Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (175.52 KB, 14 trang )

I. Tổng quan chung:
1. Khái niệm:

Phát triển kinh tế chính là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt kinh tế - xã hội của một quốc
gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế dài hạn là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về kinh tế-xã hội, nhất là ở các
nước đang phát triển thu nhập thấp.
Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần. Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế không gắn với sự
thúc đẩy cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng
lực nội sinh của nền kinh tế, sẽ không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Nếu phương thức tăng trương kinh tế
chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, cho vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng
kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khoét sâu vào bất bình đẳng xã hội
II. Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế:
- Về quản lý kinh tế:

Nhà nước tạo môi trường đầu tư an toàn, minh bạch, thuận lợi và bình đẳng bảo đảm sự ổn định
Định hướng, dẫn dắt và hỗ thông qua chiến lược, kế hoạch, các chính sách kinh tế sử dụng có
trọng điểm các nguồn lực, khai thông quan hệ kinh tế…
Hoạch định bảo đảm sự thống nhất
Kiểm tra và kiểm soát hoạt động trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi
trường, trật tự kỷ cương của nền kinh tế
- Về công cụ luật pháp:
Nhà nước quản lý trên cơ sở luật pháp, các văn bản dưới luật rõ ràng, đồng bộ, thực tế, ổn định và
phù hợp với luật pháp kinh tế quốc tế.
- Về công cụ chiến lược, kế hoạch, chương trình kinh tế - xã hội : Nhà nước định hướng cho các
doanh nghiệp hoạt động cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch
- Về công cụ các chính sách tài chính - tiền tệ - giá cả. Nhà nước nắm các công cụ này, sử dụng linh
hoạt các hình thức biện pháp tài chính, tiền tệ, giá cả để điều tiết thị trường, tác động vào các giai
đoạn và thời kỳ phát triển của nền kinh tế, nhằm đảm bảo kích thích tăng trưởng nhanh và phát triển
bền vững.


Ở HÀN QUỐC:
Hàn Quốc là một quốc gia thuộc khu vực Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên, phía bắc
giáp với Bắc Triều Tiên, phía đông giáp với biển Nhật Bản, phía tây giáp biển, có khí hậu ôn đới và địa
hình chủ yếu là đồi núi với diện tích khoảng 100,032 km vuông, dân số là 48 triệu người
1. Chính sách phát triển công nghiệp:

Là một trong những nước có xuất phát điểm khi giành độc được độc lập (1948) khá thấp như các
nước Châu Á khác
Trước năm 1948 Hàn Quốc là thuộc địa của Nhật Bản.
Sau năm 1948 Hàn Quốc là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, thu nhập quốc dân đầu
người dưới 100 USD (GNP/đầu người). Vào thập kỷ 50 của thế kỷ XX, Hàn Quốc một mặt phải chịu 3
năm chiến tranh (1950 - 1953), mặt khác đất nước chưa có chiến lược phát triển kinh tế rõ ràng, về cơ bản
tồn tại nhờ viện trợ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nước ngoài.
Bắt đầu từ năm 1962, sau khi Tổng thống Pắc Chung Hy lên cầm quyền, Hàn Quốc mới bắt đầu có
chiến lược phát triển công nghiệp rõ ràng thông qua một loạt kế hoạch 5 năm. Chính sách phát triển công
nghiệp của Hàn Quốc được chia thành các giai đoạn khác nhau.


a) Thời kỳ phát triển công nghiệp nhẹ hướng về xuất khẩu (thập kỷ 60 của thế kỷ XX):

GĐ1: 1953-1962:
-

Chi 100 triệu USD rút ra từ tiền viện trợ để thi hành phổ cập giáo dục trong toàn
dân và con số ko ngừng tăng năm 1954 là 375 triệu won, 1957 3217 triệu won,
1960 6237 triệu won. Thành tựu đạt được trong giáo dục đào tạo mang ý nghĩa
chính trị nhiều hơn, còn tác động trực tiếp đến sản xuất vẫn còn hạn chế
 Nhìn chung kết quả đạt được còn ở mức thấp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình
quân hằng năm 3,7%. Xuất khẩu không đáng kể chỉ đạt 1% tổng thu nhập quốc
dân. Thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp năm 1953 là 67USD năm

1962 là 87USD
GĐ2: 1962-1971:

-

-

5 năm đầu phát triển theo chiến lược hướng nội với cốt lõi là thay thế nhập khẩu :
chiến lược làm đất nước có dấu hiệu bắt đầu khởi sắc. Những công ty sản xuất
thay thế hàng nhập khẩu tìm kiếm được bạn hàng trong nước, mời tư bản nước
ngoài vào liên doanh hợp. Tổ chức sản xuất theo kiểu quan hệ trung tâm với ngoại
vi, nghĩa là duy trì một số ít cơ sở sản xuất những bộ phận chủ yếu và một số
mạng lưới nhỏ cơ sở chân rét ( dưới hình thức tư nhân, gia công tại nhà) để tạo ra
những cấu kiện phụ
 Tuy vậy do thiếu tài nguyên thiên nhiên cộng với thị trường trong nước nhỏ bé
mọi số liệu đều dậm chân tại chỗ
5 năm tiếp theo chyển sang chú trọng ngoại thương: Thúc đẩy các nghành sản
xuất, chế biến xuất khẩu, sử dụng nhiều nhân ông mà HQ có lợi thế tương đối thực
hiện hiện đại hóa
 Mức tăng trưởng GDP lúc này 6,3%, tăng trưởng thương mại 8,4%( tăng từ
6,3%). Nguồn vốn đã lên 2,5 tỷ USD chủ yếu = vốn vay tạo niềm tin cho thị
trường nội địa sau này. Chính phủ HQ đa dạng hóa hệ thống tài chính ( ngoài
ngân hàng NN còn cho phép thành lập các tổ chức tài chính phi ngân hàng như
cty bảo hiểm tổ chức ủy thác các cty tài chính ngắn hạn và các thị trường
chứng khoán.

b) Thời kỳ chuyển sang trọng tâm đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng và công

nghiệp hoá dầu:
Sau 10 năm phát triển công nghiệp nhẹ, thu nhập quốc dân đầu người của Hàn

Quốc đạt mức 2000-3000USD.
Chính phủ đã vạch ra các kế hoạch 5 năm (lần 3, lần 4) định rõ các ngành chiến
lược và đổ nguồn vốn ưu đãi vào đây khá lớn. Đồng thời thi hành chính sách bảo hộ cho
các doanh nghiệp trong các ngành chiến lược(giảm giá đồng won, bảo hộ thị trường trong
nước, quản lý chặt chẽ ngoại hối)
các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo ôtô, sản xuất xăng dầu của
Hàn Quốc đã hình thành, có sản phẩm xuất khẩu sang thị trường nhiều nước phát


2


triển và đang phát triển( sản phẩm công nghiệp của Hàn Quốc dù không tốt bằng
của Nhật Bản nhưng rẻ hơn nhiều nên có thể vào thị trường Châu Âu và Mỹ).
Trong những năm 1970 đến 1980, tập trung vào ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô.
POSCO, một công ty sản xuất thép, được thành lập trong vòng gần 3 năm, là một xương
sống đầu tiên cho nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm tiếp theo. Ngày nay, POSCO là
nhà sản xuất thép đứng thứ 3 trên thế giới. Hàn Quốc là nước đóng tầu lớn nhất trên thế
giới với các công ty hoạt động đa quốc gia như Hyundai Heavy Industries và Samsung
Heavy Industries luôn thống trị thị trường đóng tầu toàn cầu. Ngành sản xuất ô tô cũng
phát triển một cách nhanh chóng, đang cố gắng để trở thành một trong những nước đứng
đầu thế giới, điển hình là Hyundai Kia Automotive Group, đưa Hàn Quốc thành nước
đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất ô tô.
c) Thời kỳ những năm 80 và 90 của thế kỷ XX: chuyển hướng trọng tâm sang các ngành

công nghiệp có kỹ thuật cao:
Thời kỳ này, Hàn Quốc đã xây dựng thành công 13 khu công nghiệp trong cả
nước
Vào năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của OECD, trở thành một nền kinh
tế phát triển tập trung vào phát triển ngành dịch vụ.

Từ năm 1962 đến 2008, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hàn Quốc tăng từ 2,3
tỷ USD lên tới 928,7 tỷ USD, tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng
vọt từ 87 USD lên khoảng 19.231 USD. Đời sống của nhân dân được nâng cao rất nhanh
trở nên ngang bằng thậm chí cao hơn các quốc gia phát triển khác ở châu Âu và các nước
Bắc Mỹ.
Đến cuối năm 2011, Thu nhập bình quân đầu người tại Hàn Quốc đạt 31.750 USD,
trong khi đó con số này tại EU ở mức 31.550USD/người,. Cũng trong năm 2011, kim
ngạch thương mại của Hàn Quốc đạt mức 1.080 tỷ USD, đứng thứ 8 thế giới về xuất
khẩu.
Năm 2014, Hàn Quốc đã đạt mức kỷ lục về khối lượng mậu dịch, xuất khẩu và
thặng dư tài khoản mậu dịch trong hai năm liên tiếp
Năm 2015 Do bị ảnh hưởng nặng nề của Hội chứng hô hấp vùng Trung Đông
(MERS) Chính phủ Hàn Quốc đã tung ra gói kích thích trị giá 15.000 tỷ won (khoảng
13,5 tỷ USD) để hỗ trợ nền kinh tế do dịch bệnh này đã làm giảm mạnh mức chi tiêu của
người dân và ảnh hưởng nặng nề đến nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là du lịch.
2016 Trước tiên, cuộc đình công của công đoàn công ty ô tô Hyundai đã khiến quá
trình sản xuất và xuất khẩu ô tô của quốc gia bị gián đoạn. Tiếp đến, siêu phẩm
smartphone mới nhất Galaxy Note 7 của công ty điện tử Samsung đã bị ngừng bán và bị
thu hồi chỉ sau hai tháng ra mắt do liên tiếp gặp phải sự cố cháy nổ pin tác động không
nhỏ đến nền kinh tế của Hàn Quốc. Hệ thống kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào các tập
đoàn lớnlàm ảnh hưởng đối với nền kinh tế Hàn Quốc của hai tập đoàn hàng đầu là Ô tô
Hyundai và Điện tử Samsung.
3


Tuy nhiên hiện nay, Hàn Quốc đứng trong top các nước có nền kinh tế sáng tạo
nhất TG
2. Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn:
a) Tổ chức lưu thông nông sản cho nông dân:


Tổ chức hợp tác xã ở từng địa phương giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm giúp Chính phủ
có cơ chế hỗ trợ giá cho nông dân thông qua hình thức bảo hộ thị trường nông sản trong
nước để nông dân bán với giá cao, hỗ trợ nông dân nghiên cứu thị trường, điều chỉnh cơ
cấu sản phẩm và áp dụng kỹ thuật cao về giống, về bảo quản, đóng gói sản phẩm. Chính
sách tiêu thụ này rất có hiệu quả do chỗ Nhà nước ủng hộ để các hợp tác xã có độc quyền
bán buôn nông sản.
Gần đây Chính phủ cho phép các công ty về tận nông thôn thu gom sản phẩm.
Nhưng hình thức này chưa thể cạnh tranh với các hợp tác xã do chi phí thu gom, vận
chuyển của các công ty khá cao.
Ngoài ra Chính phủ cũng tổ chức các chợ đấu giá nông sản để hỗ trợ nông dân tiêu
thụ hàng hoá.
b) Phong trào làng mới:

Thực chất đây là chính sách xây dựng nông thôn mới của Chính phủ Hàn Quốc.
Chính sách này dựa trên hai mặt:
Thứ nhất, Nhà nước hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng
Thứ hai, phát động ý chí làm giàu (cả bằng nghề nông lẫn bằng việc mở ra các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn).
 Tuy nhiên, phong trào xây dựng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn không

có sức sống (chỉ thành công nhất định ở thập kỷ 80), sau đó không duy trì được
vì không hấp dẫn thanh niên nông thôn.
Tiếp đó, Chính phủ phát động chủ trương xây dựng phong trào Saemaeul (còn gọi
là Saemaul Undong, phong trào cộng đồng cư dân mới ra đời). Saemaul Undong được
xây dựng trên 3 trụ cột đó là Chuyên cần – Tự giác – Hợp tác( đầu tư hạ tầng, sản xuất
chế biến tại chỗ cấp cho mỗi làng 300 bao xi măng). Kết quả là sau một thời gian ngắn,
có hơn 16.000 ngôi làng đã có những cải thiện rõ rệt về bộ mặt nông thôn.
Vào năm 1972, mức đầu tư của Chính phủ tăng lên 500 bao xi măng và 1 tấn sắt,
thép đẩy mạnh cơ sở đào tạo nghề nông, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, các loại giống
mới vào sản xuất như nấm, cây thuốc lá

 Vào năm 1974, thu nhập ở nông thôn vượt thu nhập ở thành phố. Đến năm

1979, 98% làng ở Hàn Quốc đã có thể tự lực kinh tế. Tinh thần Saemaul
Undong đã vượt biên giới làng quê nông thôn, lan tỏa đến thành phố.
3. Các Chaebols và sự điều hành kinh tế của Chính phủ:
4


Chaebols là một sự tập hợp khổng lồ các doanh nghiệp đóng vai trò làm cốt lõi của
nền kinh tế nước này mà người khổng lồ lớn nhất là Samsung( Samsung chính là nhà
thầu xây dựng tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa ở Dubai cao 828 mét. Samsung
cũng đóng tàu biển, có ngành hóa chất khá mạnh, và kinh doanh cả mảng bảo hiểm. Kế
đó là các tập đoàn đối thủ ngang ngửa như Hyundai và LG. )Khỏang 20 Chaebols gộp lại
tạo nên 80% GDP của HQ.
Thứ nhất là, sự thay đổi chiến lược hết sức linh hoạt của Chính phủ
Thứ hai, thực thi đường lối độc lập kinh tế thị trường một cách tích cực, hạn chế
đầu tư nước ngoài với quan điểm các ngành công nghiệp chủ chốt Hàn Quốc phải do
người Hàn Quốc nắm, đồng thời dám mạo hiểm vay vốn với quy mô lớn (hơn 50% tổng
tài sản doanh nghiệp) tài trợ cho công nghiệp.
Thứ ba, Chính phủ Hàn Quốc vạch ra chương trình công nghiệp hoá, chương trình
xuất khẩu, chương trình làng mới ở nông thôn...
Thứ tư , Chính phủ Hàn Quốc đã tỏ rõ quyết tâm khuyến khích doanh nghiệp và
thị trường giải quyết thông tin theo hướng có lợi nhất
4. Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài (FDI):

Trước khi khủng hoảng, chính sách công nghiệp chủ yếu dựa vào vốn vay nước
ngoài (vì thái độ không thiện cảm của người dân và Chính phủ Hàn Quốc đối với đầu tư
trực tiếp nước ngoài).
Sau khủng hoảng kinh tế tài chính (1997-1998), một mặt, Chính phủ Hàn Quốc đã mở
rộng khuyến khích đối với đầu tư nước ngoài ( Ban hành luật xúc tiến đầu tư nước ngoài; mở

rộng ưu đãi thuế cho đầu tư nước ngoài về thời gian (7 năm), về ngành nghề, lĩnh vực đầu tư,
về tỷ lệ chiếm giữ cổ phiếu...) thành lập cơ quan tư vấn đầu tư nước ngoài
5. Giáo dục cũng phát triển ấn tượng:

Mô hình giáo dục đại học của Hàn Quốc là một hỗn hợp giữa hai mô hình Đức và Mĩ.
Mô hình giáo dục đại học của Đức (mô hình Humboldt) nhấn mạnh đến tự do học thuật, đào
tạo những chuyên gia tinh hoa (elite), và cơ cấu khoa bảng rất "giai cấp". Mô hình của Mĩ mở
rộng đại học cho đại chúng, sinh viên phải đóng tiền, khuyến khích tư nhân, và hệ thống tín
chỉ.( Thật ra, trong những năm sau này, hệ thống giáo dục đại học của Hàn Quốc có mô hình
theo hệ thống của Mĩ gần như tuyệt đối).
Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích các đại học tư thục bằng cách chuyển đầu tư cho
giáo dục trung học và tiểu học sang giáo dục đại học tư cho các đại học tư tự chủ về tài chính
và tuyền sinh
Kiểm soát chất lượng chặt chẽ:
Thứ nhất, phát triển hệ tiêu chuẩn để công nhận đại học và chương trình giảng dạy
(accreditation).
Thứ hai, dùng các chỉ tiêu về thành tựu trong đào tạo và nghiên cứu khoa học để cấp
ngân sách cho đại học.
5


Thứ ba, đầu tư vào nghiên cứu khoa học và dùng nghiên cứu khoa học làm thước đo để
cung cấp ngân sách cho các đại học

Ở Đài Loan:
Đài Loan là một hòn đảo có tổng diện tích 36.000km 2dân số ước 23,5 triệu người
cách bờ biển Đông Nam lục địa Trung Hoa khoảng 160km, được ngăn cách bởi tỉnh Phúc
Kiến của Trung Quốc bởi eo biển Đài Loan, cách Philipin 350 km về phía Nam, cách
Nhật Bản 1.070 km về phía Bắc. Tuy là hải đảo, nhưng 2/3 diện tích Đài Loan lại là đồi
núi cao và rừng cây rậm rạp

Đài Loan còn được mệnh danh là “con rồng châu Á” với nền kinh tế phát triển vào hàng
bậc nhất ở khu vực châu Á.
-

Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, nền kinh tế - xã hội Đài Loan lâm vào tình
trạng vô cùng rối ren, bế tắc. Sản xuất đình đốn, hàng hoá khan hiếm, lạm phát với
tốc độ “ngựa đứt dây cương”, nạn tham nhũng, tiêu cực, trộm cắp hoành hành
nghiêm trọng trong xã hội.

-

Sau này, Phát triển mạnh mẽ các ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thương mại kỹ
thuật điện tử hiện đại

-

CN hóa thặng dư thương mại

Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của Đài Loan trong thập kỷ 50 là 8%, thập
kỷ 60 là 9,1%, thập kỷ 70 là 10%, thập kỷ 80 là 8,1% và thập kỷ 90 (tính đến hết năm
2000) là 6,3%. mức thu nhập bình quân đầu người thuộc loại cao trên thế giới: 169
USD vào năm 1952 tăng lên 1.132 USD vào năm 1976 và đạt 14.216 USD vào năm
2000
1. Các chính sách, giải pháp trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
a) Chính sách tự do hoá kinh tế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô:
Thực thi chính sách tự do hóa kinh tế thị trường nhằm huy động các nguồn ( thông
qua cải cách chế độ tỷ giá, thực hiện chính sách thuế ưu đãi nới lỏng kiểm soát xuất nhập
khẩu)
Chính sách tự do mậu dịch.
Ngăn chặn chống lạm phát năm điều chỉnh giá cả hàng hóa và lao động trong

phạm vi cho phép.
b. Chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
6


- Về công nghiệp:
Những năm 1960, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, quy mô nhỏ
và kỹ thuật không đòi hỏi cao, chủ yếu là công nghiệp nhẹ và lắp ráp.
Đầu những năm 1970, phát triển công nghiệp có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, đồng
thời phát triển một số ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hoá chất nhằm sản xuất
nguyên liệu, máy móc và thiết bị thay cho nhập khẩu, các loại hình công nghiệp công
nghệ cao, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn.
- Về nông nghiệp, chính sách của Nhà nước tập trung phát triển một số loại sản phẩm
cây trồng, vật nuôi có năng suất cao để phục vụ xuất khẩu.
- Về khu vực dịch vụ, chính quyền Đài Loan khuyến khích phát triển những ngành
dịch vụ phục vụ sản xuất như vận tải, thông tin, dịch vụ tài chính, tiền tệ...nhằm điều
chỉnh cơ cấu dịch vụ theo hướng hiện đại hóa.
c. Chính sách huy động nguồn lực tài chính cho công nghiệp hoá:
- Đảm bảo cân đối ngân sách nhằm tập trung chi cho công nghiệp hoá:
Năm 1960, chi thường xuyên của Nhà nước chỉ chiếm 19% GDP. Với những
ngành công nghiệp mới đòi hỏi vốn lớn, nhiều rủi ro, Nhà nước có thể đầu tư toàn bộ
bằng nguồn vốn từ ngân sách hoặc góp cổ phần. Khi những ngành này phát triển, hoạt
động kinh doanh có hiệu quả thì Chính phủ dần bán lại cổ phần cho tư nhân để tập trung
cho các lĩnh vực khác.
- Chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân:
+ Ban hành hệ thống các văn bản pháp luật ( “ Điều lệ chuyển đổi doanh nghiệp Nhà
nước sang doanh nghiệp tư nhân”, “Quy định về khen thưởng đầu tư”). Nới lỏng các biện
pháp nhập khẩu (cho phép tự do nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và có chính
sách miễn hoặc giảm thuế đối với việc nhập khẩu các sản phẩm cần thiết phục vụ sản
xuất và các ngành xuất khẩu

+ Chính phủ khuyến khích thứ hiện mô hình cơ cấu công nghiệp hai tầng với tầng trên
là các xí nghiệp quy mô lớn, được trang bị kỹ thuật, công nghệ mới hiện đại có nhiệm vụ
đóng vai trò chủ lực đi đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tầng dưới là các xí
nghiệp quy mô nhỏ hoặc những xưởng nhỏ, thậm chí quy mô hộ gia đình nằm rải rác
khắp nơi, hoạt động như các vệ tinh có nhiệm vụ lắp ráp hoặc gia công những bộ phận
rời.
+ Nhà nước còn thực hiện những chính sách trợ cấp, chính sách tín dụng lãi suất thấp.

7


- Tăng cường huy động nguồn vốn từ các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống ngân hàng
và các trung gian tài chính:
+ chính sách lãi suất thực dương miễn thuế thu nhập đối với cá nhân có khoản thu
nhập từ lãi suất tiền gửi ngân hàng với thời hạn gửi hai năm.
+ Nhà nước tạo điều kiện cho sự ra đời của các tổ chức tài chính phi ngân hàng như
các công ty bảo hiểm, các công ty đầu tư uỷ thác, các công ty tài chính ngắn hạn... thực
hiện chức năng huy động vốn cho đầu tư phát triển.
- Chính sách thu hút nguồn vốn nước ngoài Đài Loan cũng chú ý khai thác nguồn vốn từ
nước ngoài bao gồm vốn viện trợ, vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp:
Cải thiện môi trường đầu tư thông qua việc ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ;
xây dựng các khu chế xuất; có chính sách đảm bảo đặc quyền và ưu đãi về thuế cho các
doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
d. Chính sách phát triển khoa học - công nghệ - chính sách nhập khẩu công
nghệ:
Đài Loan triển khai nhập khẩu các công nghệ cao để phát triển các ngành đòi hỏi
vốn và kỹ thuật nhiều hơn. Do vậy, công nghệ sản xuất của các ngành luyện kim, đóng
tàu, máy điện, viễn thông,… từng bước nâng cấp.
- Áp dụng chế độ thuế ưu đãi với các công ty nước ngoài đầu tư vào những ngành kỹ
thuật cao.

- Chú trọng nâng cao năng lực khoa học - công nghệ quốc gia. hỗ trợ khu vực kinh tế
tư nhân đầu tư nghiên cứu và triển khai (R&D). Xây dựng khu vực công nghiệp gần ITRI
để tạo điều kiện cho các kết quả nghiên cứu được thử nghiệm, ứng dụng tại các cơ sở kinh
doanh.
- Nhà nước cũng chú trọng phát triển thị trường công nghệ và có chính sách ưu đãi,
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
e. Chính sách phát triển nguồn nhân lực:
-

Đài Loan đã hoàn thành phổ cập tiểu học nhằm chuẩn bị lực lượng lao động cần
thiết cho sự phát triển các ngành công nghiệp trong giai đoạn sau.

-

Tập trung phát triển hệ thống các trường dạy nghề đào tạo lao động có trình độ
đại học, dành ưu tiên cao độ cho các trường học đẳng cấp, nơi đào tạo ra những kỹ
sư, nhà khoa học, nhà quản lý, và những quan chức Chính phủ để đáp ứng yêu cầu
thực tế.
8


-

Khuyến khích sinh viên du học, nhất là các nước phát triển, đồng thời có những
biện pháp khuyến khích thích đáng để thu hút sinh viên về nước.

-

Mời các chuyên gia nước ngoài làm việc với chế độ lương cao, trao quyền độc lập
trong nghiên cứu và xây dựng các chương trình nghiên cứu riêng.


Nhìn chung, chính sách phát triển giáo dục - đào tạo đã giúp cho Đài Loan có mặt
bằng dân trí cao. Mức độ tiếp cận giáo dục đại học của Đài Loan được mở rộng nhanh
chóng.
f. Chính sách khuyến khích xuất khẩu:
- Cải cách chế độ tỷ giá hối đoái theo hướng thực hiện chế độ một tỷ giá hối đoái
thống nhất và hạ giá đồng tiền mới Đài Loan 62%.
Nới lỏng kiểm soát nhập khẩu và thực hiện chính sách tự do hoá đối với các đầu vào nhập
khẩu cần thiết cho việc sản xuất hàng xuất khẩu.
- Chính quyền có chính sách bảo hộ và trợ cấp với nhiều hình thức, thực hiện khen
thưởng cho những cơ sở có doanh thu xuất khẩu(nhất là chế độ thuế ưu đã với các loại
hàng xuất khẩu và vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu)
- Thủ tục hải quan cũng được đơn giản hóa, hủy bỏ bớt một số thủ tục không cần thiết.
- Thành lập các khu chế xuất (Cao Hùng, Nam Tử, Đài Trung) nhằm thu hút các nhà
đầu tư nước ngoài để thúc đẩy xuất khẩu.
g. Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng:
-

Hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, bao gồm hệ thống giao
thông vận tải, khu công nghiệp. đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng, điện lực,
hệ thống cũng cấp nước, các công trình công cộng,…( như đường cao tốc Bắc
Nam, cảng mậu dịch quốc tế Đài Trung, đường sắt Bắc Hồi, cảng Tô Áo, sân bay
quốc tế Đài Nguyên,…) hình ảnh

2. Những giai đoạn phát triển của các khu công nghiệp:
a) Giai đoạn đầu của sự phát triển công nghiệp (1953-1960):
-

Thúc đẩy ngành công nghiệp chế tạo sử dụng nhiều lao động và sản xuất những
mặt hàng thiết yếu cho đời sống.


-

Tập trung ở khu vực công nghiệp

9


-

Giảm bớt nhập khẩu nước ngoài
 Tuy nhiên chỉ có rất ít các ngành công nghiệp tồn tại được trong thời kỳ này.

b) Giai đoạn 10 năm đầu khuyến khích đầu tư công nghiệp (1961-1970):

Phát triển mạnh các ngành công nghiệp xuất khẩu với hy vọng mở rộng thị trường
ngoài nước. Các khu công nghiệp được phát triển trong thời kỳ này tập trung ở các vùng
phía Bắc và Nam, đặc biệt là ở khu vực trung tâm đô thị Đài Bắc và Cao Hùng. Qui mô
lớn. (hình ảnh)
c) Giai đoạn tái cơ cấu kinh tế (1971-1980):

Phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa dầu.
Năm 1972 và 1973, khuyến khích các doanh nhân thành lập các khu công nghiệp
tại vùng nông thôn ở dạng qui mô nhỏ để giữ người dân ở vùng nông thôn không di cư
lên thành thị.
 Tuy nhiên, những khu này không thành công lắm bởi vì các vị trí địa lý của

chúng thiếu điều kiện phát triển.
Từ năm 1974 đến 1980, chính phủ đã khuyến khích đưa nhiều khu công nghiệp đến khu
vực miền Trung bằng cách cố gắng chuyển các ngành công nghiệp và cư dân từ khu vực

miền Bắc và miền Nam đến khu vực miền Trung này.
 Có 28 khu công nghiệp phức hợp đã được xây dựng và tổng diện tích của

chúng lớn đến mức kỳ lạ. Quy mô của những khu công nghiệp này về cơ bản là
rộng lớn.
d) Thời kỳ nâng cấp công nghiệp (1981-1990):

Nền kinh tế Đài Loan lại lần nữa bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng năng lượng
lần thứ hai vào năm 1979. Nhà nước đã cố gắng xử trí các ngành công nghiệp tiêu hao
nhiều năng lượng và đã lên kế hoạch để thúc đẩy một số ngành công nghiệp mang tính
chiến lược. Tuy nhiên, do một số lượng lớn đất trong các khu công nghiệp không thể bán
hết được nên chính phủ không tích cực quy hoạch thêm các khu công nghiệp mới.
e) Thời kỳ của ngành công nghiệp công nghệ cao, thông minh và công nghiệp nặng

(1991-2000):
Trong thời kỳ này, sử dụng nhiều lao động đã đc thay thế bởi các ngành công
nghiệp công nghệ cao và sử dụng nhiều vốn.

10


Vào những năm 1990, Chính phủ đã thực hiện kế hoạch phát triển quốc gia 6 năm
quan trọng thúc đẩy ngành công nghiệp công nghệ cao. Bên cạnh đó, giá trị sản xuất của
ngành hoá chất, công nghiệp nặng và các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn đã mở
rộng mạnh mẽ từ năm 1987 đến 1996. Giá trị xuất khẩu của các ngành này cũng gia tăng,
thậm chí trở thành ngành công nghiệp quan trọng nhất cho hoạt động xuất khẩu.
3. Chính sánh phát triển nông nghiệp:
a) Giai đoạn khôi phục (đáp ứng nhu cầu thực phẩm) từ 1945 đến 1953:

Do hậu quả tàn phá của Chiến tranh Thế giới thứ hai, phục hồi các cơ sở thuỷ

nông để gia tăng mức sản xuất nông phẩm( đó là “Hệ thống hàng đổi hàng: gạo - phân
bón”, “Qui định phân phối phân bón”, “Luật quản lý thực phẩm”, “Luật giảm tiền thuế
37,5%”, “Luật bán đất công”) Nhờ những biện pháp này, sản xuất nông nghiệp được
phục hồi
b) Giai đoạn phát triển công nghiệp thông qua nông nghiệp (1954 – 1967):

Kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân 4 năm lần thứ nhất, với chủ trương “Nuôi
dưỡng công nghiệp thông qua nông nghiệp - phát triển nông nghiệp bằng công
nghiệp”.
-

-

Khuyến khích nâng cao mức sản xuất nông nghiệp tổng thể thông qua các chương
trình như “Chương trình nuôi heo hợp nhất”, “Chương trình vụ mùa và vật nuôi
hợp nhất”, “Dự án cung cấp tài chính nông nghiệp” và “Qui định mở rộng nông
nghiệp”;
Tăng chuyển giao các quỹ vốn từ lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực phi
nông nghiệp, chính quyền trung ương giới thiệu “Các loại thuế đất nông nghiệp”
và “Thu mua bắt buộc lúa gạo” năm 1954 làm công cụ theo đuổi chính sách đặt
giới hạn giá thực phẩm.

c) Giai đoạn phát triển công nghiệp song song với nông nghiệp (1967-1983):

Trong giai đoạn ban đầu, các phương pháp sản xuất tập trung vào việc tăng cường
thu hoạch để xuất khẩu lấy tiền mặt, sử dụng nhiều lao động phục vụ cho việc chế biến
măng tây, cà chua...
Giai đoạn sau, các phương pháp sản xuất đòi hỏi nhiều vốn được khuyến khích như đánh
bắt cá xa bờ và ven bờ, xuất khẩu thịt gà và thịt lợn. ban hành một số đạo luật phù hợp
như: “Chương trình xúc tiến cơ giới (1970)”, “Luật phát triển nông nghiệp (1973)”, “Luật

về giá bán nông sản (1974)”, “Luật tái thiết nông thôn và nâng cao thu nhập nông dân
(1979)” và chương trình “Nâng cao xây dựng cơ bản và giúp người nông dân có thu nhập
cao hơn (1982)”.
d) Giai đoạn điều chỉnh và phục hồi (1984-1990):

Lúc này,các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu từ nước ngoài đã bắt đầu xâm chiếm thị
trường Đài Loan, gây ra sự mất cân đối giữa cơ cấu sản xuất và marketing.

11


-

Chính phủ thực hiện “Chương trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và tăng cường
thu nhập nông dân”
Và “Chương trình tăng cường lúa gạo”.

e) Giai đoạn đa chức năng (từ 1991 trở đi):

Năm 1991 thực thi chương trình “Điều chỉnh thống nhất”,
1995 đưa ra “Sách trắng về chính sách nông nghiệp
1997, chương trình “Phát triển nông nghiệp xuyên thế kỷ” bắt đầu phát huy hiệu lực.
- Tái thiết nông thôn (JCRR) được thành lập để tài trợ cho một số dự án nhằm đẩy mạnh
cơ giới hoá nông thôn khuyến khích ngành vật nuôi, phát triển ngành chế biến thực phẩm
và tăng cường xuất khẩu thực phẩm. tạo nhiêu cơ hội việc làm
- 4 tổ chức nông nghiệp chính ở Đài Loan: Hiệp hội nông dân, Hiệp hội thuỷ lợi, Hiệp
hội ngư dân và Hợp tác xã marketing cây ăn quả
- Các viện nghiên cứu kỹ thuật: nghiên cứu khoa học cơ bản, tiến hành những thí nghiệm
ứng dụng ở từng khu vực vào các vấn đề cụ thể như sâu bọ, thuốc lá, đường, chè, chuối,
rừng, vật nuôi, đánh bắt cá và chế biến thực phẩm.

- Các dịch vụ hỗ trợ: trạm cải thiện nông nghiệp cấp huyện là cầu nối giữa nghiên cứu
nông nghiệp và thử nghiệm trên các cánh đồng cùng với việc áp dụng những kỹ thuật
nông nghiệp mới, cung cấp tiền cho vay vào mục đích sản xuất và marketing, hợp tác
nuôi lợn, sản xuất trứng, rau quả, gia cầm và rau xanh
- Cơ sở hạ tầng nông thôn: cung cấp nước tưới tiêu cho xây dựng và quản lý hệ thống
thuỷ lợi tổng thể, phục vụ cho mục đích vận tải và marketing nông sản.
- Cải cách ruộng đất

Ở VIỆT NAM
Không còn xa lạ gì nữa, Việt Nam của chúng ta là một đất nước rất giàu tài nguyên
thiên nhiên và cũng xuất phát kinh tế sau chiến tranh. Vậy các chính sách NN đã áp dụng
ntn
1. Đối với phát triển công nghiệp:
Thứ nhất, tạo dựng môi trường cho ngành công nghiệp phát triển.
Thứ hai, lựa chọn lợi thế so sánh vượt trội. làm chủ từ khâu quy hoạch, lên kế
hoạch, thiết kế, thi công các ngành chế tạo, điện tử do doanh nghiệp
Thứ ba, tăng trưởng gắn với nâng cao trình độ công nghệ. Khai thác triệt để lợi
thế trong nước và cơ hội quốc tế; tham gia chủ động và hiệu quả vào mạng lưới sản xuất
công nghiệp khu vực và quốc tế, huy động tối ta mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế;
phát triển các ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng cao

12


Về vấn đề điều chỉnh mô hình tăng trưởng công nghiệp: từng bước điều chỉnh từ
chủ yếu dựa trên số lượng sang chất lượng, dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên. Phân bố không gian công nghiệp: đảm bảo phù
hợp giữa các vùng.
2. Đối với nông nghiệp:
Về hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông

thôn. Hoàn thiện những văn bản đã ban hành cho cập nhật với thực tế biến đổi của nông
nghiệp, nông thôn nói riêng và tình hình phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Bổ sung
những văn bản mới tập trung vào vấn đề chuyển đổi cơ cấu và ngành nghề trong nông
nghiệp, nông thôn giải quyết công ăn việc làm cho số lao động ngày càng dôi ra tương
đối và tuyệt đối trong nông thôn tạo cơ sở cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn.
Vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. xây dựng và mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo cơ chế thị trường bằng việc phát triển công nghiệp
chế biến nông sản và thực hiện chính sách “khoan thư sức dân” để tạo đà cho người nông
dân tự xây dựng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho mình.
3. Chính sách phát triển chiến lược Kinh tế xanh:
Một là, Nhà nước thiết lập những khuôn khổ pháp lý phù hợp bằng việc ban hành
thể chế, cơ chế, chính sách phù hợp
Hai là, đầu tư ho việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng của nền kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo trong tổng yêu cầu sử
dụng năng lượng của quốc gia. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát
triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo..
Ba là, sử dụng thuế, các công cụ dựa vào thị trường để thay đổi ưu tiên của người
tiêu dùng, thúc đẩy đầu tư xanh và cải tiến công nghệ
Bốn là, đầu tư vào nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng. thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm, đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp
thu kinh nghiệm quốc tế.
Năm là, hợp tác quốc tế
Sáu là, bảo đảm tài chính huy động vốn bằng chính sách tài chính công thông
minh và cơ chế tài chính sáng tạo
4. Một số chính sách khác:

13



a) Chính sách bảo đảm lợi ích hợp pháp của người lao động:
Trên lĩnh vực sở hữu
Trên lĩnh vực quản lý
Trên lĩnh vực phân phối
b) Chính sách ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế:
c) Chính sách bảo đảm công bằng, trật tự xã hội:

14


III. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Một số khuyến nghị:
- Xây dựng Nhà nước mạnh, hiện đại
- Tăng thêm tính hiệu quả trong công tác chỉ đạo điều hành của Nhà nước
- Tiếp tục cải cách hành chính
- Xây dựng và hoàn chỉnh các chính sách kinh tế và xã hội một cách đồng bộ và nhất
quán.
- Tích cực đấu tranh chống tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi
và coi đây là nhiệm vụ quan trọng sống

15



×