Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Phân tích quan niệm về con người, về mục tiêu giải phóng con người theo tư tưởng nhân văn hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (146.96 KB, 14 trang )

DANH SÁCH THÀNH VIÊN
THAM GIA LÀM VIỆC NHÓM

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

MSHV

TÊN

CHỮ KÝ


MỤC LỤC

1. Quan niệm về con người theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh………….……1
1.1. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể ……………….……………….1
1.2. Con người lịch sử cụ thể………………………………………………………………2
1.3. Bản chất con người mang tính xã hội………………………………………...3
2. Quan niệm về mục tiêu giải phóng con người theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí
Minh………………………………………………………………………………...4



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học
và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb. Lý luận Chính trị,
Hà Nội.
2. Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh – một số nhận
thức cơ bản, Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.
3. Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh – một
số vấn đề cơ bản, Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
4. Đại học Luật Hà Nội (2004), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội.
5. Nguyễn Mạnh Tường (2009), Tư tưởng Hồ Chí Minh – Một số nhận thức căn
bản, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
Website
6. o/2014/04/con-nguoi-va-ban-chat-cua-con-nguoi.html
7. />8. />DAODUCHOCHIMINH/PHAN3/TUTUONGHCMVECONNGUOI.HTML


4

ĐỀ BÀI
“Phân tích quan niệm về con người, về mục tiêu giải phóng con người theo
tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.”


5

NỘI DUNG
1. Quan niệm về con người theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

1.1. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể
Hồ Chí Minh xem xét con người như chỉnh thể thống nhất về tâm lực,
thể lực và các hoạt động của nó. Con người luôn có xu hướng vươn lên cái
Chân - Thiện - Mỹ, mặc dù “có thế này, thế khác”.
Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận, xem xét con người trong tính đa dạng
của nó: Đa dạng trong quan hệ xã hội (quan hệ dân tộc, giai cấp, tầng lớp,
đồng chí, đồng bào...); đa dạng trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả
năng, cũng như năm ngón tay dài ngắn khác nhau nhưng đều hợp lại nơi bàn
tay; mấy mươi triệu người Việt Nam, có người thế này, thế khác, nhưng đều
cùng là nòi giống Lạc Hồng; đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện
sống, làm việc...
Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập:
thiện và ác, hay và dở, tốt và xấu, hiền và dữ... Bao gồm tính người - mặt xã
hội và tính bản năng - mặt sinh học của con người. Theo Hồ Chí Minh con
người có tốt, có xấu, nhưng “dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có
tình”.
Đối với Hồ Chí Minh, con người tồn tại vừa là tư cách cá nhân, vừa là
thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống
cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người:
"Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là
đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Quan điểm đó thể hiện ở chỗ
Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng.


6

Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn
cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách
nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô
cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi

cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể
phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân,
Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên
lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống
riêng của bản thân và của gia đình mình". Trong quan điểm về thực hiện một
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân
chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải
được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp
luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn
tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người
trên toàn thế giới.


7

1.2. Con người lịch sử cụ thể
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù
bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một
cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ
bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt
Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những
"người nô lệ mất nước" và "người cùng khổ". Logic phát triển tư tưởng của
Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin,
đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo logic phát triển tư tưởng ấy, khái
niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản
cách mạng". Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về
lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc
biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách
mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư

tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn
về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách
mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo
dục con người v.v...) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng
về con người của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh dùng khái niệm con người theo nghĩa rộng trong một số
trường hợp (“phẩm giá con người”, “giải phóng con người”, “người ta”,
“con người”, “ai”...) nhưng đặt trong một bối cảnh cụ thể và một tư duy
chung, còn phần lớn, Người xem xét con người trong các mối quan hệ xã hội,


8

giai cấp, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trong khối thống nhất của cộng đồng
dân tộc và quan hệ quốc tế. Đó là con người hiện thực, cụ thể, khách quan.


9

1.3. Bản chất con người mang tính xã hội
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội,
trong đó:
- Mặt sinh vật bao gồm cơ thể cùng những nhu cầu cơ thể và những quy
luật sinh học chi phối đời sống của cơ thể con người.
- Mặt xã hội bao gồm “tổng hòa những quan hệ xã hội”, những hoạt
động xã hội, đời sống tinh thần của con người.
Hai mặt này có quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, trong đó mặt
sinh học là nền tảng vật chất tự nhiên của con người, nhưng không phải là yếu
tố quyết định bản chất của con người; mặt xã hội mới là mặt giữ vai trò quyết
định bản chất của con người. Để sinh tồn, con người phải lao động sản xuất.

Trong quá trình lao động, sản xuất, con người dần nhận thức được các hiện
tượng, quy luật của tự nhiên, của xã hội; hiểu về mình và hiểu biết lẫn nhau…
xác lập các mối quan hệ giữa người với người.
Con người là sản phẩm của xã hội, con người là sự tổng hợp các quan hệ
xã hội từ hẹp đến rộng, chủ yếu bao gồm các quan hệ: anh, em, họ hàng, bầu
bạn, đồng bào, loài người.
Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống
nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ
biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu
thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hưội và giải phóng chính
bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về
con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó,


10

trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu,
quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư
tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành
một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự
nghiệp cách mạng ấy.


11

2. Quan niệm về mục tiêu giải phóng con người theo tư tưởng nhân văn
Hồ Chí Minh
Mục tiêu của cách mạng về giải phóng con người là giải phóng con

người, mang lại tự do hạnh phúc cho con người, Hồ Chí Minh cũng đồng thời
khẳng định rằng sự nghiệp giải phóng con người là do chính bản thân con
người thực hiện. Hơn nữa, Người cũng khẳng định rằng sự áp bức của đế
quốc, thực dân sẽ thúc đẩy và buộc nhân dân các thuộc địa và nhân dân việt
nam nổi dậy giành quyền sống. Sự đầu độc về tinh thần không thể làm tê liệt
sức sống, càng không thể làm tê liệt khát vọng giải phóng của họ. Theo Hồ
Chí Minh, “ người cùng khổ’’ bao gồm người dân Việt Nam, nhân dân các
thuộc địa bị áp bức. Đó là những con người cần giải phóng. Người sớm nhận
thấy sức mạnh to lớn của quần chúng lao động bị áp bức khi họ được giác
ngộ, được tổ chức, lãnh đạo.
Mục tiêu giải phóng con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh:
tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh đã được mở rộng ra phạm vi toàn nhân
loại. Kết luận mà người rút ra là dù màu ra có khác nhau thì trên đời này chỉ
có hai giống người đó là giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Như
vậy, từ sự thể hiện kinh nghiệm bản thân với trí tuệ sắc bén, Hồ Chí Minh đã
bước đầu thấy được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp và giải phóng con người. Theo đó, giải phóng con người luôn là sự trăn
trở và là nội dung chi phối cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Người.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mọi hành động cách mạng luôn lấy con
người làm mục tiêu trung tâm. Với tư tưởng này, Người đã nhấn mạnh chính
bản thân con người phải tự thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc. Trong
những năm bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng ở nước


12

ngoài, Người đã nhận định: Chính sự áp bức và thống trị tàn bạo của chủ
nghĩa thực dân sẽ thúc dục nhân dân Đông Dương và các dân tộc thuộc địa
khác vùng dậy đấu tranh đòi quyền làm người. Theo Hồ Chí Minh, “người
cùng khổ” bao gồm nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức, người dân Việt

Nam và đó là những người cần phải được giải phóng. Khi quần chúng lao
động bị áp bức được giác ngộ, được tổ chức, lãnh đạo, họ sẽ sản sinh ra một
nguồn sức mạnh vô cùng to lớn và Hồ Chí Minh cũng đã sớm nhận thấy sức
mạnh này ở họ.
Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu giải phóng con người phải là nhằm đem
lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho mỗi con người. Mục tiêu đó vừa cụ thể, phù
hợp với từng thời kỳ cách mạng, vừa thể hiện tầm chiến lược lâu dài. Người
cho rằng, việc đầu tiên cần phải thực hiện là giải phóng con người khỏi áp
bức, bóc lột, đem lại cuộc sống độc lập tự do cho họ. Độc lập, tự do được
xem như là mục tiêu cơ bản, tiên quyết đầu tiên cho bất kỳ mục tiêu nào khác.
Sau khi đã hoàn thành mục tiêu đó phải tiến đến đáp ứng những nhu cầu
thường nhật của con người như ăn, ở, mặc, học hành; phải phấn đấu cho mục
tiêu, lý tưởng, chiến lược là giải phóng con người với ý nghĩa đầy đủ nhất.
Hồ Chí Minh chỉ có một “ham muốn tột bậc” là đất nước hoàn toàn độc
lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai ai cũng cơm ăn áo mặc, ai cũng được
học hành. Đó là mục tiêu giải phóng con người mà Hồ Chí Minh hướng tới.
Người cho rằng, nói một cách đơn giản, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là
nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Do
đó, Người yêu cầu mọi chủ trương, chính sách, quy định pháp luật đều phải
xuất phát từ lợi ích của nhân dân. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi;
Nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.”. Người yêu cầu: “Việc gì có lợi


13

cho dân, chúng ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, chúng ta phải hết
sức tránh.” Như vậy, quan điểm về giải phóng con người của Hồ Chính Minh
rất bình dị nhưng hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng
Việt Nam, cuộc cách mạng mà con người được giải phóng là toàn diện nhất,
để đưa con người thoát khỏi mọi sự kìm hãm phát triển, đưa con người từ

thân phận nô lệ lên địa vị làm chủ giải phóng con người khỏi áp bức dân
tộc(đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc) đồng thời giải phóng con người khỏi áp
bức giai cấp, khỏi nghèo nàn, lạc hậu (giải phóng con người về mặt kinh tế)
Ví dụ: Theo HCM thì cách mạng giải phóng dân tộc là điều kiện đầu
tiên và quyết định đến sự nghiệp giải phóng con người; đưa con người từ thân
phân nô lệ lên làm địa vj làm chủ, giải phóng con người khỏi áp bức dân tộc.
Tuy nhiên, sự giải phóng con người sẽ là không triệt để nếu không có việc
xây dựng xã hội mới- xã hội chủ nghĩa, giải phóng con người khỏi áp bức giai
cấp, khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con
người về mặt chính trị càng được tiến hành triệt để bao nhiêu thì sự nghiệp
xây dựng chủ nghãi xã hội, giải phóng con người về mặt kinh tế càng thuận
lợi bấy nhiêu. Cụ thể:
Thời điểm cuối tháng 7-1945, HCM nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp:
Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy
Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Người đã cùng với
toàn Đảng, toàn dân vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để xây dựng và phát
triển lực lượng cách mạng, chớp thời cơ giành chính quyền trong cả nước.
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, khát vọng của Hồ Chí Minh lúc này là
xây dựng đất nước hùng cường. Người nói: “ Sau 80 năm trời nô lệ làm cho
nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ


14

tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên
toàn cầu”, làm sao cho dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu. Thực chất xây dựng lại đất nước, làm cho đất
nước giàu mạnh cũng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Bởi “ nếu
đất nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng
chẳng có nghĩa lý gì.’’1

Chính vì thế, ngay trong phiên họp đầu tiên, Chính phủ lâm thời của
nước Việt Nam mới đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết nhằm đáp
ứng những đòi hỏi trước mặt của nhân dân, như chống nạn đói; chống nạn dốt
và các tệ nạn xã hội khác; xóa bỏ thuế dân thuế chợ, thuế đò; thực hiện tín
ngưỡng tự do; lương giáo đoàn kết, tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu…Đó là những vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mang tính
cấp thiết nhất mà chính quyền cách mạng vừa mới ra đời phải giải quyết.

1

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64.



×