PHÂN TÍCH KINH TẾ QUẬN SƠN TRÀ –TP ĐÀ NẴNG.
Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định (thường là năm, quý).
Chỉ tiêu thường được sử dụng để đo lường kết quả đầu ra hoạt động của kinh tế là
giá trị sản xuất (GO).
Tổng giá trị sản xuất (GO): Chỉ tiêu này được xác định bằng tổng cộng giá trị sản
xuất của từng ngành kinh tế, thành phấn
kinh tế.
Giá trị sản xuất GO = GDP+ chi phí trung gian
Quy mô nền kinh tế
Tỷ lệ phần trăm tăng trưởng
Năm
Tổng
Tốc độ
tăngtrưởng(%)
2010
7.050.47
5
2011
8.456.370
2012
8.815.99
1
2013
11.626.11
8
2014
12.687.32
0
2015
13.783.91
4
19,94043
4,25266
31,87534
9,12774
8,64323
- Giá trị sản xuất năm 2011 tăng mạnh so với năm 2010, từ 7.050.475 triệu đồng
năm 2010 lên 8.456.370 triệu đồng năm 2011, tăng 1.405.475 triệu đồng với tốc
độ tăng trưởng 19,94043%. Sau đó, tăng chậm lại vào năm 2012 giá trị sản xuất
đạt 8.815.991 triệu đồng, tăng 359.621 triệu đồng so với năm 2011, với tốc độ
tăng trưởng 4,25266%, và tăng rất nhanh vào năm 2013 với tốc độ tăng trưởng
31,87534%. Năm 2014 và 2015 giá trị sản xuất tăng chậm lại với tốc độ tăng
trưởng lần lượt là 9,12774% và 8,64323% .
- Nhìn chung, giai đoạn 2010-2014 giá trị sản xuất tăng, từ 7.050.475 triệu đồng
năm 2010 lên 13.783.914 triệu đồng vào năm 2015, tăng 6.733.439 triệu đồng
với tốc độ tăng trưởng bình quân cao, đạt 14,76788%. Tuy nhiên, mức độ tăng
trưởng không ổn định, có lúc tăng trưởng chậm (năm 2012), có lúc tăng trưởng
rất nhanh (năm 2013)
Kết luận: Tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng nhưng đang chậm lại, tốc độ
tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng bình quân cả thời kì cao, nhưng tăng trưởng
ít ổn định.
Vai trò đối với nền kinh tế của quận so với thành phố.
Năm
Giá trị sản xuất GO
Giá trị sản xuất GO
Tỷ lệ
2010
2011
2012
2013
2014
2015
(Sơn Trà)
7785
11038
12058
15542
17640
19539
( TP Đà Nẵng)
(%)
122959
132014
14,3
14,8
Nhận xét: Giá trị sản xuất của quận chiếm tỷ trọng ở mức trung bình so với các quận
khác không có sự nổi trội lớn trong tổng GO của thành phố.
Cấu trúc nền kinh tế:
Cơ cấu kinh tế theo ngành
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế quận Sơn Trà
2010
2011
2012
2013
2014
2015
CN – XD (%)
44.7
49.3
46.8
50.3
50.0
47.1
Dịch vụ (%)
47.1
42.9
45.1
43.6
43.8
45.2
Nông lâm thủy sản
(%)
8.2
7.8
8.1
6.2
6.2
7.7
Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế quận Sơn Trà từ năm 2010 – 2015
Nhận xết: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch không đều. Tuy nhiên, xu hướng biến động
phù hợp cho sự phát triển của quận, ngành nông nghiệp , thủy sản chiếm tỷ trọng thấp
và đang có xu hướng giảm dần qua các năm, các ngành dịch vụ và đặc biệt là nghành
CN – DV chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu kinh tế.
Năm 2015, nghành CN – XD và dịch vụ đóng vai trò chủ đạotrong cơ cấu kinh tế
Từ năm 2010 – 2015:Tỷ trọng ngành CN-XD có xu hướng tăng đến năm 2015
thì giảm, nhưng không đáng kể
Tỷ trọng ngành dịch vụ vẫn ổn định, thay đổi không đáng kể qua các năm
Tỷ trọng ngành thủy sản giảm đều từ 2010 – 2014, đến 2015 tăng lên lại chiếm
7,7%
Kết luận: Tăng đều và ổn định qua các năm, xu hướng biến động phù hợp cho sự
phát triển của quận, ngành thủy sản chiếm tỷ trọng thấp và đang có xu hướng
giảm dần qua các năm, các ngành công nghiệp và đặc biệt là dịch vụ chiếm tỷ
trọng rất cao trong cơ cấu kinh tế
Điểm mạnh
Điểm yếu
Nhìn chung cơ cấu kinh tế chuyển
-Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng
hướng, phù hợp với quá trình đẩy dịch không đều
mạnh CNH, HĐH.Tăng tỷ trọng nhóm
Tỷ trọng ngành công nghiệp giảm
ngành thương mại-dịch vụ, công mạnh vào năm 2014. Tỷ trọng ngành
nghiệp-xây dựng, giảm dần tỷ trọng dịch vụ biến động phức tạp, khó dự
ngành nông-lâm thủy sản
đoán
Giá trị GO của từng nghành.
đơnvị(tỷ đồng)
Nghành
Nông lâm nghiệp –
thủy sản
CN – XD
Dịch vụ
2010
588
2011
784
2012
888
2013
891
2014
1017
2015
1356
3800
3403
5828
4426
6001
5169
8140
6611
9126
7497
9392
8791
Nhận xét: Nhìn chung, giá trị sản xuất của các ngành đều tăng qua các năm. Riêng
công nghiệp nghiệp xây dựng tăng mạnh. Củ thể, từ 2010 ngành CN-XD chiếm 3800
tỷ đồng, đến năm 2015 tăng lên đến 9392 tỷ đồng, gấp 2,5 lần.
Gía trị sản xuất của ngành CN-XD và dịch vụ luôn cao hơn so với ngành nông lâm
thủy sản, và có sự cách biệt càng lớn qua các năm. Cụ thể, đến năm 2015, giá trị sản
xuất ngành nông lâm thủy sạn bằng 1/7 lần công nghiệp xây dựng và bẳng 1/6.5 lần
ngành dịch vụ.
Ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ mang tính quyết đinh sự phát triển
kinh tế của quận.
Cơ cấu lao động và giá trị sản xuất theo nghành kinh tế (2010-2014)
Nông – lâm – ngư nghiệp
Phi nông – lâm – ngư nghiệp
Năm
Cơ cấu
Giá trị sảnxuất
Cơ cấu
Giá trị sảnxuất
2010
90,86%
465.223
9,04%
840.199
2011
90,53%
452.560
9,47%
659.588
2012
89,95%
462.574
10,05%
1.050.909
2013
90,44%
460.510
9,56%
1.136.452
2014
89,63%
605.000
10,37%
3.210.400
Nhận xét: Từ bảng trên ta thấy lao động khư vực nông lâm-ngư nghiệp chiếm đến
90% trong tổng số lao động của quận, trong khi lao động phi nông lâm- ngư nghiệp
chỉ chiếm 9- 10%.
Ta thấy giá trị sản xuất của lao động ngành phi nông nghiệp lại cao hơn nhiều lần so
với lao động ngành nông lâm, ngư nghiệp.
Nguồn lao động chủ yếu làm ở khư vực nông, lâm- ngư nghiệp có trị sản xuất rất thấp,
đây là vấn đề đáng lưu ý của quận, cần chú trọng vào quá trình đào tạo nguồn lao
động khu vực phi nông lâm- ngư nghiệp.
Hiệu quả hay không: nguồn lao động sử dụng chưa được hiệu quả: có đến
90% làm trong khư vực nông lâm , thủy sản chỉ tạo ra giá trị thấp hơn
nhiều so với lượng lao động ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ, chỉ
chiếm 10% lực lượng lao động nhưng lại tạo ra giá trị gấp hơn 2 lần so với
lao động ngành nông lâm- ngư nghiệp.
Cớ cấu theo vốn:
Tăng trưởng cuả các nghành
Bảng giá trị GO của từng nghành so với GO chung của quận.
Sơn Trà
Đà Nẵng
2014
2015
19539
1356
Tỷ lệ
2014
(%)
14,3
36,1
Tỷ lệ
2015
(%)
14,8
46,1
Tổng
Nông lâm nghiệp
– thủy sản
CN – XD
Dịch vụ
17640
1017
9126
7497
9392
8791
13,6
14,1
13,2
15,2
Tổng
Nông lâm nghiệp
– thủy sản
CN – XD
Dịch vụ
122959
2799
132014
2936
100
100
100
100
67037
53087
71162
57915
100
100
100
100
Nhận xét:
Từ bảng trên ta thấy giá trị GO của nghành CN – XD chiếm tỷ trọng lớn nhất sau đó
là nghành dịch vụ và nghành nông lâm nghiệp thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất.
Nghành CN – XD và dịch vụ là nghành mũi nhọn mà quận chú trọng phát triển.
Do giáp biển và diện tích rường khá lớn ngành nông lân thủy sản của quận chiếm tỷ lệ
khá cao trong thành phố và có xu hướng tăng, do có diện tích rừng khá lớn và trữ
lượng hải sản lớn, nguồn lao động đánh bắt nuôi trông thủy sản nên giá trị sản lượng
lớn hơn so với các quận trong thếm tỷ trọng cao trong thành phố: 36,1%
Điểm mạnh
Điểm yếu
Ngành công nghiệp xây dựng và
Tuy dịch vụ là ngành quyết định
dịch vụ tạo ra giá trị sản xuất khá cao, của quận nhưng tỷ trọng còn thấp
CN-XD gấp 7,5 lần, dịch vụ 6,5 lần
trong giá trị sản xuất của thành phố.
Hiệu quả sử dụng các nguồn lực
Vốn:
Bảng 4: Nguồn vốn của quận Sơn Trà
Năm
Tổng số vốn
đầu tư
Sơn Trà
Tổng GO
Sơn Trà
( GO –
Vốn)/GO
Tổng số lao
động có việc
làm
2011
2012
2013
Đơn vị: tỷ đồng
2014
2015
6016
7196
8467
9962
Đà Nẵng
11038
12058
15542
0,45
0,4
0,46
84119
86752
90078
11.720
35040
36832
17640
19539
0,44
0,4
93395
97373
Nhận xét:
-
-
Tổng nguồn vốn đầu tư của quận chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư
của Đà Nẵng : năm 2014 là 25.312 tỉ đồng ( chiếm tới 28,43%) ; năm 2015 là
28.209 tỉ đồng ( chiếm 31,8%).
Tổng vốn đầu tư đều có giá trị thấp hơn so với GO qua các năm. Vậy là đầu tư
có hiệu quả.
Ta thấy : trung bình cứ 0,4 vốn đầu tư sẽ tạo ra 1 giá trị GO. Vậy nguồn vốn
đầu tư được sử dụng một cách hiệu quả .
Số lao động được tạo việc làm.
Năm
2011
2012
2013
2014
Tổng số vốn Sơn Trà
6.016
đầu tư
Tổng số lao động có việc 84119
làm
Số lao động/vốn
14
7.196
8.467
9.962
Nhận xét :
86752
90078
12
10,6
2015
11.720
93395
97373
9,4
8,3
-
Qua bảng ta thấy cứ 1 đơn vị vốn tạo ra khoảng 10,86 lao động, vậy là đầu tư
vốn vào nguồn lao động là có hiệu quả. Tuy nhiên lại giảm dần qua các năm.
8. cơ sở hạ tầng.
-
Các khu dân cư không chỉ phát triển về quy mô, diện tích mà đã được nâng cao
nhiều hơn về chất lượng hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã
hội và dịch vụ công cộng, góp phần từng bước hình thành hệ thống đô thị hiện
đại. Nhìn tổng thể, một diện tích khá lớn đất chuyển đổi mục đích sử dụng để
xây dựng các khu dân cư mới, phục vụ công tác tái định cư đã phần nào đáp
ứng nhu cầu sử dụng đất của người dân về nhà ở. Các trường học được nâng
cấp cải tạo, đảm bảo tốt cho việc dạy và học từ trường Mầm non cho đến
trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.
Trên địa bàn quận có 3 cảng chính:
- Cảng Tiên Sa: Tổng số chiều dài cầu bến là 897 mét. Trong đó có 2 cầu nhô (4
bến) và 01 cầu liền bờ trọng lực với độ sâu cầu bến là -11 mét (chưa kể thủy triều).
Cảng có tổng diện tích bãi chứa hàng là 115.000 m 2 và tổng diện tích kho chứa hàng là
20.290 m2. Là điểm cuối trên hành lang kinh tế Đông - Tây, cũng là một trong ba cảng
biển chính của cả nước. Công suất hiện khoảng 3,5 triệu tấn/năm.
- Cảng dầu Mỹ Khê: cung cấp dầu qua hệ thống ống mềm và ống thép chạy ven bờ
biển Mỹ Khê vào kho dự trữ chính ở Mỹ Khê để cung cấp dầu cho Đà Nẵng và vùng phụ
cận.
- Cảng X.50 hải quân: đây là cảng nhập dầu và sửa chữa tàu thuyền.
* Mạng lưới giao thông
- Đường bộ: Trong những năm qua, hệ thống giao thông đường bộ trên địa
bàn quận Sơn Trà đã được đầu tư nâng cấp, hầu hết các trục giao thông quan trọng
như: đường Ngô Quyền-Yết Kiêu, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Công Trứ, Võ
Nguyên Giáp, Hoàng Sa, Trần Hưng Đạo, Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt đã đưa
vào khai thác có hiệu quả. Ngoài ra, còn phát triển mạng lưới giao thông trong các
khu dân cư, bảo đảm an sinh và đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
-
- Đường sông: Sông Hàn chảy qua địa phận quận, ngăn cách quận với khu
trung tâm thành phố. Sông Hàn đóng vai trò vận tải thủy chủ yếu từ cửa sông
đến cầu Nguyễn Văn Trỗi cho các tàu có trọng tải dưới 3.000 tấn.
-
Các khu dân cư không chỉ phát triển về quy mô, diện tích mà đã được nâng cao
nhiều hơn về chất lượng hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã
hội và dịch vụ công cộng, góp phần từng bước hình thành hệ thống đô thị hiện
đại. Nhìn tổng thể, một diện tích khá lớn đất chuyển đổi mục đích sử dụng để
xây dựng các khu dân cư mới, phục vụ công tác tái định cư đã phần nào đáp
ứng nhu cầu sử dụng đất của người dân về nhà ở. Các trường học được nâng
cấp cải tạo, đảm bảo tốt cho việc dạy và học từ trường Mầm non cho đến
trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.