ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI MÔN:KINH TẾ QUỐC TẾ 2
Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn
ODA tại Việt Nam hiện nay
Giảng viên:TS.Nguyễn Xuân Hưng
Nhóm thực hiện:
Lớp: Kinh tế quốc tế
Mục lục
Trang
1.Tổng quan về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA
4
1.1.Khái niệm
4
1.2.Phân loại
4
1.3.Tính chất
5
1.4.Vai trò
6
1.5.Xu thế mới của ODA trên toàn thế giới
7
2.Thực trạng huy động và sử dụng ODA ở Việt Nam hiện nay
7
2.1.Thực trạng huy động
7
2.2.Tình hình sử dụng ODA giai đoạn 2011-2015
14
2.3.Đánh giá công tác thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA
21
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA
27
3.1.Thủ tục hành chính
27
3.2.Giải quyết vốn đối ứng
28
3.3.Cải thiện chất lượng đầu vào
28
3.4.Chú trọng tới cơ cấu và tính bền vững của các nguồn ODA
28
3.5.Chính sách đền bù tái định cư
29
3.6.Tăng cường năng lực quản lý dự án ODA
29
1.Tổng quan về nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức ODA
1.1.Khái niệm
ODA ( Official Development Assistance- Viện trợ phát triển chính thức) là tất cả
các khoản viện trợ không hoàn lại , viện trợ có hoàn lại, tín dụng ưu đãi của chính
phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức Kinh tế tài chính quốc tế, các tổ
chức phi chính phủ dành cho các nước đang và chậm phát triển nhằm hỗ trợ cho sự
phát triển kinh tế của những nước này.
Điều kiện để một nguồn vốn được coi là vốn ODA:
Lãi suất thấp: dưới 3%/năm, trung bình thường là 1-2%/năm.
Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài: 25-40 năm mới phải hoàn trả lại,
thời gian ân hạn: 8-10 năm.
Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn trả lại, thấp nhất là
25% của tổng số vốn ODA.
1.2. Phân loại ODA
1.2.1 Phân loại theo hình thức hoàn trả vốn: có 3 loại:
Viện trợ không hoàn trả lại: Nước nhận viện trợ không hoàn trả lại
khoản vốn đã được cấp.
Vay vốn: Được vay với lãi suất ưu đãi nhưng phải hoàn trả lại vốn theo
những thời gian quy định.
ODA hỗn hợp: áp dụng 1 phần ODA không hoàn lại, một phần cho
vay ưu đãi. Thậm chí, có loại ODA kết hợp 3 loại hình: một phần không hoàn lại,
một phần vốn vay ưu đãi và một phần tín dụng thương mại( lãi suất thị trường).
1.2.2 Phân loại theo nguồn hình thành ODA: có 2 loại:
ODA song phương: là khoản viện trợ trực tiếp từ nước này sang nước
kia thông qua việc ký kết hiệp định chính phủ. Viện trợ song phương chiếm tỷ
trọng cao: trên 80% tổng vốn ODA toàn thế giới. Nguồn ODA song phương hình
thành chủ yếu từ sự đóng góp của các nước công nghiệp phát triển.
ODA đa phương: là hình thức viện trợ ODA cho các nước đang phát
triển thông qua các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát
triển Châu Á (ADB), Ngân hàng phát triển châu Mỹ (IDB), Quỹ phát triển Châu
Phi..
1.2.3 Phân loại theo mục tiêu sử dụng: có 4 loại:
Hỗ trợ cán cân thanh toán : gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ
ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng : chuyển giao
trực tiếp cho nước nhận ODA hay hỗ trợ nhập khẩu.
Tín dụng thương nghiệp: tương tự như viện trợ hàng hóa nhưng có kèm
theo điều kiện ràng buộc.
Viện trợ chương trình( viện trợ phi dự án): Nước viện trợ và nước nhận
viện trợ kí hiệp định cho một mục đích tổng quá mà không cần xác định tính chính
xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào.
Viện trợ dự án: chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA.
Điều kiện được nhận viện trợ dự án là phải có dự án cụ thể , chi tiết về các hạng
mục sẽ sử dụng ODA.
1.3. Tính chất
1.3.1 Tính ưu đãi
ODA hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thịnh
vượng của các nước đang và chậm phát triển. ODA chỉ bao gồm các giao dịch tài
chính quốc tế ở tầm cỡ quốc gia ( chủ thể tiếp nhận ODA là các chính phủ quốc
gia).
Vốn ODA có thời gian ân hạn và hoàn vốn dài. Một phần của ODA có
thể là không hoàn lại, phần ODA hoàn lại có lãi suất thấp hơn so với lãi suất vay
thương mại quốc tế.
Vốn ODA chỉ dành cho các nước đang phát triển. Các nước này có thể
nhận ODA khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định. Một là, tổng sản phẩm
quốc nội thấp. Hai là, mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp
với chính sách và phương hướng ưu tiên của các bên cho vay.
1.3.2 Tính ràng buộc
Vốn ODA thường đi kèm theo những ràng buộc về kinh tế, chính trị
đối với các nước tiếp nhận. Các khoản viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu thúc
đẩy sự tăng trưởng bền vững và giảm sự nghèo khó của các nước nhận viện trợ
đồng thời nhằm mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và vốn.
Tính ràng buộc của ODA còn được thể hiện qua mục đích sử dụng mỗi
một thỏa thuận hay hiệp định vay vón đều dành một lĩnh vực đầu tư cụ thể, nước
tiếp nhận ODA không thể tùy tiện thay đổi. Nếu không tuân thủ những quy định
nhằm đảm bảo mục tiêu thì thỏa thuận vay vón có thể bị bên cho vay đơn phương
hủy bỏ.
1.3.3 Có khả năng gây ra gánh nặng nợ nần cho các nước tiếp nhận
Một số nước đi vay chủ quan với nguồn vốn ODA và không sử dụng
một cách có hiệu quả , do vậy, mặc dù đã sử dụng mọt lượng vốn lớn nhưng lại
không tạo ra điều kiện tương ứng để phát triển kinh tế. Nước đi vay đã không trả
được lãi vay và vốn vay ODA theo đúng cam kết và để lại gánh nặng nợ nước
ngoài cho thế hệ sau. Do đó, nước đi vay trước khi tiếp nhận vốn ODA cần phải kết
hợp với chính sách thu hút các nguồn vốn khác để chúng hỗ trợ nhau nhằm tăng
cường tiềm lực kinh tế.
1.4. Vai trò của ODA
1.4.1 Tầm quan trọng của ODA
ODA mang lại nguồn lực cho đất nước đang phát triển, giúp các
doanh nghiệp nhỏ có thêm vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng
qui mô doanh nghiệp.
Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ
chức quốc tế, thực hiện việc thanh toán nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA.
ODA tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội như: cải thiện
điều kiện vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường, phát triển cơ sở hạ
tầng nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo...
ODA giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội nhập khẩu máy móc thiết
bị cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nước tiếp nhận
viện trợ có nhiều cơ hội để tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt được sự
giúp đỡ lớn hơn về vốn từ các tổ chức này
1.4.2 Những bất lợi vì nhận ODA
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến
lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về
an ninh- quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị.
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo
thường gắn với việc mua sản phẩm từ các nước giàu mà không hoàn toàn phù hợp,
không cần thiết đối với các nước nghèo. Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn
với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa sản phẩm của nước viện trợ.
Thông thường , danh mục dự án ODA phải có sự thỏa thuận, đồng ý
của các nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành nhưng có thể tham gia dưới
hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA
phải hoàn lại tăng lên.
Tình trạng thất thoát, lãng phí, xây dựng chiến lược, quy hoạch thu
hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý, trình độ quản lý thấp,
thieus kinh nghiêm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án...
khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng vốn này còn thấp có
thể đẩy nước tiếp nhận vốn ODA vào tình trạng nợ nần.
1.5. Những xu thế mới của ODA trên toàn thế giới
1.5.1 Ngày càng có thêm các cam kết quan trọng
Vấn đề hỗ trợ trực tiếp cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực
phát triển xã hội ngày càng trở thành mối quan tâm đặc biệt và lâu dài của các
nước phát triển. Nó không còn là vấn đề của riêng quốc gia nào mà đã trở thành
vấn đề của toàn thế giới. Do đó, mà nhiều cam kết quan trọng đã được ký kết tại
hội nghị quốc tế .
1.5.2 Phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường
Trong điều kiện môi trường sống của con người ngày một xấu đi do
chính con người gây ra thì vấn đề bảo vệ môi trường trở thành vấn dề ưu tiên viện
trợ của một số nước như Nhật Bản. Các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB
cũng đã điều chỉnh chính sách viện trợ ưu tiên cho những hoạt động bảo vệ môi
trường.
1.5.3 Cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong thu hút vốn ODA
ngày một tăng
Mặc dù các nước phát triển đã cam kết dành 0.7% GNP của mình để
viện trợ song chưa có nước nào thực hiện được cam kết này, nhiều nhất cũng chỉ
khoảng 0.3% ( Mỹ, Nhật Bản). Lượng vốn ODA có xu hương giảm trong khi nhu
cầu về vốn của các nước đang phát triển tăng cũng với những vấn đề mới nảy sinh
trên thế giới đòi hỏi được hỗ trợ để giải quyết. Điều này tất yếu dẫn đến sự cạnh
tranh giữa các nước đang phát triển nhằm thu hút nguồn vốn hỗ trợ.
2.Thực trạng huy động và sử dụng ODA ở
Nam
Việt
2.1. Thực trạng huy động ODA ở Việt Nam hiện nay
2.1.1.Thực trạng huy động
Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống chính
sách pháp luật nhằm thu hút các nguồn lực và tạo môi trường cạnh tranh, đầu tư
lành mạnh, minh bạch. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ký kết nhiều điều ước quốc
tế về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, về tránh đánh thuế trùng, hợp tác kinh tế,
thương mại, các hiệp định và cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, Khu vực
thương mại tự do ASEAN và các hiệp định thương mại tự do khác… Hệ thống
chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài được ban hành đã tạo ra các kênh huy
động vốn đa dạng, bao gồm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, nguồn vốn ODA, vay
thương mại thông qua phát hành trái phiếu quốc tế... Trong giai đoạn đầu mở cửa,
đầu tư nước ngoài góp phần đưa Việt Nam thoát khỏi tình thế khó khăn của bao
vây, cấm vận, là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Trong từng giai đoạn, Thủ tướng Chính phủ đã có các quyết định về thu hút
và sử dụng nguồn vốn ODA . Ngoài ra, trên cơ sở các nghị quyết của Trung ương
và Quốc hội, Chính phủ đã ban hành 5 nghị định về quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA, nghị định sau tiến bộ hơn nghị định trước theo hướng đồng bộ và nhất quán
hơn với hệ thống quản lý nhà nước về đầu tư công, hài hòa quy trình, thủ tục với
các nhà tài trợ, tiệm cận với các chuẩn mực và phù hợp thông lệ quốc tế. Theo đó,
việc thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong huy động và
quản lý vốn ODA đã góp phần bổ sung nguồn lực quan trọng cho công cuộc phát
triển kinh tế, có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế,
khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước, tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới
và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Theo Đề án "Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và
các khoản vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2011 - 2015". Nguồn
vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ trong giai đoạn 2011-2015 được dự
kiến vốn cam kết khoảng 32 - 34 tỷ USD, vốn giải ngân khoảng 14-16 tỷ USD.
Bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2015 vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân
khoảng 2,8 - 3,2 tỷ USD
Để đảm bảo thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 đã dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn
xã hội trong thời kỳ này theo giá thực tế khoảng 5.745 - 6.140 nghìn tỷ đồng,
tương đương gần 250 - 266 tỷ USD, trong đó nguồn vốn trong nước chiếm khoảng
75 - 80% nguồn vốn nước ngoài chiếm khoảng 20 - 25%.
Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ giai đoạn 2011 - 2015 được
dự kiến vốn cam kết khoảng 32 - 34 tỷ USD, vốn giải ngân khoảng 14 - 16 tỷ USD
(tương đương khoảng 6% tổng đầu tư xã hội), trong đó khoảng 50% vốn giải ngân
từ các chương trình và dự án ký kết trong giai đoạn 2006 - 2010 chuyển sang.
Như vậy, bình quân hàng năm trong thời kỳ 2011 - 2015 vốn ODA và vốn vay ưu
đãi giải ngân sẽ đạt khoảng 2,8 - 3,2 tỷ USD.
Chính phủ Việt Nam sẽ hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ và dành mọi nỗ lực để
phấn đấu thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ này.
Theo Đề án, có 8 ngành và lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng vốn ODA và vốn
vay ưu đãi của các nhà tài trợ trong thời kỳ 2011 - 2015 gồm:
Hỗ trợ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, quy mô lớn và hiện đại;
Hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng xã hội;
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển
khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức;
Phát triển nông nghiệp và nông thôn;
Hỗ trợ xây dựng hệ thống luật pháp và thể chế đồng bộ của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa;
Hỗ trợ bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến
đổi khí hậu và tăng trưởng xanh;
Hỗ trợ thúc đẩy đầu tư, thương mại và một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh;
Hỗ trợ theo địa bàn lãnh thổ.
Cụ thể, tình hình thu hút vốn ODA qua từng năm trong giai đoạn 2011-2015:
Năm 2011: Bộ Kế hoạch đầu tư đã công bố tổng số vốn các nhà tài trợ cam kết
dành cho Việt Nam là 7,9 tỷ USD, chủ yếu dành cho cơ sở hạ tầng, công trình giao
thông và biến đổi khí hậu.Trong con số này, 3,3 tỷ USD đến từ các nhà tài trợ song
phương, riêng Nhật Bản cam kết 1,76 tỷ USD. Đối tác đa phương cam kết 4,6 tỷ
USD.
Năm 2012: Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho biết tổng số viện trợ phát triển chính thức
(ODA) mà các nước và tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam trong năm tài khoá
2012 là 7,386 tỷ USD, thấp hơn so với mức xấp xỉ 7,9 tỷ USD của năm 2011.
Năm 2013: Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn ODA và vốn vay
ưu đãi ký kết của cả năm 2013 ước đạt trên 7 tỉ USD, tăng 19,3% so với mức của
năm 2012.
Một số dự án ODA có giá trị lớn, như nhà máy xử lý nước thải tập trung tại Yên
Xá, Thanh Trì, Hà Nội trên 306 triệu USD; Dự án Xây dựng đường sắt đô thị Hà
Nội tuyến số 1 – giai đoạn 1 (ga Ngọc Hồi) trị giá 179,2 triệu USD; Dự án nâng
cao an toàn cầu đường sắt Hà Nội – TP HCM hơn 148 triệu USD… Các chương
trình, dự án có quy mô vốn lớn gồm: Dự án kết nối khu vực trung tâm đồng bằng
Mê Công (544 triệu USD), Nhà ga hành khách quốc tế T2 – sân bay Nội Bài (332
triệu USD), Dự án Phát triển hạ tầng giao thông ĐBSCL (176 triệu USD).
Năm 2014: Công tác vận động và thu hút nguồn ODA và vốn vay ưu đãi có nhiều
chuyển biến tích cực, thông qua các hoạt động hợp tác phát triển, tổng vốn ODA và
vốn vay ưu đãi ký kết năm 2014 đạt 4.362,13 triệu USD (4.160,08 triệu USD ODA
vốn vay và vay ưu đãi, 202,05 triệu USD viện trợ không hoàn lại). Tổng giá trị các
hiệp định ký kết năm 2014 bằng khoảng 68% của năm 2013.
Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết theo các điều ước quốc tế cụ thể thời kỳ
2011 - 2015 tính đến ngày 25 tháng 12 năm 2015 đạt trên 27,782 tỷ USD, cao
hơn 31,47% so với mức của thời kỳ 2006 - 2010, trong đó
- ODA vốn vay và vốn vay ưu đãi đạt 26,527 tỷ USD chiếm khoảng 95,48%
- ODA viện trợ không hoàn lại đạt 1,254 tỷ USD chiếm khoảng 4,52%
Hình 1:Cơ cấu vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết theo nhà tài trợ thời kỳ
2011-2015
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Cơ cấu vốn ODA và vốn vay ưu đãi theo nhà tài trợ được thể hiện trong Hình 1.
Điều dễ nhận thấy đó là các nhà tài trợ Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển (ADB, AFD,
JICA, KfW, KEXIM, WB) vẫn chiếm vị trí vượt trội.
Tổng giá trị vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi ký kết với các nhà tài trợ này trong
thời kỳ 2011 - 2015 đạt khoảng 26,308 tỷ USD, trong đó khoảng 4,5 tỷ USD vốn
vay kém ưu đãi của ADB, AFD và WB.
Về cơ cấu vốn ODA và vốn vay ưu đãi theo ngành và lĩnh vực, Bảng 1 dưới đây
cho thấy các lĩnh vực giao thông vận tải, môi trường (cấp, thoát nước, ứng phó với
biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh,...) và phát triển đô thị, năng lượng và công
nghiệp là những ngành có tỷ trọng vốn ODA và vốn vay ưu đãi tương đối cao trong
khi ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, y
tế, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, tăng cường năng lực thể chế,...
chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn. Nguyên nhân của tình hình này là tỷ lệ sử dụng vốn
ODA không hoàn lại trong tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các ngành này
thường cao. Hiện nay vốn ODA không hoàn lại giảm mạnh, cùng với đó phần lớn
các chương trình và dự án trong các ngành này không có khả năng hoàn vốn, do
vậy khó sử dụng vốn vay, nhất là vốn vay ưu đãi (lãi suất cao, thời gian trả nợ ngắn
sát với điều kiện vay thương mại), đồng thời nguồn vốn vay ODA (lãi suất thấp,
thời gian trả nợ dài) hiện đang giảm mạnh.
Bảng 1: ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực giai đoạn 2011-2015
Đơn vị: Triệu USD
Ngành, lĩnh vực
Tổng
ODA và
vốn vay
ưu đãi
Trong đó
Tỷ lệ (%)
Vốn vay Viện trợ
ODA và
vay ưu
đãi
•
Giao thông vận tải
9.913,73
9.565,94
347,79
35,68
•
Môi trường (cấp, thoát 5.181,26
nước, đối phó với biến
đổi khí hậu,..) và phát
triển đô thị
5.048,76
132,51
18,65
•
Năng lượng và công 4.762,50
nghiệp
4.730,15
32,34
17,14
•
Nông nghiệp và Phát 2.632,23
triển nông thôn – Xóa
đói giảm nghèo
2.514,79
117,44
9,47
•
Y tế - Xã hội
1.292,30
1.073,12
219,18
4,65
•
Giáo dục và đào tạo
930,13
767,85
162,28
3,35
•
Ngành khác (khoa học 3.070,14
công nghệ, tăng cường
năng lực thể chế,…)
2.827,35
242,79
11,05
Tổng số
27.782,29
26.527,95 1.254,34
100,00
2.1.2.Tình hình giải ngân vốn giai đoạn 2011- 2015
Dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ với sự nỗ lực cao của các ngành,
các cấp và sự hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ, trong 5 năm 2011 - 2015, tình
hình thực hiện chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi đã đạt được tiến bộ rõ
rệt cả về tiến độ thực hiện chương trình, dự án, cũng như số vốn giải ngân.
Có thể thấy giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong thời kỳ 2011 2015 đã có những tiến bộ vượt bậc. Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân
thời kỳ này ước đạt 22,325 tỷ USD (bình quân khoảng 4,46 tỷ USD/năm). Mức
giải ngân này cao hơn từ 39,53 - 59,46% so với mục tiêu đề ra trong Đề án ODA
2011 - 2015 và cao gấp 1,6 lần tổng vốn ODA giải ngân trong thời kỳ 2006 2010[5]. Giải ngân của các nhà tài trợ quy mô vốn lớn (WB, Nhật Bản) đã có
những cải thiện đáng kể. Tỷ lệ giải ngân của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2011
đứng thứ hai và năm 2012 đứng thứ nhất trong số các nước nhận ODA của Nhật
Bản, tỷ lệ giải ngân của WB tại Việt Nam tăng từ 13% năm 2011 lên 19% năm
2012. Tình hình giải ngân vốn ODA, vốn vay ưu đãi được cải thiện đưa tới kết quả
nhiều công trình đầu tư bằng vốn ODA, vốn vay ưu đãi để phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều công trình tầm cỡ quốc gia đã hoàn thành và đưa
vào khai thác đúng hạn góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân
dân.
Theo báo cáo Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội năm 2011 tổng vốn
ODA đã ký kết trong năm 2011 đạt 6,333 tỷ USD (trong đó, vốn vay: 6,164 tỷ
USD, viện trợ không hoàn lại: 169 triệu USD).Tuy nhiên, tổng giá trị giải ngân các
chương trình, dự án ODA năm 2011 chỉ đạt 3,650 tỷ USD, tăng 3% so với năm
2010 (trong đó vốn vay: 3,400 tỷ USD, viện trợ không hoàn lại: 250 triệu USD),
bằng 57,6% tổng giá trị ký kết và bằng 152% kế hoạch được giao.
Theo báo cáo tổng hợp của Bộ Kế hoạch – Đầu tư ,tính đến cuối năm 2012,
tổng vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỉ USD, chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký
kết. Đặc biệt, tỉ lệ giải ngân vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam năm 2011 đứng
thứ hai và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới, tỉ lệ giải ngân của Ngân hàng Thế giới
tại Việt Nam tăng từ 13% năm 2011 lên 19% năm 2012. Năm 2012, để khắc phục
tình trạng giải ngâm chậm, ngày 19/1, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
106/2012/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ
2011-2015.
Trong năm 2013, tổng số vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân đạt 5.137
triệu USD (ODA vốn vay và vốn vay ưu đãi: 4.686 triệu USD; ODA viện trợ
không hoàn lại: 451 triệu USD), trong đó các khoản giải ngân nhanh thông qua các
chương trình tín dụng kèm theo khung chính sách như Chương trình Tín dụng hỗ
trợ Quản lý và cạnh tranh kinh tế, Chương trình Hỗ trợ biến đổi khí hậu,…đạt trên
500 triệu USD. Các nhà tài trợ quy mô lớn vẫn tiếp tục được duy trì mức giải ngân
cao (Nhật Bản (JICA): 1.686 triệu USD, WB: 1.359 triệu USD). Riêng ADB đã có
sự đột phá về mức giải ngân năm 2013, lần đầu tiên tổng giải ngân của ADB vượt
ngưỡng 1.300 triệu USD. Số liệu thống kê năm 2013 cho thấy Việt Nam đã giải
ngân được hơn 5,1 tỷ USD vốn ODA và vốn vay ưu đãi, tăng 23% so với năm
trước. Điều đáng mừng là các nhà tài trợ truyền thống đều ở mức cao như Nhật
Bản giải ngân được 1,69 tỷ USD, Ngân hàng Thế giới (WB) đạt 1,35 tỷ USD và
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) với khoảng 1,3 tỷ USD.
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 9 tháng năm 2014, vốn
ODA và vay ưu đãi giải ngân tiếp tục đạt khá so với cùng kỳ. Ước giải ngân trong
9 năm 2014 đạt khoảng 4,1 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó,
vốn vay khoảng 4,01 tỷ USD, viện trợ không hoàn lại khoảng 90 triệu USD.
9 tháng năm 2014, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt 3,519 tỷ USD
(trong đó, vốn vay là 3,459 tỷ USD, viện trợ không hoàn lại 60 triệu USD), bằng
76% so với cùng năm ngoái. Tuy nhiên, tổng giá trị giải ngân chín tháng năm nay
lại cao hơn 10% so với mức giải ngân của cùng kỳ năm ngoái, ước đạt 4,105 tỷ
USD.
2.2. Tình hình sử dụng vốn ODA tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015.
2.2.1.Việt Nam đạt tỷ lệ cao về số lượng dự án hoàn thành đạt kết quả phát
triển và đạt các mục tiêu đề ra
- Theo báo cáo hoàn thành dự án (PCR) và Báo cáo kiểm toán thực hiện hoàn
thành dự án (PPAR) do các nhà tài trợ Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển thực hiện đến
hết năm 2014, sốlượng các dự án thành công của Việt Nam chiếm tỷ lệ cao (xem
Bảng 2), cụ thể:
+ Về các báo cáo hoàn thành dự án (PCR), số dự án thành công của ADB: 55/56,
JICA: 17/17, KEXIM: 5/5, WB: 67/69.
+ Về các báo cáo kiểm toán thực hiện hoàn thành dự án (PPAR), số dự án thành
công của ADB: 11/16, KfW: 20/26, KEXIM: 16/16, WB: 63/69.
Bảng 2
Báo cáo hoàn thành dự án (PCR) và Báo cáo kiểm toán thực hiện hoàn thành
dự án (PPAR) của Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển
(tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014)
ADB
AFD JICA
KfW
KEXIM WB
PCR đã hoàn thành (No.) 56
-
17
-
5
69
Thành công (No.)
-
17
-
5
67
Không thành công (No.) 1
-
0
-
-
2
PCR đang thực hiện (No.) 0
-
-
-
2
0
0
-
0
-
0
0
PPAR đã hoàn thành (No.)16
6
-
26
16
69
Thành công (No.)
-
-
20
16
63
Không thành công (No.) 5
-
-
6
-
6
PPAR đang thực hiện
0
(No.)
3
-
-
1
0
55
11
Nguồn: Báo cáo JPPR 9 của Nhóm 6 Ngân hàng phát triển
-Theo báo cáo đánh giá độc lập trong nội bộ của Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển,
số lượng các dự án hoàn thành kết quả phát triển và đạt các mục tiêu đề ra của Việt
Nam tính đến hết năm 2014 đứng thứ hai sau Trung Quốc và đứng trên Ấn Độ,
Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a và Pa-ki-xtan (xem Hình 2):
Hình 2
Nguồn: Báo cáo JPPR 9 của Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển
2.2.2. Nguồn vốn ODA và vốn vay ưa đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
đóng góp tích cực và có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
a) Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi có vị trí quan trọng đối với
đầu tư phát triển
Bảng 3 cho thấy mức giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi mặc dù chỉ chiếm
khoảng 2,78% GDP và 8,64% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong thời kỳ 2011 2015 song trung bình hàng năm vẫn chiếm khoảng 47,37% tổng vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước. Điều này cho thấy nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi có vị trí quan
trọng đối với đầu tư phát triển trong bối cảnh ngân sách nhà nước dành cho đầu
tư phát triển còn hạn hẹp trong khi nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội
lại rất lớn để thực hiện khâu đột phá vềphát triển kết cấu hạ tầng theo hướng hiện
đại của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020.
b ) Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi hỗ trợ phát triển và tạo diện
mạo mới cho nhiều ngành, lĩnh vực và địa bàn lãnh thổ
Trong thời kỳ 2011 - 2015 theo hiệp định có khoảng 904 dự án dự kiến hoàn thành
với tổng số vốn giải ngân đạt khoảng 21,2 tỷ USD, trong đó 556 dự án vốn vay với
tổng số vốn khoảng 19,8 tỷ USD và 348 dự án ODA không hoàn lại với tổng số
vốn khoảng 1,4 tỷ USD. Đóng góp của nguồn vốn ODA và vốn vay ưu
đãi trong thời kỳ 2011 - 2015 theo ngành, lĩnh vực và địa bàn lãnh thổ như sau:
- Đối với phát triển của các ngành và lĩnh vực
+ Trong lĩnh vực giao thông vận tải, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong
thời kỳ 2011 - 2015 đạt trên 9.913 triệu USD chiếm tỷ trọng cao nhất (35,68%)
trong cơ cấu nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi thời kỳ này. Nhiều công trình, dự
án trọng điểm quốc gia sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi như Cao tốc Nội Bài Lào Cai, Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, cầu Vĩnh
Thịnh, cầu Nhật Tân, Đường nối Nhật Tân - Nội Bài, Nhà ga hành khách quốc tế
T2 Sân bay Nội Bài và nhiều công trình khác đã hoàn thành và được đưa vào khai
thác góp phần hoàn chỉnh, hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng.
Bên cạnh đó, những dự án hỗ trợ kỹ thuật đã góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ
thuật phục vụ xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam, vận tải đường biển và đường
sông,...
+ Trong lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, tổng số vốn ODA và vốn vay ưu đãi
ký kết trong thời kỳ 2011 - 2015 đạt khoảng 4.762 triệu USD, bằng 17,14% tổng
giá trị ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong cùng kỳ. Nguồn vốn ODA và vốn vay
ưu đãi đã được sử dụng hiệu quả, thể hiện qua sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống
điện về nguồn điện, lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối, nâng cao độ tin cậy,
an toàn vận hành hệ thống... Các chương trình, dự án thực sự mang lại hiệu quả
thiết thực cho đầu tư phát triển ngành điện, góp phần quan trọng tăng trưởng kinh
tế và cải thiện đời sống người dân, cũng như đóng góp đáng kể vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong thời kỳ 2011 - 2015, vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã hỗ trợ xây dựng một số
nguồn và hệ thống truyền tải và phân phối điện quan trọng như: đường dây 500KV
Pleiku - Mỹ Phước - Cầu Bông có ý nghĩa to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu cấp
bách truyền tải công suất các nhà máy điện khu vực Tây Nguyên vào hệ thống điện
quốc gia, tăng cường khả năng cung cấp điện đầy đủ cho khu vực miền Nam và
hình thành mối liên kết lưới điện truyền tải 220KV giữa hệ thống điện Tây Nguyên
và miền Nam từ nay đến sau năm 2020 hoặc dự án cáp ngầm 110KV xuyên biển
Hà Tiên - Phú Quốc đảm bảo cung cấp điện ổn định cho huyện đảo Phú Quốc từ hệ
thống điện Quốc gia với khả năng truyền tải công suất lên đến 131 MVA, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao sức cạnh tranh đưa Phú Quốc trở
thành đặc khu kinh tế quan trọng, khu du lịch chất lượng cao của cả nước, trong
khu vực và quốc tế; Dự án Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn 1 với sản lượng 3,6 tỷ
kWh sẽ bảo đảm cung cấp điện phục vụ hoạt động sản xuất tại Khu kinh tế Nghi
Sơn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa nói riêng và
khu vực Bắc Trung Bộ nói chung.
+ Trong lĩnh vực môi trường (cấp, thoát nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng
trưởng xanh,...) và phát triển đô thị, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong
thời kỳ 2011 - 2015 đạt khoảng 5.181 triệu USD, bằng 18,65% tổng giá trị ODA và
vốn vay ưu đãi ký kết trong cùng kỳ. Nhờ nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi,
chương trình nâng cấp đô thị quốc gia đã được triển khai nhằm hỗ trợ các vùng còn
khó khăn như Đồng bằng sông Cửu Long, miền núi phía Bắc, góp phần giảm
chênh lệch giàu nghèo; hầu hết các thành phố lớn, các thành phố trực thuộc tỉnh,
các thị xã và một số thị trấn đều có các hệ thống cấp nước sinh hoạt như Dự án cấp
nước thành phố Lai Châu; Dự án cấp nước Sông Công, tỉnh Thái Nguyên,... Các
thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng,... hiện
đang triển khai thực hiện nhiều dự án ODA phát triển cơ sở hạ tầng đô thị quan
trọng, quy mô lớn như đường sắt nội đô, thoát nước và xử lý nước thải, chất thải
rắn,...
Nguồn vốn ODA cũng đã hỗ trợ bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát
triển bền vững và tăng trưởng xanh. Các chương trình, dự án quy mô lớn điển hình
bao gồm: Chương trình hỗ trợ Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu; Dự án vệ
tinh nhỏ quan sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai - VNREDSat-1
nhằm tăng cường phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu bằng công
nghệ vệ tinh, nâng cao quản lý tài nguyên thiên nhiên, môi trường bằng công nghệ
vệ tinh, tiến tới tự sản xuất vệ tinh nhỏ riêng của Việt Nam theo yêu cầu của
“Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vệ tinh đến năm 2020” và đẩy
mạnh phát triển khoa học và công nghệ và thúc đẩy các ngành công nghiệp công
nghệ cao liên quan tới công nghệ vệ tinh.
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm
nghèo, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong thời kỳ 2011 - 2015 đạt trên
2.632 triệu USD, bằng 9,47% tổng giá trị ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong
cùng kỳ. Tuy số vốn ký kết thấp hơn so với thời kỳ 2006 - 2010 nhưng nhìn chung
việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA đã hỗ trợ phát triển hệ thống thủy lợi lớn
như Phan Rí - Phan Thiết, Phước Hòa,... góp phần điều hòa nguồn nước, phục vụ
tưới tiêu, phòng chống lũ lụt và sản xuất điện năng, cung cấp nước sinh hoạt cho
nhiều thành phố lớn, khu đô thị tập trung, các vùng nông thôn và vùng đồng bào
dân tộc thiểu số. Ngoài ra, nguồn vốn ODA huy động để thực hiện các dự án trồng
rừng, nâng cao sản lượng, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm của một số cây
trồng, vật nuôi có thế mạnh ở các địa phương. Nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật cũng
được thực hiện để hỗ trợ nâng cao tính cạnh tranh nông nghiệp, vệ sinh, an toàn
thực phẩm, tăng cường công tác khuyến nông, đẩy mạnh nghiên cứu và đổi mới
sáng tạo trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản.
Một phần quan trọng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi, nhất là vốn ODA viện trợ
không hoàn lại đã được sử dụng để hỗ trợ xóa đói giảm nghèo bền vững thông qua
hỗ trợ thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông
thôn quy mô nhỏ ở các tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh Tây Nguyên, một số
dự án tạo lập sinh kế cho người nghèo nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở
một số địa phương như dự án phát triển nông nghiệp miền Tây Nghệ An,...
+ Trong lĩnh vực y tế - xã hội, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong thời
kỳ 2011 - 2015 đạt khoảng 1.292 triệu USD, bằng 4,65% tổng giá trị ODA và vốn
vay ưu đã ký kết trong cùng kỳ. Các chương trình, dự án vốn vay ODA và vốn vay
ưu đãi trong lĩnh vực y tế được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật
cho công tác khám và chữa bệnh (xây dựng bệnh viện và tăng cường trang thiết bị
y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện huyện và các
trạm y tế xã), nâng cao chất lượng dịch vụ y tế thông qua việc cung cấp trang thiết
bị y tế cơ bản và các trang thiết bị y tế kỹ thuật cao, xây dựng cơ sở sản xuất kháng
sinh, trung tâm truyền máu quốc gia...; tăng cường công tác kế hoạch hóa gia đình,
hỗ trợ triển khai các chương trình mục tiêu như các chương trình phòng chống
HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét, sốt xuất huyết, cúm A/H5N1,
H1N1,…; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, xây dựng chính sách và nâng cao năng
lực quản lý ngành y tế.
Ngành y tế sử dụng vốn ODA viện trợ không hoàn lại với tỷ lệ khá cao, chiếm xấp
xỉ 30% tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi dành cho ngành này, để hỗ trợ y tế dự
phòng và phát triển y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng cho các vùng nghèo ở nông
thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và hỗ trợ tăng cường năng lực xây
dựng và thực hiện chính sách, kế hoạch hóa và quản lý phát triển ngành. Trong bối
cảnh nguồn vốn ODA không hoàn lại giảm sẽ là một thách thức trong việc tìm
kiếm nguồn vốn bổ sung phù hợp để đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho các đối
tượng ở các khu vực này và tăng cường năng lực ngành y tế.
+ Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết
trong thời kỳ 2011 - 2015 đạt 930 triệu USD, bằng 3,35% tổng giá trị ODA và vốn
vay ưu đãi ký kết trong cùng kỳ. Nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã hỗ trợ phát
triển ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam ở tất cả các cấp học từ giáo dục mầm
non cho tới giáo dục đại học. Nét nổi bật trong 5 năm 2011 - 2015 là quyết định
của Chính phủ sử dụng vốn vay, kể cả vốn vay ưu đãi để hỗ trợ xây dựng một số
trường đại học xuất sắc nhằm hướng tới trình độ giáo dục đại học khu vực và quốc
tế. Quyết sách này có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện khâu đột phá trong
Chiến lược phát triển của Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao. Các dự án điển hình theo hướng này như dự án xây dựng
Trường Đại học Việt Đức, Dự án xây dựng Trường Đại học Khoa học và Công
nghệ Hà Nội...
+ Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tăng cường năng lực thể chế, phát triển
nguồn nhân lực,... tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong thời kỳ 2011 2015 đạt trên 3.070triệu USD, bằng 11,05% tổng giá trị ODA và vốn vay ưu đãi ký
kết trong cùng kỳ. Thông qua các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi,
nhiều công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến đã được chuyển giao,
một đội ngũ đáng kể sinh viên, cán bộ các cơ quan của các bộ và địa phương được
đào tạo và nâng cao trình độ tại các trường đại học. Điển hình là Dự án hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý và tăng cường năng lực quản lý, Dự án hỗ trợ chính sách
thương mại và đầu tư của châu Âu, Dự án nâng cao năng lực cho ngành công
nghiệp và thương mại Việt Nam nhằm kiểm soát phát thải khí nhà kính và tăng
cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, Dự án đẩy mạnh sáng tạo thông
qua nghiên cứu khoa học và công nghệ, Dự án phát triển thành phố công nghệ và
khoa học Hòa Lạc đang thực hiện với nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng
công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp và đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất
và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội,... Dự án đào tạo nhân lực ngành du lịch và khách sạn tập trung nâng cao năng
lực cho các trường đào tạo du lịch tại Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt,
Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Cần Thơ do Lúc-xăm-bua tài
trợ,...
- Đối với phát triển của các địa phương
Trong thời kỳ 2011 - 2015 nhiều chương trình, dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội của Trung ương và địa phương đã được đầu tư bằng nguồn vốn ODA và
vốn vay ưu đãi trên các địa bàn trong phạm vi cả nước, góp phần xóa đói, giảm
nghèo, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và cải
thiện đời sống của nhân dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng
bào dân tộc còn khó khăn. Thế mạnh và tiềm năng của nhiều địa phương được tăng
cường thông qua các dự án kết nối vùng với các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và Hải Phòng, các cửa khẩu quốc tế
và các cảng biển, cảng hàng không trên cả nước.
So với thời kỳ 2006 - 2010, ODA và vốn vay ưu đãi bình quân đầu người thời kỳ
2011 - 2015 đã có xu hướng tăng lên đáng kể, đặc biệt ở các vùng trước đây gặp
khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi (Bảng 4) như Tây
Nguyên (tăng 3,5 lần), Đông Nam Bộ (tăng 1,9 lần), Đồng bằng sông Cửu Long
(tăng 2,2 lần).
Bảng 4
Vốn ODA ký kết phân bổ theo vùng thời kỳ 2011 - 2015
Vùng
ODA
bình
Tổng ODA
Tỷ lệ ODA
quân
đầu
(Triệu
so với cả
người
USD)
nước (%)
(USD/người)
1. Đồng bằng sông Hồng:
- Không bao gồm Hà Nội
2.091,58
155,43
7,53
- Bao gồm Hà Nội
4.557,57
223,61
16,40
2. Trung du và miền núi phía Bắc 723,92
63,06
2,61
3. Bắc Trung Bộ và duyên hải 3.312,22
miền Trung
171,49
11,92
4. Tây Nguyên
76,99
1,50
- Không bao gồm Thành phố Hồ 1.058,95
Chí Minh
140,18
3,81
- Bao gồm Thành phố Hồ Chí 3.312,78
Minh
216,60
11,92
6. Đồng bằng sông Cửu Long
2.238,54
128,56
8,06
7. Liên vùng (*)
12.915,93
416,04
5. Đông Nam Bộ:
46,49
Ghi chú: (*) Các địa phương thụ hưởng gián tiếp hoặc thụ hưởng một phần nhưng
không cụ thể về vốn của từng địa phương.
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2.3.Đánh giá công tác thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
2.3.1.Mặt tích cực
a)Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết và giải ngân thời kỳ 2011 2015 vượt các chỉ tiêu đề ra trong Đề án ODA 2011 - 2015 và cao hơn so với các
thời kỳ 5 năm trước đó (xem Bảng 5):
Bảng 5: Cam kết, ký kết và giải ngân qua các thời kỳ
Đơn vị tính: Triệu USD
Thời kỳ
Cam kết
Ký kết
Giải ngân
1993 - 1995
6.131
4.954
1.875
1996 - 2000
11.546
9.006
6.142
2001 - 2005
14.889
11.495
7.887
2006 - 2010
31.756
21.131
13.860
27.782*
22.325*
2011 - 2015
b) Sự quan tâm của Quốc hội về hiệu quả sử dụng vốn ODA và vốn
vay ưu đãi của các nhà tài trợ:
Trong những năm gần đây khi nợ công tăng lên Quốc hội rất quan tâm đến hiệu
quả sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, nhất là tại các kỳ họp Quốc hội cuối năm
để xem xét và thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Kế hoạch Ngân
sách nhà nước hàng năm. Ngoài ra, các Ủy ban của Quốc hội còn tổ chức giám sát
chuyên đề về chất lượng, hiệu quả các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA và vốn vay
ưu đãi trong các lĩnh vực cụ thể. Đây là sự khích lệ, đồng thời là yêu cầu của Quốc
hội đối với các cơ quan quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi, các Bộ,
ngành và địa phương phải bảo đảm thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn
vốn này, bảo đảm an toàn nợ công.
c) Hoàn thiện khung thể chế về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA và vốn vay ưu đãi phù hợp với bối cảnh hợp tác phát triển mới:
- Chính phủ đã ban hành Nghị định số /420138/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ
thay thế Nghị định số /4201131/2006/NĐ-CP Nghị định này đã có nhiều tiến bộ về
các mặt: (i) Mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị định, bao gồm cả vốn vay ưu
đãi của các nhà tài trợ để bù đắp khối lượng giảm sút của nguồn vốn vay ODA; (ii)
Xác định những phương thức và mô hình viện trợ mới để cải thiện hiệu quả viện
trợ; (iii) Quy định khu vực tư nhân có thể tiếp cận và sử dụng vốn ODA và vốn vay
ưu đãi; (iv) Phân cấp mạnh hơn thẩm quyền phê duyệt chương trình, dự án sử dụng
vốn ODA và vốn vay ưu đãi; (v) Việc thành lập các Ban quản lý dự án được quy
định theo hướng gọn, nhẹ để giảm chi phí giao dịch.
- Sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 42011518/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm
2014 về việc rút ngắn thời gian thực hiện Quy trình ký kết điều ước quốc tế nhân
danh Nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ.
d) Sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ nhằm thúc đẩy tiến
độ ký kết, thực hiện và giải ngân các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi:
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành kịp thời nhiều chỉ thị, nghị quyết và
quyết định để tăng cường công tác chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án
ODA và vốn vay ưu đãi, đôn đốc các dự án đầu tư trọng điểm, quy mô lớn chậm
tiến độ để cải thiện tình hình thực hiện và nâng cao tỷ lệ giải ngân các chương
trình, dự án.
đ) Tăng cường phối hợp liên ngành để giải quyết các vướng mắc phát
sinh trong quá trình chuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án:
Ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi được thành lập theo Quyết định
số4201216/QĐ-TTg ngày 23/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ do Phó Thủ tướng
Hoàng Trung Hải làm Trưởng Ban, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm Phó
Trưởng Ban và đại diện cấp lãnh đạo của một số Bộ, ngành và địa phương. Sau
hơn hai năm hoạt động, Ban Chỉ đạo đã tích cực phát huy vai trò để giải quyết các
khó khăn, vướng mắc của các chương trình, dự án nhằm cải thiện tình hình thực
hiện và đẩy nhanh tiến độ giải ngân.
Bên cạnh việc tổ chức đi thực tế để kịp thời nắm bắt, tháo gỡ các vướng mắc, Ban
Chỉ đạo còn thiết lập cơ chế phối hợp với Nhóm 6 Ngân hàng Phát triển (WB,
ADB, AFD, JICA, KEXIM, KfW) định kỳ tổ chức các hội nghị kiểm điểm chung
tình hình thực hiện các dự án (JPPR) 02 năm một lần; xây dựng và tổ chức thực
hiện các kế hoạch hành động cải tiến tình hình thực hiện và đẩy nhanh tiến độ giải
ngân vốn ODA, trong đó vấn đề hài hòa và tinh giản quy trình thủ tục giữa phía
Việt Nam và nhà tài trợ được quan tâm và chú trọng.
e) Công tác quản lý và thực hiện vốn ODA và vốn vay ưu đãi ở các
Bộ, ngành và địa phương đạt được nhiều tiến bộ:
Nhiều Bộ, ngành và địa phương đã kiện toàn tổ chức, bộ máy quản lý, thành lập
các Ban Quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp, ban hành quy chế nội bộ về
quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi để phân công nhiệm vụ, phân cấp
quản lý trong phạm vi quyền hạn theo quy định của pháp luật và tăng cường
sự phối hợp trong nội bộ cũng như với các cơ quan khác và các nhà tài trợ.
2.3.2. Những tồn tại và hạn chế
Bên cạnh những kết quả nêu trên, việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
trong 5 năm qua còn tồn tại một số bất cập và hạn chế cần khắc phục trong thời
gian tới, đó là:
a) Tình hình ký kết vốn ODA và vốn vay ưu đãi đang có chiều hướng
giảm dần:
Sau khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010, Việt
Nam đã chứng kiến sự suy giảm vốn ODA qua các năm trong thời kỳ 2011 - 2015
(xem Hình 3), đặc biệt đối với vốn ODA viện trợ không hoàn lại (xem Hình 4).
Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt mức cao nhất là 6.904 triệu USD vào
năm 2011 sau đó giảm dần và đến năm 2015 xuống còn 2.759 triệu USD. Thực
trạng này xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Một số nhà tài trợ, đặc biệt các nhà tài trợ vốn ODA viện trợ không hoàn lại, giảm
dần hoặc có kế hoạch chấm dứt chương trình viện trợ chính thức dành cho Việt
Nam trong khi một số nhà tài trợ khác chuyển dần từ cung cấp ODA vốn vay ưu
đãi sang các khoản vay với điều kiện kém ưu đãi hơn.
- Do áp lực nợ công cao, các cơ quan Việt Nam đã thay đổi tư duy từ số lượng
chuyển sang chất lượng, lựa chọn kỹ càng các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay
ưu đãi theo hướng đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn vốn và khả năng trả nợ.
- Các Bộ, ngành và địa phương vẫn chưa sẵn sàng tiếp cận các nguồn vay kém ưu
đãi thường áp dụng cơ chế tài chính trong nước theo hình thức cho vay lại.
Hình 3
Cam kết, ký kết và giải ngân qua các năm thời kỳ 2011-2015
Đơn vị tính: Triệu USD
Ghi chú: Từ năm 2013, Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) chuyển thành
Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF). Tại Diễn đàn này, các nhà tài trợ sẽ
không đưa ra số cam kết vốn ODA và vốn vay ưu đãi.
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Hình 4
Tình hình ký kết vốn ODA viện trợ không hoàn lại thời kỳ 2011 - 2015
Đơn vị tính: Triệu USD
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
b) Về cơ chế, chính sách, quy trình và thủ tục:
- Thể chế quản lý và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi chưa theo kịp và đồng bộ với
những thay đổi về luật pháp trong nước, về đầu tư công và những thay đổi trong
chính sách của các nhà tài trợ khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình.
Một số nhà tài trợ áp dụng mô hình viện trợ mới song các văn bản hướng dẫn của
các Bộ, ngành Việt Nam chưa ban hành đầy đủ và kịp thời.
- Hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan đến ODA và vốn vay ưu
đãi, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản còn thiếu đồng bộ, chưa nhất
quán và chưa phù hợp với các thông lệ quốc tế đã tác động không nhỏ đến việc
thực hiện và giải ngân các nguồn vốn này.
- Việc huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi chưa gắn kết chặt chẽ với các hạn
mức nợ công, việc lập kế hoạch giải ngân vốn không phù hợp với tiến độ thực hiện
chương trình, dự án theo các hiệp định đã ký kết với nhà tài trợ nước ngoài, do vậy
số vốn giải ngân thực tế thường cao hơn so với số kế hoạch đưa vào cân đối ngân
sách nhà nước dẫn đến tình trạng hết năm phải trình Quốc hội điều chỉnh kế hoạch
chi đầu tư phát triển.
- Do sự khác biệt về quy trình và thủ tục giữa Việt Nam và các nhà tài trợ nên công
tác chuẩn bị dự án trong nhiều trường hợp bị kéo dài và làm cho thiết kế ban đầu
trở nên không còn phù hợp, dẫn đến việc buộc phải điều chỉnh khi triển khai thực
hiện, làm đội vốn và giảm hiệu quả đầu tư.
- Các khoản vay ODA thường đi kèm các điều kiện ràng buộc về mặt chính sách,
giới hạn về lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp thiết bị, gián tiếp dẫn đến chi phí vốn
vay cao hơnthực tế và làm mất cơ hội tạo việc làm cho các nhà thầu trong nước.
- Công tác quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi còn bất cập, còn có
những sai phạm về vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam và của nhà tài
trợ, gây tác động không tốt đến dư luận xã hội và phần nào ảnh hưởng tới quan hệ
hợp tác phát triển giữa Việt Nam và một số nhà tài trợ.
c) Về công tác chuẩn bị, tổ chức và thực hiện:
- Cơ quan chủ quản, Chủ dự án, Ban quản lý dự án chưa phát huy được vai trò làm
chủ trong quá trình chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án sử dụng vốn
ODA và vốn vay ưu đãi.