Tải bản đầy đủ (.pdf) (184 trang)

Giáo trình lịch sử việt nam từ 1975 đến 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 184 trang )

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ...........................................................................................

3

1. Lí do và mục đích thực hiện giáo trình.......................................................

3

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu ..............................................

4

3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................

6

4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu giáo trình ....................................................

6

5. Nội dung nghiên cứu của giáo trình ...........................................................

7

6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................

7

7. Ý nghĩa, hiệu quả và những đóng góp của giáo trình.................................



8

8. Sản phẩm của giáo trình .............................................................................

9

9. Cấu trúc của giáo trình ...............................................................................

9

TÓM TẮT PHẦN NỘI DUNG CỦA GIÁO TRÌNH ................................

11

Chương 1. Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng
chiến chống Mĩ và hoàn thành thống nhất đất nước (1975-1976) .................

11

Chương 2. Việt Nam bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh bảo vệ
toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốc (1976 - 1985) ..................................

12

Chương 3. Việt Nam trên con đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội
(từ 1986 đến 2010) .........................................................................................

15


NỘI DUNG CHÍNH .....................................................................................

21

Chƣơng 1. Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống Mĩ và hoàn thành thống nhất đất nƣớc
(1975-1976) ................................................................................

21

1.1. Tình hình thế giới và Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước .........................................................................................

21

1.1.1. Tình hình thế giới .................................................................................

21

1.1.2.Tình hình Việt Nam ...............................................................................

23

1.2. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình
miền Nam sau giải phóng ...............................................................................
1.3. Hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước (1975 -

1

25



1976) ...............................................................................................................

33

Chƣơng 2. Việt Nam bƣớc đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền tổ quốc (1976 - 1985) ......

45

2.1. Giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam .................................................

45

2.2. Bước đầu xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.................................................................................................

46

2.3. Đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc
(1975 - 1988) .........................................................................................

65

Chƣơng 3. Việt Nam trên con đƣờng đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội
(từ 1986 đến 2010) .....................................................................

87


3.1. Bối cảnh và sự cần thiết phải đổi mới .....................................................

87

3.2. Chủ trương, đường lối đổi mới đất nước của
Đảng Cộng sản Việt Nam .......................................................................

90

3.2.1. Đổi mới về kinh tế ................................................................................

90

3.2.2. Về đổi mới chính trị..............................................................................

96

3.2.3. Quan hệ đối ngoại .................................................................................

99

3.3. Những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới
đất nước (1986 - 2010) ............................................................................

100

3.3.1. Những thành tựu, hạn chế bước đầu của công cuộc đổi mới
(1986 - 1990) ........................................................................................

102


3.3.2. Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 ..........

108

3.3.3. Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 1996 đến 2000 ..........

120

3.3.4. Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 2001 đến 2005 ..........

132

3.3.5. Những thành tựu và hạn chế trong giai đoạn từ 2005 đến 2010 ..........

152

Kết luận .........................................................................................................

172

Tài liệu tham khảo ........................................................................................

180

Các bài báo khoa học và các chuyên khảo liên quan tới
giáo trình .......................................................................................................

2


184


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do và mục đích thực hiện giáo trình
Lý do thực hiện giáo trình
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Việt Nam bước vào thời kì khắc phục hậu
quả chiến tranh, phục hồi và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Trong 10
năm đầu cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu đạt được, Việt
Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn to lớn: nền kinh tế bị tàn phá, gánh chịu những
hậu quả nặng nề sau 30 năm chiến tranh; đất nước phải đương đầu với sự bao vây cấm
vận các thế lực thù nghịch và phản động quốc tế. Việt Nam tiến hành công cuộc xây
dựng theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước với cơ sở vật chất kỹ
thuật thấp kém và lạc hậu. Trong giai đoạn từ sau 1975 đến 1988, Việt Nam còn phải
liên tục vượt qua bao thử thách, gian khổ hai cuộc chiến tranh biên giới để đấu tranh
bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất liền, biển đảo. Cả đất nước Việt Nam đã nỗ
lực hoàn thành những nhiệm vụ chiến lược trong hai kế hoạch 5 năm (1976-1985) do
Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam đề ra. Tuy nhiên, do nhiều khó khăn từ khách
quan và chủ quan, đất nước vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội sau 10
năm giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước (1975-1985).
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đề ra đường lối đổi mới để
đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất
nước, Việt Nam không những đã vượt qua được tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội
mà còn trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong khu vực và
trên thế giới, nhưng đồng thời cũng tồn tại những khó khăn, thách thức không nhỏ.
Việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình phục hồi
và phát triển đất nước từ 1975 đến 1986 và trong quá trình đổi mới từ 1986 đến 2010

3



để phục vụ cho việc hoạch định chiến lược phát triển đất nước trong những giai đoạn
tới là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn về mặt khoa học và thực tiễn.
Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay là môn học bắt buộc trong chương trình đào
tạo chuyên ngành Sư phạm lịch sử và cả tự chọn của một số khoa trong Trường Đại
học Sài Gòn. Việc nghiên cứu, biên soạn một giáo trình mới về lịch sử Việt Nam từ
1975 đến 2010 trên cơ sở kế thừa, cập nhật và khắc phục những hạn chế của các giáo
trình đã có là rất cần thiết và sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào
tạo chuyên ngành này.
Mục đích thực hiện giáo trình: Đề tài đặt ra mục đích hoàn thành một cuốn giáo
trình vừa chứa đựng các thông tin khoa học mang tính hàn lâm, vừa phù hợp với các
yêu cầu sư phạm, phục vụ đào tạo chuyên ngành lịch sử Việt Nam hiện đại. Nội dung
Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã nghiên cứu và trình bày tổng quát
bối cảnh lịch sử, khái quát đặc điểm phát triển, những thành tựu, hạn chế của Việt
Nam trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ biển đảo, giữ vững an ninh, ổn định và phát triển đất nước từ 1975
đến 2010.
Xuất phát từ những ý nghĩa khoa học và nhu cầu thực tiễn như trên, chúng tôi đã
hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học và biên soạn thành Giáo trình Lịch sử Việt
Nam từ 1975 đến 2010 cũng với mục tiêu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập cho giảng viên và sinh viên Sư phạm lịch sử theo hệ thống đào tạo tín chỉ của
Khoa SPKHXH, cũng của các khoa khác trong ĐHSG; qua đó góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo của Trường Đại học Sài Gòn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu
Hiện nay, vấn đề “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay” đã được công bố trong
nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, trong đó đáng chú ý là những công trình của
PGS. Trần Bá Đệ như “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay: Những vấn đề lý luận và
thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Nxb ĐHQGHN, 1997); “Lịch sử Việt Nam


4


từ 1858 đến nay” (Nxb ĐHQGHN, 2000); “Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay (Sách
cao đẳng sư phạm)” (Nxb GD, 1998) v.v…
Trong phần lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay còn có các công trình khác mang
tính học thuật, được dùng như là giáo trình dùng khá phổ biến ở các trường cao đẳng
và đại học như “Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III” (Nxb GD, 2003, 2010) của
GS.Lê Mậu Hãn; GS.Nguyễn Quang Ngọc với: “Tiến trình lịch sử Việt Nam” (Nxb
GD, 2006). Đây là những giáo trình phục vụ cho việc dạy học của giảng viên và sinh
viên chuyên ngành lịch sử ở các trường đại học và cao đẳng. Các giáo trình này đã
khái quát được những nét cơ bản của lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2000. Tuy nhiên,
không một giáo trình có thể phân tích một cách sâu sắc hết được những bất cập, hạn
chế trong 10 năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và quá trình hình thành đường
lối đổi mới và đặc biệt là những tài liệu cập nhật về biển đảo, chính sách đối ngoại và
các mối quan hệ hợp tác quốc tế và khu vực.
Bên cạnh những giáo trình trên, một số chuyên khảo liên quan đến giai đoạn lịch
sử này cũng được xuất bản trong thời gian gần đây, cụ thể như: tác phẩm “Đêm trước
đổi mới” (Nxb Trẻ, 2006), “Những vấn đề lí luận về CNXH và con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam” của Nguyễn Duy Quý (Nxb CTQG, 1998), “Đổi mới và phát triển
ở Việt Nam - một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của Nguyễn Phú Trọng (Nxb ĐHQG,
2006), “Tư duy kinh tế Việt Nam chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 – 1989”
của Đặng Phong (Nxb Tri Thức, 2008) hay Kỉ yếu hội thảo khoa học “Công cuộc đổi
mới ở Việt Nam những vấn đề lí luận và thực tiễn” (Trường Đại học KHXH & NV ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh, 2006)… Những công trình này đã bước đầu đi sâu nghiên
cứu ở một số khía cạnh cụ thể của lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay dưới góc nhìn của
khoa học chính trị, khoa học kinh tế, và Sử học để tập trung làm rõ các vấn đề lí luận
và thực tiễn về đổi mới, đề cập đến những bất cập của cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp và sự nảy sinh những cách làm ăn mới, sáng tạo tạo tiền đề cho đổi mới sau này.

5



Qua phần tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến
nay” tuy đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến dưới nhiều góc độ khác
nhau, nhưng chỉ mới ở mức độ khái quát và dừng lại tại thời điểm năm 2000. Việc bổ
sung thêm những tư liệu mới để làm rõ bối cảnh và quá trình hình thành đường lối đổi
mới, cập nhật và bổ sung những thành tựu và hạn chế của Việt Nam trong giai đoạn từ
1975 đến nay (2010), góp phần làm rõ hơn giai đoạn lịch sử này là một nhiệm vụ mới
đặt ra cho các nhà nghiên cứu hiện nay.
Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 của chúng tôi có sự kế thừa
những công trình đi trước, đồng thời cũng chính là giáo trình góp phần đáp ứng những
yêu cầu trên.
Nguồn tài liệu: Nguồn tài liệu khai thác từ các trung tâm lưu trữ, hệ thống thư
viện Quốc gia, Thư viện Tổng hợp của TP.HCM, thư viện KHXH, thư viện Trường
Đại học Sài Gòn; từ nguồn thông tin cập nhật trên internet, ấn phẩm định kỳ, các tạp
chí khoa học chuyên ngành và từ nhiều nguồn tài liệu khác.
3. Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Lịch sử Việt Nam từ
1975 đến 2010, cụ thể là xem xét các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa,
xã hội, y tế, giáo dục và khoa học, công nghệ dưới góc độ Sử học. Khách thể nghiên
cứu của đề tài là Việt Nam trong giai đoạn từ 1975 đến nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Sưu tầm tư liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng kết và đánh
giá lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu giáo trình
Không gian nghiên cứu của đề tài là Việt Nam. Tuy nhiên, để làm rõ hơn về các
sự kiện lịch sử Việt Nam dưới tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có đề cập tới
một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Campuchia và một số nước Đông Nam Á
v.v…Phạm vi thời gian nghiên cứu được giới hạn giai đoạn từ 1975 đến 2010.

6



5. Nội dung nghiên cứu của giáo trình
Nội dung nghiên cứu của đề tài gắn liền với các sự kiện lịch sử cơ bản chi phối
các vấn đề liên quan đến bối cảnh thế giới và Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn,
thành tựu, hạn chế, đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội đất nước và cả những bài học
kinh nghiệm trong giai đoạn 1975-2010. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam vào
2 tháng 5 năm 1975, Việt Nam bước vào thời kì thống nhất, độc lập và cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn từ 1975 đến 2010, đất nước Việt Nam đã trải qua
những sự kiện lịch sử to lớn vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa thời đại: Bầu cử
Quốc hội và thống nhất nhà nước, thực hiện các kế hoạch 5 năm theo định hướng xã
hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước (1976), đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ
quyền Tổ quốc (1975-1988), tiến hành mở đầu công cuộc Đổi mới (từ 1986), đẩy
mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa (1996-2010)
Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 được nghiên cứu và biên soạn
dựa theo phần lớn đề cương chi tiết môn học do Trường Đại học Sài gòn phê duyệt,
triển khai trong hoạt động đào tạo sinh viên Ngành Sư phạm Lịch sử, gồm có 3
chương nội dung chính.
Nội dung của Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 gồm có 5 phần:
1. Phần mở đầu
2. Phần nội dung chính gồm 3 chương
3. Kết luận
4. Tài liệu tham khảo
5. Phụ lục hình ảnh tư liệu tham khảo
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối phát
triển kinh tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

7



Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp chuyên ngành
như phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp so sánh lịch sử. Trong
đó, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên
ngành để tái hiện lịch sử Việt Nam trong giai đoạn từ 1975 đến 2010; đồng thời chúng
tôi cố gắng làm rõ bản chất các sự kiện lịch sử và chúng bị chi phối bởi bối cảnh phức
tạp diễn ra trên thế giới, khu vực và Việt Nam trong giai đoạn này.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp
liên ngành như phương pháp so sánh, thống kê, khoa học kinh tế và chính trị học.
7. Ý nghĩa, hiệu quả và những đóng góp của giáo trình
Ý nghĩa, hiệu quả: Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã hoàn thành
và sau khi được nghiệm thu, sửa chữa và bổ sung, được sử dụng trong giảng dạy và
học tập của giảng viên và sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, góp phần vào việc nâng
cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên Sư phạm
Lịch sử của Khoa SPKHXH và sinh viên các khoa khác của Trường Đại học Sài Gòn.
Những đóng góp mới của Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010:
Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 cung cấp những tư liệu mới phong
phú và hữu ích và cập nhật cho những ai quan tâm nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ
1975 đến nay.
Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đã trình bày, bổ sung những nội
dung mới vừa đảm bảo được tính hàn lâm, vừa đảm bảo được tính vừa sức, mà vẫn cập
nhật kiến thức mới phù hợp giảng dạy và học tập cho sinh viên Sư phạm Lịch sử.
Ở cuối mỗi chương trong Giáo trình lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 đều có
tóm tắt nội dung, có phần hướng dẫn học tập, tài liệu tham khảo và hệ thống câu hỏi,
bài tập cho người học theo học chế tín chỉ ở các trường đại học tuân theo những quy
định và yêu cầu về giáo trình đào tạo của Bộ GDĐT.

8



8. Sản phẩm của giáo trình
Bản thảo Giáo trình Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 dày khoảng 180 trang
A4 sau khi được Hội đồng nghiệm thu, sẽ bổ sung, sửa chữa và đề nghị xuất bản thành
giáo trình phục vụ sinh viên Trường Đại học Sài Gòn. Đi kèm cùng với với bản thảo,
còn có 2 chuyên khảo và các bài báo nghiên cứu khoa học liên quan tới lịch sử Việt
Nam trong giai đoạn 1975-2010.
9. Cấu trúc của giáo trình
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Giáo trình Lịch
sử Việt Nam từ 1975 đến 2010 của chúng tôi được chia làm 3 chương nội dung chính
như sau:
CHƢƠNG 1. VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU SAU THẮNG LỢI CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀ HOÀN THÀNH
THỐNG NHẤT ĐẤT NƢỚC (1975-1976)
1.1. Tình hình thế giới và Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước
1.2. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình miền Nam
sau giải phóng
1.3. Hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước (1975 - 1976)
CHƢƠNG 2. VIỆT NAM BƢỚC ĐẦU ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, ĐẤU
TRANH BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ CHỦ QUYỀN
TỔ QUỐC (1976 - 1985)
2.1. Giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam
2.2. Bước đầu xây dựng đất nước Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.3. Đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc (1975 - 1988)
CHƢƠNG 3. VIỆT NAM TRÊN CON ĐƢỜNG ĐỔI MỚI ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI (TỪ 1986 ĐẾN 2010)
3.1. Bối cảnh và sự cần thiết phải đổi mới
3.2. Chủ trương, đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
3.3. Những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới

đất nước (1986 – 2010)
9


KẾT LUẬN
Ở cuối mỗi chương nội dung chính có 3 phần liên quan tới định hướng cho sinh
viên học tập bộ môn và tổ chức hoạt động cung cấp thông tin và phát triển tư duy theo
những yêu cầu trong học chế tín chỉ, bao gồm:
-

Hướng dẫn nội dung học tập gắn với những kiến thức cơ bản mỗi chương.

-

Hệ thống câu hỏi, đề tài thảo luận (gắn hoạt động học tập trên lớp và tự học ở
nhà theo quy định của học chế tín chỉ).

-

Tài liệu tham khảo và học tập cho từng chương cụ thể.

10


TÓM TẮT PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN 2010
(Gồm 3 chương)
CHƢƠNG 1. VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU SAU THẮNG LỢI CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀ HOÀN THÀNH
THỐNG NHẤT ĐẤT NƢỚC (1975-1976)

Chương 1 học trong 10 tiết. Theo quy định học tập theo học chế tín chỉ, người
học phải tự nghiên cứu tài liệu tham khảo, chuẩn bị đề tài thảo luận nhóm, ximena
v.v… tương đương 30 tiết ở nhà.
Nội dung Chương 1 của Giáo trình cung cấp cho người học nắm được kiến thức
khái quát về hoàn cảnh quốc tế và Việt Nam từ năm 1975, cùng những nhiệm vụ ổn
định tình hình miền Nam, khắc phục hậu quả chiến tranh và phát triển kinh tế, văn hóa,
giáo dục trên cả nước và những cuộc đấu tranh đầu tiên để bảo vệ Tổ quốc, hiệp
thương và hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về mặt nhà nước.
Người học nắm được các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam sau năm 1975:
cả nước chuyển sang cách mạng XHCN, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược
là xây dựng đất nước theo định hướng XHCN và bảo vệ tổ quốc, khắc phục hậu quả
chiến tran, khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Hƣớng dẫn nội dung học tập chủ yếu trong Chƣơng 1
Chương 1 gắn liền với những sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam: từ sau khi giải
phóng hoàn toàn miền Nam (2-5-1975), mở ra thời kỳ thống nhất đất nước trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và đến sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (2-7-1976).
Người học cần nắm những vấn đề lịch sử cơ bản trong Chương 1 vào giai
đoạn 1975-1976, bao gồm:
-

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhưng cả hai miền Nam, Bắc có nhiệm

vụ giải quyết những hậu quả nặng nề sau 30 năm chiến tranh, khôi phục và phát triển
kinh tế, văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân. Cả đất nước Việt Nam cùng thực hiện
cải tạo quan hệ sản xuất và xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

11



-

Việt Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất về

lãnh thổ, nhưng chưa thống nhất về mặt nhà nước, do ở hai miền Nam, Bắc vẫn tồn tại
hai hình thức tổ chức chính quyền khác nhau; đáp ứng nhu cầu bức thiết của nhân dân
cả nước và bước phát triển hợp quy luật của cách mạng Việt Nam dẫn tới thực hiện
hiệp thương, thống nhất đất nước về chính trị.
-

Việt Nam phải đối mặt với bao vây cấm vận, đất nước vẫn tiếp tục phải tiến

hành cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và cuộc sống hòa bình của nhân dân.
Hệ thống câu hỏi, đề tài thảo luận trong Chƣơng 1
1) Chính phủ cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam và Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam đã có những chủ trương, biện pháp và vai trò như thế nào trong công
cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế và ổn định trật tự xã hội miền
Nam sau giải phóng ?
2) Việc hiệp thương và hoàn thành thống nhất đất nước Việt Nam về nhà nước đã
được tiến hành trong bối cảnh lịch sử như thế nào? Tại sao thống nhất đất nước vừa là
nguyện vọng của nhân dân cả nước, vừa là bước phát triển hợp quy luật lịch sử của dân
tộc Việt Nam?
3) Việc khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo quan hệ sản xuất,
cải thiện quan hệ đối ngoại hợp tác giữa Việt Nam và các nước đã đạt được những
thành tựu như thế nào? Có những hạn chế nào đối với các thành thành tựu trên và đâu
là nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế đó?
4) Nội dung cơ bản, ý nghĩa lịch sử của Quốc hội khóa VI kì họp thứ nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 24-6-1976 đến 2-7-1976 ? Hãy so
sánh với những kỳ họp Quốc hội của VNDCCH trước đây để cho thấy những bước tiến
lớn của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới.

CHƢƠNG 2. VIỆT NAM BƢỚC ĐẦU ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, ĐẤU
TRANH BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ CHỦ QUYỀN
TỔ QUỐC (1976 - 1985)
Chương 2 học trong 10 tiết. Theo quy định học tập theo học chế tín chỉ, người học
phải tự nghiên cứu, sưu tầm, đọc tài liệu tham khảo, chuẩn bị đề tài thảo luận nhóm,
ximena v.v…tương đương 30 tiết ở nhà.

12


Nội dung chính trong Chương 2 gắn liền các sự kiện lịch sử lớn trong giai đoạn
1975-1985: Việt Nam tiến hành khôi phục hậu quả chiến tranh, cả nước thống nhất đi
lên chủ nghĩa xã hội. Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với bao khó khăn,
thử thách trước sự bao vây, cấm vận của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
quốc tế và thù nghịch trong khu vực. Đất nước bước vào giai đoạn quá độ tiến lên chủ
nghĩa xã hội từ xuất phát điểm rất thấp, với bao mới lạ, tuy đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng cũng bộc lộ nhiều thiếu
sót, kể cả những sai lầm trong thực hiện 2 kế hoạch 5 năm (1976-1980 và 1981 -1985).
Những thành tựu của nhân dân Việt Nam đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5
năm 1976-1980 là hết lớn lao. Sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước càng có ý
nghĩa hơn vì nó diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bị bao vây, cấm vận và hai cuộc
chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía Bắc Tổ quốc.
Hƣớng dẫn nội dung học tập chủ yếu trong Chƣơng 2
Chương 2 gắn liền với những sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam trong khoảng
hơn 10 năm từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, những kết quả ban đầu trong
khôi phục, phát triển kinh tế văn hóa, xã hội; sự thống nhất chính trị gắn liền với sự ra
đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (7-1976). Những yếu tố trên đã mở
ra thời kỳ thống nhất đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và
tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chương 2 gắn với những sự kiện lịch sử trong khoảng thời gian từ năm 1976

cho đến năm 1985: Việt Nam bước vào giai đoạn quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đất nước thực hiện hai kế hoạch 5 năm, cả dân tộc đối mặt với các cuộc chiến tranh
xâm lược xâm lấn biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc (1978-1979) và phải liên tục
tiến hành cuộc đấu tranh để giữ vững toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước trên đất
liền và trên biển.
Người học cần phải nắm vững những vấn đề lịch sử cơ bản của Chương 2
trong giai đoạn 1976-1985, bao gồm :
-

Sau khi hoàn toàn thống nhất về lãnh thổ và tổ chức nhà nước, nhân dân Việt

Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và bắt đầu bước vào giai
đoạn quá độ xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

13


-

Cả hai miền Nam, Bắc có cùng nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế đất nước theo

định hướng xã hội chủ nghĩa với bao khó khăn, mới mẻ và những vấp váp. Cả đất nước
Việt Nam cùng tiến hành tiếp tục cải tạo và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, xác lập sở hữu nhà nước và tập thể đóng vai trò chủ đạo sản xuất công nghiệp
và nông nghiệp. Đặc điểm của Việt Nam xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội
chủ nghĩa từ điểm xuất phát thấp.
-

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm (1976-1985) gắn


liền với nội dung, định hướng các Đại hội IV (12-1976) và Đại hội V (3-1982) của
Đảng Cộng sản Việt Nam và các kế hoạch Nhà nước Việt Nam. Việt Nam thực hiện
hai kế hoạch 5 năm (1976-1980 và 1981-1985) đạt được nhiều thành tựu to lớn, song
cũng nhiều hạn chế; tuy vậy, đã tạo tiền đề và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu cho sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước sau này (1986).
-

Trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, Việt Nam vừa phát triển kinh tế, vừa

phải tiến hành cuộc đấu tranh để giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước trên
đất liền (ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc), và chủ quyền biển đảo của đất nước
(Phú Quốc, Thổ Chu, Hoàng Sa, Trường Sa).
Hệ thống câu hỏi, đề tài thảo luận trong Chƣơng 2
1. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam đặt ra những khó khăn,
thử thách và triển vọng như thế nào? Tại sao nói con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là
tất yếu và là sự phát triển hợp quy luật của Việt Nam?
2. Định hướng phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm (1976-1985)
được vạch ra qua các Đại hội IV, Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam và các chỉ
tiêu kế hoạch Nhà nước Việt Nam đã để lại những bài học nào trong việc hoạch định
chiến lược phát triển đất nước? Những nguyên nhân nào cản trở việc thực hiện những ý
tưởng đổi mới sáng tạo đề ra trong Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-1982) ?
3. Nêu và phân tích những thành tựu, hạn chế của Việt Nam trong việc thực
hiện hai kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi đất nước thống nhất (1976-1980 và 19811985). Nêu những nguyên nhân chủ yếu hạn chế sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt
Nam trong giai đoạn 1976-1985?
4.Trình bày và phân tích những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc chiến
tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc Việt Nam (1978-1979). Trình bày có phân

14



tích và lý giải tại sao nói cuộc chiến đấu tự vệ và đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc
trên đất liền và biển đảo của Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa?
CHƢƠNG 3. VIỆT NAM TRÊN CON ĐƢỜNG ĐỔI MỚI ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI (TỪ 1986 ĐẾN 2010)
Chương 3 học trong 10 tiết. Theo quy định học tập theo học chế tín chỉ, người học
phải chuẩn bị, tự nghiên cứu, sưu tầm, đọc tài liệu tham khảo, chuẩn bị đề tài thảo
luận nhóm, ximena v.v…tương đương 30 tiết ở nhà.
Chương 3 đề cập tới sự nghiệp đổi mới bắt đầu từ năm 1986, tại Đại hội VI của
BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đề ra đường lối đổi mới, mở cửa, hội
nhập. Nội dung cơ bản của Chương 3 đề cập tới tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới của
Việt Nam để đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội và tiếp tục phát triển;
những thành tựu trong 25 năm đổi mới cùng những ý nghĩa, bài học kinh nghiệm.
Chương 3 nhấn mạnh tới những thành tựu sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi
mới đất nước, Việt Nam không những đã vượt qua được tình trạng khủng hoảng kinh
tế xã hội mà còn trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong
khu vực và trên thế giới, nhưng đồng thời cũng tồn tại những khó khăn, thách thức
không nhỏ. Công cuộc đổi mới đã tạo nên cơ sở quan trọng để Việt Nam bước vào giai
đoạn phát triển cao hơn nữa, tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
KẾT LUẬN
Trong 10 năm sau khi giải phóng miền Nam và cả nước cùng đi lên theo định
hướng xã hội chủ nghĩa (1976-1985), đất nước Việt Nam đã đạt những thành tựu quan
trọng thực hiện hai kế hoạch 5 năm trong khoảng thời gian đầy những biến cố lớn lao
với biết bao thử thách và những khó khăn to lớn tưởng chừng không thể vượt được.
Công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trong bối cảnh
thế giới và Việt Nam vô cùng phức tạp.
Thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), Việt Nam đã đạt được một số thành
tựu ban đầu như thống nhất đất nước về mặt nhà nước, thiết lập hệ thống chính trị mới
trong cả nước. Nhờ đoàn kết và huy động cao nhất sức mạnh nội lực, nhân dân Việt
Nam đã vượt qua được biết bao khó khăn, gian khổ để xây dựng chủ nghĩa xã hội và
đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam (từ 4-1977


15


đến 1-1979) và cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc ở biên giới phía Bắc
(17/2/1979 – 18/3/1979), bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền đất nước
Trong kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), Việt Nam nỗ lực tiến hành cải tạo quan
hệ sản xuất để xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và xây dựng hai thành phần
quốc doanh và tập thể làm nòng cốt cho nền kinh tế quốc dân. Kết thúc việc thực hiện
kế hoạch Nhà nước, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất và hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể đã được tiếp tục
hoàn thiện thêm ở miền Bắc, đồng thời từng bước được xác lập ở các địa phương miền
Nam. Về hình thức, công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất đã thành công. Tuy nhiên, vào
thời điểm đó quan hệ sản xuất chưa thực sự phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, và dĩ nhiên chưa đem lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân
của Việt Nam.
Nhìn tổng thể, khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, mặc dù được đầu
tư nhiều, nhưng làm ăn kém hiệu quả. Do hàng loạt những khiếm khuyết và chính sách
chưa hợp lý, cho nên những thành tựu về kinh tế của Việt Nam đạt được còn thấp so
với yêu cầu đề ra trong kế hoạch 5 năm, còn tồn tại những điểm không phù hợp cản trở
sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.
Sự sa sút, mặt yếu kém của sản xuất công nghiệp trong những năm 1976 – 1980
bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trong đó có nguyên nhân do những sai lầm trong
việc đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa khi chưa có các tiền đề cần thiết; vốn
đầu tư lớn dành cho phát triển công nghiệp nặng, ít tập trung phát triển nông nghiệp và
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; tiểu thủ công nghiệp chưa được khuyến khích
phát triển đúng mức.
Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra những biện pháp sửa chữa, khắc phục những sai
lầm, khuyết điểm trên trong Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
IV (8 – 1979). Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (20-9-1979) nêu

phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và công
nghiệp địa phương, nhấn mạnh đến việc sửa đổi, cải tiến chính sách nhằm khuyến
khích sản xuất, mở rộng quyền chủ động của các ngành kinh tế và của các cơ sở sản
xuất trong cả nước.

16


Trong kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
quốc dân Việt Nam được tăng cường, nhưng chưa tương xứng với sự đầu tư xây dựng
cơ bản của Nhà nước. Trong 5 năm (1976 – 1980), giá trị tài sản cố định tăng chỉ bằng
46,8 % tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản, và hiệu quả đầu tư của hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật còn rất thấp. Nhiều công trình hoàn thành, nhưng chỉ hoạt động được
khoảng 50 % công suất thiết kế. Năng suất lao động xã hội còn rất thấp.
Trong kế hoạch 1976 - 1980, tình hình sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
Việt Nam sụt giảm, cộng với thiếu sót trong lưu thông phân phối, thị trường tài chính
tiền tệ không ổn định; lạm phát phi mã. Trong thời gian đó, lạm phát trầm trọng đã gây
tác động xấu đến đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Chính phủ Việt Nam đã có
nhiều biện pháp kiềm chế tốc độ lạm phát, nhưng tỏ ra không có hiệu quả. Đời sống
của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế
- xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V (3-1982) khẳng
định Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối chung và xác định từng chặng đường của
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ chặng đường trước mắt từ những năm của thập niên
80, và những mục tiêu kinh tế - xã hội dài hạn cho đến năm 1990.
Rút kinh nghiệm về các chỉ tiêu đề ra quá cao trong kế hoạch 5 năm (19761980), Đảng và Chính phủ nhấn mạnh đến tính thực tế trong việc hoạch định các mục
tiêu cho kế hoạch 5 năm (1981-1985). Trong kế hoạch 5 năm (1981- 1985), Đảng
vẫn đề ra nhiệm vụ tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN nhưng yêu
cầu các địa phương thực hiện thận trọng và đảm bảo nguyên tắc dân chủ hơn. Việc xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật (đặc biệt cho công nghiệp nặng) không triển khai

đồng loạt như trước, mà đầu tư và tiến hành một cách có trọng điểm. Các chỉ tiêu kinh
tế xã hội đề ra vừa ít về số lượng và không quá cao định mức để đảm bảo tính khả thi
trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1981-1985).
Những quan điểm đổi mới đúng đắn được coi như thành tựu đáng kể nhất của
Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam: Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; tập
trung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng lại chưa được triển
khai có hiệu quả trên thực tế. Các phương hướng phát triển đầy sáng tạo của Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V đã không được thực hiện đúng và đầy đủ ở các địa

17


phương và trong các ngành kinh tế. Nông nghiệp Việt Nam chưa được đầu tư đúng
mức và chưa được đưa lên hàng đầu trong phát triển kinh tế đất nước giai đoạn 19811985. Kết quả là đất nước vẫn thiếu hụt trầm trọng lương thực, thực phẩm và hàng
tiêu dùng phục vụ nhân dân.
Do chưa chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
sản xuất hàng tiêu dùng, hàng năm, Nhà nước phải nhập nhiều hàng tiêu dùng, và nhập
cả những loại hàng hóa có thể sản xuất trong nước như lương thực, vải v.v...
Trong thời gian 1981 - 1982, Nhà nước tiến hành chính sách điều chỉnh giá cả
tiền lương. Đây là cuộc cải cách về giá có quy mô lớn đầu tiên ở Việt Nam nhằm loại
bỏ hệ thống giá cũ, quá thấp và nặng tính bao cấp (đã tồn tại mấy chục năm), để
chuyển giá cả sang gần với mức giá thị trường.
Cơ chế điều hành kinh tế quốc dân Việt Nam không phù hợp là một nguyên
nhân tạo nên tình trạng yếu kém kinh tế và khủng hoảng xã hội. Kết thúc kế hoạch 5
năm (1981-1985), nhiều chỉ tiêu kinh tế Nhà nước không đạt được kế hoạch đề ra.
Sau hai kế hoạch 5 năm xây dựng và phát triển kinh tế theo mô hình quan liêu
bao cấp (1976-1985) kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng, với các biểu
hiện:
-


Quan hệ sản xuất chưa phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.

-

Kinh tế tăng trưởng thấp, nếu tính chung từ năm 1976 đến năm 1985, tổng sản
phẩm xã hội tăng 50,5%, bình quân mỗi năm tăng 4,6 %. Thu nhập quốc dân
tăng 38,8 %, bình quân tăng 3,7%/năm.
Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam cho đến 1985 vẫn chưa thực sự khả quan:

sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm và hàng hóa
tiêu dùng cho nhân dân; quỹ tích lũy rất nhỏ bé và một phần tiêu dùng phải dựa vào
nguồn nước ngoài.
Tuy nhiên, so với việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1976-1980) thì kết quả thực
hiện kế hoạch 5 năm (1981- 1985) đã có một số điểm mới về phát triển kinh tế, xã hội.
Việt Nam đã tiến hành một bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư và nhịp độ phát triển đi đôi
với một số thay đổi cục bộ trong cơ chế quản lý kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam có bước
tăng trưởng khá hơn trước đó (1976-1980). Tổng sản phẩm xã hội bình quân tăng

18


7,3%/năm; thu nhập quốc dân tăng 6,4%. Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam về cơ bản
vẫn vận hành theo cơ chế quản lý cũ trong những năm 1981-1985.
Đổi mới cục bộ đã làm bộc lộ rõ hơn những yếu kém của cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp ở trong nền kinh tế Việt Nam, nhưng chưa đủ sức phá vỡ cơ chế đó, và
chưa đủ khả năng tạo ra một cơ chế kinh tế mới. Trong những năm 1976-1985, nền
kinh tế quốc dân Việt Nam vẫn còn mang nặng tính hiện vật, cản trở sự phát triển của
kinh tế hàng hóa – về bản chất là do thị trường điều tiết. Sự điều tiết giá cả, lưu thông
hàng hóa nhiều khi xuất phát từ kế hoạch hóa, mệnh lệnh, tư duy duy ý chí, bất chấp

các quy luật kinh tế. Do đó, cơ chế điều hành nền kinh tế của Việt Nam chưa tạo ra
động lực, và sự thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Kết thúc kế hoạch 5 năm (1981-1985) nhiều chỉ tiêu kinh tế, xã hội của Nhà
nước cũng không đạt được mức đề ra ban đầu.
Tuy vậy, những đổi mới cục bộ, chẳng hạn như sự thay đổi sang khoán sản
phẩm theo hộ gia đình trong nông nghiệp. Hình thức khoán mới này đã tạo điều kiện
cho người nông dân bước đầu có quyền chủ động trong sản xuất, gắn lao động của họ
với sản phẩm cuối cùng. Do đó, sản xuất nông nghiệp Việt Nam dần dần được phục
hồi, tạo cơ sở cho sự chuyển biến và đổi mới đất nước vào giai đoạn sau này.
Trên phạm vi cả nước, từ năm 1985 đã xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở, hợp tác
xã, nhà máy, xí nghiệp trong các ngành kinh tế có cách làm ăn, kinh doanh hiệu quả,
năng động, sáng tạo, đã cung cấp những bài học kinh nghiệm tốt cho thực tiễn chỉ đạo
sản xuất kinh tế của Đảng và Nhà nước. Những đổi mới cục bộ trong quản lý ở các
ngành kinh tế công, nông nghiệp và thương nghiệp Việt Nam trong giai đoạn (19811985) đã tạo tiền đề cho chính sách đổi mới được Đại hội Đảng VI (1986) vạch ra cho
sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước.
Ngay từ sau những ngày đầu giải phóng đất nước trong tháng 5 năm 1975, cho đến
thời gian đất nước tiến hành chính sách đổi mới (1986), Việt Nam đã phải gian khổ
tiến hành xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời buộc phải căng sức chiến đấu
để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền và thực thi chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Trong bối cảnh Việt Nam bị các thế lực đế quốc và phản động quốc tế tiến hành bao
vây cấm vận, cô lập một cách nghiệt ngã, thì duy trì được sự phát triển của đất nước và

19


bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền Tổ quốc đã là một thắng lợi to lớn, khẳng
định ý chí độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc Việt Nam.
Những thắng lợi to lớn trên các phương diện kinh tế, văn hóa, an ninh, xã hội của
Việt Nam đã tạo cơ sở cho đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển cao hơn trong
giai đoạn từ 1986 cho đến 2010.

Sau 10 năm cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1976 - 1986), do vận dụng mô hình
phát triển chưa phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, nên đất nước rơi vào tình trạng
khủng hoảng kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân khó khăn. Để vượt qua khó khăn, các
địa phương đã chủ động “xé rào” trong sản xuất kinh doanh, từ đó, trung ương đổi mới
từng phần và đến năm 1986 đã đi đến quyết định chính thức thực hiện công cuộc đổi
mới đất nước.
Từ năm 1986 đến nay, đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
không ngừng được phát triển, bổ sung và hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó
trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lí kinh tế. Từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lí của nhà nước và sau đó hoàn chính thành nền kinh tế thị trường,
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ khi tiến hành đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
trên tất cả các lĩnh vực, từng bước vượt qua tình trạng khủng hoảng, trở thành một
nước có mức thu nhập trung bình thấp và tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Sự phát triển nhanh chóng đó đã giúp Việt Nam từng bước khẳng định
được vị thế của mình trên trường quốc tế.
Bên cạnh những thành tựu trên, công cuộc đổi mới của Việt Nam cũng còn phải
đối mặt với những thách thức và những khó khăn phải vượt qua để hội nhập và phát
triển trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đã đem lại những thay đổi quan
trọng, đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới: giai đoạn công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.

20


NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1. VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU SAU THẮNG LỢI CỦA
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ VÀ HOÀN THÀNH

THỐNG NHẤT ĐẤT NƢỚC (1975-1976)
1.1. Tình hình thế giới và Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nƣớc
1.1.1. Tình hình thế giới
Thế giới bắt đầu vào những năm 1975 trở đi có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là
những thay đổi về kinh tế, xã hội do sự tác động, ảnh hưởng của cuộc cách mạnh khoa
học kỹ thuật lần thứ hai trên bình diện toàn cầu. Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ hai,
với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và ứng dụng rộng rãi của công nghệ trong sản
xuất và tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống xã hội của tất cả các nước không phân
biệt hệ thống chính trị.
Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ tạo ra những thay đổi lớn lao
về cơ cấu dân cư với xu hướng dân số lao động trong công nghiệp, nông nghiệp giảm
đi, dân số trong ngành dịch vụ tăng lên. Đưa loài người chuyển sang một nền văn minh
mới được gọi bằng các thuật ngữ mang nhiều nội dung như là văn minh hậu công
nghiệp, văn minh thông tin hay văn minh trí tuệ, đã mang lại những thay đổi to lớn và
đặt ra những đòi hỏi mới, những yêu cầu cao đối với sự nghiệp giáo dục – đào tạo con
người ở các quốc gia1.
Từ những năm 1975 trở đi, nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá cao,
đang hình thành một thị trường toàn thế giới bao gồm tất cả các nước có chế độ chính
trị – xã hội khác nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, cùng chung sống hoà bình.
Đây là thời gian diễn ra quá trình toàn cầu hóa trên bình diện toàn cầu, dù Chiến tranh
lạnh cho đến tận năm 1991 mới chấm dứt.
Toàn cầu hóa có những tác động, ảnh hưởng tích cực như: xu thế hoà bình, hợp
tác mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao, đặt ra yêu cầu cải cách sâu rộng để nâng cao
cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Các quốc gia ra sức điều chỉnh chiến lược phát
1

Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Trẻ, Tp.HCM, tr.308-309.

21



triển, lấy kinh tế làm trọng điểm và tăng cường hợp tác, tham gia các liên minh kinh tế
quốc tế và khu vực (EU, ASEAN…)
Toàn cầu hóa vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc,
trong đó có cả Việt Nam sau thắng lợi kháng chiến chống Mỹ 1975.
Trong lĩnh vực chính trị, xã hội, thế giới cũng có nhiều biến đổi từ những năm
1970 trở đi. Ở các nước chủ nghĩa tư bản phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra
gay gắt. Phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động có bước phát triển
mới, với các hình thức đấu tranh đòi tự do, dân chủ, chống thất nghiệp, chống chạy
đua vũ trang.
Sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam vào năm 1975, cách mạng thế giới bước vào
một thời kì phát triển mới. Ba dòng thác cách mạng của thời đại lớn mạnh vượt bậc,
kết thành một sức mạnh tổng hợp hết sức to lớn, đã giành được nhiều thắng lợi trong
cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa giữ vai trò cột trụ của hòa bình thế giới,
với những đóng góp quan trọng trong việc hạn chế vũ khí hạt nhân và giải trừ quân bị,
ngăn chặn chiến tranh xâm lược và các cuộc xung đột vũ trang; duy trì vực hòa bình ở
các vùng xung yếu trên thế giới, từ Trung Âu đến viễn Đông, từ Trung Cận Đông, Địa
Trung Hải đến Ấn Độ Dương…
Từ những năm 1975 trở đi, do tác động và ảnh hưởng của sự kiện Việt Nam
thắng Mỹ, phong trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc đã có những bước phát
triển mạnh mẽ, giáng những đòn nặng nề vào chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực
dân mới. Cách mạng Ăngôla (1975) đánh dấu sự sụp đổ về căn bản của chủ nghĩa thực
dân cũ cùng hệ thống thuộc địa ở châu Phi. Nhân dân Lào nổi dậy và giành chính
quyền và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào chính thức được thành lập (2 – 12 –
1975). Ngày 17 – 4 – 1975, Thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến
chống Mỹ của nhân dân Campuchia kết thúc thắng lợi.
Tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam- Lào-Campuchia bước sang giai đoạn phát
triển mới; cả ba nước lại tiếp tục bước vào giai đoạn mới, mà trọng tâm là phát triển

kinh tế, xã hội từ 1975 trở đi.
Từ những năm 1970 trở đi, các nước giành được độc lập dần trở thành những
thành viên bình đẳng trong cộng đồng quốc tế. Các nước độc lập dân tộc ở Á, Phi, Mĩ

22


la tinh tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ giành chủ quyền hoàn toàn về những tài nguyên đất
nước; đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới.
Do tình hình có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, ASEAN đã có sự điều chỉnh chính
sách của mình đối với Việt Nam. Ngay từ sau Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Việt
Nam cũng bắt đầu triển khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với
các nước ASEAN. Những năm 1975-1976, khi Việt Nam thắng Mỹ, đất nước thống
nhất, vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới tăng lên, các nước ASEAN phải
tính lại quan hệ với Mỹ. Tuy nổi lên vai trò và tham vọng của Trung Quốc ở Biển
Đông và khu vực, nhưng nhìn chung bối cảnh thế giới và khu vực từ năm 1975 trở đi
đã tạo điều kiện xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định; tạo cho
ASEAN và Việt Nam đối thoại để thiết lập khu vực Đông Nam Á hữu nghị và hợp tác.
Tình hình khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh và bước vào thời kỳ
phát triển mới của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1975 trở đi không tách rời bối
cảnh chung của thế giới và khu vực Đông Nam Á. Từ năm 1975, Việt Nam cũng như
các nước Đông Dương bước vào giai đoạn phát triển mới, với những thuận lợi và khó
khăn chi phối bởi tình hình quốc tế phức tạp và có nhiều biến động.
1.1.2.Tình hình Việt Nam
Đại thắng mùa xuân 1975 đã đánh dấu thắng lợi vẻ vang của cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc Việt Nam kéo dài trong ba thập kỷ. Cuộc cách mạng dân tộc nhân
dân Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước,
tạo cơ sở thống nhất nhà nước và hệ thống tổ chức chính quyền nhân dân. Thắng lợi
mùa xuân 1975 đã mở ra sự phát triển của cách mạng Việt Nam - kỷ nguyên đất nước
độc lập, thống nhất, và cả nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tình hình miền Bắc: Trải qua 30 năm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa,
miền Bắc đã bước đầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội với cơ
cấu các ngành công nghiệp ở các trung tâm như Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Việt
Trì, Thanh Hóa, Vinh. Bên cạnh công nghiệp nhẹ được xây dựng khá hoàn chỉnh, các
ngành công nghiệp nặng ở miền Bắc được phát triển thành hệ thống từ công nghiệp
khai thác than, cơ khí, luyện kim, công nghiệp điện, đến hóa chất, vật liệu xây dựng.
Trong 20 năm (1954-1975) xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc vừa phải đối
phó trực tiếp với chiến tranh phá hoại của Mỹ, và vừa phải 4 lần chuyển hướng xây

23


dựng và phát triển kinh tế trong những khoảng thời gian hòa bình rất ngắn ngủi. Chiến
tranh phá hoại của Mỹ (dù chấm dứt từ năm 1973) đã tàn phá hầu hết thành quả xây
dựng của nhân dân miền Bắc. Toàn bộ các thành phố, thị xã, thị trấn, 70% nông thôn ở
miền Bắc (4000/5788 xã) bị không quân Mỹ đánh phá; 12 thị xã, 51 thị trấn, 30 xã bị
hủy diệt hoàn toàn; toàn bộ hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, bến cảng bị
đánh phá; hầu hết các trung tâm công nghiệp ở miền Bắc bị thiệt hại nặng nề 1. Chiến
tranh của Mỹ không những đã làm cho hướng sản xuất lớn bị chậm lại, mà còn làm
đảo lộn cả nề nếp quản lý kinh tế ở miền Bắc, để lại những hậu quả tai hại, lâu dài mãi
tới những giai đoạn sau này.
Nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh ở miền Bắc cho đến tận năm 1976
mới căn bản hoàn thành.
Dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng ngay sau khi giải phóng miền Nam (2-51975), miền Bắc đã chi viện cho miền Nam khối lượng rất lớn hàng hóa, máy móc, vật
tư cho sản xuất, cùng hàng chục vạn giáo viên, cán bộ khoa học, kỹ thuật thuộc đủ các
ngành nghề. Sự giúp đỡ của miền Bắc đã góp phần rất quan trọng trong việc tiếp quản,
vận hành và khôi phục sản xuất cũng như ổn định kinh tế, xã hội miền Nam trong
những năm 1975-1976.
Tình hình miền Nam: Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (2-5-1975),
nhân dân miền Nam phải đối mặt với những di hại rất nặng nề của chiến tranh trên các

lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội.
Chế độ Sài Gòn sụp đổ (30-4-1975) đã để lại số lượng lớn những người trước
đây thuộc quân đội và bộ máy dân sự chế độ cũ: 117.700 cảnh sát, 1.400.000 phòng vệ
dân sự (trong đó có 380.000 có vũ trang), 5 triệu người và gia đình họ thuộc bộ máy
chính quyền Việt Nam cộng hòa2. Ngoài một số ít tướng lĩnh, nhân viên cao cấp chạy
ra nước ngoài, thì phần đông binh lính, sĩ quan, viên chức cũ vẫn ở lại các địa phương.
Không kể các phần tử ngoan cố, nằm im chờ thời cơ để kích động, lôi kéo quần chúng,
móc nối với các thế lực phản động bên ngoài, gây rối loạn trong nước thì phần đông
các nhân viên sĩ quan, binh lính cũ của chế độ Sài Gòn tỏ ra lo ngại, mặc cảm với chế
độ mới. Do vẫn còn mang nặng hệ tư tưởng chính trị của chế độ thực dân mới của Mĩ,
1

Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.38.
2
“Thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong cuộc tổng công kích”, Báo Nhân dân ngày 5-5-1975, tr.1.

24


họ tỏ thái độ quay lưng với cuộc sống mới, bất hợp tác với chính quyền nhân dân và
họ thường bị các phần tử phản động lôi kéo vượt biên ra nước ngoài và dễ bị chúng
kích động, lợi dụng chống phá cách mạng.
Trong bối cảnh đầy phức tạp ấy, thì ngày 3-5-1975 Ủy ban Quân quản Sài Gòn
- Gia Định được thành lập để quản lý thành phố. Sau đó Ủy ban đã thi hành hàng loạt
các chính sách trên nhiều lĩnh vực để nhanh chóng ổn định kinh tế, chính trị, xã hội ở
Sài Gòn - Gia Định. Trước hết, Ủy ban Quân quản thi hành chính sách đại đoàn kết và
hoà hợp dân tộc; nghiêm cấm mọi hoạt động chia rẽ, thù hằn dân tộc, nghi kỵ trong nội
bộ nhân dân và vi phạm dân chủ. Chính quyền cách mạng ban hành các sắc luật cơ bản
để thiết lập các cơ quan truy tố, cũng như những quy định về xét xử tội phạm và trừng

trị bọn phản cách mạng. Dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (từ tháng 5 đến cuối
năm 1975), nhưng Ủy ban Quân quản đã giải quyết được một khối lượng công việc
lớn trong các hoạt động: đảm bảo trật tự an ninh xã hội, ổn định sản xuất và đời sống
sinh hoạt của nhân dân, xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền nhân dân các
cấp… Dù còn có nhiều khiếm khuyết, nhưng chính quyền cách mạng các cấp đã kịp
thời giữ đúng nguyên tắc chặt chẽ trong việc quản lí và cố gắng thực thi công việc với
tinh thần nhân văn, hòa hợp dân tộc. Hoạt động của hệ thống chính quyền cách mạng
các cấp đã tạo được niềm tin cho các tầng lớp nhân dân lao động miền Nam về xã hội
mới tốt đẹp trong những ngày đầu hòa bình.
1.2. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định xã hội ở miền
Nam sau giải phóng
Nền kinh tế miền Nam Việt Nam trước giải phóng (chủ yếu là các vùng kiểm
soát của Việt Nam cộng hòa) trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản
chủ nghĩa, song vẫn mang tính chất sản xuất nhỏ, mất cân đối trầm trọng về cơ cấu và
lệ thuộc nặng nề vào viện trợ bên ngoài (chủ yếu là viện trợ Mỹ). Sự hưng thịnh và trồi
sụt của kinh tế miền Nam Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như
chính sách viện trợ và cường độ chiến tranh xâm lược của Mỹ.
Trong hơn 20 năm tồn tại (từ 1954 đến 1975) chính quyền Sài Gòn đã nhận trên
26 tỉ USD viện trợ gồm 16 tỉ USD viện trợ quân sự, 6 tỉ USD viện trợ khoa học kĩ
thuật, 1.6 tỉ USD viện trợ nông phẩm, 24 tỉ USD dưới hình thức đổi lấy đồng tiền của
chính quyền Sài Gòn để chi tiêu tại chỗ. Sự trợ giúp của Hoa Kỳ đã thay thế hầu như

25


×