HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BỘ MÔN LUẬT
--------
BÀI TẬP LỚN
MÔN PHÁP LUẬT KINH TẾ
Năm học: 2016 – 2017
BÀI TẬP SỐ: 11
Tiêu đề bài tập lớn:
BÌNH LUẬN MỘT SỐ ĐIỂM BẤT CẬP CỦA LUẬT
PHÁ SẢN 2014 VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN
Hà nội, 10/ 2016
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BỘ MÔN LUẬT
-------
BÀI TẬP LỚN
MÔN PHÁP LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hƣớng dẫn: Ths ...............................
Nhóm sinh viên: Nhóm 11
Hà nội, 10/ 2016
1. Thông tin chung
Áp dụng cho đào tạo trình
độ và phạm vi đánh giá:
(thạc sĩ, đại học, cao đẳng)
Tên học phần/ Mã học phần/ Tín
chỉ
(phù hợp với thạc sĩ, đại học, cao
đẳng)
Số phần áp dụng
(chia theo yêu cầu đáp
ứng chuẩn đầu ra)
Áp dụng cho đào tạo trình độ Pháp luật Kinh tế
đại học và cao đẳng chính quy Mã: LAW02
Số tín chỉ: 03
Họ và tên sinh viên/ Nhóm sinh viên/ Mã sinh
viên (có thể ghi danh sách sinh viên nếu áp dụng Tên ngƣời đánh giá/ giảng viên
bài tập nhóm) (*)
Nhóm 11
Ngày sinh viên nhận yêu cầu
phần …. của BÀI TẬP LỚN
Nhận đầu kỳ
Ngày sinh viên nhận yêu cầu
phần … của BÀI TẬP LỚN
Nhận đầu kỳ
Nộp bài lần 1
(Nếu quá hạn, sinh viên chỉ
đạt điểm tối đa là Đạt)
Thời điểm nộp bài của
sinh viên
Nộp lần 1 với các chủ đề từ Thứ 2 đầu tiên của tuần
1 -5
Nộp bài lần 2
(Nếu quá hạn, sinh viên chỉ
đạt điểm tối đa là Đạt)
học thứ 9
Thời điểm nộp bài của
sinh viên
Nộp lần 1 với các chủ đề từ Thứ 2 đầu tiên của tuần
6-12
học thứ 13
BÀI TẬP SỐ 11
Tiêu đề bài tập lớn
Bình luận một số điểm bất cập của Luật phá sản 2014
và phƣơng hƣớng hoàn thiện
2. PHẢN HỒI CHO SINH VIÊN
Phản hồi của ngƣời đánh giá đến sinh viên (áp dụng cho từng bài tập trong BÀI
TẬP LỚN):
Kế hoạch hành động đề xuất cho sinh viên:
Phản hồi chung:
Phản hồi của sinh viên đến ngƣời đánh giá (*):
Chữ ký của ngƣời
Ngày
đánh giá
Chữ ký của sinh viên
Ngày
(*)
(*)
PHẦN DÀNH CHO BỘ PHẬN CHUYÊN TRÁCH (KHOA/ BỘ MÔN):
ĐÃ XÁC NHẬN
YES
NO
NGÀY: ……………………………………
XÁC NHẬN BỞI: .......................................................
TÊN NGƯỜI XÁC NHẬN: ........................................
MỤC LỤC
1
Mở đầu
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu
quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân doanh nghiệp và những người lao động
trong doanh nghiệp mà còn tác động lớn đến các chủ thể khác là chủ nợ, đối tác và các
thành phần khác trong nền kinh tế tùy vào quy mô của doanh nghiệp phá sản. Nhà
nước, thông qua pháp luật phá sản để can thiệp vào quá trình giải quyết thủ tục phá sản
của doanh nghiệp, nh m giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản
chất vốn có với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.
Luật Phá sản năm 2014 thay thế Luật Phá sản năm 2004 mặc dù đã ra đời và có
hiệu lực để khắc phục những khuyết điểm của Luật Phá sản 2004. Tuy nhiên vẫn tồn
tại một số bất cập trong qua trình áp dụng.
2
Những điểm mới cơ bản của Luật Phá sản 2014
I.
1. Phạm vi áp dụng của luật phá sản:
Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “DN, HTX
được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này rõ
ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ. Bởi lẽ hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các DN Việt Nam và DN nước ngoài có
hoặc không có trụ sở đặt tại Việt Nam. Vì vậy, đối với các DN nước ngoài mà không
có trụ sở, không có tài sản mà chỉ có một số hoạt động tại Việt Nam, khi mất khả năng
thanh toán thì không thể áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam để giải quyết.
2. Định nghĩa rõ ràng tình trạng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán” và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 định nghĩa r ng “Doanh nghiệp, hợp
tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”
Quy định này phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một số nước khi cho phép
con nợ có thời hạn trễ hạn thanh toán sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ, đồng thời khắc
phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ
nợ như quy định cũ. Từ quy định này, luật cho phép các chủ thể có quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà
doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Đồng thời Luật Phá sản 2014 cũng quy định rõ “Phá sản là tình trạng của doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên
bố phá sản”. Tức là chỉ khi Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản thì DN,
HTX đó mới bị coi là phá sản.
3.
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
So với luật cũ, Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi
và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
để đảm bảo quyền lợi của mình.
3
Quy định về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD theo
Luật phá sản 2014 đảm bảo việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ được thực
hiện khi TCTD thực sự không còn khả năng phục hồi, tránh trường hợp TCTD bị nộp
đơn yêu cầu phá sản khi chưa thực sự lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, từ
đó gây tâm lý hoang mang, ảnh hưởng tới hoạt động của TCTD đó nói riêng và hệ
thống các TCTD nói chung. Quy định này đã khắc phục được tính chung chung trong
quy định tương ứng của Luật Phá sản 2004, một khi đã được quy định rõ ràng về thời
điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ thì chủ nợ, NLĐ dễ dàng xác định được lúc nào họ
được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời ràng buộc DN không có
khả năng thanh toán r ng tại thời điểm nào thì họ có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản.
Về đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Luật
Phá sản 2014 quy định rõ những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
TCTD Luật phá sản 2014 cũng quy định rõ nghĩa vụ của TCTD nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản TCTD sau khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc
văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh
toán mà TCTD vẫn mất khả năng thanh toán.
Ngoài ra, Luật phá sản 2014 cũng quy định trường hợp TCTD không nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản, NHNN có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối
với TCTD đó.
Đối với công ty cổ phần, Luật Phá sản năm 2014 quy định cổ đông hoặc nhóm
cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng
có quyền nộp đơn, trong Luật Phá sản mới vẫn giữ nguyên quy định này, đồng thời
cũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông
trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn nếu điều lệ công ty có quy
định.
4. V thẩm quy n của Tòa án
Khắc phục những khiếm khuyết tồn tại về thẩm quyền tòa án của Luật Phá sản
2004, Luật Phá sản 2014 quy định theo hướng loại trừ, tức là trừ những vụ việc phá
sản có tình tiết đặc biệt (có yếu tố nước ngoài, có địa điểm ở nhiều quận huyện khác
4
nhau, hoặc tòa cấp tỉnh lấy lên giải quyết) thì còn lại, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền
giải quyết phá sản đối với DN, HTX có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh đó (Điều 8).
Để đảm đảm bảo tính khách quan, Luật Phá sản mới bổ sung quy định về
trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản.
Đồng thời, Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục
phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó”. Vì theo quy định hiện
hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động
trong khuôn khổ luật doanh nghiệp. Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải
quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc
người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.
5. Hội nghị chủ nợ:
Về hội nghị chủ nợ cũng có nhiều điểm mới, theo quy định của Luật Phá sản
2014, điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ chỉ căn cứ trên số nợ chứ không căn cứ trên
số chủ nợ như LPS 2004 (quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ 2/3
tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia hội nghị chủ nợ – Điều 65 LPS 2004).
Theo đó, số chủ nợ tham gia hội nghị chủ nợ không phải là điều kiện để coi hội nghị
chủ nợ hợp lệ. Điều này có nghĩa là hội nghị chủ nợ có thể hợp lệ khi chỉ cần một chủ
nợ tham gia mà đại diện cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm. Mặt khác, việc
tham gia có thể là không trực tiếp. Theo hướng này, điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ
nợ thông qua phương án thu hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
cũng quy định chỉ theo số nợ.
Quy định này đã khắc phục được tình trạng khó có được hội nghị chủ nợ trong
trường hợp số nợ ít n m trong tay số lượng chủ nợ nhiều nhưng họ lại không tham gia
hội nghị chủ nợ, nh m giảm rủi ro cho chủ nợ có số nợ lớn.
6. Kéo dài thời gian quy định v giao dịch bị coi là vô hiệu đối với DN, HTX mất
khả năng thanh toán
5
So với quy định cũ, Luật mới kéo dài thời hạn đối với các giao dịch vô hiệu
thêm 2 tháng. Việc kéo dài thời gian tính các giao dịch bị coi là vô hiệu nh m tránh
tình trạng tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ.
Ngoài một những điểm đã nêu trên, Luật phá sản 2014 còn có một số điểm mới
đáng chú ý khác như quy định người yêu cầu có thể nộp đến Tòa qua đường bưu điện,
ngày nộp đơn tính từ ngày có dấu bưu điện nơi gửi; Bổ sung phương án thương lượng
giữa các bên trước khi Tòa thụ lý đơn yêu cầu của chủ nợ, trước đây không quy định;
Người nộp đơn phải nộp lệ phí phá sản cho THA Dân sự và tạm ứng chi phí phá sản
vào tài khoản do TAND mở tại ngân hàng...
II.
Những bất cập của Luật Phá sản 2014
1. Điểm bất cấp về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
LPS 2014 đã cụ thể hóa các chủ thể có quyền nộp đơn và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản song chưa giải quyết triệt để, có thể gây khó khăn trong khi áp
dụng trong thực tiễn về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời điểm
phát sinh nghĩa vụ nộp đơn của chủ thể nộp đơn, đặc biệt là vấn đề về chủ nợ
1.1 Về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản(Đ5 LPS 2014)
+ Chủ nợ:
một số quy định của LPS 2014 không phù hợp với tinh thần chủ đạo là bảo vệ
lợi ích của chủ nợ có đảm bảo triệt để hơn so với chủ nợ không có đảm bảo. Cụ thể
theo K1 Đ5 LPS 2014 thì chủ nợ có đảm bảo không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản và ngay từ khi có quyết định thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì
quyết định được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có đảm bảo đã bị hạn chế, bị tạm
đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lí tài sản (Đ27, Đ35), trừ khi trường hợp
được tòa cho phép. Trong khi đó các chủ nợ không có đảm bảo vẫn có thể được thanh
toán các khoản nợ đến hạn của mình sau khi có quyết định thụ lí đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản. Từ đó, có thể nói chủ nợ không có đảm bảo vẫn có ưu thế vượt trội hơn
hẳn chủ nợ có đảm bảo trong khi mức độ rủi ro lại là xấp xỉ.
Giải pháp:
6
Luật cần nêu rõ và bảo vệ quyền lợi của các loại chủ nợ, nhất là chủ nợ có đảm
bảo. Cần bổ sung về thời gian thanh toán nợ sao cho phù hợp giữa các chủ nợ có đảm
bảo và các chủ nợ không đảm bảo. Đảm bảo lợi ích cho cả 2 bên.
+ Cổ đông:
Theo K5 Đ5 LPS2014 thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ
thông trở lên và liên tục trong 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Đối với nhóm cổ đông thì việc sở hữu 20% số cổ phần phổ thông là không quá khó.
Quy định này sẽ làm khó cho các cổ đông nhỏ và cả uy tín DN khi hoạt động kinh
doanh gặp khó khăn, nếu như nhóm cổ đông dễ dàng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản.
Giải pháp:
Nên điều chỉnh tăng điều kiện về tỉ lệ cổ phần phổ thông đối với nhóm cổ đông
lên mức 25% – 30% , sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho DN khi gặp vấn đề nhỏ trong kinh
doanh có thêm cơ hội, thời gian khắc phục hoạt động và đảm bảo quyền lợi cho các cổ
đông nhỏ.
1.2 Tính khả thi không cao, rườm rà trong thủ tục
Chỉ riêng việc báo cáo cho tòa đã phải làm tới 6 loại khác nhau. Ngoài ra, còn phải
tốn tiền (tạm ứng chi phí phá sản), mất thời gian. Nếu làm trôi chảy đúng như quy đinh
thì chỉ riêng giai đoạn từ lúc mở thủ tục phá sản đến khi mở thủ tục thanh lí tài sản đã
mất ít nhất 6 tháng trời. Nhưng từ khi có LPS chưa có vụ nào “trơn tru” như vậy cả mà
ít nhất cũng là hơn 1 năm trời. Điều đáng nói nữa là theo quy định chỉ có DN ngoài
quốc doanh mới bị ràng buộc về nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản, còn đối với DN
nhà nước thì nghĩa vụ ấy lại được ưu tiên xem là quyền lợi. Quy định như vậy rõ ràng
trong bối cảnh hiện nay càng hợp pháp hóa cho nhiều DN trốn tránh việc phá sản.
Giải pháp:
Luật nên đi vào thực tế hơn, hiệu quả hơn (nâng cao giá trị thu hồi nợ của các chủ
nợ, giảm bớt chi phí và rút ngắn thời gian xử lí 1vụ kiện, tránh rườm rà ...), nh m hạn
chế các cách thoái thác, lợi dụng kẽ hở của Luật để trốn tránh việc phá sản .
7
1.3 Chưa làm rõ các vấn đề thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản với DN, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
Điều 37, LPS 2014 để ngỏ khả năng thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản với DN mất khả năng thanh toán về việc rút đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản. Tuy nhiên, điều luật này không đề cập cụ thể về các biện pháp mà hai bên
có thể đàm phán để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của DN như chuyển
nợ thành phần vốn góp/cổ phần, thay đổi vị trí ưu tiên thanh toán của khoản nợ có bảo
đảm hay khoản nợ không có bảo đảm, chuyển khoản nợ có bảo đảm thành khoản nợ
không có bảo đảm và ngược lại, tăng hoặc giảm vốn góp...
Giải pháp:
Luật cần chỉ rõ ra cách giải quyết, biện pháp mà hai bên thỏa thuận với nhau như
chuyển nợ thành phần vốn góp/cổ phần, thay đổi vị trí ưu tiên thanh toán của khoản nợ
có bảo đảm hay khoản nợ không có bảo đảm, chuyển khoản nợ có bảo đảm thành
khoản nợ không có bảo đảm và ngược lại, tăng hoặc giảm vốn góp... để đi đến việc có
rút hay vẫn giữ nguyên đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
1.4 Về quyền và nghĩa vụ của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều
18, 19 LPS 2014)
Điều 2 K5 LPS 2014 có quy định người lao động không được trả lương quá 3
tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên K3 điều 18 về việc yêu
cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ và K3 điều 19 về việc nộp lệ phí hay tạm ứng chi phí
phá sản có thể nói là khó thực hiên với người lao động. Bởi họ đã không được trả
lương quá 3 tháng, rất khó khăn về kinh tế.
Giải pháp:
Luật cần bổ sung thêm về quyền và nghĩa vụ của người nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản là người lao động, để có thể tạo điều kiện và đảm bảo quyền lợi của người
lao động hơn nữa
2. Điểm bất cập về Thẩm quyền giải quyết phá sản(Đ8,9,10 LPS 2014 )
Hiện nay nhiều DN, HTX có quy mô lớn, có chi nhánh, văn phòng và bất động
sản liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương khác nhau, rất phức tạp. Vì vậy, khi
8
giao thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho TAND cấp tỉnh theo
K1 Đ8 LPS 2014 và TAND cấp huyện theo K 2 Đ8 LPS 2014 có thể vẫn còn hạn chế
đến tiến độ cũng như chất lượng giải quyết phá sản. Bởi việc giải quyết phá sản lâu
nay vẫn được đánh giá là vụ việc khó, đòi hỏi Thẩm phán phải có kinh nghiệm, kiến
thức chuyên môn sâu về thủ tục tố tụng, có sự hiểu biết về quản trị DN và những vấn
đề liên quan khác. Trong khi đó chất lượng đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện vẫn
còn thấp, chưa đồng đều nên sẽ rất khó cho TAND cấp huyện giải quyết. Hơn nữa,
thẩm quyền của Thẩm phán giải quyết việc phá sản đến đâu chưa được LPS quy định
rõ ràng cụ thể.. Không chỉ vậy, việc liên kết thông tin giữa các tỉnh, các TAND các
tỉnh còn hạn chế cũng gây nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết.
Giải pháp:
luật nên quy định thêm điều kiện về Thẩm phán trong những trường hợp này,quy
định cụ thể hơn về thẩm quyền của Thẩm phán giải quyết việc phá sản. và cả về tính
liên kết giữa TAND các tỉnh để không ảnh hưởng đến tiến độ cũng như chất lượng giải
quyết phá sản.
3. Điểm bất cập về Hội nghị chủ nợ
2.1 Về hội nghị chủ nợ hợp lệ và điều kiện thông qua nghị quyết hội nghị chủ
nợ(Đ79, Đ81, Đ83 LPS 2014)\
LPS 2014, có nhiều điểm mới về Hội nghị chủ nợ so với LPS 2004. Tuy
nhiên những điểm mới vừa là tiến bộ nhưng vẫn đi kèm với bất cập, ví dụ
như:
“Hội nghị chủ nợ có thể hợp lệ khi chỉ cần một chủ nợ tham gia mà đại diện
cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm” (K1 Đ79 LPS 2014).
“Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi được quá nửa tổng số chủ
nợ không có bảo đảm có mặt đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở
lên biểu quyết tán thành. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối
với tất cả các chủ nợ” (K2 Đ81 LPS 2014)
Hạn chế:
+ Một là,
về Quyền lợi của chủ nợ có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo một phần: chủ nợ
có đảm bảo không được quyền biểu quyết tại hội nghị chủ nợ, và cũng không đóng vai
9
trò quyết định trong điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ và việc thông qua Nghị quyết
của Hội nghị chủ nợ trong khi Nghị quyết hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc với
tất cả các chủ nợ . Mặt khác, ngay từ khi có quyết định thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản thì quyết định được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có đảm bảo đã bị hạn
chế, bị tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lí tài sản (Điều 27, Điều 35), trừ
khi trường hợp được tòa cho phép. Trong khi đó các chủ nợ không có đảm bảo vẫn có
thể được thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình sau khi có quyết định thụ lí đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản. Việc thanh toán các khoản nợ không có đảm bảo chỉ bị
cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.
Giải pháp:
Cần trao thêm quyền cho họ trong quá trình giải quyết nợ và đặc biệt là ở hội nghị
chủ nợ vì họ vẫn chịu rủi ro cao đối với số tiền mà DN nợ dù được đảm bảo nhưng
không có gì là chắc chắn trong việc họ sẽ nhận được đầy đủ số tiền nợ.
+ Hai là,
chấp nhận hình thức tham gia không trực tiếp. Như vậy, so với quy định tại Điều
65 về điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ của Luật Phá sản năm 2004 thì điều kiện
hợp lệ của Hội nghị chủ nợ theo quy định của Luật Phá sản 2014 chỉ căn cứ trên số nợ.
Số chủ nợ tham gia hội nghị chủ nợ không phải là điều kiện để hội nghị chủ nợ hợp lệ.
Điều này có nghĩa là Hội nghị chủ nợ có thể hợp lệ với chỉ cần một chủ nợ tham gia
mà đại diện cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm. Mặt khác việc tham gia có thể là
không trực tiếp. Theo hướng này, điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ thông qua
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 90 Luật
Phá sản năm 2014) cũng quy định chỉ theo số nợ.
Hạn chế:
Quyền lợi của các chủ nợ chiếm tỉ trọng nhỏ bị giảm xuống. Hoặc có thể dẫn đến
tình trạng lợi ích nhóm tức là các chủ nợ liên kết với nhau và có 1 đại diện cho
nhóm tham gia hội nghị chủ nợ, khi đó họ phụ thuộc hoàn toàn vào ý kiến chủ
quan của người đại diện, có thể dẫn đến tình trạng không minh bạch hoặc gây bất
lợi cho DN
Giải pháp:
điều chỉnh chi tiết hơn về trường hợp này. Ví dụ như nếu có chủ nợ chiếm 51%
tổng số nợ không đảm bảo thì điểu kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ là cần ít nhất 2
10
chủ nợ tham gia trực tiếp hoặc quy định về số chủ nợ có thể tham gia dưới hình
thức không trực tiếp.
2.2 Về vấn đề chủ nợ mới
Trong khi chờ tòa án xem xét giải quyết thì DN vẫn hoạt động bình thường nên có
thể xuất hiện chủ nợ mới dù đã chốt danh sách chủ nợ. Tuy nhiên trong LPS 2014
chưa có quy định về xử lý nghĩa vụ của DN với chủ nợ mới cũng như quyền, nghĩa vụ
của chủ nợ mới trong tình huống này.
Giải pháp:
Cần có quy định chi tiết về việc phát sinh và cách giải quyết đảm bảo quyền lợi
cho chủ nợ mới sau khi đã chốt danh sách chủ nợ, đảm bảo quyền lợi cho các chủ
nợ mới như những chủ nợ cũ.
3.3 Về lập ban đại diện chủ nợ (Đ82 LPS 2014)
Quyền thành lập Ban đại diện chủ nợ của các chủ nợ để đại diện cho các chủ nợ
trong việc thực hiện thủ tục phá sản được ghi nhận là cần thiết vì thực tế cho thấy,
trong vụ việc phá sản có số lượng lớn các chủ nợ thì cần có Ban đại diện chủ nợ giám
sát hoạt động tái cơ cấu của doanh nghiệp, hợp tác xã và thực hiện các công việc khác
liên quan đến thủ tục phá sản. LPS 2014 mới bổ sung vấn đề này trong Đ82, Ban đại
diện này do các chủ nợ bầu tại Hội nghị chủ nợ. Tuy nhiên chưa có quy định sâu hơn
để đảm bảo tính minh bạch giữa các chủ nợ và ban đại diện, có thể dẫn đến tình trạng
nhóm chủ nợ nào đó lợi dụng mối quan hệ với ban đại diện dẫn đến những ảnh hưởng
xấu cho cả DN và các chủ nợ khác.
=> Giải pháp:
Cần bổ sung yêu cầu lựa chọn Ban đại diện chủ nợ, đảm bảo tính minh bạch và lợi
ích cho các bên.
3.4 Quyền lợi người lao động trong Hội nghị chủ nợ
K4 Đ27 LPS 2014, nếu người lao động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì
từ ngày nộp đơn họ có quyền và nghĩa vụ như chủ nợ. Đây là điểm rất tiến bộ tuy
nhiên lại thiếu quy định cụ thể hơn về yêu cầu đối với người đó trong Hội nghị chủ nợ.
Bởi họ có thể thiếu sự hiểu biết đầy đủ về tình trạng thực sự của doanh nghiệp hoặc
11
cũng có thể xảy ra trường hợp là dựa vào ý chí của người khác xúi giục dẫn đến ảnh
hưởng sai lệch, hoặc làm mất đi tính bí mật của doanh nghiệp.
=> Giải pháp:
Luật cần quy định về việc doanh nghiệp cung cấp thông tin chính xác về tình trạng
của doanh nghiệp với người lao động đó để họ có được những quyết định đúng đắn
hơn trong hội nghị chủ nợ và có thể là tấm vé quan trọng để doanh nghiệp có thể phục
hồi nhờ ý chí cả người lao động khác vì uy tín doanh nghiệp tăng lên và rất có thể sẽ
thoát khỏi tình trạng phá sản vì được người lao động ủng hộ.
3.5 Trao quyền cho chủ nợ về thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh.(Đ89 LPS 2014)
Theo quy định tại Đ89 LPS 2014 thì thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh là linh động, do Nghị quyết hội nghị chủ nợ quyết định mà không ấn
định thời hạn tối đa là 03 năm như Luật Phá sản năm 2004. Trừ khi Hội nghị chủ nợ
không xác định được thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì thời hạn thực hiện phương án
phục hồi hoạt động kinh doanh là không quá 3 năm, kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông
qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
Hạn chế:
Trong trường hợp các chủ nợ còn quá ít niềm tin vào DN hoặc không có nhận thức
đầy đủ về phương án hoạt động của DN, thì đây có thể là bất lợi lớn cho DN.
Giải pháp: Cần bổ sung thêm điều kiện về sự quyết định thời hạn tối thiểu thực hiện
phương án phục hồi hoạt động của các chủ nợ.
Kết luận
Luật Phá sản 2014 ra đời được đánh giá như là một cố gắng mới của các nhà lập
pháp nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với hiện tượng
12
kinh tế khách quan có vai trò không nhỏ này trong đời sống kinh tế. Tuy nhiên, có thể
nhận thấy, Luật mới vẫn chưa khắc phục được tất cả những điểm bất cập của Luật Phá
sản 2004 mà những nhà nghiên cứu đã chỉ ra. Một vấn đề đặc biệt quan trọng nữa là
Luật có thực sự đi vào thực tế, và giải quyết được những bất cập trong giải quyết phá
sản của DN, HTX hiện nay hay không, điều này không chỉ phụ thuộc vào khả năng
của những nhà lập pháp mà còn do các cơ quan thi hành pháp luật và tòa án thực hiện.
Tài liệu tham khảo:
1. Luật Phá sản 2014.
2. Luật Phá sản 2004.
3. tapchitaichinh.vn
4. sbv.gov.vn
5. vneconomy.vn
6. thoibaokinhdoanh.vn