Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Đánh giá một số mô hình rừng trồng dự án kfw4 tại huyện thạch thành tỉnh thanh hóa làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật phát triển bền vững

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.26 MB, 111 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------------

VŨ QUANG VINH

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌ NH RỪNG TRỒNG DỰ ÁN
KfW4 TẠI HUYỆN THẠCH THÀ NH TỈ NH THANH HÓA
LÀ M CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
PHÁT TRIỂN BỀN VỮ NG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nô ̣i, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------

VŨ QUANG VINH

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌ NH RỪNG TRỒNG DỰ ÁN
KfW4 TẠI HUYỆN THẠCH THÀ NH TỈ NH THANH HÓA
LÀ M CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT


PHÁT TRIỂN BỀN VỮ NG

Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Phan Thanh Ngọ

Hà Nô ̣i, 2010


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây do nhiều nguyên nhân khác nhau nguồn tài
nguyên rừng tự nhiên nước ta vẫn tiếp tục bị suy giảm, chức năng phòng hộ
và cung cấp lâm sản của rừng không đáp ứng được đầy đủ cho quá trình phát
triển kinh tế - xã hội và môi trường của đất nước. Chính vì vậy việc đẩy mạnh
bảo vệ và phát triển vốn rừng tự nhiên hiện có; phủ xanh đất trống đồi núi
trọc bằng trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất với nhiều loài cây nhập nội
mọc nhanh và cây bản địa đa mục đích nhằm tạo ra lâm phần rừng ổn định và
bền vững đã, đang được Chính phủ và các tổ chức Quốc tế rất quan tâm. Từ
năm 1995 đến nay trong khuôn khổ hợp tác tài chính giữa Chính phủ Việt
Nam và Chính phủ CHLB Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức(KfW) đã
tài trợ cho Việt Nam nhiều chương trình, dự án phục hồi rừng hướng tới quản
lý và phát triển rừng bền vững ở các vùng nông thôn nghèo của Việt Nam với
các dự án KfW1, KfW2, KfW3, KfW4, KfW6, KfW7. Đặc biệt là dự
án“Trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An“ gọi tắt là dự án KfW4,

dự án đầu tiên của Nhà tài trợ KfW trồng trên 60% diện tích cây bản địa lá
rộng trên tổng số 19.000 ha đất trống, đồi trọc đang bị đe doạ về sinh thái ở
53 xã thuộc 10 huyện của 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An. Mục tiêu lâu dài
của dự án là cải thiện và ngăn chặn suy thoái môi trường thông qua thiết lập
những lâm phần rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh bền vững nhằm phát
triển kinh tế - xã hội và môi trường của các địa phương. Kết quả dự án KfW4
từ năm 2002 cho đến nay đã thiết lập được trên 17.000 ha rừng trồng cho
hơn 12.000 hộ gia đình với hàng chục loài cây bản địa lá rộng, cây mọc
nhanh và hàng chục mô hình rừng trồng đã được thiết lập. Bước đầu cho thấy
dự án KfW4 đã tiếp cận và giải quyết được một số vấn đề cơ bản về môi
trường sinh thái, kinh tế, xã hội của địa phương.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể


2

nào về vấn đề này, vì vậy còn thiếu thông tin và cơ sở khoa học cho việc xây
dựng các giải pháp kinh tế - kỹ thuật trong giai đoạn tiếp theo cho các dự án
tương tự, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng và chăm sóc các mô hình trồng rừng
cây bản địa. Do vậy việc nghiên cứu đánh giá kết quả một số mô hình trồng
rừng tại dự án KfW4 gắn với các biện pháp kỹ thuật cụ thể quy hoạch sử
dụng đất, điều tra lập địa và lựa chọn loài cây trồng đến các phương thức,
biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, cơ
chế chính sách thực hiện để xem xét mức độ thành công của các mô hình làm
cơ sở đề xuất lựa chọn các mô hình trồng rừng có triển vọng, các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh phù hợp áp dụng cho giai đoạn tiếp theo của dự án KfW4
và các dự án mới của KfW cũng như các chương trình trồng rừng khác là rất
cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá
một số mô hình rừng trồng dự án KfW4 tại huyện Thạch Thành tỉnh
Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật phát triển bền vững”.



3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Trên thế giới các nghiên cứu liên quan đến chọn loài cây trồng đã được
thực hiện từ khi loài người biết trồng rừng. Bắt đầu từ những thí nghiệm thăm
dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cách
nghiêm ngặt theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn được loài thích hợp
cho mỗi vùng sinh thái. Tại nhiều nước đã có một số nghiên cứu dùng các mô
hình toán để tối ưu cơ cấu cây trồng cho từng vùng. Ở các nước vùng ôn đới
số loài cây chính dùng trong trồng rừng thường rất ít, nên người ta đã tìm hiểu
mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài (dẫn theo
Trần Văn Con, 2005) [11].
Trong những năm gần đây, rất nhiều nơi trên thế giới đã và đang nghiên
cứu, thử nghiệm và trồng rừng thành công bằng những loài cây bản địa. Trong
nhiều loại cây trồng, các cây thuộc chi Paulownia đang được sự quan tâm của
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Theo Trần Quang Việt (2001) [34],
từ những năm 1960, cùng với phong trào lục hóa và xây dựng các đai rừng
phòng hộ bảo vệ đồng ruộng, chi Paulownia được tiếp tục nghiên cứu và phát
triển ở Trung Quốc. Viện hàn lâm Lâm nghiệp Trung Quốc (CAF) đã tiến
hành nghiên cứu một cách có hệ thống từ phân loại, đặc tính sinh thái, phân
bố đến kỹ thuật gây trồng và sử dụng các loài cây trong chi Paulownia.
Theo Nguyễn Ngọc Lung (1993) [22], cây Tếch (Tectona grandis) là
loài phân bố tự nhiên ở các nước: Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan và Lào. Tại
Châu Á, Thái Bình Dương, nhiều nước đã trồng thành công và biến vùng này
thành thị trường truyền thống gỗ Tếch trên thế giới với sản lượng 4 triệu
m3/năm lấy từ gỗ có đường kính 6 cm trở lên.

Riêng Thái Lan [38], ở Huay Sompoi đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của


4

Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là:
- Xuất xứ Huay Sompoi (tọa độ địa lý 180 vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ
Đông)
- Xuất xứ Phayao (tọa độ địa lý 19003’ vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ
Đông).
Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa
của Nhật Bản, nó được trồng bằng cây hom từ thế kỷ XV. Vào năm 1987
[37], Nhật Bản đã sản xuất được 49 triệu cây hom loài này phục vụ trồng
rừng. Bằng các vòng chọn lọc liên tục lặp lại từ khâu khảo nghiệm, đến chọn
lọc, kết quả gây trồng và tiếp tục chọn lọc, cho đến nay Nhật Bản đã chọn
được 32 dòng vô tính khác nhau phù hợp với yêu cầu cơ bản là: khả năng ra
rễ cao của hom, phạm vi gây trồng rộng, khả năng thích nghi cao...
Tại Malaysia, năm 1999 [40], trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã
giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự
nhiên, rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi.
Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m trong
rừng tự nhiên. Trên băng trồng 6 hàng cây bản địa. Trồng 14 loài cây bản địa
dưới tán rừng Keo tai tượng theo 2 khối thí nghiệm:
Khối A: Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa;
Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa;
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa.
Khối B: Chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng cây bản địa;
Chặt 2 hàng keo trồng 2 hàng cây bản địa;
Chặt 4 hàng keo trồng 4 hàng cây bản địa...
Kết quả cho thấy, trong 14 loài cây trồng trong khối A, có 3 loài:

Shorea roxburrghii; S. ovalis; S. leprosula sinh trưởng chiều cao và đường
kính tốt nhất. Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt


5

ở băng 10m và băng 40m. Băng 20m không thỏa mãn điều kiện sinh trưởng
chiều cao. Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng;
sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 hàng và 16 hàng.
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán. Vì thế
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nước trên thế giới
quan tâm. Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài tác giả
Bernar Dupuy (1995) thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ
thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâm
phần [35]. Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có
cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa
vào đặc tính sinh trưởng cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại
giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là những cơ
sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng
trồng hỗn loài.
Tại Trung tâm Kỹ thuật rừng Kasma Forest Technology Center (Nhật
Bản) [37] đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm
nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều độ cao khác nhau, đặc biệt ở
vùng Tsucuba có độ cao dưới 876m so với mực nước biển đã trồng loài cây
Tuyết tùng (Japanese ceder) để tạo ra những lâm phần bền vững có giá trị và
họ đã nhận thấy có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn
giao với nhau và ảnh hưởng của môi trường đến từng loài cây.
Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừng
trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng các tác giả Ball, Wormald và Russo
(1994) đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảm

bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây. Kết quả cho thấy sau khi được tác động
các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mục đích đã tạo điều kiện thuận
lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn [39].


6

Một số nước trên thế giới đã có những nghiên cứu trồng cây bản địa
dưới tán rừng cây lá kim hoặc cây lá rộng thuần loài và có những kết luận về
khả năng sinh trưởng cũng như giá trị kinh tế của những loại rừng này.
Tại Đài Loan và một số nước Châu Á sau khi đã trồng phủ xanh đất
trống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán
rừng này. Kết quả đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng
suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất.
Qua những nghiên cứu trên cho thấy, cây bản địa đã được rất nhiều
tác giả quan tâm. Rất nhiều loài có giá trị như: Tếch, Liễu sam...các mô hình
trồng rừng thuần loài, hỗn loài đã được chọn để phục vụ trồng rừng, về
phương thức trồng cây bản địa được áp dụng là trồng theo băng hoặc theo
đám, các nghiên cứu về sự ảnh hưởng lẫn nhau khi trồng hỗn giao. Mỗi loại
mô hình, biện pháp kỹ thuật đều có những ảnh hưởng nhất định đến sinh
trưởng và năng suất cây rừng. Trên cơ sở đó lựa chọn biện pháp kỹ thuật nào
phù hợp để áp dụng trong giới hạn lập địa cho phép để loài cây trồng đem lại
hiệu quả cao về kinh tế, môi trường, mới là biện pháp khả thi hữu hiệu nhất.
1.2. Ở Việt Nam
Trong thời gian qua ở nước ta đã xây dựng được khá nhiều mô hình
rừng trồng, đặc biệt là trong dự án 661.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong thời kỳ 1998-2010 đã được
Quốc hội khoá X thông qua tại kỳ họp lần thứ 2 vào tháng 12/1997. Tiếp đó
Thủ Tướng chính phủ đã có quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998 về
mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu

ha rừng [7]. Đây là một dự án mang tầm cỡ Quốc gia có quy mô rộng lớn trên
toàn Quốc và là dự án lớn nhất của ngành Lâm nghiệp từ trước tới nay sẽ
nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam lên mức 43% vào năm 2010.
DA được triển khai qua ba giai đoạn:


7

- Giai đoạn 1998 - 2000: trồng mới 70 vạn ha, khoanh nu«i t¸i sinh
350.000 ha.
- Giai đoạn 2001 - 2005: trồng mới 1,3 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh
kết hợp trồng bổ sung 65 vạn ha.
- Giai đoạn 2006 - 2010: trồng mới 2 triệu ha.
Tổng vốn đầu tư dự kiến là 31.650 tỷ đồng.
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [27] dự án trồng mới 5
triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình
rừng trồng phòng hộ đầu nguồn. Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh
có trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số
có tới 188 mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất
khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình.
Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô
hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính là cây bản địa trồng
hỗn giao với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; các loài Thông
trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Keo
trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Tre,
luồng trồng thuần loài. Trong những năm gần đây, các mô hình này đa dạng
và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh.
Theo Lại Thanh Hải, Nguyễn Hoàng Tiệp (2009) [18] khi đánh giá các
mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn theo phương thức hỗn giao cây bản
địa và cây mọc nhanh trong dự án 661 cho thấy:

- Về diện tích từ năm 1999 - 2004 cả nước đã trồng được 135.702,9 ha
rừng phòng hộ đầu nguồn theo phương thức hỗn giao cây bản địa và cây phù
trợ, diện tích rừng đã trồng trên chiếm tỷ lệ 22,52 % trong tổng số diện tích
rừng phòng hộ đầu nguồn.
- Về tập đoàn cây trồng: Hầu hết các loài cây bản địa sử dụng trồng


8

rừng phòng hộ đều phân bố ở các tỉnh, đã có 36 loài cây bản địa được sử
dụng và 5 loài cây phụ trợ trồng theo phương thức hỗn giao cây bản địa và
cây phù trợ. Trong đó có 12 loài đã có quy trình kỹ thuật.
- Về các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhìn chung đã thực hiện đúng yêu
cầu của Ban quản lý 661 các cấp, đảm bảo được thiết kế kỹ thuật theo từng
dự án cơ sở. Tuy nhiên, việc xác định phương thức hỗn giao, mật độ và cự ly
trồng chưa thích hợp nên dẫn đến sinh trưởng của tán cây Keo chèn ép cây
bản địa làm ảnh hưởng đến sinh trưởng; tiêu chuẩn cây con đề ra hầu hết là
thấp; vấn đề tỉa thưa xử lý tán Keo để tạo ánh sáng cho cây bản địa không
được thực hiện.
- Chất lượng của các mô hình nhìn chung chưa cao, tỷ lệ sống hầu hết
đạt trên 85%, nhưng tỷ lệ tồn tại sau 3 - 4 năm là thấp. Sinh trưởng đường
kính chiều cao các mô hình đạt các tiêu chuẩn để bàn giao quản lý so với các
dự án khác và phương thức trồng khác đều thấp hơn.
- Nghiên cứu cũng đã chọn được 55 mô hình tại 22 tỉnh có triển vọng
phát triển và nhân rộng.
Theo Trần Thị Nga (2009) [23] khi nghiên cứu các mô hình trồng rừng
phòng hộ tại tỉnh Hòa Bình cho thấy 3 loài cây Luồng, Lim xanh và Keo tai
tượng là loài cây trồng rừng phòng hộ khá thích hợp. Các mô hình bước đầu
được đánh giá là thành công do đã chọn cây trồng phù hợp với lập địa nên cây
có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt, các mô hình hỗn giao sau:

- Mô hình trồng hỗn giao Keo tai tượng với Luồng (mật độ 400 Keo tai
tượng + 200 luồng) tại xóm Càng 2, xã Hoà Bình, TX Hoà Bình trên đất
feralit nâu vàng (trước đây là đất nương rẫy trồng lúa, canh tác nông lâm kết
hợp trong năm đầu).
- Mô hình Keo tai tượng + Lim xanh (1000 keo tai tượng + 600 Lim
xanh) ở xóm Nhót xã Thanh Hối, Tân Lạc trên đồi thấp, đất feralit nâu vàng,


9

đất tốt. Tại Thôn Khu, Văn Sơn, Lạc Sơn trên đất feralit nâu xám.
- Mô hình hỗn giao Lim xanh với Keo chịu hạn (1000 Keo tai tượng +
600 Lim xanh) tại xóm Tam, Thanh Hối, Tân Lạc trên đất feralit nâu đỏ
không kết von. Mặc dù trong mô hình này Keo chịu hạn đã bị dân chặt gần
hết nhưng việc làm đó đã mở tán cho Lim xanh phát triển rất tốt.
Bên cạnh đó việc nghiên cứu cơ sở khoa học về các loài cây bản địa
cho trồng rừng và làm giàu rừng cũng rất được quan tâm, trong thời gian qua
cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.
Nghiên cứu về cơ sở khoa học chọn loài cây bản địa trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn điển hình là công trình của Trần Xuân Thiệp (1997) [29]. Theo
tác giả có 2 phương pháp để chọn loài cây bản địa phục vụ cho công tác trồng
rừng là thứ nhất: Bố trí thực nghiệm và thử nghiệm (bán sản xuất) rồi đưa ra
trồng rừng; thứ hai: Tổng kết kinh nghiệm gây trồng trong nhân dân để trồng
thử nghiệm hoặc đưa ra thành quy trình kỹ thuật. Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng
Nghĩa (1997) [24], lại đưa ra nghịch lý của cây bản địa đó là: Thiếu sự hiểu
biết về đặc điểm của từng loài cây bản địa cụ thể: Nhu cầu về khí hậu, đất đai,
ánh sáng ở các giai đoạn khác nhau, mối liên hệ giữa các loài trong quần thể
đa loài, khả năng tái sinh tự nhiên, khả năng gây trồng,... Do đó khó có thể
phát triển cây bản địa trên diện rộng. Một nghịch lý nữa là cây bản địa quen
sống trong một môi trường sống hoàn chỉnh, ít biến động nên có nhu cầu cao

về đất và các yếu tố khác. Không thể đưa trồng ngay cây bản địa trên đất
trống, đồi núi trọc khô cằn, trồng thuần loài tràn lan trên diện rộng. Do đó
muốn gây trồng thành công cây bản địa cần phải tạo được những hoàn cảnh
tương đối thích hợp với từng loài cây bản địa.
Trong nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên, Trần Xuân Thiệp (1997) [29]
cho rằng trồng cây bản địa là một quá trình rút ngắn chu trình phát triển rừng
mà theo nhà sinh thái người Đức Lalle (1980) nếu để tự nhiên có khi đến hàng


10

trăm năm. Nếu rừng bị phá nhưng còn một độ tàn che nào đó, đem trồng các
cây gỗ bản địa dưới tán rừng và làm như vậy đã vượt qua được rất nhiều giai
đoạn diễn thế đi lên mà để tự nhiên phải mất 50 - 70 thậm chí tới 100 năm.
Năm 1994 [32], trong Hội thảo về: “Tăng cường các chương trình trồng
rừng ở Việt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, Dự án tăng cường
chương trình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tế
Nhật Bản (JICA)” đã đưa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tin
hơn về loài cây bản địa để giúp cho các địa phương tham khảo và chọn loài
cây phục vụ cho trồng rừng. Nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu trên, dự
án STRAP đã cùng với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện dự án
“Xác định các loài cây bản địa chất lượng cao để trồng rừng ở Việt nam”. Kết
quả đã đưa ra những thông tin có hệ thống và tổng hợp về 210 loài cây cho gỗ
chất lượng cao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp. Qua đó cũng cho thấy
tiềm năng của cây bản địa ở từng vùng cũng như trong cả nước rất phong phú
nhưng số loài cây bản địa đã có kỹ thuật, có mô hình, có khả năng trồng rừng
còn quá ít. Do vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những loài cây
còn lại mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực. Ngoài ra cần tập trung
nghiên cứu và phát triển những cây có giá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực
cho từng vùng và cho cả nước.

Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “Xác định cơ
cấu cây trồng và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ
yếu phục vụ chương trình 327”, trong 2 năm 1997 - 1998 [10] đã chọn được
tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kỹ
thuật cho 20 loài như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Muồng đen (Cassia
siamea), Trám trắng (Canarium album), Tếch (Tectona grandis), Dầu rái
(Dipterocarpus alatus)...
Nguyễn Bá Chất (1995) [9] khi nghiên cứu phục hồi rừng Sông Hiếu


11

(1981 - 1985) đã thí nghiệm gây trồng hỗn loài Lát hoa (C. tabularis) với các
loài cây lá rộng bản địa khác: Lim xẹt (P. tonkinensis), Giổi (Michelia sp),
Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ (Gmelina arborea)... nhằm tạo cấu
trúc hợp lý. Theo dõi mô hình rừng hỗn loài đến năm thứ 10 thấy rõ sinh
trưởng rừng Lát hoa hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa thuần loài...Kiểu cấu trúc
rừng Lát hoa hỗn loài có sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên đã được tạo
lập có nhiều ưu điểm về sinh trưởng và phục hồi đất.
Trong báo cáo chuyên đề về cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Bùi
Đoàn [15] đã có nhận xét: “Huỷnh được coi là một trong những cây bản địa
chủ yếu trong công tác trồng rừng ở Trung Trung bộ, đặc biệt là ở Quảng
Bình”.
Lim xanh là loài cây bản địa, gỗ thuộc nhóm quý hiếm và hiện là loài
cây bản địa rất được quan tâm sử dụng trong các chương trình trồng rừng ở
nước ta. Phùng Ngọc Lan (1994) [21], nghiên cứu một số đặc tính sinh thái
loài Lim xanh (E. fordii) đã xác nhận: Vùng phân bố của loài Lim xanh rất
rộng và có mặt ở hầu hết các tỉnh phía Bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với
độ cao phân bố từ 900m trở xuống ở phía Nam và 500m trở xuống ở phía
Bắc. Sinh trưởng thích hợp ở đồi bát úp, độ dốc nhỏ hơn 20 0 hoặc ở chân đồi,

chân núi nơi dốc tụ. Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đưa loài Lim
xanh vào gây trồng ở các vùng sinh thái lâm nghiệp trên đất nước ta
Với đặc tính của hầu hết các loài cây lá rộng bản địa là thường ưa bóng
trong giai đoạn còn nhỏ, do vậy việc tạo được lớp “áo che” cho các loài cây
bản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng là việc làm đầu tiên và
rất cần thiết khi muốn tạo lập lâm phần hỗn loài, đặc biệt là trên đối tượng đất
trống, đồi trọc. Nghiên cứu lựa chọn cây phù trợ để xây dựng rừng trồng hỗn
loài đã được nhiều tác giả quan tâm. Điển hình là một số công trình sau:
Năm 1931 tác giả Maurand đã sử dụng lớp cây bụi thảm tươi trong rạch


12

làm cây phù trợ để tạo rừng hỗn loài giữa Sao đen, Dầu rái và Vên vên ở
Trảng Bom Đồng Nai. Ban đầu tác giả đã áp dụng phương thức “trồng rừng
dưới tán che dày và thấp” sau 2 năm phương thức này đã được cải tiến thành
phương thức "trồng dưới tàn che cao và nhẹ". Sau khi được cải tiến phương
thức trồng, các loài cây trồng chính vẫn sinh trưởng phát triển kém nên tác giả
tiếp tục dùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu là Muồng đen và Đậu
tràm. Kết quả cho thấy rằng dùng cây che phủ ban đầu kết hợp cây che trung
gian là có hiệu quả theo Nguyễn Bá Chất, 1976 [8]. Như vậy, trong công trình
này tác giả đã sử dụng cả 2 loại thảm che tự nhiên và thảm che nhân tạo để
làm cây phù trợ. Tuy nhiên, sự kết hợp hai loại thảm che này không được tính
đến từ đầu khi thiết kế rừng trồng, do đó chưa đánh giá được tác dụng riêng rẽ
của từng loại thảm che.
Giai đoạn 1994-1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừng trồng
hỗn loài ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng. Trên đối tượng đất trống, đồi
trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm “áo che” phủ. Khi
rừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10 loài cây
lá rộng bản địa khác nhau. Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phương

pháp trồng rừng ẩm dưới tàn che nhìn chung là thích hợp cho cả các loài trung
sinh trong giai đoạn 1- 2 năm đầu. Biện pháp lột tán theo định kỳ thích hợp
cho loài chịu bóng mọc chậm như Gội trắng, Giổi xanh, Re gừng nhưng lại
cản trở cây ưa sáng mọc nhanh như: Lát hoa, Sấu, Nhội và Muồng đỏ. Kết
quả cũng cho thấy dùng cây che phủ ban đầu Keo lá tràm là thích hợp nhất
[16]. Tuy nhiên, do thí nghiệm mới tiến hành trong giai đoạn ngắn nên chưa
thể biết được 10 loài cây đó sẽ tồn tại như thế nào trong các giai đoạn sau.
Việc sử dụng các loài cây ưa sáng như Lát hoa và Muồng đỏ trồng dưới tán
Keo hiện tại đã cho thấy khó khăn trong việc nuôi dưỡng mô hình này. Mặt
khác phương pháp trồng hỗn loài theo hàng dưới tán Keo tác giả chưa cho


13

thấy rừng hỗn loài này sẽ có cấu trúc ra sao theo thời gian. Tuy vậy, có thể
nói rằng đây là mô hình tương đối toàn diện về các biện pháp kỹ thuật trồng
rừng hỗn loài, từ việc tạo áo che, đến việc xác định thời điểm đưa các loài cây
bản địa vào trồng dưới tán và các biện pháp lột dần tán che để các loài cây
trồng chính sinh trưởng, phát triển.
Lưu Phạm Hoành, Lê Cảnh Nhuệ, Trần Nguyên Giảng... (1960) [30] đã
tiến hành nghiên cứu thử nghiệm và làm giàu rừng bằng những loài cây bản
địa như Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Chò nâu (Dipterocarpus retusus),
Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Vạng trứng (Endospermum chinense)...
theo phương thức cải tạo chặt trắng, cải tạo theo băng, trồng dưới tán.
Lâm Phúc Cố (1995) [12] khi nghiên cứu một số loài cây bản địa được
chọn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà ở Púng Luông, Mù Căng Chải
đã chọn được 4 loài cây bản địa là: Pơ mu (Fokienia hodginsic Henry et
thomas), Tô Hạp Hương (Altingia takhtadjanii), Giổi (Tahauma Gioi A.
Chev) và cây Song Mật (Calamus ealusetris) có thể trồng làm giàu rừng theo
phương thức trồng xen dưới tán rừng hay làm giàu rừng theo băng.

Chương trình 327 [26] với định hướng trồng rừng phòng hộ theo hướng
hỗn loài 500 cây bản địa + 1100 cây phụ trợ. Khi thực thi, có hơn 60 tỉnh,
thành phố có dự án đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau
với hơn 70 loài cây.
Triệu Văn Hùng (1993) [19] đã nghiên cứu về “Đặc tính sinh vật học
của một số loài cây làm giầu rừng như: Trám trắng (Canarium album), Lim
xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev)” có nhận xét: Trong tổ thành rừng tự
nhiên, Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84% về trữ lượng ô
tiêu chuẩn. Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắng chiếm tỷ lệ cao hơn so với
IIIA2. Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một số loài cây bạn như Kháo
vàng (Machilus bosii), Dẻ (Castanopsis sp), Lim xẹt (P. tonkinense), Hu đay


14

(Trema orientalis), Sau sau (Liquidambar formosana), Xoan ta (Melia
azedarach Linn), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Vối thuốc (Schima
wallichii)...
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [32] khi nghiên cứu cải
tạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bằng
cách trồng bổ sung 2 loài cây bản địa là Dẻ đỏ (Castanopsis hystrix) và Kháo
vàng (Machilus bosii) theo phương thức trồng theo băng hoặc theo đám. Từ
những năm 1972 đến những năm sau 1975 một số lâm trường như Bắc Sơn,
Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng mô hình trên. Tuy nhiên, cho đến nay việc
đánh giá các mô hình này gặp rất nhiều khó khăn vì đã bị tàn phá.
Một công trình nghiên cứu khác tại Cầu Hai – Phú Thọ (Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam) [32] cũng đã đưa cây Lim xẹt (P. tonkinense) trồng
theo băng trên thảm cây bụi có chiều cao khoảng 3m. Mở rạch 2m, trồng bằng
cây con có bầu được tạo từ hạt nuôi trong vườn ươm 6 tháng tuổi. Sau 3 năm
tỷ lệ sống đạt sấp xỉ 90%, khả năng sinh trưởng khá, tăng trưởng bình quân

đạt 2,3cm/năm về đường kính và 2,0m/năm về chiều cao. Nhưng đến năm thứ
4 trở đi thì khả năng sinh trưởng chậm lại. Các loài cây tái sinh trong rạch
chừa sinh trưởng khá nhanh, vượt chiều cao cây Lim xẹt trồng trong rạch. Tán
cây trong rạch chừa đã lấn át nên ở giai đoạn từ 6 - 7 năm tuổi khả năng sinh
trưởng của Lim xẹt kém hẳn. Điều này rất phù hợp với đặc điểm sinh thái cây
Lim xẹt đã được xác định trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây. Vì cây
Lim xẹt là cây ưa sáng do đó không nên trồng làm giàu rừng bằng Lim xẹt
trong rạch, khi thảm thực bì phát triển quá nhanh.
Cũng tại Cầu Hai – Phú Thọ đã nghiên cứu thử nghiệm trồng cây Lim
xanh trên 3 trạng thái thực bì khác nhau:
1. Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt có chiều cao lớp thảm tự nhiên
3m. Trồng lim xanh trên băng chặt rộng 20, 30, 40m; băng chừa 20m. Trên


15

băng chặt lại tiến hành gieo cốt khí để che phủ đất.
2. Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt được chặt trắng, đốt dọn sạch,
giữ lại cây cỏ phục hồi trong quá trình chăm sóc.
3. Trạng thái đất trống đã có lớp cây tiên phong phục hồi với chiều cao
từ 3 – 4m, mở rạch rộng 1,5m, hàng cách nhau 4m, cây cách cây 2m.
Trần Nguyên Giảng (1985) [16] nhận xét rừng Lim xanh được trồng
theo băng hoặc theo rạch (công thức 1 và công thức 3) có khả năng sinh
trưởng tốt và hình thân đẹp. Cây Lim xanh là loài cây không có trục chính,
thường ra cành sớm được sự hỗ trợ của băng chừa thu hẹp ánh sáng của băng
trồng, đã hạn chế được cành ngang, làm cho đoạn thân dưới cành có chiều dài
5 - 7m, có cây trên 10m, không bị sâu nấm. Cây Lim xanh trồng trên đất trống
(công thức 2), thiếu cây phù trợ nên đã trở thành rừng thuần loài và lộ rõ
nhược điểm: Thân ngắn, cong queo, sâu nấm nhiều.
Vi Hồng Khánh (2003) [20] khi đánh giá sinh trưởng của một số loài

cây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng ở Cầu Hai – Phú Thọ
đã kết luận: Phần lớn các xuất xứ Lim xanh (E. fordii) đều có tỷ lệ sống cao
và sinh trưởng tốt, đồng thời trong 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn
được các loài: Lim xanh (E. fordii), Re gừng (C. zeylanicum), Xoan đào
(Pygeum arboreum), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), Chiêu liêu
(Terminalia chebula), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) là những loài
cây mọc nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân rộng và phát
triển cho các điều kiện lập địa tương tự.
Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
(2000) [32] đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng
rừng phục vụ cho cả 3 loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng. Qua khảo sát, dựa vào các tài liệu đã có và số liệu mới thu thập, 31 loài
cây bản địa đã được chọn và có báo cáo chuyên đề cho từng loài. Các loài cây


16

bản địa đó được đánh giá theo 3 mức độ:
- Các loài cây đã được đưa vào sản xuất lớn, diện tích lên tới hàng
nghìn ha, tối thiểu cũng vài trăm ha, có đủ quy trình, quy phạm, hưỡng dẫn kỹ
thuật như: Mỡ (Manglietia conifera), Quế (Cinnamomun cassia Bl), Sa mu
(Cunninghamia lanceolata), Trẩu (Vernicia fordii) , Sở (Camellia oleifera),
Thông mã vĩ (Pinus massoniana), Muồng đen (Senna siamea), Dầu nước
(Diptercarpus dyeri Pierre)...
- Các loài cây đã đưa vào sản xuất mặc dù quy mô còn nhỏ song các mô
hình rừng trồng đủ lớn để đánh giá như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lim
xẹt (P. tonkinense), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy), Dó giấy
(Rhamnoneuron balansae)...
- Các loài đã và đang được nghiên cứu, mô hình thực nghiệm nhỏ như:
Lim xanh (E. fordii), Kháo vàng (M. bosii), Re gừng (C. zeylanicum), Trám

(Canarium sp), Vên vên (Anisoptera costata), Dẻ đỏ (C. hystrix)...
Công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùng Sông Hiếu thông qua việc
xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loài cây khác của Nguyễn Bá
Chất (1981-1985). Tác giả đã trồng hỗn loài cây Lát hoa với các loài cây lá
rộng bản địa như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng nhằm
tạo được một cấu trúc rừng hợp lý. Mô hình này được theo dõi đến năm thứ
10 và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa
trồng thuần loài. Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sử dụng lớp thực bì phục
hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng của các loài cây trồng và có dấu
hiệu phục hồi đất tốt hơn [8].
Dự án RENFODA (Rehabilitation of Natural Forest in Degraded
Watershed Area in the North of Vietnam) do JICA tài trợ đã nghiên cứu các
biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở Cao Phong - Hoà
Bình bằng cách tạo ra rừng trồng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa theo


17

phương thức hỗn loài giữa các loài cây cao ưa sáng và chịu bóng với nhau.
Các loài cây lá rộng bản địa được kết hợp để tạo rừng trồng hỗn loài là Giẻ
đỏ, Lim xanh, Trám trắng và Sồi phảng. Phương pháp hỗn loài là theo rạch và
theo đám. Kết quả sau 4 năm thí nghiệm (2004-2007) cho thấy các loài cây
trồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sống của các loài đều đạt trên 95%. So với
phương pháp trồng hỗn loài theo đám thì sinh trưởng của các loài cây trồng
theo rạch đều tốt hơn [33].
Các dự án trồng rừng Việt-Đức KfW1 ở Lạng Sơn và Bắc Giang;
KfW2 ở Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị cũng đã đưa cây bản địa vào
trồng dưới rừng Keo lá tràm theo hướng đa dạng hoá cây trồng.
Tóm lại : Chọn loài cây trồng tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc
tính sinh học của cây với các yếu tố sinh thái môi trường của lập địa trên quan

điểm kinh tế, xã hội và môi trường với mục đích rừng trồng phải đáp ứng
được các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của địa phương. Hiện
tại chúng ta vẫn còn một nguồn gen rất phong phú của rừng mưa nhiệt đới,
nhưng trong số hàng ngàn loài cây tồn tại trong rừng tự nhiên, lại có rất ít loài
có khả năng đem trồng tập trung ở những vùng đất trống đã bị suy thoái
không còn tính chất đất rừng. Điều này có nhiều nguyên nhân khác nhau
thuộc về khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ và kinh tế-xã hội. Về mặt
khoa học tự nhiên thì: hiểu biết của chúng ta về nhu cầu sinh thái và phản
ứng của các loài cây bản địa còn quá ít ỏi. Rất nhiều loài cây tồn tại trong
trạng thái của rừng tự nhiên không thể đem trồng tập trung ở đất trống vì tiểu
khí hậu và hoàn cảnh rừng ở đó đã thay đổi nhiều không còn phù hợp với yêu
cầu sinh thái của loài. Thường thì những loài cây bản địa có giá trị kinh tế lại
là những loài khó thích hợp cho việc trồng rừng tập trung. Chỉ có những loài
mà vốn bản tính tự nhiên của nó đã ưa sáng, chịu được hạn như: mỡ
(Manglieta glauca), bồ đề (Styrax tonkinensis), xoan (Melia azedarach)...,


18

hay những loài vốn đã sống trên các điều kiện lập địa cực đoan, hoặc các
vùng khí hậu bất lợi, chẳng hạn như vùng mưa mùa đông hay các vùng có
mùa khô hạn kéo dài, đó là các loài như: Phi lao (Casuarina sp), Tếch
(Teatona grandis), dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius)...
Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được quy luật sinh trưởng
của các loài cây đưa vào nghiên cứu, xây dựng mô hình sinh trưởng và năng
suất cho các loài cây trồng trên một số dạng điều kiện lập địa cơ bản, tìm ra
được yếu tố cơ bản chi phối đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng trên
một số dạng lập địa.
1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy nghiên cứu về cây lá

rộng bản địa và xây dựng các mô hình rừng trồng ở nước ta đang ngày càng
được quan tâm, đặc biệt là trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Trên thực tế
chúng ta đã xây dựng thành công khá nhiều mô hình rừng trồng ở các vùng
sinh thái khác nhau, trong đó phương thức trồng được sử dụng chủ yếu là
trồng rừng hỗn giao, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều mô hình chưa
thực sự thành công; sự thành công hay thất bại của các mô hình này đều gắn
với các biện pháp kỹ thuật, lập địa cụ thể. Bên cạnh đó việc nghiên cứu về đặc
tính, sinh thái và khả năng trồng rừng của các loài cây ở nước ta cũng đã được
tiến hành khá bài bản, tuy nhiên cũng mới chỉ dừng lại ở một số loài cây có
giá trị cao như Lim xanh, Lát hoa, ... kết quả nghiên cứu về các loài cây này là
cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các mô hình trồng rừng ở nước ta.
Tuy nhiên với từng loài cây lại cần có những biện pháp kỹ thuật cụ thể gắn
với từng dạng lập địa nhất định.
Cũng như nhiều chương trình, dự án khác, dự án KfW4 đã xây dựng
được nhiều mô hình rừng trồng, đặc biệt là các mô hình trồng các loài cây bản
địa, tuy nhiên việc xây dựng mô hình phải tuân thủ theo quy trình nghiêm


19

ngặt từ khâu lựa chọn lập địa, bố trí loài cây trồng đến sản xuất cây giống, tổ
chức thực hiện, cơ chế đầu tư... Do đó việc đánh giá các mô hình rừng trồng
tại dự án trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An áp dụng cho giai
đoạn tiếp theo của dự án KfW4 và các dự án mới của KfW cũng như các
chương trình trồng rừng khác là cần thiết.


20

Chương 2

MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - GIỚI HẠN - PHẠM VI - NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
Phát triển và nhân rộng các mô hình rừng trồng thành công về hiệu quả
kinh tế, xã hội, môi trường để áp dụng cho các dự án, chương trình trồng rừng
tại Việt Nam.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Về lý luận
Tổng kết và đánh giá được các biện pháp kỹ thuật, một số mô hình rừng
trồng đã áp dụng trong dự án “Trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ
An- (KfW4)” tại huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.
- Về thực tiễn
Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật xây dựng mô hình rừng trồng
có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững trong dự án KfW4 tại huyện
Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình trong tỉnh
Thanh Hóa.
2.2. Đối tượng, giới hạn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng được chọn nghiên cứu là một số mô
hình rừng trồng của dự án KfW4 tại huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.
- Giới hạn nghiên cứu:
+ Về đánh giá mô hình: Đề tài chỉ tập trung đánh giá các mô hình trồng
rừng năm 2005 là thời gian các mô hình tại huyện Thạch Thành được xây
dựng với tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật đã ban hành, số lượng mô hình
đa dạng nhất.
- Do cây bản địa sinh trưởng khá chậm nên cho đến thời điểm hiện tại


21


(5 năm thực hiện) đề tài chỉ tập trung đánh giá tỷ lệ sống và tình hình sinh
trưởng về D1,3, Hvn, Dt....của các mô hình.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế đề tài tập trung vào các vấn đề: Hưởng lợi
từ dự án, dự báo hiệu quả đầu tư theo cam kết.
Đánh giá hiệu quả xã hội tập trung vào: Tạo việc làm, nâng cao nhận
thức, hiểu biết phát triển rừng bền vững có sự tham gia của người dân.
Đánh giá hiệu quả môi trường: Tập trung vào việc đánh giá tăng tỷ lệ
che phủ của rừng từ đầu dự án đến nay
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Chỉ nghiên cứu trên địa bàn huyện Thạch Thành tỉnh
Thanh Hóa.
- Về thời gian: Chỉ nghiên cứu các mô hình rừng trồng trong dự án
KfW4 được trồng trong năm 2005.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung vào các
nội dung sau:
- Đánh giá kết quả trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng dự án KfW4 giai
đoạn 2002-2009 tại dự án KfW4 huyện Thạch Thành.
- Tổng kết kỹ thuật xây dựng mô hình rừng trồng áp dụng trong dự án
KfW4 huyện Thạch Thành.
- Đánh giá tỷ lệ sống, chất lượng cây, tình hình sinh trưởng của một số
mô hình trồng rừng chính dự án KfW4 tại huyện Thạch Thành.
- Đánh giá hệ thống các cơ chế chính sách, tổ chức, suất đầu tư trong
các mô hình rừng trồng trong dự án KfW4 huyện Thạch Thành.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường từ kết quả xây dựng và
phát triển rừng dự án KfW4 tại huyện Thạch Thành.
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật xây dựng mô hình rừng trồng dự án


22


KfW4 có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững tại huyện Thạch Thành.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
Nghiên cứu trong lĩnh vực lâm nghiệp đối tượng nghiên cứu là cây
trồng dài ngày có chu kỳ kinh doanh hàng chục năm thậm chí có loài tới hàng
trăm năm, do vậy để đạt được mục tiêu đề ra chúng ta cần phải chọn lựa được
phương pháp nghiên cứu thích hợp. Muốn đạt được điều đó phải căn cứ vào
đối tượng nghiên cứu và các điều kiện thực tiễn, phương tiện, thiết bị phục vụ
cho công tác nghiên cứu hiện có, cùng với việc tiếp thu, tham khảo dựa trên
nguyên tắc kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mô hình rừng trồng, các loài cây
bản địa có nhu cầu về điều kiện lập địa, sinh thái nhất định, cần phải xác định
lập địa trồng cho phù hợp với đặc điểm sinh thái của loài. Để xác định điều
kiện sinh thái phù hợp cho trồng rừng sản xuất có chức năng phòng hộ bằng
cây bản địa phải dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là:
- Phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai của vùng trồng: luôn tuân thủ
theo nguyên tắc “đất nào cây ấy” có như vậy khi chọn loại cây trồng mới phát
huy tốt khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh chóng phát huy các mục tiêu
phòng hộ của rừng.
- Phát huy được tác dụng môi trường bền vững đồng thời đáp ứng được
mục tiêu kinh tế đặt ra: Đa dạng, hỗn loài là những tiêu chí hàng đầu của cây
trồng với mục tiêu bền vững, song song với quá trình sinh trưởng phát triển
nhanh của cây trồng thì mục tiêu kinh tế được đáp ứng.
Dựa vào các quan điểm đó, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố đã
được đề cập ở trên làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng
rừng bằng các loài cây lá rộng bản địa nhằm phát huy tác dụng bền vững và
kinh tế của rừng.



23

2.5.2. Phng phỏp tip cn
- K tha cỏc kt qu nghiờn cu, bỏo cỏo ó cú v tỡnh hỡnh thc hin,
trin khai v cỏc c ch chớnh sỏch, cỏc hng dn k thut, cỏc mụ hỡnh lõm
sinh ỏp dng trong D ỏn KfW4 ti huyn Thch Thnh tnh Thanh Húa. Cỏc
vn bn, chớnh sỏch ch o thc hin, s liu thng kờ BQLDA KfW4
Trung ng, BQLDA KfW4 tnh Thanh Húa, BQLDA KfW4 huyn Thch
Thnh.
- Kt hp gia tng kt v ỏnh giỏ ca d ỏn (thụng qua cỏc bỏo cỏo
tng kt ỏnh giỏ thc hin d ỏn KfW4, cỏc biờn bn thm nh kt qu,
nghim thu kt qu trng v KNTS rng ti huyn Thch Thnh) vi kt qu
kho sỏt, ỏnh giỏ trờn thc t.
+ Tip cn, kho sỏt tỡnh hỡnh thc hin, trin khai d ỏn v cỏc c ch
chớnh sỏch, cỏc hng dn k thut v cỏc mụ hỡnh rng trng trờn thc t:
La chn cỏc a im thc hin cỏc mụ hỡnh kho sỏt, ỏnh giỏ chi
tit: Hin ti vic thit lp rng bng cỏc mụ hỡnh rng trng ca d ỏn trờn
a bn 9 xó, tuy nhiờn vi cỏc mụ hỡnh trng rng cõy bn a cú chu k kinh
doanh tng i di mi ỏnh giỏ chớnh xỏc c kt qu. Vỡ vy ti ó
chn Xó Thch Cm thc hin, lý do l:
- Trng rng u tiờn ca d ỏn KfW4 cú y hot ng ca d ỏn,
theo cỏc quy trỡnh k thut ca d ỏn ra, cỏc din tớch rng ó c trng
trong nm 2005, nm d ỏn ó ỏp dng y cỏc quy trỡnh k thut .
- Trng trờn 650 ha rng (cõy bn a chim gn 50% din tớch trng
rng bn a ca ton huyn). Phn ln cỏc mụ hỡnh trng rng bn a, c
bit l cỏc loi cõy trng chớnh ca d ỏn KfW4 ó c thc hin ti õy.
Trong xó Thch Cm c kho sỏt ti tt c cỏc hin trng d ỏn ti
3 thụn ó thc hin trng rng trong nm 2005 l thụn Thch Yn, thụn Cm
Li, thụn Long Tin,
Sơ đồ các b-ớc nghiên cứu đ-ợc thể hiện ở hình 2.1 di õy:



×