Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

Bài tập môn kế toán quản trị managerial accounting (119)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (135.05 KB, 6 trang )

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Global Advanced Master of Business Administration

Học viên: Mai Khắc Chinh
Nhóm 2, lớp GaMBA01.X0310

BÀI TẬP CÁ NHÂN
Môn học: KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Chủ đề: Hạch toán chi phí đã bóp méo chi phí sản phẩm như thế nào?
1. Thông tin chi phí sản phẩm có vai trò quan trọng như thế nào đối với việc ra
quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp? Những vấn đề kế toán nào có thể
ảnh hưởng tới tính đúng đắn của thông tin chi phí sản phẩm?
 Thông tin chi phí sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng trong việc ra quyết định
kinh doanh. Nhà quản lý thường xuyên phải đưa ra các quyết định liên quan đến sản
phẩm của họ trên thị trường như: lựa chọn bán sản phẩm nào, nên mua hay tự chế tạo
linh kiện, nên định giá như thế nào, sử dụng kênh phân phối nào, có chấp nhận một
đơn hàng đặc biệt ở mức giá dặc biệt không.... Hay việc thiết kế, giới thiệu một sản
phẩm mới, số lượng tiêu thụ trên thị trường, ảnh hưởng của sản phẩm, chi phí, lợi
nhuận,… Để đưa ra được quyết định hợp lý liên quan đến sản phẩm của họ trên thị
trường, người quản lý cần nắm được chi phí sản phẩm.
Dựa vào thông tin chi phí sản phẩm người quản lý mới biết được giá thành thực tế
của sản phẩm sản xuất, làm cơ sở để định giá, xây dựng giá bán cho sản phẩm, xác
định được điểm hòa vốn, có chiến lược sản xuất sản phẩm phù hợp của doanh nghiệp.
Để đưa ra các quyết định như có tiếp tục sản suất sản phẩm đó hay không hoặc sản
xuất sản phẩm ở quy mô nào và định mức tiêu thụ sản phẩm như thế nào để tối đa hóa
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Thông tin về chi phí sản phẩm, người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá
thành thực tế của từng sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh. Qua đó, nhà
quản trị có thể phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm, tình hình sử dụng lao
động, vật tư, vốn... là tiết kiệm hay lãng phí để từ đó có biện pháp tiết kiệm chi phí để


có thể hạ giá thành, đưa ra những quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng là điều
kiện quan trọng để doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường.

Mai Khac Chinh – Gamba01.X0310 – Ketoanquantri
6

Page 1 of


CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Global Advanced Master of Business Administration

Thông tin về chi phí sản phẩm chính xác sẽ giúp quá trình phân tích kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh dựa trên chi phí sản phẩm chính xác từ đó quá trình ra
quyết định kinh doanh cũng chính xác. Nếu chi phí sản phẩm bị bóp méo sẽ làm cho
người quản trị đưa ra các quyết định không hợp lý làm lệch hướng trong chiến lược
sản xuất kinh doanh và không có lợi nhuận, sẽ đưa Công ty đến kinh doanh không
hiệu quả và hoàn toàn có thể dẫn tới phá sản.
Chính vì vậy, thông tin chi phí sản phẩm, cấu thành chi phí sản phẩm cũng như lượng
giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào chi phí sản phẩm là yêu cầu rất rất cần
thiết đối với việc ra quyết định trong kinh doanh.
 Những vấn đề kế toán có thể ảnh hưởng tới tính đúng đắn của thông tin chi phí sản
phẩm.
Việc tập hợp chính xác chi phí sản phẩm là vấn đề phức tạp và cũng là vấn đề hết sức
khó khăn mà rất nhiều doanh nghiệp đang gặp phải. Do tính phức tạp của các chi phí
cấu thành sản phẩm và lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí sản phẩm khác nhau
sẽ cho những kết quả khác nhau điều này sẽ làm ảnh hưởng đến tính đúng đắn của
thông tin chi phí sản phẩm. Do vậy, các vấn đề kế toán chủ yếu sau có thể ảnh hưởng

đến tính đúng đắn đó của chi phí sản phẩm:
Thứ nhất: Việc lựa chọn hạch toán chi phí theo phương pháp hạch toán chi phí đầy đủ
hoặc lựa chọn hạch toán chi phí theo phương pháp biến đổi sẽ ảnh hưởng đến tính
đúng đắn của xác định chi phí sản phẩm. Tùy theo mô hình sản xuất, quy mô sản suất
hoặc các yếu tố phù hợp để doanh nghiệp lựa chọn theo phương pháp nào. Việc lựa
chọn phương pháp tính chi phí làm ảnh hưởng lớn đến tính đúng đắn của thông tin
chi phí sản phẩm.
Thứ hai: Khi lựa chọn hạch toán chi phí theo phương pháp hạch toán chi phí đầy đủ
thì giá thành sản phẩm của doanh nghiệp dễ làm méo mó thông tin trong việc ra quyết
định kinh doanh do các vấn đề mà phương pháp này chưa giải quyết được. Phương
pháp này sẽ hạch toán tất cả các chi phí sản xuất kể cả chi phí biến đổi hay chi phí cố
định vào giá thành. Phương pháp này không phản ánh chính xác được khi sản lượng
thay đổi thì chi phí giá thành của sản phẩm sẽ thay đổi như thế nào. Và điều này ảnh
hưởng đến tính đúng đắn của thông tin chi phí sản phẩm.
Mai Khac Chinh – Gamba01.X0310 – Ketoanquantri
6

Page 2 of


CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Global Advanced Master of Business Administration

Thứ ba: Khi lựa chọn hạch toán chi phí theo phương pháp hạch toán chi phí biến đổi
còn rất nhiều những yếu tố dễ đưa đến sai lầm trong trong quá trình tập hợp và phân
bổ chi phí của phương pháp này, làm ảnh hưởng đến tính đúng đắn của thông tin chi
phí sản phẩm.
Kế toán dễ gặp phải sai lầm khi tập hợp và phân bổ chi phí sản phẩm tập trung ở một
số chi phí sau:

-

Tập hợp và phân bổ chi phí cho tính phức tạp.

-

Tập hợp và phân bổ chi phí giao dịch.

-

Tập hợp và phân bổ chi phí cố định dài hạn.

2. Giải thích Thuật ngữ “Chi phí cho tính phức tạp” được đề cập đến trong bài
viết của Cooper và Kaplan. Thuật ngữ này có được sử dụng trong hệ thống kế
toán truyền thống không?
Thuật ngữ “Chi phí cho tính phức tạp” trong bài viết của Cooper và Kaplan có thể
hiểu là chi phí phát sinh do tính phức tạp của việc sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm
tương tự so với với chi phí sản xuất cùng số lượng sản phẩm đó nhưng ít hơn chủng
loại sản phẩm.
Tuy sản xuất cùng một số lượng sản phẩm tương tự nhưng sản xuất ít chủng loại sản
phẩm, môi trường sản xuất sẽ đơn giản hơn, yêu cầu ít thiết bị hỗ trợ hơn, hoạt động
lập kế hoạch và bố trí sản xuất cũng đơn giản hơn và dễ thực hiện hơn, do đó sẽ có
chi phí ít hơn.
Sản suất cùng một số lượng sản phẩm, nhưng sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm
hơn, môi trường quản trị sản xuất sẽ phức tạp hơn nhiều, yêu cầu về thiết bị hỗ trợ
nhiều hơn, công tác lập kế hoạch sản xuất cũng phức tạp hơn, công tác dự trữ vật tư,
tồn kho, giao nhận và kiểm soát cũng phức tạp hơn rất nhiều. Để quản lý hệ thống
phức tạp đó, các bộ phận hỗ trợ phải lớn và phức tạp hơn. Do đó, chi phí sản xuất sản
phẩm cũng sẽ cao hơn, phức tạp hơn.
Chi phí cao hơn cho việc sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm hơn được gọi là “Chi

phí cho tính phức tạp”.
Mai Khac Chinh – Gamba01.X0310 – Ketoanquantri
6

Page 3 of


CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Global Advanced Master of Business Administration

Thuật ngữ “Chi phí cho tính phức tạp” không được sử dụng trong hệ thống kế toán
truyền thống.
Trong kế toán chi phí truyền thống, coi chi phí cho các bộ phận hỗ trợ là chi phí cố
định làm cho người ta khó nhận thấy các chi phí này biến đổi một cách có hệ thống.
Kế toán truyền thống phân bổ chi phí theo sản lượng nên rất khó để nhận biết chi phí
của các bộ phận hỗ trợ thay đổi như thế nào.
Do không nhận ra được chi phí cho các bộ phận hỗ trợ thay đổi như thế nào khi
doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm thay vì sản xuất một chủng loại sản
phẩm. Do đó trong kế toán truyền thống không có khái niệm “Chi phí cho tính phức
tạp’’.
3. Liên hệ với thực tế tại đơn vị các anh chị đang công tác.
Hoạt động các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, hầu hết hoạt động theo hướng đa
năng, với đa dạng các sản phẩm về huy động vốn, sản phẩm tín dụng, các sản phẩm
dịch vụ: thanh toán, ngân quỹ, thẻ và các sản phẩm phái sinh khác,…. Khối lượng sản
phẩm lớn, việc hạch toán chi phí sản phẩm hết sức phức tạp, mang tính đặc thù, nhiều
sản phẩm chi phí luôn biến động thay đổi hàng ngày, hàng giờ theo thị trường.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Agribank, Trụ sở chính
tại số 2 Láng Hạ - Ba Đình – Hà Nội; Được thành lập từ năm 1988. Là ngân hàng
thương mại hàng đầu, lớn nhất Việt Nam hiện nay. Với tổng tài sản trên 520 ngàn tỷ

VNĐ (tương đương 27 tỷ USD), mạng lưới hoạt động trên 2300 chi nhánh và phòng
giao dịch trong toàn quốc, với trên 40.000 cán bộ nhân viên; Có công nghệ ngân hàng
hiện đại, đội ngũ cán bộ năng động, chuyên nghiệp; Hoạt động đa năng, giữ vai trò
chủ đạo và chủ lực trên thị trường tài chính, tín dụng nông nghiệp, nông thôn.
Tầm nhìn: Trở thành Tập đoàn tài chính đa ngành, đa lĩnh vực, đa sở hữu hàng đầu tại
Việt Nam; hoạt động trên 3 trụ cột Ngân hàng – Bảo hiểm – Chứng khoán. Giữ vai
trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính, tín dụng nông nghiệp, nông thôn.
Tôn chỉ hoạt động: Cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng tốt nhất, nâng cao được giá
trị lợi ích cho Khách hàng, Ngân hàng và Người lao động.

Mai Khac Chinh – Gamba01.X0310 – Ketoanquantri
6

Page 4 of


CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Global Advanced Master of Business Administration

Là một ngân hàng thương mại lớn, có mạng lưới hoạt động với số lượng chi nhánh và
điểm giao dịch, số lượng nhân viên lớn, hoạt động rộng trải khắp đất nước và chi
nhánh, đại lý ở nước ngoài, quản lý một khối lượng tài sản lớn, cung cấp đa dạng các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Do đó hạch toán chi phí sản phẩm đối
với Agribak nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung là rất khó khăn, phức
tạp, phản ánh đúng chi phí sản phẩm.
Khác với sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm của ngân hàng thương
mại rất khó để đánh giá chi phí một sảm phẩm cụ thể. Ví dụ: chi phí huy động vốn
với sản phẩm vốn đa dạng, chi phí hoạt động hỗ trợ huy động vốn khác nhau từng
thời kỳ, theo sự biến động của thị trường,… việc xác định đúng chi phí sản phẩm huy

động vốn và định giá sản phẩm hết sức khó khăn, phức tạp.
Các sản phẩm đa dạng của ngân hàng thương mại là sự kết hợp đa dạng giữa các sản
phẩm với nhau như các sản phẩm về bảo lãnh gắn với sản phẩm huy động vốn,... Có
sản phẩm được tính bằng thời gian như cho vay theo kỳ hạn định sẵn nhưng cũng có
các sản phẩm được áp dụng bằng số lượng cụ thể như phát hành giấy tờ có giá với số
vốn huy động cụ thể. Các sản phẩm có tính tương tác qua lại lẫn nhau do đó, chi phí
của sản phẩm này cũng làm ảnh hưởng đến chi phí của sản phẩm khác.
Chi phí sản phẩm mang tính phức tạp cao, với các chi phí cố định như khấu hao tài
sản máy móc thiết bị cũng không thể phân bổ cho từng sản phẩm được do các sản
phẩm được đo lường bằng nhiều hình thái khác nhau cả vô hình và hữu hình. Do đó,
không xác định cụ thể chi phí cho từng sản phẩm được, thông tin về chi phí sản phẩm
chỉ có thể xác định bằng một phương pháp xác định theo mô hình định sẵn, tính đúng
đắn của chi phí sản phẩm sẽ không cao.
Ngoài ra, hoạt động ngân hàng, chi phí sản phẩm, định giá bán sản phẩm chịu ảnh
hưởng của sự tuân thủ thực thi chính sách tiền tệ của Nhà nước, đường lối, chính sách
phát triển kinh tế, nhất là Agribank hoạt động chủ yếu phục vụ nông nghiệp nông
thôn.
Do vậy, trong thực tiễn hiện nay, để đưa ra quyết định kinh doanh của mình, Agribank
dựa trên chi phí sản phẩm như thế nào, đó là sự cân đối tổng hợp các chi phí kể cả cố

Mai Khac Chinh – Gamba01.X0310 – Ketoanquantri
6

Page 5 of


CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Global Advanced Master of Business Administration


định và chi phí biến đổi tại từng thời điểm nhất định, được xây dựng dựa trên mô
hình quản trị định sẵn để đưa ra các quyết định về kinh doanh.
Đôi khi còn ngược lại, tức là từ các quyết định về kinh doanh để đưa ra chi phí sản
phẩm. Ví dụ: Thời điểm Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất cho vay tối đa bằng
150% so với lãi suất cơ bản trong tình hình nhu cầu vay vốn tăng cao, Ngân hàng đã
phải quyết định cho vay ở mức lãi suất tối đa, sau khi cộng các chi phí theo yêu cầu
quản trị để đưa ra lãi suất huy động hoặc thậm chí phải đưa ra lãi suất huy động với
chi phí sản phẩm gây lỗ nhưng vẫn phải quyết định. Đây chính là điểm rất khác biệt
so với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác.
Tóm lại: Hoạt động Agribank trong ngành tài chính ngân hàng, các sản phẩm là đặc
trưng, có sự khác biệt lớn với các sản phẩm trong ngành sản xuất, thương mại khác.
Do đó, tính chính xác của thông tin chi phí sản phẩm không cao, các quyết định kinh
doanh chủ yếu dựa trên chi phí tổng hợp chung, chi phí nhóm sản phẩm, định hướng
thị trường, chính sách kinh tế, từ đó qua phân tích để đưa ra các quyết định về kinh
doanh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “Kế toán quản trị” Global Advanced MBA
2. Các báo cáo hoạt động, tài chính nội bộ của Agribank
4. Thông tin hoạt động trên Website các Ngân hàng thương mại khác

Mai Khac Chinh – Gamba01.X0310 – Ketoanquantri
6

Page 6 of



×