nước phát triển trên thế giới.
Bốn là, đạo đức góp phần điều tiết các quan hệ lợi ích trong kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quan hệ đạo đức luôn “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội. Các chuẩn
mực đạo đức duy trì trật tự chung trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối, trao
HV: Trần Lê Bảo Khánh

11


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

đổi và tiêu dùng, điều hòa quan hệ lợi ích giữa con người với con người.
Trong các xí nghiệp thuộc kinh tế nhà nước, vấn đề đặt ra là làm sao cho công
nhân yêu mến xí nghiệp mình, làm sao để họ coi trọng lợi ích của xí nghiệp
và thành quả lao động của công nhân gắn bó chặt chẽ với vinh dự xã hội và
lợi ích vật chất của họ. Để đạt được như vậy không chỉ là tác động của kinh
tế, chính trị mà còn có sự tác động của yếu tố đạo đức.
Đối với khu vực kinh tế tư bản tư nhân, quan hệ giữa chủ và người làm
thuê cũng đặt ra nhiều vấn đề. Ngoài việc phải tuân thủ chính sách và pháp
luật của Nhà nước, giữa họ còn có quan hệ về mặt đạo nghĩa: tôn trọng nhân
cách của người lao động, quan tâm cải thiện điều kiện lao động và đãi ngộ
phúc lợi hợp lý…
Trong quan hệ giữa nhà sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, yêu
cầu đạo đức phải thực hiện đúng các quy phạm đạo đức nghề nghiệp, hàng
hóa phải hợp quy cách, đúng chất lượng, mẫu mã. Chủ doanh nghiệp phải
chịu trách nhiệm trước người tiêu dùng về hàng hóa mình bán ra, bảo đảm
“hàng thực, giá đúng”. Nhà doanh nghiệp luôn có ý thức về đạo đức trong
kinh doanh, ngoài lợi nhuận chính đáng còn phải suy nghĩ xem có nên sản
xuất loại hàng này không? Hàng hóa này có nên đem bán ra thị trường không?

Như vậy đạo đức có vai trò hết sức quan trọng và là yếu tố chính bên
trong của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta xác định nhiệm vụ
trọng tâm là phát triển kinh tế, điều đó không có nghĩa là xem nhẹ vai trò của
đạo đức. Đảng ta luôn khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người,
đó phải là những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thần, trong đó đạo đức mới là một
động lực tinh thần to lớn thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, hăng say lao
động sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy sáng kiến kỹ thuật, làm việc có
chất lượng và hiệu quả cao của nhân dân lao động.
HV: Trần Lê Bảo Khánh

12


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

2.2.2. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức
Việc chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở
nước ta hiện nay. Sự tác động vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực đối
với đạo đức.
* Về mặt tích cực:
Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng công
lợi xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt, đặc biệt là
đạo đức. Con người tham gia vào hoạt động kinh tế thị trường về nhân cách
được độc lập, tự do có quyền bình đẳng trong cạnh tranh, giữ chữ tín trong
trao đổi và tăng cường quan tâm phát triển lợi ích chung của toàn xã hội.

Tham gia vào kinh tế thị trường, con người có điều kiện phát triển nhân
cách cá nhân: tính quyết đoán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính năng động
sáng tạo trong lập thân, lập nghiệp được khẳng định,...
* Về mặt tiêu cực:
Bên cạnh những mặt tích cực nói trên, cơ chế thị trường cũng gây ra
hàng loạt những hiện tượng tiêu cực đối với đạo đức và tiến bộ xã hội. Đó là,
sự phân hoá giàu nghèo một cách sâu sắc, từ đó làm sâu sắc thêm những mâu
thuẫn xã hội.
Kinh tế thị trường dễ nảy sinh những tệ nạn xã hội: tham nhũng, tội
phạm, bạo lực. Từ lòng tham lợi ích dẫn đến khai thác cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên cũng như sức lực của người lao động. Kinh tế thị trường
còn kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống
chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý. Đặc biệt, đối với những nước mới bước
vào kinh tế thị trường, sự đụng độ giữa kinh tế thị trường và các giá trị đạo
đức truyền thống của dân tộc cũng trở thành một vấn đề nan giải.
Như vây, kinh tế thị trường vừa có ảnh hưởng tích cực, vừa có ảnh
hưởng tiêu cực đối với đạo đức.
HV: Trần Lê Bảo Khánh

13


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

Đạo đức là lĩnh vực rất nhạy cảm trước tác động của kinh tế thị trường.
Vì thế, việc lựa chọn nội dung và hình thức giáo dục phù hợp với nền kinh tế
mới có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển đất nước theo con
đường xã hội chủ nghĩa.


CHƯƠNG 3
ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
3.1. Thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay trong nền kinh tế
thị trường
Hiện nay nước ta đang thực hiện quá trình đổi mới toàn diện đất nước.
Từ đổi mới kinh tế, đến đổi mới chính trị, đổi mới văn hóa xã hội, đổi mới
quan hệ quốc tế. Do đó, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đang có sự chuyển
đổi sâu sắc và tác động đến đời sống tinh thần, việc giữ gìn và phát huy các
giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới đã
và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết.

HV: Trần Lê Bảo Khánh

14


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

Thực tế cho thấy rằng, trong đời sống xã hội nước ta hiện nay đã có
những biểu hiện coi nhẹ những giá trị truyền thống, chạy theo thị hiếu không
lành mạnh. Đáng chú ý là "tệ sùng bái” nước ngoài, coi thường những giá trị
văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại
đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và
danh dự mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng
nghiệp. Buôn lậu và tham nhũng phát triển. Ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã
hội khác gia tăng.

Một điều đáng buồn là tình trạng giáo dục trong gia đình bị buông lỏng,
từ đó xuất hiện "bụi nhà". Không những quan hệ giữa con người với nhau trên
thị trường bị đồng tiền chi phối, mà cả những quan hệ trong gia đình cũng bị
sức mạnh của đồng tiền làm băng hoại. Vì sự cám dỗ của đồng tiền mà người
ta sẵn sàng để cho người thân của mình bán rẻ nhân phẩm, tiếp tay cho các tệ
nạn xã hội. Vì đồng tiền mà con cái hành hung cha mẹ, anh em từ bỏ nhau, vợ
chồng ly tán... các quan hệ trong gia đình bị đảo lộn. Chính sự rối loạn trong
quan hệ gia đình là một trong những nguyên nhân làm cho cái ác, cái bất
lương có điều kiện phát triển.
Còn ở nhà trường, đặc biệt là trong giới sinh viên, đã nảy sinh xu hướng
quan tâm nhiều đến lợi ích kinh tế của cá nhân, điều đó được biểu hiện trong
việc chọn ngành nghề để làm giàu hoặc có quyền lực. Khi tốt nghiệp ra
trường, phần lớn trong số họ không muốn làm việc ở các cơ quan của tổ chức
Đảng, đoàn thể, giáo dục... "Thập nạn" trong sinh viên hiện nay, như: tiêu cực
trong thi cử, cờ bạc, quan hệ tình dục phóng túng, mê tín dị đoan, uống rượu
say, nghiện hút, cắm quán, trộm cướp, ham mê văn hoá phẩm đồi truỵ, vô kỷ
luật, mất trật tự vệ sinh, đua đòi, chạy theo lối sống tiêu dung,... cho thấy,
thực trạng đạo đức sinh viên đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu,
giải quyết.

HV: Trần Lê Bảo Khánh

15


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

Ngoài xã hội đã xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với

thuần phong mỹ tục của dân tộc. Một bộ phận trong các tầng lớp nhân dân,
các thành phần xã hội khi mưu cầu lợi ích cá nhân đã chà đạp lên những
khuôn mẫu, những giá trị đạo đức truyền thống. Nạn tham nhũng, buôn lậu,
làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang phát triển. Đặc biệt, "một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý
tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về
đạo đức và lối sống. Thực tế cho thấy rằng, những năm gần đây, số vụ buôn
lậu, buôn bán ma tuý, làm hàng giả được phát hiện ngày càng tăng. Một bộ
phận trong lớp trẻ hiện nay có xu hướng chạy theo lối sống thực dụng, buông
thả, sùng bái đồng tiền, quay lưng lại với các giá trị văn hoá truyền thống, đạo
đức truyền thống. Trái với truyền thống coi trọng tình nhân ái của dân tộc ta,
một bộ phận trong nhân dân, chủ yếu là lớp trẻ, vị thành niên đã và đang sa
vào cuộc sống bạo lực, phi nhân tính. Tình hình tội phạm hình sự ở Việt Nam
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường đang ở mức khá nghiêm
trọng so với trước. Một loạt tội phạm mới nguy hiểm đã xuất hiện, như:
khủng bố cá nhân, tống tiền, bắt cóc trẻ em, buôn bấn phụ nữ, buôn bán chất
nổ, chất ma tuý với số lượng lớn, tổ chức đâm thuê chém mướn, môi giới mại
dâm, xì ke ma tuý,... Tình hình phụ nữ phạm tội và các vụ phạm tội do người
chưa thành niên thực hiện có chiều hướng gia tăng.
Thực trạng và những vấn đề đặt ra trên đây phần nào đã cảnh báo cho
chúng ta biết được vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ
và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnh, trung thực, có lý tưởng, có tinh thần
bảo vệ và xây đựng đất nước... với lối sống sa đọa, ích kỷ, thực dụng, bạo lực
giữa cái thiện và cái ác vẫn đang không ngừng diễn ra với tốc độ ngày càng
gia tăng. Bên cạnh những điều tốt, những cái hay được du nhập vào đời sống

HV: Trần Lê Bảo Khánh

16



BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

xã hội Việt Nam thì những cái tiêu cực, cái xấu, cái đáng lên án cũng đang
xâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp nhân dân.
3.2. Một số giải pháp nhằm xây dựng đạo đức phù hợp với kinh tế
thị trường
3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Pháp luật bao gồm những quy định mang tính chất ràng buộc, cưỡng chế
đối với con người và buộc con người phải tuân thủ những nguyên tắc do hệ
thống pháp luật đặt ra. Nếu như con người thực hiện đúng với những quy định
của pháp luật đồng nghĩa với việc họ có tự do. Nhưng ngược lại, con người sẽ
bị trừng phạt nếu vi phạm những quy định của nó. Trong lĩnh vực đạo đức
con người thực hiện những chuẩn mực của đạo đức không có tính cưỡng bức
bằng bạo lực của chính quyền, chúng được khuyến khích bởi dư luận xã hội
và tác động vào lương tâm của con người. Đạo đức trong chừng mực đặt
trong quan hệ với pháp luật lại là lĩnh vực hoạt động tự nguyện có tính tự do,
nhưng trong giới hạn và chừng mực cho phép của pháp luật, nếu vượt qua
giới hạn và chừng mực đó con người sẽ bị trừng phạt. Cho nên, xây dựng đạo
đức cũng cần gắn với xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật. Pháp luật và
đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nên hiện nay muốn xây dựng một
nền đạo đức mới, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật sao cho phù hợp với cơ
chế vận hành của nền kinh tế thị trường.
3.2.2. Đề cao, chú trọng công tác giáo dục đạo đức
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cũng như của Việt Nam đã chỉ
ra rằng, chúng ta không thể chấp nhận một sự tăng trưởng đơn thuần về kinh
tế, với cái giá phải trả là sự mai một bản sắc văn hoá dân tộc, sự huỷ hoại các

giá trị đạo đức truyền thống.
Để giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, trước hết, chúng ta phải tăng cường
công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức cho toàn xã hội, đặc biệt là cho thế hệ

HV: Trần Lê Bảo Khánh

17


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

trẻ. Bởi lẽ, một thực tế không thể phủ nhận được là do thiếu sự giáo dục và
tuyên truyền sâu rộng về đạo đức trong nhà trường, nên những hiểu biết của
thế hệ trẻ về các giá trị đạo đức, có thể nói, không đầy đủ, thậm chí còn sai
lệch ở một số thanh niên.
Đầu tiên là giáo dục đạo đức trong gia đình. Đây là công việc hết sức
quan trọng nhằm tạo tiền đề xuất phát cho giáo dục đạo đức trong nhà trường
và ngoài xã hội, bởi gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng
trong việc giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách cho mỗi người công
dân ngay từ nhỏ cho đến khi trưởng thành. Thực tế đã chỉ ra rằng, gia đình
hạnh phúc thì xã hội lành mạnh, gia đình càng giữ được "gia phong" thì kỷ
cương xã hội càng nghiêm minh.
Kết hợp với giáo dục đạo đức trong gia đình, chúng ta cần phải tăng
cường công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong nhà trường.
Nhà trường là nơi đào tạo con người không những về mặt kiến thức, mà còn
giáo dục cả về mặt đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, cho nên nhà
trường cần phải giữ kỷ cương, nền nếp học đường, tạo môi trường lý tưởng

cho học sinh, sinh viên hình thành và phát triển nhân cách. Giáo dục đạo đức
trong nhà trường là làm cho học sinh, sinh viên nhận thức được những giá trị
đạo đức nào là cần thiết, có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân và xã hội trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cho
họ nhận thức được những giá trị truyền thống, như lòng nhân ái, tinh thần yêu
nước, đức tính cần cù, chịu khó, lạc quan, vị tha, trung thực... là những giá trị
đích thực, cao đẹp của mỗi con người, hơn nữa, phải làm cho họ nhận thức
được sự cần thiết phải thường xuyên tự rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao năng
lực và phẩm chất để không chỉ biết tiếp thu mà còn biết phát huy những giá trị
đạo đức truyền thống trong bối cảnh mới. Giáo dục đạo đức trong nhà trường
là làm cho học sinh, sinh viên biết trân trọng, yêu quý, cố gắng lĩnh hội và
thực hiện các giá trị đạo đức đích thực, đồng thời không chấp nhận những suy
HV: Trần Lê Bảo Khánh

18


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

nghĩ lệch lạc phản giá trị đạo đức, tích cực đấu tranh bảo vệ và phát triển
những giá trị đạo đức truyền thống.
Cùng với việc tăng cường công tác giáo dục đạo đức, chúng ta phải đẩy
mạnh công tác giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên. Bởi lẽ pháp
luật và đạo đức đều là những hình thái ý thức xã hội, giữa chúng có mối liên
hệ với nhau và đều là những phương thức nhằm điều chỉnh hành vi của con
người trong xã hội. Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên, trước
hết là làm cho họ hiểu và nắm vững những kiến thức cơ bản về pháp luật để
nhờ đó, tránh được những hiện tượng phạm pháp và trở thành những người

công dân biết sống và làm việc theo pháp luật. Vì vậy, cùng với các môn khoa
học đạo đức, phải xem pháp luật là một nội đung bắt buộc trong chương trình
đào tạo ở các bậc học.
3.2.3. Tôn trọng và phát huy các chuẩn mực đạo đức xã hội, truyền
thống
Đồng thời với việc tăng cường công tác giáo dục đạo đức ở gia đình và
trong nhà trường, chúng ta còn phải tạo ra một môi trường xã hội thuận lợi
cho việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống. Bởi lẽ, các giá
trị đạo đức truyền thống là của cả cộng đồng dân tộc, nhưng chủ thể gắn liền
với truyền thống đó lại là các cá nhân, các nhóm, các tập thể lớn, nhỏ trong
cộng đồng dân tộc, nên khi các giá trị đạo đức truyền thống ấy biểu hiện ra
một cách không đồng đều giữa các cá nhân, các nhóm hay tập thể thì chúng
cũng được phát huy hay suy thoái một cách không đồng đều như vậy. Sự
không đồng đều đó là do điều kiện sinh tồn, hoàn cảnh sống của các cá nhân,
các nhóm hay tập thể trong cộng đồng không phải lúc nào cũng giống nhau.
Chính vì vậy, chúng ta phải quan tâm đến điều kiện sinh tồn, hoàn cảnh sống
của các cá nhân, các nhóm hay tập thể trong cộng đồng mới có thể phát huy
được các giá trị đạo đức truyền thống hoặc "nuôi dưỡng" các mầm đạo đức tốt
đẹp mới xuất hiện.
HV: Trần Lê Bảo Khánh

19


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

Giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc chính là làm
phong phú nội dung của các giá trị đạo đức truyền thống ấy trong thời đại

mới, đem sức mạnh của chúng phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển
đất nước. Khi nói rằng một giá trị đạo đức truyền thống nào đó của dân tộc đã
được giữ gìn cho đến ngày nay thì trong sự duy trì này đã bao hàm sự biến
đổi. Nhưng sự biến đổi này là theo hướng làm phong phú thêm nội dung của
giá trị đạo đức truyền thống trong điều kiện lịch sử mới của xã hội. Điều đó
có nghĩa là, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được thẩm định, đánh
giá lại và phát triển trong điều kiện mới. Chẳng hạn, ở nước ta hiện nay, giá trị
đạo đức truyền thống như lòng yêu nước vẫn tiếp tục phát triển nhưng nó đã
được bổ sung thêm và gắn liền với tinh thần yêu chủ nghĩa xã hội và tinh thần
quốc tế vô sản. Đây không phải chỉ là sự gắn bó có tính hình thức mà thực sự
đã làm biến đổi nội dung của tinh thần yêu nước, khiến nó vượt qua những
hạn chế của lòng yêu nước truyền thống trước đây. Chính vì vậy, việc giữ gìn
và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống phải có sự gắn kết với việc tiếp
thu những tinh hoa đạo đức của thời đại, của nhân loại. Coi sự kết hợp này
như một giải pháp mang tính định hướng, chúng ta không chỉ phải chọn lọc,
thẩm định các sản phẩm văn hoá nước ngoài trước khi du nhập vào Việt Nam,
mà còn phải làm rõ ý nghĩa thời đại, giá trị trường tồn của các giá trị đạo đức
truyền thống.

HV: Trần Lê Bảo Khánh

20


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

KẾT LUẬN
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam chủ động chuyển sang

nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu với bên ngoài là một trong những định
hướng cơ bản để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Chúng ta phải
chủ động tiếp thu cái mới và loại bỏ cái cũ, nhưng không có nghĩa là chúng ta
loại bỏ hoàn toàn những cái cũ để tiếp thu cái mới. Có những giá trị đã tồn tại
bao đời nay, có những giá trị mới nảy sinh cùng với sự phát triển của xã hội
hiện đại. Điều cơ bản là chúng ta cần có sự nhìn nhận khách quan và khoa học
để vừa kế thừa, phát huy những giá trị tốt đẹp, vừa chọn lọc, tiếp thu những
cái thực sự là quý giá, phù hợp với dân tộc mình để xây dựng một giá trị đạo
đức mới trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Nghĩa là phải biết kết hợp cái
hiện đại và cái truyền thống, biết xuất phát từ cái truyền thống để đi đến hiện
đại. Bởi vì "những giá trị mới cùng với các giá trị truyền thống bền vững sẽ là
những động lực thúc đẩy con người hành động và nhờ vậy mà lịch sử sẽ có

HV: Trần Lê Bảo Khánh

21


BÀI THU HOẠCH

TCNH – K15.1

bước phát triển mới", nếu không chúng ta “sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh
mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc
khác".
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, việc xác định "đạo đức là
nhân tố, động lực của CNH-HĐH" và "đạo đức như là mục tiêu, kết quả của
quá trình CNH-HĐH", để chúng ta có thể vừa phát triển đất nước vừa giữ gìn
truyền thống, bản sắc dân tộc Việt Nam thì chúng ta mới có thể vươn tới
"sánh vai cùng với các cường quốc năm châu".


HV: Trần Lê Bảo Khánh

22


×