Bài tập cá nhân
Môn: Kinh tế quản lý
Sinh viên: Nguyễn Đức Quân
Lớp:GaMBA.X0110
THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM
Với ba nhà cung cấp lớn Vinaphone, Mobifone, Viettel có khả năng chi phối thị trường đã
đem đến cho nền kinh tế Việt Nam có một thị trường tập đoàn.Qua một thời gian hình thành và
phát triển thị trường viễn thông Việt Nam đã có những bước phát triển và đạt được những
thành tựu nhất định. Tuy nhiên, giá cước trên thị trường viễn thông Việt Nam vẫn đa phần chỉ
bị chi phối bởi ba nhà cung cấp nói trên, nên trong bài viết này sẽ đưa ra một số nhận định về
thị trường viễn thông Việt Nam; Thực trạng thành tựu, tồn tại trên cơ sở đó đưa ra một số giải
pháp phát triển trong thời gian tới.
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN TẬP ĐOÀN
1. Khái niệm, đặc trưng
- Khái niệm: Độc quyền tập đoàn là một thị trường trong đó một vài hãng sản xuất toàn bộ hay
hầu hết mức cung của thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó.
- Đặc trưng:
Đối với mỗi ngành hàng, sản phẩm xuất hiện thì sẽ có một thị trường khác nhau vì vậy nó sẽ có
những đặc trưng cơ bản khác nhau, đối với thị trường độc quyền tập đoàn sẽ có những đặc
trưng sau;
+ Việc gia nhập thị trường của các hãng là không thể hoặc rất khó khăn.
+ Số lượng hàng sản xuất ra ít và các hãng phụ thuộc lẫn nhau.
+ Việc xây dựng chính sách giá cả, chất lượng sản phẩm, sản lượng, …sẽ tác động ngay lập
tức đến các đối thủ canh tranh và các đối thủ (các hãng) cũng phản ứng lại vì vậy những quyết
định này phải được cân nhắc rất kỳ lương từ động thái của các hãng khác, luôn phải đặt mình
vào vị trí của đối thủ cạnh tranh và cân nhắc xem xét phản ứng của ho.
2. Đường cầu gãy khúc trong độc quyền tập đoàn.
Trong kinh doanh mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở cắt giảm chi phí,
mở rộng thị phần. Tuy nhiên trong thị trường độc quyền tập đoàn vài hãng chia nhau phần lớn
lượng cung của thị trường. Hay nói cách khác mỗi hãng có được một tỷ trọng nhất định của thị
trường chính điều đó dẫn đến sự gãy khúc của đường cầu.
Để tăng được lượng bán một hãng độc quyền tập đoàn có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Thay đổi marketing
1
- Giảm giá bán
Trong cả hai trường hợp trên khi lượng bán của hãng đó tăng lên lập tức lượng bán của
hãng đối thủ giảm xuống và các hãng đối thủ sẽ nhận thức được ngay vấn đề đó không cần phải
sử dụng tình báo công nghiệp.
Nếu hãng tăng giá tất nhiên các hãng đối thủ sẽ không phản ứng gì và đương nhiên hãng
sẽ bán được ít hàng hơn theo quy luật cầu và khách hàng của hãng sẽ sang với các hãng đối thủ.
3. Giá cả kém linh hoạt và doanh thu cận biên
Đường cầu gãy khúc là sự hợp thành của hai đường cầu riêng biệt. Một đường dựa vào
giả định rằng các hãng độc quyền tập đoàn cạnh tranh nhau không phản ứng sự tăng giá (d 1).
Đường kia dựa vào giả định rằng các hãng độc quyền cạnh tranh sẽ phản ứng việc giảm giá
(d2). Mỗi đường cầu đó lại có đường doanh thu cận biên riêng của nó tương tự MR 1 và MR2.
Như vậy doanh thu cận biên của một hãng độc quyền tập đoàn gồm có hai phần riêng
biệt. Có một khoảng gián đoạn trên đường doanh thu cận biên. Khoảng cách này là sự giải
thích quan trọng cho hành vi của các hãng độc quyền tập đoàn. Nhớ lại rằng nhà sản xuất đạt
được lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng có doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên. Do đó họ
luôn thay đổi các quyết định sản xuất khi mức chi phí thay đổi.
P
d1
MC 2
MR1
MC
MC1
P*
d2
O
Q*
MR2
Q
Hình 1: Tính không linh hoạt của gia
Trên hình vẽ 2 ta thấy OQ * là lượng tối ưu cho không chỉ mức chi phí MC 1 mà cả MC2
hoặc MC bất kỳ nằm trong đoạn này của doanh thu cận biên và mức giá luôn OP * “rất kém linh
hoạt”. Mức giá kém linh hoạt này xuất hiện từ thực tế là cá nhân một hãng không thể hạ thấp
giá của họ mà không bị trả đũa và không thể nâng giá mà không bị tổn thất về lượng bán ra.
4. Giá của ngành – mục tiêu của độc quyền tập đoàn
Với mục tiêu thu được lợi nhuận lớn nhất nên các nhà độc quyền tập đoàn là phải làm sao
đạt được đến mức giá chung đó cho toàn ngành. Điều này là khó khăn vì nó đòi hỏi các hãng
phải có quan điểm chung về đường cầu của ngành và phải thỏa mãn với tỷ trọng thị trường nhất
định cũng như phải được phối hợp một cách chính xác.
- Sự phối hợp: Vấn đề làm như thế nào để các nhà độc quyền tập đoàn phối hợp được các
quyết định sản xuất của họ với nhau và hạn chế được lượng cung cho thị trường. Vì mọi hoạt
động nhằm nâng cao tỷ trọng thị trường của một hãng đều bị trả đũa nên họ phải phối hợp với
nhau để:
2
+ Lợi nhuận của ngành là tối đa
+ Mỗi hãng bằng lòng với tỷ trọng thị trường nhất định
Việc xác định sản lượng của ngành là tương đối dễ theo quy tắc tối đa hóa lợi nhuận. Việc
phân chia sản lượng giữa các hãng độc quyền tập đoàn là việc khó khăn hơn. Điều này phụ
thuộc vào độ lớn tương đối của các công ty và khả năng đàm phán của họ.
II: THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM
1. Quá trình phát triển dịch vụ viễn thông Việt Nam
Năm 2006, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, đặt dấu mốc quan trọng trong tiến trình
hội nhập kinh tế thế giới. Việc gia nhập WTO mang đến động lực mới thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Nền kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao , thu hút sự quan tâm của giới đầu tư
nước ngoài, hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế thương mại ngày càng minh bạch và thông
thoáng hơn. Thị trường viễn thông Việt Nam tiếp tục đạt được các bước tiến vượt bậc.
1.1 Bảng số liệu thuê bao điện thoại cố định từ năm 2006 - 2009
(Đơn vị: thuê bao)
Năm
12/2006
12/2007
12/2008
12/2009
Thuê bao
8.567.620
11.165.617
14.767.629
17.427.365
1.2 Số liệu bình quân thuê bao cố đinh trên 100 người dân từ 2006-2009.
Năm
12/2006
12/2007
12/2008
12/2009
Tỷ lệ % thuê bao
10,16
13,11
17,13
20,12
3
1.3 Tỷ lệ hộ gia đình có thuê bao điện thoại cố định/100 hộ gia đình
(Đơn vị %)
Năm
2004
2006
2008
2009
Hộ gia đình
28.5
51.4
61.35
45.8
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
4
2.1 Số thuê bao điện thoại di động
(Đơn vị: thuê bao)
Năm
12/2006
12/2007
12/2008
12/2009
Số thuê bao
18,892,480
45,024,048
74,872,310
98,223,980
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
2.2 Số thuê bao điện thoại di động/100 dân
Năm
12/2006
12/2007
12/2008
12/2009
Số thuê bao
22.41
52.86
86.85
113.40
5
Số người sử dụng internet
Năm
Số
người
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
3.098.00
7
6.345.0
49
10.710.9
80
14.683.7
83
17.718.1
12
20.834.4
01
22.779.88
7
26.784.03
5
6
Biểu đồ số người sử dụng Internet qua các năm năm (nguồn số liệu từ Tổng cục thống
Năm
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Tỷ lệ dân
số sử dụng
internet(%)
3,8
7,69
12,9
17,67
21,05
24,4
26,55
31,11
7
Nguồn: Sách trắng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM 2010
Dự báo tốc độ tăng trưởng di động:
(nguồn: />8
Số thuê bao điện thoại phát triển mới năm 2010 ước tính đạt 44,5 triệu thuê bao, tăng 0,6% so
với năm 2009, bao gồm 793 nghìn thuê bao cố định, giảm 49,1% và 43,7 triệu thuê bao di động,
tăng 2,4%. Số thuê bao điện thoại của cả nước tính đến cuối tháng 12/2010 là 170,1 triệu thuê bao,
tăng 35,4% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 16,4 triệu thuê bao cố định, tăng 5,1% và
153,7 triệu thuê bao di động, tăng 39,8%. Số thuê bao Internet cả nước có đến cuối tháng 12/2010
đạt 3,77 triệu thuê bao, tăng 27,4% so với cùng thời điểm năm trước. Số người sử dụng Internet
tính đến cuối năm 2010 ước tính 27,4 triệu lượt người, tăng 20,2% so với cùng thời điểm năm
2009.
Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông năm 2010 ước tính đạt 138,8 nghìn tỷ đồng,
tăng 26,5% so với năm 2009, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 90 nghìn tỷ đồng,
tăng 26%. Số liệu của tổng cục thống kê cho thấy hoạt động viễn thông của nước ta đã có
những bước tăng trưởng đáng kể, doanh thu tăng, đóng góp vào nền kinh tế của nước nhà
(Nguồn : Tổng cục Thống kê Việt Nam />tabid=507&ItemID=10836)
Ngày 23.12.2010 tại hội nghị tổng kết quy hoạch phát triển viễn thông Việt Nam, ông Lê
Nam Thắng – thứ trưởng thường trực bộ Thông tin và Truyền thông, khẳng định trong giai
đoạn 5 năm thực hiện quy hoạch, ngành viễn thông Việt Nam đã có bước phát triển nhanh, trở
thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 30-40%.
Năm 2010, doanh thu toàn ngành viễn thông ước đạt 200.000 tỉ đồng.
Đến nay, tổng số thuê bao điện thoại đạt 162 triệu, trong đó thuê bao di động chiếm
91%; mật độ thuê bao điện thoại đạt 189 máy/100 dân; cả nước có 26 triệu người sử dụng
Internet, chiếm 31% dân số ; số thuê bao internet băng rộng đạt 3,7 triệu, chiếm 4,2%. Tuy
nhiên, cũng theo nhận định từ Bộ Thông tin - Truyền thông, bước sang 2011, tăng trưởng
ngành sẽ chậm lại, do thị trường đã bão hòa lại chịu sự quản lý chặt chẽ của cơ quan chức năng
( />Con số trên cho thấy sự tăng trưởng vượt bậc của ngành viễn thông trong nhưng năm qua
tuy nhiên vẫn còn đó rất nhiều những tồn tại cần được khắc phục. Trong đó doanh thu cụ thể từ
các hãng, các tập đoàn viễn thông như sau.
Năm 2010, Tập đoàn VNPT đạt doanh thu khoảng 102,95 tỷ đồng, trong đó, Mobifone đạt
doanh thu là 36,034 tỷ đồng, tăng 31,5% so với năm 2009 và chiếm tỷ trọng 35% tổng doanh
thu của VNPT. Năm 2011 Mobifone đặt mục tiêu lợi nhuận khoảng 6.160 tỷ đồng và doanh thu
39.000 tỷ đồng. ( />Đầu năm 2011 Viettel công bố kết quả kinh doanh năm 2010, tổng doanh thu của Viettel
đạt 91.561 tỷ đồng, bằng 117% kế hoạch năm và tăng 52% so với năm 2009. Lợi nhuận đạt
15.500 tỷ đồng, hoàn thành 135% kế hoạch, tăng 52% so với năm 2009.
9
Cũng trong năm 2010, Viettel nộp ngân sách Nhà nước 7.628 tỷ đồng, đạt 111% kế hoạch,
tăng 45% so với năm 2009 và nộp ngân sách quốc phòng 215 tỷ đồng. Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu bình quân đạt 48,3%.
Viettel cho biết, năm 2010, hạ tầng mạng lưới của tập đoàn tiếp tục được đầu tư với quy
mô lớn. Tổng số trạm phát sóng là trên 42.200 (với trên 16.300 trạm 2G và 3G), chiếm 45%
trong tổng số trạm hiện có của 7 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin di động của Việt
Nam. Với số trạm này, Viettel đảm bảo mỗi xã trên cả nước có ít nhất 1 trạm phát sóng của
Viettel.
Viettel dự kiến đạt 91.134 tỷ đồng, tăng trưởng 50% so với năm 2009. Công ty cổ phần
dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) đạt doanh thu 1.165 tỷ đồng. Theo thống kê hiện
cả nước hiện có 162,88 triệu thuê bao điện thoại, trong đó di động chiếm 91,2%...
( />2. Thực trạng thị trường viễn thông Việt Nam
Thị trường viễn thông Việt Nam năm qua đã có nhiều bước phát triển, năm 2010 được coi
là năm được mùa của thị trường viễn thông khi các dịch vụ viễn thông phát triển mạnh, doanh
thu của các công ty viễn thông tăng nhanh. Ngành viễn thông Việt Nam đạt doanh thu hơn
226.000 tỉ đồng trong năm 2010, trong đó chỉ riêng VNPT và Viettel đã chiếm đến 85%, tương
đương mức khoảng 193.000 tỉ đồng. ( />Kết thúc năm 2010, toàn Việt Nam đã có tới hơn 160 triệu thuê bao thuộc 7 doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ khác nhau bao gồm: VinaPhone, MobiFone, Viettel, S-Fone, EVN Telecom,
Vietnamobile và Beeline. Tuy nhiên, chiếm tới hơn 80% thị phần di động thuộc về ba “đại gia”
là VinaPhone, MobiFone và Viettel. Số còn lại chia cho S-Fone, EVN Telecom, Vietnamobile
và Beeline. Về thị trường viễn thông di động VinaPhone nắm giữ 32,3%, MobiFone nắm
27,8%; Viettel nắm 33,2%. Còn về thị trường điện thoại cố định, VNPT đang chiếm đến hơn
80% thị phần
Cuộc cạnh tranh giành thị phần cũng chủ yếu diễn ra với những doanh nghiệp chiếm thị
phần lớn này. Cạnh tranh thị trường viễn thông Việt Nam lâu nay chủ yếu là cạnh tranh bằng
giá, bằng khuyến mãi mà ít quan tâm tới công tác chăm sóc khách hàng và chất lượng dịch vụ.
Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp chỉ quan tâm tới lợi ích của chính doanh nghiệp
mình mà ít có sự quan tâm tới lợi ích chung của quốc gia cũng như của các doanh nghiệp khác.
Chính vì vậy, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông ra nước ngoài còn hạn chế.
Cùng với đó, các cơ quan quản lý cạnh tranh lại chưa có các chế tại quản lý, giám sát và xử lý
đủ mạnh với các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp mà chủ yếu nếu có vấn đề gì xảy ra, tự
các doanh nghiệp phải tìm các giải quyết với nhau.
Khi thị trường viễn thông dường như đã bão hoà các dịch vụ truyền thống thì các dịch vụ
băng rộng trở thành một lợi thế cạnh tranh giành thị phần cho các hãng. Năm 2010 có thể gọi là
10
năm lên ngôi của các dịch vụ băng rộng mà cụ thể là 3G mở ra cho các hãng viễn thông những
lợi thế mới mang về nguồn doanh thu lớn cho các hãng cung cấp dịch vụ này trong năm 2010
vừa qua. Cụ thể là :
Tuy nhiên dù là các dịch vụ truyền thống hay các dịch vụ mới được cung cấp thì lợi thế
vẫn năm đa phần trong các doanh nghiệp chiếm thị phần lớn, các doanh nghiệp nhỏ vẫn chưa
tìm ra cho họ các lợi thế riêng biệt để cạnh tranh với các hãng viễn thông khác vốn dĩ đã có
tiềm lực tốt về cơ sở hạ tầng và khách hàng. Bên cạnh đó nhà nước lại chưa có một chính sách
hữu hiệu nào để tạo điều kiện nâng đỡ các doanh nghiệp mới phát triển, làm cho môi trường
đầu tư và tài nguyên cho các doanh nghiệp mới khai thác trở nên ít ỏi. Vì vậy, tốc độ phát triển
thuê bao tại nhiều tỉnh thành bị chậm do quỹ tần số không đủ để cung ứng trong thời gian đầu.
Trong khi đó nhu cầu của thị trường ngày càng cao, khách hàng ngày càng khó tính hơn
trong việc lựa chọn sử dụng các dịch vụ chất lượng tốt, giá thành rẻ, sự nỗ lực của EVN
Telecom chưa đáp ứng được những yêu cầu chất lượng dịch vụ của khách hàng, thêm một lý do
mà EVN Telecom đưa ra là do tốc độ xây dựng cơ bản chậm do có quá nhiều thủ tục quy trình
xây dựng không thể bỏ qua.
Thị trường viễn thông Việt Nam còn tồn tại rất nhiều bất cập, để có sự minh bạch hoá thị
trường hay cạnh tranh lành mạnh của các hãng trong thị trường, nhà nước cần có một chế tài
hợp lý để quản lý hoạt động của thị trường mang lại hiệu quả cao nhất cho nền kinh tế.
3. Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam
3.1.Điểm mạnh:
- Thị trường di động cạnh tranh nhiều hơn khi có các hãng mới tham gia vào thị trường
như EVN telecom, HT telecom với nhiều dịch vụ và tiện ích mới.
- Thị trường viễn thông Việt Nam còn rất nhiều lợi thế chưa được khai thác, đây vẫn là thị
trường tiềm năng cho các doanh nghiệp trong những năm tiếp theo.
- Sự tăng trưởng nhanh của các thuê bao di động, internet cũng như các dịch vụ đi kèm là
một lợi thế rất lớn cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường này.
- Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ băng rộng trong những năm gần
đây mang lại cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường truyền thông nhiều hướng để phát
triển cũng như đa dạng hoá các dịch vụ để đáp ứng được nhu cầu ngày một nhiều của khách
hàng.
- Việc gia nhập WTO cũng là một thế mạnh lớn cho thị trường viễn thông Việt Nam các
năm tiếp theo, khi việc gia nhập WTO giúp Việt Nam hội nhập với thế giới, những trào lưu sử
dụng di động cũng như internet phát triển nhanh và mạnh, thêm vào đó việc thu hút nguồn vốn
đầu tư nước ngoài dễ dàng hơn, các hàng rào phi thương mại, thị trường minh bạch, hành lang
pháp lý thông thoáng hơn.
3.2. Điểm yếu:
11
- Lĩnh vực dịch vụ cố định vẫn chủ yếu là độc quyền do một công ty nắm giữ, điện thoại
cố định đa phần được phát triển bởi VNPT, các hãng khác cũng có tham gia vào thị trường này
tuy nhiên thị phần còn rất thấp;
- Dịch vụ viễn thông đã khá phổ biến tại khu vực thành thị, nhưng nhiều vùng nông thôn
vẫn chưa tiếp cận được với các dịch vụ viễn thông này, khi cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư
đồng bộ tại nông thôn và vùng sâu vùng xa.
3.3. Cơ hội:
- Cạnh tranh gia tăng trên thị trường di động sẽ thúc đẩy tăng trưởng toàn thị trường viễn
thông.
- Tốc độ tăng trưởng thị trường băng rộng là rất nhanh trong những năm gần đây, chính
phủ đang thực hiện tự do hoá ngành viễn thông, tạo điều kiện tham gia cho các tập đoàn viễn
thông lớn.
3.4. Nguy cơ:
- Nhiều vùng, địa phương của Việt Nam có địa hình hiểm trở, rất khó để triển khai dịch vụ
viễn thông. Làm cản trở việc phát triển mạng cố đinh, di động và Internet;
- Chưa có sự quản lý thị đúng đắn nên các hoạt động của thị trường chưa có tính minh
bạch cao, tỷ lệ thuê bao di động ngừng hoạt động không quản lý gây tổn thất nhiều cho các
hang.
- Sự gia tăng cạnh tranh có thể dẫn đến chiến tranh về giá cước, quá đó có thể làm giảm
nghiêm trọng chất lượng dịch vụ.
III:CÁC GẢI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNGVIỄN THÔNG VIỆT NAM
1. Đối với Chính phủ:
- Xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước về viễn thông, tạo điều kiện tốt cho các hoạt động
trên thị trường viễn thông, bên cạnh đó cần có một môi trường pháp lý thuận lợi để khuyến
khích thúc đẩy thị trường viễn thông phát triển.
- Tăng cường nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phục vụ cho phát triển Viễn thông.
- Tiếp tục khuyến khích thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực dịch
vụ Viễn thông, bên cạnh đó cần thúc đẩy hơn nữa đầu tư trong nước.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có kỹ thuật chuyên môn lành nghề làm chủ công
nghệ, kỹ thuật hiện đại, có trình độ kiến thức về quản lý nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần trong môi trường mở quốc tế hoá.
2. Đối với doanh nghiệp
- Đánh giá đúng về việc tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông.
- Các doanh nghiệp cấn có sự nhìn nhận đúng đắn về thị trường để có hướng phát triển
cho doanh nghiệp mình phù hợp với nhu cầu của thị trường.
- Đối với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cần:
+ Thành lập các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công ích.
12
+ Tách Bưu chính hoạt động độc lập với Viễn thông.
- Đối với các doanh nghiệp còn lại: Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
mình và huy động các thành phần kinh tế tham gia vào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình sách Kinh tế quản lý - Chương trình đào tạo thạc sỹ Quản trị kinh doanh quốc
tế, Griggs University
Giáo trình Nguyên lý Kinh tế học vi mô do PGS.TS Vũ Kim Dũng làm chủ biên
Sách trắng Công nghệ Thông tin và Truyền Thông Việt Nam 2010
Các trang web
www.doanhnhan.net
www.cafef.vn
www.tin247.com
www.3ce.vn
www.thongtincongnghe.com
13