Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

BÀI TIỂU LUẬN 07 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.22 KB, 20 trang )

NỘI DUNG:

1. GIỚI THIỆU 7 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
2. ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
3. CÁC NGOẠI LỆ CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC

TẾ

Các cụm từ viết tắt:
 Liên Hợp Quốc: LHQ
 Luật quốc tế: LQT
 Điều ước quốc tế: ĐƯQT

Nguồn tài liệu tham khảo:

/> /> />
Sách chuyên khảo Luật quốc tế - ThS. Ngô Hữu Phước – NXB chính trị - quốc gia.

1. GIỚI THIỆU 7 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ


Cũng giống như hệ thống pháp luật quốc gia, xét về cấu trúc bên trong, bên cạnh các
quy phạm pháp luật, các chế định luật, các ngành luật, luật quốc tế cũng tồn tại các nguyên
tắc cơ bản. Về phương diện pháp lý quốc tế, thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của luật
quốc tế” dùng để chỉ các nguyên tắc được ghi nhận trong điều 2 Hiến chương LHQ ngày
24/10/1945 và được ghi trong Tuyên bố “Về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều
chỉnh mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp
quốc ngày 24/10/1970”.
Theo Tuyên bố ngày 24/10/1970, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế gồm 7
nguyên tắc sau đây:
-



Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;

-

Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế;

-

Nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;

-

Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác;

-

Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết;

-

Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;

-

Nguyên tắc Pacta sunt servanda.

Sau đây là phần trình bày các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế:
a)


Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;

Chủ quyền của quốc gia là một thuộc tính chính trị - pháp lý vốn có, không thể tách
rời của các quốc gia thể hiện trên 2 phương diện cơ bản đối nội và đối ngoại.
Trên phương diện đối nội: quốc gia có quyền tự quyết định mọi công việc đối nội của
quốc gia và đây là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình, nghĩa là
trong phạm vi lãnh thổ của mình thì các quốc gia có toàn quyền quyết định và thực hiện 3
chức năng cơ bản về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có 1 quốc gia, tổ chức nào
có quyền can thiệp. Thực hiện 3 chức năng này là chủ quyền thiêng liêng và bất khả xâm
phạm của tất cả các quốc gia vì vậy mọi hành vi can thiệp vào việc thực hiện các chức năng
này của các các quốc gia độc lập có chủ quyền đều là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế.
Trên phương diện đối ngoại: được hiểu là quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ
quốc tế, quốc gia có toàn quyền quyết định, lựa chọn về chủ thể, thời điểm, lĩnh vực quan hệ
quốc tế và chủ động tham gia vào các quan hệ quốc tế với các quốc gia và chủ thể khác của
luật quốc tế trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Vì vậy, mọi hành vi áp đặt, cưỡng bức hoặc
cản trở các quốc gia tham gia vào quan hệ quốc tế hợp pháp đều là hành vi vi phạm pháp
luật quốc tế, xâm phạm chủ quyền của quốc gia.
Page 2


Tuy nhiên, trên phương diện khoa học thì chủ quyền quốc gia không bao giờ là tuyệt
đối. Quyền tối cao của quốc gia trong lãnh thổ của mình được hiểu là độc lập trong mối
quan hệ với các quốc gia khác chứ không phải tự do tuyệt đối trong mọi hành vi, mà phải
luôn phù hợp với những nguyên tắc, quy phạm và các chuẩn mực pháp lý của cộng đồng
quốc tế. Quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế cũng được hiểu theo nghĩa tương
đối, nghĩa là các quốc gia bình đẳng với nhau về chủ quyền nên chủ quyền của mỗi quốc gia
bị giới hạn bởi chủ quyền của các quốc gia khác.
Nội dung chính của nguyên tắc: có 2 nội dung cơ bản là tôn trọng chủ quyền quốc gia;
thừa nhận và tôn trọng bình đẳng giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế, cụ thể:
-


Mọi quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;

-

Mỗi quốc gia được hưởng các quyền cơ bản của quốc gia trong quan hệ quốc tế;

-

Mỗi quốc gia phải có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của quốc gia khác;

-

Mọi quốc gia đều có quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và quyền độc lập chính trị của
quốc gia là bất khả xâm phạm;

-

Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa
– xã hội của mình;

-

Mỗi quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ đầy đủ và thiện chí các nghĩa vụ quốc tế của
mình và chung sống trong hòa bình với các quốc gia khác.
b)
Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong
quan hệ quốc tế;



Nội dung nguyên tắc:

Theo tuyên bố ngày 24-10-1970 của Đại hội đồng LHQ, nguyên tắc này được gọi
một cách đầy đủ là: “Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe doạ sử
dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc
lập chính trị của bất kì quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp
với những mục đích của Liên hợp quốc”.
Theo đó tất cả các quốc gia phải có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe doạ sử
dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc
lập chính trị của bất kì quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp với
những mục đích của Liên hợp quốc. Việc sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong
quan hệ quốc tế là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế nghiêm trọng nhất. Đồng thời, những
cá nhân phát động chiến tranh xâm lược được coi là phạm tội ác quốc tế và phải chịu trách
nhiệm hình sự cá nhân.
Mặt khác các quốc gia không được sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực như là một
biện pháp để giải quyết tranh chấp quốc tế.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ mọi hành động trả đũa bao gồm cả việc sử dụng vũ
lực.
Page 3


Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ bất kì hành động bạo lực nhằm loại bỏ quyền của
các dân tộc trong việc soạn thảo nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết đối với nguyên
tắc của các dân tộc đó được tự quyết, tự do và độc lập.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các lực
lượng vũ trang không chính quy hoặc các nhóm vũ trang bao gồm cả lính đánh thuê để xâm
nhập lãnh thổ của các quốc gia khác.
Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc tổ chức, xúi giục, trợ giúp hoặc tham gia vào
các hành vi nội chiến hoặc khủng bố của ở quốc gia khác hoặc là ngầm chấp nhận những
hành động được tổ chức ở trên lãnh thổ của mình liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các

hành vi đó, khi mà các hành vi được mô tả trong khoản này bao hàm một sự đe doạ hoặc sử
dụng vũ lực.
Tóm lại nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực gồm các nội dung
cơ bản sau đây:
Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn
lãnh thổ của các quốc gia kể cả giới tuyến ngừng bắn.
-

Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để chống lại nền độc
lập chính trị của quốc gia khác.
-

Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh

chấp quốc tế.
-

Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để xâm lược quốc gia

khác.
Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử vũ lực để ngăn cản các dân tộc
thực hiện quyền dân tộc tự quyết của mình.
-

Cấm tổ chức, khuyến khích, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào các
cuộc nội chiến hoặc các hành vi khủng bố tại các quốc gia khác.
-

Cấm tổ chức hoặc giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính
đánh thuê đột nhập vào đánh phá lãnh thổ quốc gia khác.

-

Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược.



Những hành vi đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế:

-

Tập trận ở biên giới giáp với quốc gia khác;

-

Tập trung, thành lập căn cứ quân sự ở biên giới giáp quốc gia khác;

-

Gửi tối hậu thư đe doạ các quốc gia khác.



Quyền tự vệ chính đáng:

Page 4


Quyền tự vệ chính đáng có nghĩa là khi bị xâm lược vũ trang, các quốc gia, các dân
tộc có quyền tự vệ cá thể hoặc tập thể cho đến khi Hội đồng bảo an áp dụng các biện pháp
hữu hiệu để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế và phải báo ngay cho Hội đồng bảo an.

Đồng thời, không được cản trở hội đồng bảo an hành động để thực hiên sứ mệnh bảo vệ hoà
bình và an ninh quốc tế của mình. Về phương diện pháp lý, hành vi tự vệ của các quốc gia,
các dân tộc dưới hình thức cá thể, hoặc tập thể là những hành vi hợp pháp, không vi phạm
nguyên tắc cấm sử dụng và đe doạ sử dụng vũ lực.


Ví dụ về áp dụng nguyên tắc trên thực tế:

Ngày 3-8, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến đàm phán vòng 7 cấp chuyên
viên về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, Người
phát
ngôn
Bộ
Ngoại
giao
Nguyễn
Phương
Nga
cho
biết:
"Từ ngày 29-7 đến 1-8, tại Hà Nội đã diễn ra đàm phán vòng 7 cấp chuyên viên về Thỏa
thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung
Quốc. Qua 7 vòng đàm phán, hai bên đã sơ bộ nhất trí với nhau về một số nguyên tắc như:
Các tranh chấp ở biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở
luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; trong quá
trình giải quyết tranh chấp, cần nghiêm chỉnh thực hiện "Tuyên bố về cách ứng xử của các
bên ở biển Đông" (DOC), không tiến hành bất cứ hành động nào nhằm mở rộng, phức tạp
hóa tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; những vấn đề chỉ liên
quan đến Việt Nam và Trung Quốc thì giải quyết song phương, những vấn đề liên quan đến
các bên khác thì cần trao đổi giữa các bên liên quan. Hai bên thỏa thuận sẽ tổ chức vòng

đàm phán tiếp theo trong năm nay. Thời gian cụ thể sẽ thỏa thuận qua đường ngoại giao".
Trong lịch sử thế giới đã nhiều lần chứng kiến việc các nước đế quốc như Anh, Mỹ,
Pháp... vi phạm trắng trợn pháp luật quốc tế, vi phạm nguyên tắc “cấm sử dụng vũ lực và
đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như hành vi Mỹ, Pháp trong chiến tranh ở Việt
Nam, Mỹ gây chiến tranh ở Nam Tư, Ápganixtan và Irắc... các hành động bạo lực này đã bị
nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới phản đối và lên án gay gắt bằng các hoạt động
cụ thể và thiết thực
c)

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình:

 Sự hình thành nguyên tắc:

Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc này gắn liền với sự hình thành và phát
triển của nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và là hệ
quả
tất
yếu
của
nguyên
tắc
này.
Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn là khả năng tiềm ẩn phát sinh từ các mối quan hệ
giữa các quốc gia. Đó là hoàn cảnh cụ thể mà trong đó các chủ thể luật quốc tế có những
quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau không thống nhất được về quyền và lợi ích xung
đột,
mâu
thuẫn.
Trong hệ thống Công ước Lahay 1899 và 1907 có Công ước về hòa bình giải quyết xung
đột quốc tế, là công ước đa phương đầu tiên đề cập đến vấn đề quan trọng này. Tuy nhiên,

Công ước mới chỉ đưa ra lời kêu gọi các quốc gia tự nguyện thực hiện các biện pháp trung
gian,
hòa
giải
trước
khi
dùng

lực.
Quy chế Hội quốc liên ở mức độ nhất định đã đưa ra quyền của các quốc gia dùng chiến
tranh như là phương tiện giải quyết tranh chấp, lần đầu tiên đã xác định nghĩa vụ của các
Page 5


quốc gia giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình như giải quyết ở tòa án hoặc đưa
ra hội đồng của Hội quốc liên quy định này không mang tính chất là nghĩa vụ pháp lý bắt
buộc của mọi quốc gia. Và việc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình chỉ được
coi là khả năng có thể xảy ra khi có tranh chấp mà thôi.
Liên hợp quốc cùng với bản Hiến chương của mình lần đầu tiên đã nâng vấn đề giải quyết
hòa bình các tranh chấp quốc tế lên thành nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia.
Khoản 3 điều 2 Hiến chương ghi nhận "Hội viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp
quốc tế của họ bằng phương pháp hòa bình, làm thế nào khỏi nguy hại đến hòa bình và an
ninh quốc tế cũng như đến công lý".
 Nội dung nguyên tắc:

Theo Tuyên bố ngày 24/10/1970 của đại hội đồng Liên Hợp quốc, nguyên tắc này
được ghi nhận cụ thể: “tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế của mình bằng
các biện pháp hoà bình mà không làm phương hại đến hoà bình, an ninh và công lý quốc
tế”.
Theo tuyên bố ngày 24-10-1970, nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế

bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với các quốc gia khác bằng
biện pháp hoà bình mà không làm phương hại đến hoà bình, an ninh và công lý quốc tế.
Mọi quốc gia, do vậy sẽ sớm tìm kiếm và chỉ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng
đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài hoặc toà án; sử dụng trung gian khu vực,
thoả thuận hoặc những biện pháp hoà bình khác do các bên lựa chọn. Trong việc tìm kiếm
những biện pháp giải quyết tranh chấp, các bên đồng ý rằng những biện pháp hoà bình sẽ là
thích hợp với những hoàn cảnh cụ thể và bản chất của tranh chấp.
Trong trường hợp không đạt được một giải pháp nào để giải quyết tranh chấp bằng
bất kì biện pháp đã nêu ở trên, các bên trong tranh chấp có nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm những
biện pháp hoà bình khác để giải quyết tranh chấp mà các bên thoả thuận.
Các quốc gia tranh chấp cũng như các quốc gia khác sẽ từ bỏ bất kì hành vi nào có
thể sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại gây nguy hiểm cho việc gìn giữ hoà bình và an
ninh thế giới, và sẽ hành động phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Liên hợp
quốc.
Các tranh chấp quốc tế được giả quyết trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng chủ quyền
của các quốc gia và phù hợp với nguyên tắc tự do lựa chọn các cách thức giải quyết tranh
chấp. Sự đề nghị hoặc sự chấp nhận về quá trình giải quyết mà các quốc gia tự nguyện đồng
ý đối với các tranh chấp đang tồn tại hoặc trong tương lai mà các bên liên quan sẽ không
được coi là vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền.
Không có điều nào được nói ở trên có ảnh hưởng hoặc phương hại đến những điều
khoản có thể áp dụng của hiến chương, đặc biệt là những điều khoản liên quan đến việc giải
quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế.
Tóm lại thực hiện nội dung của nguyên tắc này, các quốc gia phải:
Page 6


-

Có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình;


-

Có quyền lựa chọn bất kì biện pháp hoà bình nào để giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau
mà chủ yếu là các biện pháp được ghi nhận ở Điều 33 Hiến chương LHQ: đàm phán, điều
tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng các tổ chức hoặc các Hiệp định khu vực
hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác.

-

Giải quyết các tranh chấp trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng các quyền và lợi ích
hợp pháp của các quốc gia khác.

 Ngoại

lệ
của
nguyên
tắc
Đây là một nguyên tắc không tồn tại bất kỳ ngoại lệ nào.
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc luôn phải tôn trọng biện pháp giải quyết hòa bình mà các
bên lựa chọn. Trong trường hợp các bên tự lựa chọn mà vẫn không giải quyết triệt để vấn
đề, hội đồng bảo an có quyền kiến nghị các bên áp dụng các biện pháp khác nhằm nhanh
chóng
chấm
dứt
những
mối
đe
dọa.

Thực
tiễn
vận
dụng
nguyên
tắc
Cùng với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, với việc tham gia tích cực vào các tổ chức
quốc tế, hiện nay cộng đồng quốc tế đang dần thừa nhận vai trò cũng như tính hiệu quả của
các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức
quốc tế như: EU, Asean, liên hợp quốc...
d) Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác;

Nội dung của nguyên tắc này được quy định tại Tuyên bố ngày 24/10/1970, nguyên tắc này
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
-

Các hình thức can thiệp hoặc âm mưu xâm phạm phẩm cách quốc gia, phá hoại chế
độ kinh tế, cơ sở chính trị hoặc văn hoá của quốc gia khác đều bị xem là vi phạm
pháp luật quốc tế

-

Không một quốc gia nào được sử dụng hoặc khuyến khích sử dụng các biện pháp
kinh tế - chính trị hoặc bất cứ hình thức nào khác nhằm cưỡng ép quốc gia khác để
có được sự lệ thuộc vào việc thực hiện các quyền chủ quyền của mình và bảo đảm lợi
thế của mình dưới bất kì hình thức nào. Ngoài ra, không một quốc gia nào được tài
trợ, giúp đỡ, xúi giục hoặc ngầm đồng ý hoạt động khủng bố, các hoạt động quân sự
nhằm trực tiếp lật đổ chế độ chính trị của quốc gia khác hoặc can thiệp vào các cuộc
nội chiến của quốc gia khác.


-

Việc sử dụng vũ lực nhằm loại bỏ bản sắc riêng của các dân tộc là sự vi phạm các
quyền không thể tách rời của dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp.

-

Mỗi quốc gia được quyền tự do lựa chọn chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội của mình và
quốc gia khác không có quyền can thiệp vào sự lựa chọn này.

Như vậy, nghĩa vụ của các quốc gia để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này là không được
tiến hành các hành động sau:
-

Tiến hành các hình thức can thiệp, đe doạ can thiệp chống các quốc gia khác.
Page 7


-

Sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị văn hoá để buộc quốc gia khác lệ thuộc vào
mình

-

Tổ chức, giúp đỡ các băng đảng, nhóm vũ trang thực hiện hoạt động phá hoại, khủng
bố trên lãnh thổ nước khác nhằm lật đổ chính quyền nước đó

-


Can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác

e) Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết;

Nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại, theo đó các chủ thể luật pháp quốc tế
thừa nhận và tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc và nhân dân các nước. Nội dung
chủ yếu:
1) Các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có quyền đấu tranh kể cả đấu tranh vũ trang để giành
độc lập, có quyền nhận mọi sự ủng hộ, giúp đỡ kể cả giúp đỡ quân sự để tiến hành đấu tranh
giải phóng;
2) Mỗi dân tộc và nhân dân mỗi nước có quyền thành lập quốc gia dân tộc độc lập, bao gồm
cả quyền sáp nhập hoặc phân tách quốc gia hay lãnh thổ, không có sự can thiệp từ bên
ngoài; có toàn quyền tự do quyết định chế độ, tương lai chính trị và con đường phát triển
kinh tế, xã hội và văn hoá của mình, tự quyết định các vấn đề nội bộ không có sự can thiệp
của nước ngoài; có chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên của mình;
3) Tôn trọng bình đẳng dân tộc không phân biệt đối xử; các nước không được dùng áp lực
để tước bỏ quyền tự quyết, tự do và độc lập của dân tộc và nhân dân nước khác; không được
thống trị, áp bức và bóc lột dân tộc, kể cả các hình thức lệ thuộc và không được áp đặt bất
cứ xu hướng chính trị nào đối với dân tộc và nhân dân nước khác.
Nguyên tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên bố
của Liên hợp quốc về trao trả độc lập năm 1960, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người
năm 1948, Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc của luật pháp quốc tế
24.10.1970, Hiệp định Pari về Việt Nam năm 1973, vv...Qua đấu tranh giành độc lập, nhân
dân Việt Nam đã đưa vào luật pháp quốc tế hiện đại nguyên tắc tôn trọng các quyền dân tộc
cơ bản của các dân tộc và nhân dân các nước là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ. Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Hiệp định Pari về Việt Nam năm 1973 và
trong nhiều nghị quyết của Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế từ 1967 đến 1970.
f) Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;
Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Theo nguyên tắc này, các
quốc gia có nghĩa vụ dùng phương pháp hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế

nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến chương
LHQ và Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc của luật quốc tế 1970.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia là các quốc gia có nghĩa vụ hợp
tác với nhau trong các lĩnh vực khác nhau của quan hệ quốc tế nhằm thúc đẩy sự phát triển
và ổn định kinh tế thế giới, thúc đẩy sự phồn vinh của tất cả các dân tộc - sự hợp tác không
có sự phân biệt đối xử. Hiện nay, nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Page 8


Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến chương
Mọi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác trong các lĩnh vực của quan hệ
quốc tế để gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, khuyến khích sự ổn định và tiến bộ, lợi ích
chung của các dân tộc và hợp tác quốc tế mà không có sự phân biệt về sự khác nhau về chế
độ
chính
trị,
kinh
tế

văn
hóa.

mục
đích
đó:
a. Mọi quốc gia sẽ hợp tác với các quốc gia khác để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
b. Mọi quốc gia sẽ hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người
và tự do cơ bản trên toàn thế giới và trong việc loại trừ tất cả các hình thức phân biệt về
sắc

tộc

tôn
giáo
c. Mọi quốc gia sẽ thực hiện các quan hệ quốc tế của mình trong các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, kỹ thuật và thương mại phù hợp với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và không can
thiệp
vào
công
việc
nội
bộ
Các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ hành động tập thể hoặc riêng rẽ
để hợp tác với Liên hợp quốc phù hợp với những điều khoản tương ứng của Hiến chương
Liên
hợp
quốc
Các quốc gia nên hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội cũng như khoa học
và công nghệ và đối với việc phát triển sự tiến bộ về văn hóa và giáo dục trên thế giới. Các
quốc gia nên hợp tác để phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt đối với các nước đang
phát
triển.
Vai trò của LQT trong giai đoạn đối thoại, hợp tác hiện nay
Đối thoại, hợp tác là việc các bên tự nguyện đứng ra thỏa thuận, thương lượng với nhau về
một vấn đề. Việc đối thoại, hợp tác này phải trên cơ sở của sự bình đẳng, thiện chí, tôn trọng
ý kiến của nhau. Cùng nghĩ tới lợi ích của mình và của bên còn lại. Đồng thời, mỗi bên
nghiêm chỉnh thực hiện các vấn đề mà cả hai đã thỏa thuận được với nhau.
Xu thế toàn cầu hóa hiện nay đã và đang đẩy mạnh các chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu
là quốc gia phải nghĩ tới vấn đề đối thoại, và hợp tác. Bởi nó liên quan tới sự phát triển, tồn
vong của từng quốc gia khi đặt chân vào sân chơi của thế giới.

LQT chi phối tới các quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, việc thực thi LQT phải do chính các chủ
thể của LQT thực hiện. Thực thi LQT thể hiện đặc trưng có tính bản chất của LQT là thông
qua cơ chế thỏa thuận hoặc sự tự điều chỉnh của từng quốc gia. Vì vậy, không có cơ chế
mang tính quyền lực quốc tế áp đặt cho quá trình thực hiện LQT trừ những cơ chế kiểm soát
quốc tế trong những lĩnh vực nhất định, có sự thỏa thuận của các quốc gia. Trong thực tiễn
thực thi LQT, các quốc gia phải tự điều chỉnh trên cơ sở các quy định của LQT đối với các
hoạt động thực hiện nghĩa vụ chung của chủ thể LQT và những nghĩa vụ cá thể phát sinh từ
tư cách thành viên ĐƯQT hay tổ chức quốc tế. Chẳng hạn, trong lĩnh vực LQT về quyền
con người, bên cạnh cơ chế quốc tế nhằm duy trì hoạt động bảo vệ, phát triển các quyền con
người cơ bản mà LQT quy định, từng quốc gia đều xây dựng cơ chế quốc gia (theo quy định
của LQT) để đảm bảo cho các quyền của con người cơ bản được thực hiện ở quốc gia đó.
Việc tạo dựng và duy trì hoạt động của cơ chế quốc gia trong từng lĩnh vực nhân quyền là
nghĩa vụ và trách nhiệm của từng quốc gia.
Khi các quy định của LQT không được một chủ thể thực thi theo đúng yêu cầu (tức có sự vi
phạm về nghĩa vụ thành viên hoặc vi phạm quy định của LQT) thì pháp luật sẽ ràng buộc

Page 9


chủ thể vi phạm vào những trách nhiệm pháp lý quốc tế cụ thể để buộc chủ thể đó phải có
nghĩa vụ trong việc khôi phục lại trật tự pháp lý quốc tế đã bị xâm hại.
Bên cạnh đó, để đảm bảo cho việc thực thi LQT được diễn ra, đã hình thành Cơ chế kiểm
soát quốc tế (từ nửa sau thế kỉ XX). VD: Cơ chế làm và bảo vệ báo cáo quốc gia của các
thành viên CEDAW, cơ thế thanh sát của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân…
g) Nguyên tắc Pacta sunt servanda (tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế)
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế giữ một vai trò quan trọng trong việc ổn định
quan hệ quốc tế và ấn định khuôn khổ xử sự cho các chủ thể trong quan hệ quốc tế. Nguyên
tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda) hiện là một trong bảy
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xu thế hội nhập toàn
cầu hiện nay.



Giải thích từ ngữ:

Trong từ ngữ La-tinh có câu châm ngôn “Pacta sunt servanda” (trong đó “pacta” là
những điều giao ước; “sunt” là thì; “servanda” là cần phải được giữ). Câu này nghĩa là
những điều đã giao ước cần phải được tuân giữ; nói cách khác là phải tôn trọng những nội
dung của mình đã giao ước.


Lịch sử hình thành:

Có thể khẳng định rằng, trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, Pacta sunt
Servanda là nguyên tắc cổ xưa nhất. Xuất hiện rất sớm từ thời La mã cổ đại và tồn tại hàng
ngàn năm dưới dạng tập quán pháp lý quốc tế (Pacta sunt servanda) trước khi được ghi nhận
trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương ngày nay. Kể từ khi luật quốc tế hiện
đại ra đời, nguyên tắc này đã được kế thừa và phát triển với đầy đủ nội dung pháp lý cơ bản
của nó. Nguyên tắc này được ghi nhận chính thức tại khoản 2 Điều 2 của Hiến chương Liên
hợp quốc 1945; Công ước viên 1969 và Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
năm 1970.


Nội dung nguyên tắc:

Lời mở đầu của Hiến chương Liên Hiệp Quốc (1945) đã khẳng định quyết tâm của
các nước thành viên là: “Tạo những điều kiện cần thiết để đảm bảo công lý và tôn trọng
những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế và các nguồn khác của luật quốc tế đặt
ra”. Điều 26 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế ngày 23-5-1969 (có hiệu lực từ ngày
27-1-1980) cũng nêu rõ nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau: “Mọi điều ước đã có hiệu
lực ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thi hành với thiện chí”. Tuyên bố

năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế; Định ước Henxinki năm 1975... cũng có nêu
rõ nguyên tắc này.
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được hiểu là khi các bên chủ
thể trong quan hệ quốc tế tham gia vào ký kết các Điều ước quốc tế thì phải trên cơ sở của
sự thỏa thuận và tự nguyện bình đẳng. Đồng thời, khi đã tham gia vào Điều ước quốc tế đó
các quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ nội dung mà mình đã cam kết.

Page 10


Các nội dung nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt
servanda):
-

Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí, tự nguyện, trung thực và đầy
đủ những nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Luật
quốc tế hiện đại.
Điều này xuất phát từ việc các quốc gia tiến hành thực hiện các cam kết do chính
mình đưa ra (cam kết đơn phương) (Ví dụ: Việt Nam đưa ra tuyên bố không bán phá giá mặt
hàng da giày thì cam kết này chỉ phát sinh nghĩa vụ với chính quốc gia Việt Nam); cam kết
song phương giữa hai quốc gia, hai chủ thể của luật quốc tế; hoặc cam kết đa phương được
tiến hành bởi nhiều chủ thể Luật Quốc tế (như Hiến chương LHQ 1945 làm phát sinh nghĩa
vụ đối với các quốc gia thành viên…). Nếu những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái
với những cam kết trong Hiến chương Liên hợp quốc thì những cam kết theo Hiến chương
Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành. Việc tham gia Liên hợp quốc không cản trở các
quốc gia kí kết những điều ước tay đôi, cũng như nhiều bên. Nhưng nội dung của những
điều ước này không được trái với Hiến chương Liên hợp quốc (Điều 52 Hiến chương Liên
hợp quốc). Do vậy, trong trường hợp những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với
những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc quy định thì những cam kết theo Hiến
chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành một cách nghiêm chỉnh (điều 103 Hiến

chương Liên hợp quốc). Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda cũng không áp dụng với những
điều ước khi ký kết vi phạm những quy định về thẩm quyền và thủ tục ký kết chúng.
Những nghĩa vụ đã cam kết ở đây chủ yếu gồm những nghĩa vụ phát sinh từ điều ước
và những nghĩa vụ phát sinh từ các nguồn khác, ví dụ từ tập quán quốc tế. Nhưng tất cả
những nghĩa vụ đó phải phù hợp với những điều quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc
mà trước hết là những mục đích và nguyên tắc của tổ chức này. Như vậy, đối với những
nghĩa vụ không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc thì sẽ không được thi hành. Các
quốc gia sẽ không thi hành các cam kết bất bình đẳng. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy
không ít những điều ước quốc tế không hợp pháp. Điển hình là hiệp ước Mu-nich ngày 299-1938. Những điều ước như vậy không có giá trị pháp lý cho nên không thể ràng buộc các
bên đã ký kết. Vì vậy các quốc gia không có nghĩa vụ phải thực hiện chúng.

-

Mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một
cách triệt để, không do dự. Điều này có nghĩa là điều ước quốc tế phải được thực hiện triệt
để, không phụ thuộc vào các sự kiện trong và ngoài nước. Các sự kiện khách quan xảy ra
như: thay đổi chính phủ, sự thay đổi hình thức quản lý hay chế độ xã hội, biểu tình, thiên
tai, sự thay đổi lãnh thổ, sự thay đổi hoàn cảnh quốc tế không thể là lý do để quốc gia không
thực hiện điều ước quốc tế.
Ví dụ: Việt Nam và Trung Quốc có kí kết một điều ước về việc xác lập ranh giới lãnh
hải giữa hai quốc gia. Giả sử Trung Quốc có sự thay đổi chế độ từ Xã hội Chủ nghĩa sang
Tư bản Chủ nghĩa cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ thực hiện điều ước đã ký giữa
hai quốc gia.

-

Các quốc gia thành viên Điều ước quốc tế không được viện dẫn các quy định của pháp luật
trong nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình. Yêu cầu này
được coi là một bộ phận không tách rời của nguyên tắc Pacta sunt servandava được quy
định trong Điều 27 Công ước Viên năm 1969.

Page 11


Ví dụ: Việt Nam và Thái Lan ký kết điều ước về dẫn độ người nước mình phạm tội
trên lãnh thổ nước bạn. Như vậy, việc Việt Nam không đồng ý trả người cho Thái Lan vì lí
do tội của người này được quy định trong Luật Hình sự Việt Nam phải do Nhà nước Việt
Nam xử lý là trái với Điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết.
-

Các quốc gia không có quyền ký kết Điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ của mình
được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia ký kết hoặc tham gia ký kết
trước đó với các quốc gia khác.
Ví dụ: khi Việt Nam tham gia ký kết điều ước quốc tế ở ASEAN thì không được trái
với Hiến chương Liên hợp quốc mà Việt Nam đã ký kết trước đó.

-

Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại Điều ước quốc tế.
Hành vi này chỉ được thực hiện với phương thức đình chỉ và xem xét hợp pháp theo sự thỏa
thuận của các bên là thành viên điều ước.
Ví dụ: Khi Việt Nam tham gia vào ký kết Điều ước quốc tế với WTO. Trong quá
trình hoạt động, nếu thấy một điều khoản nào đó không hợp lý thì Việt Nam không được
đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại Điều ước Quốc tế đó. Việt Nam chỉ được đình
chỉ và xem xét dưới sự đồng ý của các thành viên khác.

-

Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên của Điều ước
quốc tế không làm ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các quốc gia này, trừ
trường hợp các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự này là cần thiết cho việc thực hiện điều ước

(Điều 63 Công ước Viên 1969).
Ví dụ: Nga cắt đứt quan hệ lãnh sự với Mỹ vì cho rằng các thành viên lãnh sự Mỹ
hoạt động gián điệp trên lãnh thổ Nga. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến quan hệ
pháp lý phát sinh giữa Nga và Mỹ trong việc thực hiện Điều ước Quốc tế được quy định tại
Hiến chương Liên hợp quốc.

 Chính thỏa thuận là cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ điều ước và thực hiện nghĩa vụ cam kết

chính là tôn trọng những thỏa thuận đã đạt được giữa các bên. Nguyên tắc Pacta sunt
servanda chỉ được áp dụng đối với các Điều ước quốc tế có hiệu lực, tức là đối với những
điều ước được ký kết một cách tự nguyện trên cơ sở bình đẳng. Bất kì một điều ước nào bất
bình đẳng cũng đều xâm phạm chủ quyền quốc gia và Hiến chương Liên hợp quốc.
Như vậy, theo các văn kiện pháp lý quốc tế hiện hành, nguyên tắc Pacta sunt
servanda bao gồm các nội dung cụ thể là: Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện
và thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ từ các điều ước quốc tế mà nước mình đã ký
kết, tham gia. Điều này có nghĩa là các điều ước quốc tế phải được thực hiện triệt để, không
phụ thuộc vào các sự kiện trong và ngoài nước.

 Tình huống nguyên tắc Pacta sunt servanda (tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế):

Tình huống:

Page 12


Năm 1989, Italia ban hành lệnh trưng thu đối với các nhà máy và bất động sản của
Công ty Electronica, thuộc sở hữu hoàn toàn của tập đoàn kinh tế Mỹ (lệnh trưng thu này
chỉ áp dụng đối với công ty Electronica chứ không áp dụng với công ty nước ngoài khác).
Sau khi lệnh trưng thu được thực hiện, công ty Electronica bị phá sản. Để bảo vệ cho quyền
lợi của tập đoàn kinh tế, Mỹ cho rằng: lệnh trưng thu của Italia đã vi phạm hiệp định thương

mại, hàng hải đã kí kết giữa 2 bên, trong đó quy định mỗi quốc gia sẽ không áp dụng các
biện pháp độc đoán hay phân biệt đối xử đối với cá nhân, pháp nhân của quốc gia kia trên
lãnh thổ nước mình. Phía Mỹ cũng yêu cầu Italia bồi thường cho công ty Electronica, Italia
phản đối lập luận của Mỹ, cho rằng: Lệnh trưng thu được đưa ra trên cơ sở các quy định của
bộ luật dân sự Italia. Ngoài ra, xuất phát từ chủ quyền của mình Italia hoàn toàn có quyền
trưng thu tài sản của công ty Electronica hiện đang có mặt trên lãnh thổ Italia
Nhận xét:


Hành vi của Italia không phù hợp với nguyên tắc Pacta sunt Servanda.

Dựa trên nội dung nguyên tắc Pacta sunt servanda, đối với trường hợp trên ta thấy
rằng phía Italia đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc này ở những điểm sau:
Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện, có thiện chí, trung thực và đầy đủ
các nghĩa vụ Điều ước quốc tế của mình. Hành động ban hành lệnh trưng thu của Italia rõ
ràng thể hiện thái độ thiếu thiện chí và bất hợp tác.
Các quốc gia thành viên Điều ước quốc tế không được viện dẫn các quy định của pháp
luật trong nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình. Khi Mỹ
yêu cầu bồi thường, Italia đưa ra lý do lệnh trưng thu được đưa ra trên cơ sở các quy định
của bộ luật dân sự Italia là đi ngược lại nguyên tắc Pacta sunt servanda.
Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại Điều ước
quốc tế. Trong khi đó, lệnh trưng thu của Italia đã vi phạm hiệp định thương mại, hàng hải
đã kí kết giữa 2 bên. Italia không có quyền đơn phương ngừng thực hiện cam kết mà đã kí
với Mỹ. Đây cũng là biểu hiện vi phạm nguyên tắc Pacta sunt servanda.
Italia cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ nào của nguyên tắc này. Như vậy
hành vi của Italia là vi phạm nguyên tắc Pacta sunt servanda.


Quan điểm cá nhân:


Ở một khía cạnh nào đó, lập luận của Italia cũng có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, khi
tham gia vào các tổ chức quốc tế, quyền năng này của quốc gia bị hạn chế. Các quốc gia khi
tham gia vào tổ chức quốc tế đều tự nguyện hạn chế quyền chủ quyền của mình để có thể
hợp tác cùng có lợi. Quốc gia chịu sự chi phối nhất định của tổ chức quốc tế, thực hiện chủ
quyền của mình trong khuôn khổ pháp luật quốc tế, phù hợp với các điều ước mà quốc gia
đó đã kí kết khi tham gia tổ chức. Pháp luật quốc gia cũng phải phù hợp với pháp luật quốc
tế thì hợp tác quốc tế mới có hiệu quả. Italia đưa pháp luật quốc gia và quyền chủ quyền ra
để từ chối yêu cầu của Mĩ biểu hiện sự vi phạm pháp luật quốc tế, đi ngược lại với hiệp định
đã kí với Mỹ trước đó. Điều này tạo nên sự bất công và bất hợp pháp. Vì thế đây là lập luận
không thuyết phục và không được cộng đồng thế giới đồng tình.


Kết luận:
Page 13


Có thể nói nguyên tắc Pacta sunt servanda có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế
giới ngày nay, vì trong quan hệ quốc tế không tồn tại bộ máy hoàn toàn thực hiện chức năng
cưỡng chế tuân thủ quy phạm pháp luật quốc tế mà việc thực hiện nó phụ thuộc trước hết và
chủ yếu vào thiện chí và tính tự giác của các bên chủ thể. Bên cạnh nguyên tắc này thì sáu
nguyên tắc cơ bản còn lại, mỗi nguyên tắc lại chiếm một vai trò quan trọng khác nhau trong
mối quan hệ quốc tế.
2. ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có các đặc trưng sau đây:
-

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính phổ cập;

-


Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính bao trùm nhất;

-

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính bắt buộc chung;

-

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có mối quan hệ qua lại trong một chỉnh thể thống
nhất.
Đặc trưng thứ nhất: Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính phổ cập;
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu
và được thừa nhận rộng rãi trong các quan hệ quốc tế.
Các nguyên tắc cơ bản này được quy định trong Hiến chương LHQ và Tuyên bố
24/10/1970, đây là các văn bản có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu, các quan hệ quốc tế cần dựa
vào các quy định này để thiết lập, xây dựng, duy trì và phát triển các quan hệ quốc tế các
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được xây dựng trên cơ sở thống nhất ý chí, thoả thuận
giữa các chủ thể của luật quốc tế nên khi các nguyên tắc này ra đời cũng đảm bảo cho việc
thiết lập, xây dựng, duy trì và phát triển các quan hệ quốc tế được diễn ra thuận lợi, hiệu
quả, nêu cao tinh thần tương trợ, hợp tác và nhân đạo của cộng đồng quốc tế.
Chủ thể xây dựng và áp dụng các nguyên tắc cơ bản này là các chủ thể luật quốc tế
nên khi tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế thì các nguyên tắc cơ bản này điều chỉnh các
chủ thể luật quốc tế mà cơ bản và chủ yếu là các quốc gia, do đó các nguyên tắc này có
phạm vi áp dụng rộng rãi trên thế giới.
Đặc trưng thứ hai: Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính bao trùm
nhất;
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế bao trùm toàn bộ những tư tưởng, chính trị
pháp lý và những đặc điểm cơ bản của Luật quốc tế. Về phương diện lý luận, các nguyên tắc
đóng vai trò tổng quát hoá toàn bộ nội dung các quy phạm khác của luật quốc tế. Đồng thời,
chúng được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế giữa các chủ thể Luật

quốc tế (chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng, môi trường, nhân đạo, y
tế…)
Ví dụ: các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác trong các lĩnh vực của
quan hệ quốc tế để gìn giữ hoà bình, an ninh quốc tế; hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng
Page 14


và tuân thủ các quyền con người và tự do cơ bản trên thế giới và loại trừ các hành vi phân
biệt sắc tộc và tôn giáo; hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, kỹ thuật thương mại
phù hợp với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau.
Nguyên tắc này được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hoá, nhân
quyền, an ninh quốc phòng… và nó cũng tổng quát hoá toàn bộ các quy phạm khác của luật
quốc tế về vấn đề hợp tác giữa các quốc gia.
Đặc trưng thứ ba: Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có tính bắt buộc
chung;
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những quy phạm có tính mệnh lệnh (jus
cogens), có giá trị pháp lý cao nhất, biểu hiện ở chỗ:
Các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế có tính bắt buộc chung đối với mọi chủ thể, tất
cả mọi chủ thể của Luật Quốc tế đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật
Quốc tế.
Không một chủ thể hay nhóm chủ thế nào của Luật Quốc tế có quyền hủy bỏ nguyên tắc
cơ bản của luật Quốc tế.
Bất kỳ chế định, quy phạm pháp lý quốc tế trái với một trong các nguyên tắc trên đều bị
coi là bất hợp pháp.
Nếu các chủ thể của luật Quốc tế vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế thì đều
được coi là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế nghiêm trọng nhất.
Ngoài ra đối với những lĩnh vực có nguyên tắc chuyên biệt như: Luật Biển quốc tế, Luật
Hàng không quốc tế... thì bên cạnh việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc
tế,các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể.

Đặc trưng thứ tư: Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có mối quan hệ qua lại
trong một chỉnh thể thống nhất.
Các nguyên tắc xây dựng trên cơ sở thoả thuận ý chí của các chủ thể xây dựng và giữa các
nguyên tắc này có mối qua hệ tác động qua lại lẫn nhau để cùng điều chỉnh các quan hệ
pháp luật quốc tế. Vì các nguyên tắc này mang tính cơ bản, là “hòn đá tảng” của pháp luật
quốc tế nên các nguyên tắc luôn tồn tại mối quan hệ qua lại với nhau trong 1 chỉnh thể là
mục đích mà các nguyên tắc này hướng tới. Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế luôn
luôn tồn tại trong 1 chỉnh thể thống nhất có tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác động mang
tính biện chứng này bị quyết định bởi các nội dung của chúng. Điều đó đòi hỏi, khi xem xét,
đánh giá nội dung và sự tuân thủ, thực hiện hệ thống các nguyên tắc cơ bản, chúng ta không
thể tách rời nội dung từng nguyên tắc mà phải xem xét chúng trong một chỉnh thể thống
nhất, trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau. Có như vậy, các nguyên tắc cơ bản mới có
khả năng hoàn thành chức năng là “xương sống” là “hòn đá tảng” của hệ thống pháp luật
quốc tế.

Page 15


Các nguyên tắc cơ bản luật quốc tế không có sự phân chia theo đẳng cấp theo nghĩa cao
thấp, phục tùng nhau nhưng vị trí trung tâm của các nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc cấm sử
dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế vì nguyên tắc này đóng vai trò
chủ đạo trong việc gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế - nhiệm vụ cơ bản của liên hợp quốc
và luật pháp quốc tế. Chính vì vậy, trong quan hệ quốc tế nếu 1 chủ thể của luật quốc tế có
hành vi đe doạ hoặc sử dụng vũ lực trái pháp luật quốc tế sẽ bị coi là vi phạm tất cả các
nguyên tắc còn lại của hệ thống các nguyên tắc cơ bản
Ví dụ: “Nguyên tắc chủ quyền bình đẳng giữa các quốc gia” là nguyên tắc nền tảng để trên
cơ sở đó các chủ thể luật quốc tế thực hiện các nguyên tắc khác như: hoà bình giải quyết các
tranh chấp quốc tế, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Việc vi phạm hay tuân
thủ một cách triệt để nguyên tắc này sẽ tác động rất lớn tới việc thực hiện một loạt các
nguyên tắc còn lại của luật quốc tế.

Không thể phủ nhận rằng: Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế có vai trò cơ bản,
nền tảng trong hệ thống pháp luật quốc tế hay cụ thể hơn là trong sự tồn tại và phát triển của
luật quốc tế, đối với trật tự pháp lý quốc tế. Chính vì vậy đòi hỏi khi xem xét, thực hiện các
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, chúng ta không thể tách rời từng nguyên tắc mà phải
gắn chúng trong một chỉnh thể thống nhất nhau, đi liền và khăng khít nhau, trong mối quan
hệ có sự tác động qua lại để nhằm hiểu và thực thi chúng một cách có hiệu quả.
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế không hẳn là được sắp xếp ngẫu nhiên nhưng chúng
cũng không có sự phân chia hay có sự ưu tiên nào trong việc thực hiện chúng. Chúng ta chỉ
nên áp dụng và hiểu rằng những nguyên tắc đã được nêu ấy là có sự tương quan với nhau và
mỗi nguyên tắc sẽ được hiểu trong mối quan hệ với các nguyên tắc khác, để nhằm giúp
chúng thực hiện được tốt vai trò quan trọng của mình trong hệ thống pháp luật quốc tế.

3.CÁC NGOẠI LỆ CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT
QUỐC TẾ
 Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia

khác:

Về nguyên tắc can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia là vi phạm luật quốc tế
ngoại trừ can thiệp được thực hiện trong những trường hợp sau đây:


Khi có sự xung đột vũ trang nội bộ của quốc gia đã đến mức độ nghiêm trọng, đe dọa hòa
bình và an ninh quốc tế thì Hội đồng Bảo an có quyền can thiệp.
Ví dụ: Cuộc xung đột vũ trang ở Cộng hòa liên bang Nam Tư năm 1991, vì cuộc
xung đột này đã đến mức độ nghiêm trọng nên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã đơn
phương thông qua Nghị quyết số 721 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ngày 27 tháng 11
năm 1991, tạo đường cho sự thành lập các chiến dịch gìn giữ hòa bình tại Nam Tư.




Liên hợp quốc có quyền can thiệp vào quốc gia nào đó nếu có sự vi phạm nghiêm trọng
quyền cơ bản của con người như phân biệt chủng tộc, diệt chủng hoặc vi phạm các nghĩa vụ
Page 16


pháp lý quốc tế quan trọng khác mà sự vi phạm này có thể đe dọa hòa bình và an ninh quốc
tế như: sản xuất, tàng trữ, sử dụng, mua bán, chuyển giao, thử vũ khí hạt nhân.
Ví dụ: Ở Nam Phi (cũ), việc thiết lập chế độ phân biệt chủng tộc Apacthai - đạo luật
phân biệt đối xử và tước bỏ quyền làm người của dân da đen và da màu, đây là công việc
nội bộ của Nam Phi. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách phân biệt chủng tộc, thực hiện tội
ác diệt chủng là vô cùng dã man, vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về quyền con
người, Cộng đồng quốc tế, Liên hợp quốc đã lên án gay gắt chính sách Apacthai và áp dụng
các biện pháp cần thiết để can thiệp phù hợp và ngăn cản chính sách này của Nam Phi.
Nhiều văn kiện của Liên hợp quốc coi Apacthai là một tội ác chống nhân loại, vi phạm luật
pháp quốc tế, Hiến chương của Liên hợp quốc, đe doạ nghiêm trọng hoà bình và an ninh của
các nước. Năm 1976 có Công ước quốc tế đòi xoá bỏ và trừng trị tội ác Apacthai do 80
nước kí. Từ 1986, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua nghị quyết chống Apacthai trong
các hoạt động thể thao, kêu gọi các nước thành viên cắt quan hệ ngoại giao và áp dụng các
biện pháp trừng phạt Nam Phi. Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cũng đã ban hành lệnh cấm
vận vũ khí đối với Nam Phi năm 1976.
 Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sử dụng vụ lực và đe dọa sử dụng vũ lực

trong quan hệ quốc tế: gồm 2 trường hợp:


Thứ nhất: Trong trường hợp có hành vi xâm lược hoặc phá hoại hòa bình và an ninh quốc tế
đã được Hội đồng bảo an áp dụng các biện pháp phi vũ trang như cắt đứt toàn bộ hoặc từng
phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyết điện
và các phương tiện thông tin khác kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao (điều 41 Hiến

chương Liên Hiệp Quốc) nhưng Hội đồng bảo an thấy những biện pháp đó không thích hợp
hoặc tỏ ra không thích hợp thì Hội đồng Bảo an có quyền thi hành bằng các lực lượng, hải,
lục, không quân, mọi hoạt động xét thấy cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Hành động này có thể là những cuộc thị uy, những biện pháp phong tỏa và những cuộc hành
quân khác do lực lượng hải, lục, không quân của những hội viên Liên Hiệp quốc thực hiện
(điều 42 Hiến chương Liên Hiệp Quốc). Hành vi sử dụng vũ lực do Hội đồng Bảo An quyết
định trong trường hợp này không được coi là vi phạm nguyên tắc.



Thứ hai: Trong trường hợp các quốc gia bị xâm lược vũ trang thì đều có quyền tự vệ cá thể
hoặc tập thể cho đến khi hội đồng bảo an áp dụng các biện pháp hữu hiệu để duy trì hòa
bình và an ninh quốc tế và phải báo ngay cho Hội đồng bảo an. Không được cản trở hội
đồng bảo an hành động để thực hiện sứ mệnh bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế của mình.
Tuy nhiên, hành vi tự vệ của các quốc gia dưới hình thức cá thể hay tập thể phải là những
hành vi hợp pháp, không vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
trong quan hệ quốc tế. (Điều 51 Hiến chương Liên hiệp quốc).

 Ngoại lệ của nguyên tắc Pacta sunt servanda:

Luật quốc tế đòi hỏi các quốc gia thực hiện tận tâm, có thiện chí và đầy đủ các nghĩa
vụ của điều ước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chịu sự tác động khác nhau của các
yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước thì nguyên tắc này
cũng cho phép các quốc gia có thể không phải thực hiện Điều ước quốc tế mà mình là thành
viên:

Page 17


-


Trong quá trình ký kết các bên có sự vi phạm pháp luật quốc gia về thẩm quyền và thủ tục
ký kết. Ví dụ: Theo pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế chỉ được ký với 2 danh nghĩa
Nhà nước và Chính phủ. Nếu điều ước nào được ký với danh nghĩa của các bộ, ngành…
không được coi là một điều ước quốc tế (chẳng hạn như: các thỏa thuận hợp tác giứa trường
Đại học Luật Hà Nội với Đại học Luật Bắc Kinh không phải Điều ước quốc tế…)

-

Khi Điều ước quốc tế có nội dung trái với Hiến chương Liên hợp quốc, trái với nguyên tắc
và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế. Ví dụ: 2 quốc gia ký kết một điều
ước quốc tế có nội dung thiết lập chính sách nhằm phân biệt đối xử giữa các sắc tộc khác
nhau…

-

Khi có sự vi phạm nghiêm trọng của một bên cam kết thì bên còn lại có quyền từ chối thực
hiện vì nghĩa vụ theo điều ước quốc tế chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở nguyên tắ có đi
có lại nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi giữa các bên kí kết. Một bên kí kết có quyền
viện dẫn sự vi phạm của bên kí kết khác để chấm dứt hoặc tạm đình chỉ việc thực hiện hiệu
lực của toàn bộ hay một phần điều ước đã kí kết. Trong trường hợp các bên đã thỏa thuận về
việc hủy bỏ hoặc tạm đình chỉ hiệu lực thi hành của điều ước thì chủ thể kết ước có quyền
hành động theo thỏa thuận trong điều ước đó.

-

Khi xuất hiện điều khoản Rebus-sic-stantibus (điều khoản về sự thay đổi cơ bản của hoàn
cảnh) dẫn đến các bên không thể tiếp tục thực hiện được điều ước quốc tế (Điều 62 Công
ước Viên 1969). Khi xuất hiện điều khoản này, các quốc gia có thể viện dẫn để thực hiện 1
trong 3 hành vi:




Chấm dứt hiệu lực của Điều ước quốc tế. Hành vi này làm mất hoàn toàn hiệu lực của Điều
ước quốc tế.



Tạm đình chỉ hiệu lực của Điều ước quốc tế. Hành vi này chỉ tạm thời làm mất hiệu lực của
Điều ước quốc tế.



Rút khỏi quan hệ Điều ước quốc tế. Hành vi này không làm chấm dứt hiệu lực hoàn toàn
của Điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế chỉ mất hiệu lực với quốc gia viện dẫn điều khoản
Rebus-sic-stantibus, nó vẫn có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên khác của điều ước.
Ngoài ra, hiệu lực thi hành một phần hay toàn bộ Điều ước quốc tế có thể bị tác
động bởi việc thực hiện các hành vi hợp pháp của chủ thể kí kết, như hành vi bảo lưu điều
ước, hành vi thực hiện quyền kế thừa của chủ thể luật quốc tế trong giải quyết các vấn đề kế
thừa quốc gia, chính phủ.
Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia không phải thực hiện các Điều ước, cam kết mà
mình là thành viên khi:



Điều ước quốc tế mà mình đã ký kết hoặc tham gia có nội dung trái với Hiến Chương
Liên Hợp Quốc và các nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc.
Hiến chương LHQ được kí kết trong Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ chức Quốc tế tại San
Fransisco, California ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu
lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập

(Trung Hoa, Liên Bang Xô Viết, Pháp, Anh, Hoa Kỳ) và phần đông các nước khác.
Page 18


Điều ước quốc tế, với một định nghĩa tương đối thống nhất, được hiểu là một hiệp định
quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh,
dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ
với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì.
Nguyên tắc của hiên chương Liên Hợp Quốc: (Điều 2 Hiến Chương LHQ)
1. Liên Hiệp Quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các
Thành viên.
2. Tất cả các Thành viên đều phải nhiệt tình thực thi những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận
theo Hiến chương này, nếu muốn hưởng toàn bộ các quyền và ưu đãi do vị trí thành viên
đem lại.
3. Tất cả các Thành viên giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình,
theo cách không làm nguy hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý.
4. Tất cả các Thành viên từ bỏ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm
chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc bằng
cách khác trái với những mục đích của Liên Hiệp Quốc.
5. Tất cả các Thành viên phải hỗ trợ đầy đủ cho Liên Hiệp Quốc trong mọi hành động mà
Liên Hiệp Quốc áp dụng theo đúng Hiến chương này và từ bỏ việc giúp đỡ bất cứ quốc gia
nào đang bị Liên Hiệp Quốc áp dụng các hành động ngăn chặn hoặc cưỡng chế;
6. Liên Hiệp Quốc sẽ đảm bảo rằng các quốc gia không phải là Thành viên cũng hành động
theo những nguyên tắc này, nếu như điều đó là cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh thế
giới;
7. Không có bất kỳ điều gì trong Hiến chương này cho phép Liên Hiệp Quốc được can thiệp
vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, hoặc đòi
hỏi các Thành viên phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến
chương; tuy nhiên, nguyên tắc này không liên quan đến việc thi hành những biện pháp
cưỡng chế nói ở Chương VII.

 Như vậy Điều ước quốc tế được xây dựng trên nền tảng cơ bản của Hiến Chương LHQ, và

nguyên tắc quy định trong Hiến Chương LHQ, chính vì thế mà mọi điều ước quốc tế vi
phạm hoặc có nội dung ngược lại với Hiến Chương LHQ đều trở nên mất hiệu lực, các quốc
gia ký kết điều ước quốc tế đó không phải thực hiện. Có như vậy mới cho thấy hiệu lực tối
cao của Hiến Chương LHQ.


Khi ký kết các Điều ước quốc tế các bên đã vi phạm quy định của pháp luật quốc gia
về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ký kết; khi một trong các bên tham gia điều ước vi
phạm nghiêm trọng Điều ước mà chỉ hưởng quyền mà không thực hiện nghĩa vụ của
họ; khi những điều kiện thực hiện Điều ước đã thay đổi cơ bản. Ví dụ như có sự thay
đổi tư cách chủ thể của Luật Quốc Tế.
Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế co quy định về nguyên tắc ký
kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
Page 19


Việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
1. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cấm sử dụng hoặc đe dọa sử
dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và
những nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế;
2. Phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
3. Phù hợp với lợi ích quốc gia, đường lối đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
4. Điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ không được trái với điều ước quốc tế nhân danh
Nhà nước;
5. Điều ước quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp
luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, điều ước quốc tế mà để thực hiện cần sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban

thường vụ Quốc hội phải được trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi đàm
phán, ký hoặc gia nhập; trong trường hợp đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế có
quy định trái với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội
báo cáo Quốc hội cho ý kiến;
6. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời có quyền đòi hỏi thành viên khác cũng
phải tuân thủ điều ước quốc tế đó.
Chính vì thế để đảm bảo điều ước quốc tế phù hợp với luật quốc gia khi điều ước
quốc tế mà các bên đã vi phạm quy định của pháp luật quốc gia về trình tự, thủ tục và thẩm
quyền ký kết; khi một trong các bên tham gia điều ước vi phạm nghiêm trọng Điều ước mà
chỉ hưởng quyền mà không thực hiện nghĩa vụ của họ; khi những điều kiện thực hiện Điều
ước đã thay đổi cơ bản. Thì các quốc gia sẽ không phải tiếp tục thực hiện điều ước đó.
LƯU Ý:


Điểm khác biệt giữa “nguyên tắc cơ bản” với “nguyên tắc của luật quốc tế” chính là phạm
vi điều chỉnh, giá trị pháp lý và tầm quan trọng của chúng:



Thứ nhất, các “nguyên tắc cơ bản” có chức năng điều chỉnh toàn bộ quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển cũng như tổng quát hoá toàn bộ tư tưởng chính trị - pháp lý của hệ thống
pháp luật quốc tế, “nguyên tắc của luật quốc tế” có chức năng điều chỉnh trong phạm vi các
ngành luật độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế.



Thứ hai, “nguyên tắc cơ bản” mang tính bắt buộc chung đối với mọi chủ thể, trong mọi
điều kiện hoàn cảnh và trong mọi quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế, còn “nguyên tắc
của luật quốc tế” chỉ có giá trị ràng buộc đối với các chủ thể, trong từng điều kiện, hoàn cảnh

và quan hệ pháp lý đặc thù thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật trong hệ thống pháp
luật quốc tế.

Page 20



×