Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

phân tích tác phẩm lãng mạn của pushkin và mickiewicz

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.5 KB, 14 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

BÀI THUYẾT TRÌNH

VĂN HỌC NGA SLAV
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÁC PHẨM LÃNG MẠN CỦA PUSHKIN VÀ MICKIEWICZ

GVHD: PGS.TS Trần Thị Phương Phương
Nhóm sinh viên thực hiện:

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2015


Mục lục:
1. Tác giả:
1.1. Alexandr Sergeevich Pushkin.
1.2. Adam Bernard Mickiewicz.
2. Tác phẩm:
2.1. Trường ca “Người tù Kavkaz” – Pushkin.
2.2. Bài thơ “Lãng mạn” – Mickiewicz.
3. So sánh chất lãng mạn của Pushkin và Mickiewicz qua hai bài thơ.
Tổng kết.


1. Tác giả.

1.1. Alexandr Sergeevich Pushkin (1979 – 1873).

Sinh ra trong một gia đình quý tộc lâu đời ngay từ nhỏ Pushkin đã được tiếp xúc với văn


chương phương Tây, đặc biệt là sách viết bằng tiếng Pháp. Sự gần gũi với các nông nô phục dịch
trong gia đình, đặc biệt là bà nhũ mẫu Ariona Rodionovna, đem lại cho nhà thơ tương lai tình
yêu đối với tiếng Nga và văn học dân gian Nga.
Khi lên mười ông vào học ở trường Lixê. Ðó là một trường học chỉ dành riêng cho con em
quý tộc nằm cách Matxcơva vài trăm dặm. Trường nằm trong khu đất của nhà vua và chuyên đào
tạo ra những con người phục vụ chế độ chuyên chế, tiếp nối sự nghiệp thống trị của Nga hoàng.
Tại đây, Pushkin đã gặp được nhiều tư tưởng tự do của các giáo sư, tiến sĩ tiến bộ. Đến năm
1917, Puskin tốt nghiệp xuất sắc trường Lixê. Ngay sau đó ông được bổ nhiệm làm thư kí bộ
ngoại giao ở Pêtecbua. Lúc này tình hình nước Nga đang rất rối loạn và Pêtecbua đang trở thành
một trung tâm nóng bỏng không khí chính trị. Puskin đã hòa mình vào không khí cách mạng, liên
hệ mật thiết với nhiều nhà hoạt động cách mạng tiến bộ. Ông đã cho ra đời nhiều bài thơ có nội
dung chống chế độ chuyên chế: Tự do (1817), Những câu chuyện thần thoại Noel (1818), Gởi
Sađaép (1818), Làng (1819) ... những bài thơ này tuy không được đăng công khai nhưng nó
nhanh chóng phổ biến trong nhân dân, sự việc khiến Nga hoàng nổi giận, nhà vua ra lệnh lưu đày
Pushkin về phương Nam. Thời kì lưu đày ở phương Nam kéo dài bốn năm, trong thời gian đó
Pushkin phải di chuyển qua nhiều nơi: Kavkaz, Crum, Kisinhôp (1820 - 1823), Ôđetxa (1823 1824) tuy nhiên với một tình yêu thơ ca mãnh liệt, khao khát tự do cũng như yêu dân tộc mình
thì việc lưu đày giống như một “cơ hội” để ông có thể hòa nhập với thiên nhiên, gặp gỡ những
con người mới. Thời gian này ông đã cho ra đời hàng loạt các bài thơ và các bản trường ca. Cảm
thấy việc lưu đày Pushkin xuống miền Nam không thể khuất phục được tinh thần cũng như ý chí
của ông Nga hoàng quyết định đẩy Puskin về phương Bắc. Thời gian lưu đày ở đây ông sống tại
làng Mikhailôpxkôe và bị quản thúc chặt chẽ. Puskin dường như phải sống trong cô đơn và cách
li hoàn toàn. Người thân duy nhất bên ông lúc này là nhũ mẫu của ông. Dù là lần lưu đày thứ hai
nhưng Pushkin vẫn không từ bỏ, ông vẫn cứ tiếp tục cho ra nhiều bài thơ kiệt tác. Biết không thể
khép tội và trấn áp tinh thần Pushkin, Nicolai I bèn thay đổi chiến thuật. Nicolai I biết rõ ảnh
hưởng và uy tín của Pushkin nên đã biến nhà thơ nhân dân thành nhà thơ cung đình, phục vụ cho
việc giải trí. Cũng trong thời gian này Pushkin đã gặp người phụ nữ của đời mình đó là tiểu thư
tiểu thư Natalia Nikôlaiepna Gônsarôva (1812- 1863). Tình yêu trong sáng và mãnh liệt đã đem
lại cho Puskin những niềm cảm hứng bất tận. Năm 1837, do những tin đồn thất thiệt về quan hệ
ngoại tình của vợ mình với một sỹ quan kỵ binh trong quân đội Sa hoàng, Pushkin đã thách đấu
súng với viên sĩ quan trẻ tuổi này. Cuộc đọ súng đã kết thúc hết sức bi kịch khi cả hai đối thủ đều



bị thương, nhưng Puskin đã bị trọng thương và qua đời hai ngày sau đó – ngày 10 tháng 2 năm
1837.
Các tác phẩm của Pushkin: Ánh mặt trời của ban ngày đã tắt (1820), Người tù (1822),
Con chim nhỏ (1823), Hỡi sóng cả ai ngăn chặn (1823), Người gieo giống trên đồng vắng
(1823), trường ca Rutxlan và Liutmila (1820), Người tù Kavkaz (1820 -1821), Anh em kẻ cướp
(1821 - 1822), Ðoàn người Sugan (1824) và tiểu thuyết thơ Epghênhi Ônhêghin, Anh em lũ cướp
(1821 – 1822), Vadim (1821 – 1822), Đài phun nước Bakhchisaray ( 1821 – 1823), Đoàn người
Sygan (1824), Bá tước Nulin (1825), Chàng rể (1825), Poltava (1829), Người da đen của Pyotr
Đại đế (1827 tiểu thuyết chưa hoàn thành), Cuốn tiểu thuyết về những bức thư (1827,tiểu thuyết),
Tập truyện của ông Ivan Petrovich Belkin quá cố (1831,tập truyện ngắn), Dubrovsky (1833,tiểu
thuyết chưa hoàn thành), Con đầm pích (1834, truyện ngắn), Kirjali (1834, truyện ngắn)….
Pushkin đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, một “mặt trời thi ca” ông là “khởi đầu của
mọi sự khởi đầu” trong văn học Nga . Tên ông được dùng như một cái mốc lịch sử: thơ ca tiền
Pushkin, thơ ca hậu Pushkin. Tên ông cũng được dùng để gọi cho cả thời đại thơ đầu thế kỷ XIX,
nhờ có ông mà thời đại đó mới mang tên “thời đại vàng”, “thế kỷ vàng”, một tác gia vĩ đại là cầu
nối văn học Nga trong quá khứ với hiện tại và hướng tới tương lai, là người mở cánh cửa cho văn
học Nga hòa nhập và chiếm lĩnh những đỉnh cao văn hóa thế giới.

1.2. Adam Bernard Mickiewicz.
Adam Bernard Mickiewicz (24/12/1798 – 26/11/1855) – nhà thơ dân tộc Ba Lan, được
coi là một trong những nhà thơ lớn của thơ ca lãng mạn thế giới. Adam Mickiewicz sinh ở
Zaosie gần Navahrudak, là con trai của Mikołaj Mickiewicz một luật sư nghèo.
Học Đại học Vilnius từ năm 1815. Tham gia vào việc thành lập nhóm thanh niên yêu nước
và làm thơ cổ vũ cho phong trào này. Sau khi tốt nghiệp Đại học, làm giáo viên dạy học.
Năm 1823 bị bắt vào tù vì tham gia hoạt động chính trị, năm 1824 được trả tự do. Từ năm
1824 đi đến nhiều thành phố như Sank-Peterburg, Odessa, Moskva, Cremia.. làm quen với nhiều
nhà cách mạng Tháng Chạp ở Nga. Từ năm 1829 đi ra nước ngoài. Sống ở Đức, Thụy Sĩ, Ý.
Năm 1832 sang Paris, cộng tác với các nhà chính trị sống lưu vong của Ba Lan và Litva. Năm

1840 được phong giáo sư các ngôn ngữ Slavic của trường College de France. Năm 1855 Adam
Mickiewicz đến Constantinople với ý định thành lập đội quân người Ba Lan giúp Anh, Pháp
chống lại Nga hoàng nhưng ý định đang dở dang thì bị bệnh dịch tả và mất ngày 26 tháng 11.
nhà thơ tin tưởng vào một xã hội Ba Lan tự do, đa văn hóa và là một trong những nhà thơ quan
trọng nhất của chủ nghĩa lãng mạn châu Âu , có thể so sánh với Lord G. Bryon và J.W. von
Gothe.


Bài thơ đầu tiên Zima miejska in ở báo Tygodnik Wileński năm 1818. Tập thơ đầu Poezje
(Thơ), xuất bản năm 1822 có bài giới thiệu O poezji romantycznej(Về thơ lãng mạn) trở thành
tuyên ngôn của phái lãng mạn trong văn học Ba Lan. Sau đó in 4 tập thơ khác ở Nga. Thiên sử
thi Pan Tadeusz czyli Ostatni zajazd na Litwie viết trong các năm 1832-1834 in ở Paris năm
1834 được coi là kiệt tác.
Một số bài thơ của Mickiewicz: Poezje (Thơ, 1822), Sonety krymskie (Những bài sonnet Cremia,
1826), thơ, Konrad Wallenrod (1828, trường ca), Księgi narodu polskiego i pielgrzymstwa
polskiego (1832, văn xuôi), Pan Tadeusz czyli Ostatni zajazd na Litwi (1834, thiên sử thi)…
Trong nền văn học Ba Lan, Adam Mickiewicz có nhiều đóng góp quan trọng tạo nên
một thời đại trong thơ ca rất phong phú và đặc sắc, là người thể hiện ý chí của dân tộc Ba Lan,
người đầu tiên nâng thơ ca Ba Lan lên ngang tầm các nền thơ khác của châu Âu. Có thể nói
Adam Mickiewicz là cây đại thụ của văn học Ba Lan trong chủ nghĩa lãng mạn tại Châu Âu.

2. Tác phẩm.
2.1. Tác phẩm “Người tù Kavkaz”
Trường ca Người tù Kavkaz (1821), được viết khi ông bị đày xuống phương Nam. Vào
quãng thời gian này (1820 – 1823) Pushkin say sưa với các trường ca của Byron, lúc bấy giờ
được dịch và rất ưa chuộng ở Nga và trường ca Người tù Kavkaz là tác phẩm mang tinh thần
Byron nhiều nhất của Pushkin. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Byron đối với Pushkin chủ yếu chỉ
dừng lại ở hình thức thơ, ở việc chọn đề tài và ở giọng thơ nửa hài hước nửa nghiêm trang, còn
về bản chất, Người tù Kavkaz là một tác phẩm tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn Nga. Ðây là bản
trường ca hoàn chỉnh sau bản trường ca Ruxlan và Liutmila.

Bản trường ca gồm 2 chương viết về một chàng thanh niên Nga bất bình với xã hội mình
đang sống. Anh ta từ bỏ tất cả và đến hành trình tự do nơi miền núi. Nhưng trớ trêu thay, trên
hành trình của mình anh bị bộ tộc người Secket bắt giam làm tù binh, họ đeo xiềng xích vào chân
anh và giam cầm anh nơi hang núi. Cũng tại nơi đây anh đã gặp một cô gái xinh đẹp người
Secket cảm phục hành động anh hùng và lý tưởng tự do của chàng nên đem lòng yêu. Nhưng anh
ta đã từ chối tình yêu vì với anh ta tình yêu là thứ “ảo mộng ngu si” còn tự do mới là điều thiêng
liêng nhất. Dù bị khước từ tình cảm như vậy, nhưng cô gái vẫn dùng cưa sắt phát xiềng cứu thoát
người mình yêu. Anh đã thoát thân bằng cách bơi qua bên kia sông, trong lúc đó anh ngoái lại thì
bên này cô gái tự gieo mình trong dòng nước tự kết liễu đời mình.
Trong tác phẩm này Puskhin đã thể hiện lên các vấn đề nóng bỏng của thời đại về con
người, tình yêu, chân lí về sự tự do, hạnh phúc đích thực, con đường đi tìm chân lí… nhân vật
chính là người tù, đây cũng là hình tượng mang ý nghĩa lớn nhất của tác phẩm. Người tù này
chính là hình tượng khái quát, tổng hợp của lớp thanh niên Nga thời bấy giờ.


Người thanh niên trong trường ca khao khát đi tìm tự do:
-

“…lòng khao khát tự do lại thêm bền vững:
Tôi ngóng tương lai tươi đẹp xa vời
Tạm thời đây chỉ niềm vui các bạn
Là có thể an ủi được lòng tôi.”

Tự vẽ nên cho mình một viễn cảnh tươi đẹp, một nơi tuyệt vời để sống, anh bỏ lại sau lưng
mình tất cả, thành phố, người thân, xã hội phức tạp với những con người thời cơ, sống toán tính,
nịnh hót… Anh muốn tìm tự do ở một nơi rừng núi hoang vu, một xã hội đơn giản nơi không có
những toan tính hãm hại lẫn nhau. Nhưng anh đã thất bại, anh trở thành tù nhân đó là bi kịch của
anh cũng chính là sự vỡ mộng của nhân vật, anh không tìm được tự do ở bất kì đâu từ thành thị
cho đến rừng núi hoang sơ, số phận anh lênh đênh.
-


“Ôi tự do thiêng liêng!
Anh đã thành nô lệ.”

Đã vài lần anh thốt lên “Ôi tự do…” với một thái độ vừa cảm thán vừa hết sức đau khổ và
xót xa khi mà con đường đi tìm tự do của anh đã mịt mù, và trong những lúc đó đã có khi anh
gục ngã và anh “khát khao bóng tối của nấm mồ”
Vì tự do, mà anh khước từ tình yêu của cô gái trẻ đối với mình vì trong đầu anh “ Tình
yêu là ảo mộng ngu si”, nhưng với cô gái trẻ xinh đẹp này thì cô không tìm kiếm sự tự do như
anh, cô mong cầu một tình yêu đối với cô tình yêu mới đẹp đẽ và đáng trân trọng biết bao:
“Hỡi anh tù binh yêu quý
Sao ánh mắt sầu anh chẳng vui lên,
Hãy tựa đầu anh xuống sát ngực em,
Quên hết tự do đi, quê hương đừng nhớ nữa…”
Trước tấm chân tình đó của cô gái anh cũng có chút lung lay nhưng lòng anh vẫn chỉ
khao khát tự do:
-

“Nghe lời nói tình yêu của cô thiếu nữ.
Lòng anh lại nặng nề tư lự”.
“Quên tôi đi!...tôi đâu xứng tình yêu cô nữa”.

Nhưng anh vẫn không tìm được một lối thoát nào cho mình. Nhân vật người tù trở nên
lúng túng trước cái lí tưởng của mình nhưng dù vậy anh vẫn là hình tượng cho sự khát khao truy
tìm tự do của thời đại. “Đêm rồi đêm lần lượt qua đi. Anh vẫn khao khát tự do đằng đẵng”


Trở lại với nhân vật cô gái người dù là nhân vật phụ của bản trường ca nhưng cô cũng
thể hiện được tư tưởng sâu sắc của tác giả. Đó là tình yêu không toan tính, một thứ hy sinh cao
cả chẳng thà để mình chết chứ không để người mình yêu phải chịu cảnh gông cùng. Hành động

cầm cưa sắt để cưa xiềng xích giải phóng cho anh là một hành động táo bạo thể hiện sự can
trường của người con gái này:
-

“Cô run tay cầm cây cưa sắt
Cúi khom mình xuống trước chân anh
Xiềng bị cưa, vang tiếng lang canh
Dòng nước mắt bỗng dưng chảy xuống..”

Anh đi và cô đã tự tử, phải chăng cái chết của cô đơn thuần chỉ là cái chết của tình yêu
hay cái chết đó còn là sự tự do, một sự tự do tuyệt đối về mặt xã hội.
Tính cách nhân vật người tù là một khối mâu thuẫn, anh ta là một người cố chấp, tâm hồn
khô héo, chán ghét xã hội nhưng anh ta lại có một khát khao mãnh liệt, một sự say mê đắm đuối,
tình yêu mạnh mẽ với tự do, đó là đòi hỏi sự giải phóng bản thân, là cái cá nhân, cái tôi đặc trưng
trong chủ nghĩa lãng mạn. Bên cạnh đó còn là cảnh trí hùng vĩ của thiên nhiên vùng Kavkaz, tình
yêu thiên nhiên đất nước Nga của tác giả, phần nào gửi gắm vào đây.
Trong toàn bộ bài trường ca này, Pushkin đã miêu tả rất nhiều về hình ảnh thiên nhiên nơi
đây. Qua cách cảm nhận và giác quan của nhân vật là người thanh niên Nga bị bắt làm nô lệ,
thiên nhiên trở nên đẹp hơn bao giờ hết, không phải là những hình ảnh cao siêu, kỳ ảo, huyền
diệu mà là từ những cái rất đỗi bình dị, thông thường nhưng qua ngôn từ trau chuốt của tác giả
và cảm nhận riêng của kẻ nô lệ bị giam cầm thì thiên nhiên trở nên đẹp lạ lùng, trong sáng, nhẹ
nhàng mà mê đắm.
-

Khung cảnh hùng tráng, say mê
“Thấy điệp điệp trùng trùng núi dựng
Núi cao to, đè nặng xuống đầu anh”
“Xa xa kia, nước khe trong núi
Sáng ngời trên vách đá chảy tuôn ra”
“Nhìn chăm chắm bóng khổng lồ dãy núi

Bạc, hồng xanh ở cuối chân trời
Một bức tranh tráng lệ tuyệt vời!”

-

Thiên nhiên mênh mông, bình dị
“Trước mặt anh những cánh đồng hoang vắng
Trải ra kia lớp lớp giăng thành
Những đỉnh núi như nhau đơn điệu
Trên núi cheo leo con đường mòn ngoắt ngoéo”


-

Những hình ảnh của thiên nhiên vô cùng thường nhật: mặt trời chiều, ánh bạc đêm trăng,
tảng đá,... nhưng lại vô cùng đẹp khi bước vào trong những dòng thơ tạo nên màu sắc
lãng mạn riêng biệt:
“Mặt trời chiều đã lặn vào trong núi... Ai người đi trong ánh bạc đêm trăng... Cô gái
mang một mảng ánh trăng”
“Ráng ban mai từ chân trời nóng hổi
Kéo thời gian đi tới từng ngày
Đêm rồi đêm lần lượt qua đi”

-

-

Nhẹ nhàng, trong sáng
“Hơi đá lạnh ở trong hang núi
Che chở cho anh khỏi nắng hè nóng hổi

Cứ mỗi lần, trong trẻo mảnh trăng non
Từ từ trên đỉnh núi nhô lên”
“Sao trên trời dần dần mờ tối
Ở xa kia những ngọn tuyết phủ sơn
Cũng tầng tầng lớp lớp sáng ngời lên”
Ngoài ra, phong cảnh thiên nhiên cũng nhuốm màu u buồn khi tâm trạng của nhân vật
đang buồn bã.

Nhân vật bị bắt cầm tù, không chỉ quan sát vùng thiên nhiên nơi đây và ngay cả nhưng
phong tục tập quán, con người địa phương cũng được anh cảm nhận và thể hiện một cách sinh
động, từ những nhận định bên ngoài cho đến tình cảm riêng của bản thân.
Anh không biết từ khi nào anh lại yêu con người nơi đây, từ cách đi đứng, trang phục,
ngoại hình, cách phi ngựa, bắn cung,...với anh những điều đó thật hùng dũng nhưng cũng gọn
gàng và giản dị. “Anh yêu họ cách đứng đi cứng rắn. Chân bước nhanh, đôi cánh kiên cường.”
“Họ cứ thế suốt đời nhanh nhẹn. Vẻ ngang tàn kiên dũng làm sao!”
Phong tục ngày tết “trừ trai”, chơi trò chơi, bắn tên, từ những cái đơn giản nhưng từ từ
chuyển thành những trò chơi tàn khốc để tạo không khí náo nhiệt hơn. Tiếng cười điên giữa tiệc
cộng với tiếng gươm múa lượn, tiếng vỗ tay, hò hét hoan lạc là sự đối lập với hình ảnh đầu
những người nô lệ tung rơi. => Anh cũng từng giết rất nhiều người, nhưng hiện giờ anh lại trở
nên khác hẳn, anh trong vị trí 1 người tù binh chờ đợi 1 viên đạn kết thúc trong lần quyết đấu.
Anh vấn vương nhớ lại những ngày qua, tiếc nuối. Trước trò chơi tàn khốc ấy anh chỉ biết đứng
quan sát, trầm ngâm che đậy nội tâm xao động của mình.
Nói tóm lại “Người tù Kavkaz” có môtíp tiêu biểu cho văn học lãng mạn (một cô gái Cherkes
đem lòng yêu chàng, nhưng không được đáp lại; cô giải thoát cho chàng trai, còn bản thân nhảy
xuống sông tự vẫn..): nhân vật tìm kiếm tự do trong thế giới của những con người hoang dã chưa


biết đến văn minh. Tuy nhiên, trong tác phẩm này, Pushkin đồng thời cũng lần đầu tiên đưa vào
nhân vật “người tù” một số nét tính cách của con người thời đại: đó là những con người trẻ tuổi
nhưng đã sớm thờ ơ với cuộc sống, tâm hồn đã sớm già cỗi – hiện tượng “con người thừa” mà về

sau sẽ được bản thân Pushkin và những người kế tục ông trong văn học Nga khai thác rất kỹ.
“Người tù” cũng còn là một phần thế giới tâm hồn của chính bản thân nhà thơ trong thời kỳ lưu
đày được thể hiện qua nỗi cô đơn, những hồi ức về chốn đô thành...
2.2. Bài thơ “Lãng mạn” – Mickiewicz.
Lãng mạn (tiếng Ba Lan: Romantyczność) là một bản ballad, được xem là một tuyên
ngôn bằng thơ của chủ nghĩa lãng mạn của Mickiewicz. Đây không phải là sáng tác đầu tay của
nhà thơ, nhưng được xem là tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp thơ ca lãng mạn của riêng ông
cũng như của văn học lãng mạn Ba Lan nói chung. Bài thơ được viết năm 1821 và được đưa vào
tập Những bài ballad và romance xuất bản năm 1822.
Bài thơ thông qua lời kể của nhân vật “tôi” nói về câu chuyện cô gái có người yêu đã chết
hai năm, thay vì quên đi, cô vẫn ấp ủ ôm giữ bóng hình chàng trai. Hằng đêm gặp mặt, chuyện
trò và người ta xem chuyện đó là “sự điên rồ”. Mọi người xung quanh muốn cô cầu kinh, mong
cô được bình tĩnh. Một ông lão đã thẳng mặt chỉ rằng cô phải thừa nhận mình hoang tưởng về
một bóng ma. Đó chỉ là chuyện hoang đường, những ảo tưởng của con người tạo ra mà thôi.
Những khổ thơ cuối cùng là lời bênh vực cô gái của nhân vật “tôi”. Lên tiếng bảo vệ sự yếu đuối,
nhưng thực chất là mạnh mẽ vì dám đối mặt của cô gái. “Tôi” khẳng định: “Không sự kỳ lạ nào
ngài có thể thấy qua:
“Vì phải nhìn bằng trái tim mình
Nhìn tận đáy những trái tim mới thấy”
Dường như là một áng thơ trữ tình dịu dàng, song, đây là tiếng nói mạnh mẽ của một chủ
nghĩa mới đang được hình thành, chủ nghĩa lãng mạn mà Mickeiwicz là người dẫn đầu.
Jean (tức Jan trong tiếng Ba Lan) – có thể ám chỉ tới Jan Śniadecki - nhà toán học, thiên
văn học và triết gia Khai sáng, giáo sư hiệu trưởng Đại Học Vilnius thời kỳ sáng tác lãng mạn
của Mickiewicz. Jan Sniadecki chủ trương bảo vệ chủ nghĩa cổ điển, đối lập với xu hướng lãng
mạn.
Hồn ma chàng trai tên Jean, theo khía cạnh phiến diện nhóm thuyết trình hiểu là đại diện
cho chủ nghĩ cổ điển, và nó như một rào cản cho sự phát triển của chủ nghĩa mới, chủ nghĩa lãng
mạn. Là đại diện cho chủ nghĩa cổ điển, đã cũ, khi quấn vải liệm, khi đã lạnh lẽo nằm dưới mồ
sâu vẫn là ám ảnh, là rào cản cho sự phát triển cho chủ nghĩa lãng mạn.
Thực chất đó không phải có ý rằng chủ nghĩa cổ điển đã lụi tàn, phải châm dứt ở mọi

mặt, mà chỉ muốn cho thấy rằng đến lúc nhường chỗ để những tư tưởng về tình cảm, về cá nhân
của con người thể hiện, không còn sự độc tôn, độc quyền nào.


Về cô gái, cô ý thức bản thân đang cảm nhận một điều gì đó chưa giải thích được nhưng
chắc chắn là đang hiện hữu bên trong cô. Cô nhìn thấy chàng trai, mơ hồ, cô nghi ngờ chính
mình
“Người ta bảo nàng đang theo đuổi
Một bóng hình cuối cùng nàng với tới”
“Ôi sợ quá chừng anh chết thật rồi chẳng?”
Cô gái đi theo tiếng gọi của trái tim mình, dù vấp phải những phản ứng gay gắt xung
quanh. Điều đó là biểu hiện của những điều bình thường khi cái mới vừa xuất hiện. Sự nghi ngờ
cao độ, mọi thứ trải ra trái chiều trước mắt ta.
“Em khóc than, họ cười nhạo em
Em nói gì, họ cũng không thể hiểu
Em thấy gì, họ cúng thấy như đêm”

Ngay tại tình yêu của cô gái, cô yêu Jean khi anh ta chỉ còn là bóng ma. Như đã nói ở
trên, Jean là đại diện cho chủ nghĩa cổ điển, như vậy chủ nghĩa lãng mạn không bác bỏ, không từ
chối những giá trị của chủ nghĩa cổ điển đã có trước kia, nó chỉ tồn tại trên chính những lý lẽ vốn
dĩ đang được bảo vệ. Cô không hoang tưởng, cũng như chủ nghĩa lãng mạn không hoang đường,
xa rời chân lý.
Bóng ma của chủ nghĩa cổ điển còn như một rào cản, níu những bước chân non nớt lại
một cách kín đáo. Người ta không khó nhận ra rằng cô gái bị chính những gì mình đã từng yêu
nắm lại. Cũng như người ta tiếc nuối, không dám để cái gì trượt khỏi đường ray, sợ bánh xe sẽ
trật nhịp mà rơi mất xuống vực, tất cả những giá trị chân nguyên đã dày công trước đó bị sụp đổ.
Hình chung lại, có lẽ phải nghĩ rằng đã đến lúc chấp nhận cho những điều mới mẻ hơn phát triển,
những giá trị xưa cũ vẫn sẽ được bảo tồn giá trị nguyên vẹn.
Trong bài thơ, thể hiện rõ nhất quan niệm, quan điểm về chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa
lãng mạn qua đoạn thơ viết về lời của ông già “bác học” lên tiếng “cảnh tỉnh” cô gái.

“Hãy nghe ta, hãy cứ tin ta
Mắt ta tỏ mà kính ta cũng sáng
Ta đã nhìn mà chẳng thấy gì qua”
Bằng mớ lý thuyết cổ mẫu, khô cứng ông có được, kinh nghiệm đè bẹp lên suy nghĩ, tư
duy của con người.Theo ông:


Hồn ma -> bịa ra
Sự ngu si -> chuyện vớ vẩn
Tai nghe -> sự nhảm nhí, hồ đồ
Dân chúng -> tấn công vì LẼ PHẢI
Sự vô lý ở đây là ràng buộc con người bằng những dây nhợ khuôn khổ, những lý thuyết
đóng hộp. Nhưng chính vì cô gái không thể lên tiếng giải thích, biện minh, chứng minh mình
không sai, như bất lực trước các thế lực “cổ mẫu”. Đó là biểu hiện của sự non nớt, bước đầu phát
triển của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học.
Trong lúc đó nhân vật “tôi” đóng vai trò người ngoài cuộc tỉnh táo. “Tôi” lên tiếng bênh
vực cô gái, cũng là để bảo vệ cho chủ nghĩa lãng mạn. Chỉ ra những đặc tính cơ bản khác nhau
giữa hai chủ nghĩa.
“Tôi nghe chuyện và tôi tin tất cả
Nước mắt trào rơi, tôi nguyện cầu.”
Nhân vật “tôi” có thể hiểu đó chính là tác giả, người dẫn đầu trào lưu chủ nghĩa lãng
mạn, ông thấu suốt mọi khía cạnh mà một khuynh hướng văn học mới hình thành.
Adam Mickiewicz đã xây dựng nên hình tượng cô gái và tình yêu của cô ấy với một
chàng trai đã chết để qua đó thấy được rằng: tình yêu vượt thời gian, và nó sẽ sống trong tâm
thức của con người. Tác giả sử dụng cái huyền ảo dị thường để nói lên tính chất lãng mạn trong
tác phẩm.
Cô gái yêu chàng trai đã chết cách đây hai năm, và chàng luôn hiện về hằng đêm trò
chuyện với cô. Và cô muốn đi theo chàng đến một thế giới nơi tồn tại tình yêu chứ không phải là
những lí thuyết khô khan trống rỗng, hiện thực cuộc sống quá khắc khe với cô vì vậy cô gái luôn
muốn sống trong quá khứ, sống trong sự yêu thương và bảo bọc của tình yêu. Chính cái tính chất

dị thường ấy đã khiến ta thấy được cái gọi là mặt tối của xã hội. Những thứ đang diễn ra có thể là
những ảo tưởng và vô thức trong tâm hồn của người con gái ấy.
Nếu như có thể nói hình ảnh của cô gái là tượng trưng cho chủ nghĩa hiện đại thì ông già
trong tác phẩm là đại diện cho chủ nghĩa cổ điển. Một chủ nghĩa khi mới hình thành nó mang
những tính chất tích cực, tuy nhiên càng sau này thì tính khuôn mẩu, lí thuyết khô khan không
còn phù hợp với thời đại. Chủ nghĩa cổ điển luôn cho cái duy lí là bật nhất, coi trọng tri thức, coi
trọng cái khuôn mẫu cũng như hình thức, không quan tâm đến vấn đề cá nhân, thì chủ nghĩa lãng
mạn hình thành và đi ngược với tinh thần thời đại ây.


3. So sánh chất lãng mạn của Adam Mickiewicz và Pushkin qua hai tác phẩm.

Chủ nghĩa lãng mạn được hình thành và được xem là trào lưu vào khoảng th XVIII đến
những năm 30, 40 của thế kỉ XIX.
Nhân vật trung tâm của chủ nghĩa lãng mạn.
Con người lí tưởng của chủ nghĩa lãng mạn thoát li khỏi cuộc sống thực tế quay lại với
quá khứ, hoặc đi vào mộng hoặc là thu mình vào cái tôi nhỏ bé. Hoặc, các nhân vật chống lại sự
buồn chán, cô đơn chán chường bất lực bằng hành động bỏ đi tìm đến một vùng đất mới có thể
giải thoát được ước muốn cũng như tư tưởng tình cảm bị dồn nén.
Nguyên tắc, khắc họa tính cách của chủ nghĩa lãng mạn.
Nếu như chủ nghĩa cổ điển xây dựng tính cách chú ý đến cái chung, ý nghĩa khái quát,
coi nhẹ cái riêng, cá tính, thì ngược lại chủ nghĩa lãng mạn coi trọng vẻ riêng cái đặc biệt độc
đáo thậm chí nhấn mạnh đến mức cực đoan phi thường, ngoại lệ.
Chủ nghĩa lãng mạn thường man sự đối lập giữa những tư tưởng tình cảm mạnh mẽ và
thực tế nghèo nàn thù địch chung quanh.
Chống lại chủ nghĩa duy lí chủ trương sự độc tôn của lí trí, chủ nghĩa lãng mạn đề cao
chất trữ tình trong sáng tác. Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn là cái tôi của sự mãnh liệt, yêu
ghét, vui buồn, cận hận, ước mơ, hi vọng. Một trong những đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn
chính là coi trọng yếu tố thiên nhiên. Nó như một chất xúc tác có ảnh hưởng mạnh đến tư duy
tình cảm của người sáng tác.

Điểm giống nhau của hai nhà văn.


Có thể nói, điểm giống nhau ở hai nhà thơ họ đều là những tác gia tiêu biểu cho chủ
nghĩa lãng mạn ở Ba Lan, Nga nói riêng và cho nền văn học lãng mạn thế giới nói chung.
Riêng Adam Mickiewicz ông được xem là người đầu tiên đặt dấu mốc cho văn học lãng
mạn Ba Lan vào năm 1820.



Những sáng tác của họ đều thể hiện cái tôi mãnh liệt, cái tôi về sự đòi hỏi và phá cách.
Họ chống lại chủ nghĩa duy lí chủ nghĩa cổ điển và vượt lên trên cái gọi là mẫu mực và
khuôn khổ.



Thiên nhiên trở thành yếu tố đi cùng với tâm trạng của nhà thơ. Họ gắn liền sáng tác của
mình vào đá, vào núi vào rừng cốt để thể hiện thần thái cũng như những quan niệm thẩm
mĩ của mình trong sáng tác.

Adam Mickiewicz.

Pushkin


Nhân vật trung tâm của Adam Mickiewicz
Nhân vật của Puskin có thể tạm gọi đó là
mang nổi buồn của hiện tại, muốn trốn tránh nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn tích cực: thể
thế giới bằng cách quay ngược lại với quá khứ. hiện khác vọng, niềm tin vào cuộc sống với
khác khao được tìm đếm với cái tự do tuyệt

đối
Khác vọng vươn đến sự tự do tuyệt đối, sự
hoàng thiện cá nhân về tinh thần và về lí
tưởng.
Tác phẩm của Mickiewicz có xu hướng
quay ngược lại với lịch sử, tìm những giá trị
tốt đẹp trong quá khứ. Thể hiện yếu tố lãng
mạn những khác khao đối với cuộc sống qua
giấc mơ.

Trong lãng mạn có yếu tố thời đại, được thể
hiện ở chổ đã đem tính chất thời sự vào tác
phẩm của mình. Thông qua hình tượng nhân
vật để thể hiện ước muốn và khác khao thay
đổi cuộc sống.
Quan tâm đến cái mạnh mẽ, phi thường.

Tâm trạng thất vọng với hiện thực, chối bỏ
những hiện thực đang diễn ra.

Viết về tự do của con người, và chủ nghĩa dân
tộc.

Tổng kết:
Chủ nghĩa lãng mạn trong quá trình hình thành và phát triển được xem là bước đột phá.
Đi ngược lại với chủ nghĩa cổ điển để tiến gần hơn đến với những khám phá nội tâm của
con người. Adam Mickiewicz và Pushkin được xem là hai nhà thơ đặc nền móng cho chủ
nghĩa và có thể khẳng định qua họ chúng ta có thể hiểu được thế nào là chủ nghĩa lãng
mạn đặc trưng.



Ở Adam Mickiewicz. Ta thấy đó là một tinh thần cải cách mạnh mẽ tiến gần hơn đến cái
vô thức và nội tâm của con người. Thơ ông sử dụng nhiều yếu tố kì quá và có xu hướng
hướng về quá khứ để tìm những cái gọi là tốt đẹp. Pushkin thì ngược lại thơ ông thể hiện
khát khao về cái tôi tự do mãnh liệt về thiên nhiên về đất nước và dân tộc. Dù có những
điểm khác nhau rõ rệt những ta nhìn thấy được tinh thần thời đại ở họ, sự cải cách đã đẩy
tiến trình văn học phát triển mạnh mẽ hơn.

Tài liệu tham khảo
Đỗ Hải Phong (chủ biên), Hà Thị Hòa, Giáo trình văn học Nga, NXB Giáo dục, 2002
Hà Thị Hòa, Văn học Nga trong nhà trường, NXB Giáo dục, 2011
Đỗ Hồng Chung, Puskin Nhà thơ Nga vĩ đại, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
1976



×