CHƯƠNG Mở ĐầU:
Thế giới phẳng và các nhân tố làm phẳng thế giới
1. Th gii l phng:
Vic s dng mỏy tớnh, mng, th in t, hi ngh t xa v phn mm mi nng ng cho phộp
nhiu cỏ nhõn cú th hp tỏc v cnh tranh vi cỏc cỏ nhõn khỏc trong nhiu loi cụng vic, ti nhiu ni
khỏc nhau trờn trỏi t theo cỏch bỡnh ng hn bt c thi i no trc kia trong lch s loi ngi. ú l
quỏ trỡnh lm phng th gii, cho phộp chỳng ta kt ni tt c cỏc trung tõm tri thc trờn hnh tinh ny li
thnh mt mng li ton cu duy nht. Nu nh cỏc hot ng chớnh tr v ch ngha khng b khụng cn
ng, nú s cú th m ra mt k nguyờn y thnh vng, sỏng to, cng tỏc gia cỏc cụng ty, cỏc cng
ng v cỏc cỏ nhõn vi nhau.
Th gii ó tri qua 3 k nguyờn ton cu hoỏ:
* K nguyờn th nht:
Ton cu hoỏ 1.0 (kộo di t nm 1492 khi Columbus m ra s giao thng gia th gii c v
th gii mi cho ti khong nm 1800) lm th gii co li t kớch thc ln n kớch thc trung bỡnh.
Ton cu hoỏ 1.0 cao cỏc quc gia v sc mnh c bp. Cú ngha l trong giai on ny tỏc nhõn then
cht ca s thay i, ng lc thỳc y vic ton cu hoỏ, l vic quc gia ca bn s hu sc mnh c bp
nh th no. Trong ton cu hoỏ 1.0 cỏc vn c bn c t ra l: V trớ ca mt nc trong quỏ trỡnh
cnh tranh v tn dng c hi ton cu nh th no, lm th no cỏ nhõn cú th vn ra ton cu v cng
tỏc vi cỏ nhõn khỏc trong khuụn kh quc gia.
* K nguyờn th hai:
Ton cu hoỏ 2.0 (kộo di t nm 1800 n nm 2000, b giỏn on bi cuc i khng hong v
hai cuc chin tranh th gii) lm th gii co li t c trung bỡnh xung c nh. Tỏc nhõn then cht ca s
thay i, ng c thỳc y hi nhp ton cu l cỏc cụng ty a quc gia. Cỏc cụng ty a quc gia mun
vn ra m rng th trng v thu hỳt sc lao ng, vi bc i tiờn phong u tiờn ca cỏc cụng ty c
phn H Lan v Anh cựng Cỏch mng cụng nghip. Trong na u ca thi k ny, hi nhp ton cu c
thỳc y bi s st gim phớ giao thụng do s ra i ca ng c hi nc v ng st v na sau bi s
st gim chi phớ liờn lc do s ph bin ca in tớn, in thoi, PC, v tinh, cỏp quang v phiờn bn u
tiờn ca World Wide Web (www).
Thi k ny ó chng kin s ra i v trng thnh ca nn kinh t ton cu vỡ giao dch v hng hoỏ v
thụng tin ó ln hỡnh thnh th trng ton cu. Vn c bn ca ton cu hoỏ 2.0 l: v trớ ca cụng
ty tụi nh th no trong nn kinh t ton cu? cụng ty cn tn dng nhng c hi nh th no? lm th no
vn ra ton cu v cng tỏc vi cỏc cỏ nhõn thụng qua cụng ty ca tụi?
*K nguyờn th ba:
Ton cu hoỏ 3.0 khụng ch khỏc cỏc k nguyờn trc nú lm th gii co li, lm phng th gii
m nú trao quyn cho cỏc cỏ nhõn. Nu ton cu hoỏ 1.0 v 2.0 ch yu do cỏc cỏ nhõn v doanh nghip
Chõu õu v M thỳc y thỡ ton cu hoỏ 3.0 trao quyn cho mi cỏ nhõn t mi ngừ ngỏch trờn th gii.
Ton cu hoỏ 3.0 to iu kin cho rt nhiu ngi tham gia v cnh tranh, v con ngi vi mi mu da
u cú th tham gia
Mi nhõn t lm phng th gii:
3.1 Nhõn t lm phng th nht: K nguyờn sỏng to mi khi cỏc bc tng Berlin sp v phn
mm Windows lờn ngụi.
S sp bc tng Berlin vo ngy 9/11/1989 khụng ch n thun l s sp mt bc tng
ngn cỏch gia ụng v tõy c m nú l s sp hng ro ngn cỏch gia hai h thng kinh t: ch
ngha t bn v ch ngha cng sn v dng nh ch cũn mt h thng kinh t. T ú tr i, ngy cng
nhiu nn kinh t c qun lý t c s lờn trung ng, theo yờu cu, li ớch v nguyn vng ca nhõn dõn
ch khụng phi t trung ng xung a phng theo li ớch ca mt s nhúm cm quyn. S sp bc
tng Berlin c ỏnh giỏ khụng ch b i nhng hỡnh thỏi khỏc vi ch ngha t bn l th trng t do
m cũn cho phộp chỳng ta t duy v th gii theo cỏch khỏc nhỡn nhn th gii nh mt th thng nht.
S sp ca bc tng Berlin cng ó to iu kin cho nhiu ngi hn khai thỏc vn tri thc ln nhau.
S kin ny cng to iu kin cho vic thụng qua cỏc tiờu chun chung cỏc tiờu chun v iu hnh nn
kinh t, cỏch thc hin ch k toỏn, cỏch tin hnh hot ng ngõn hng, cỏch ch to cỏc mỏy tớnh cỏ
1
nhân, và cách viết các bài báo về kinh tế. Việc bức tường Berlin sụp đổ cũng tạo điều kiện cho việc hình
thành liên minh Châu âu và việc mở rộng liên minh này từ 15 lên 25 nước.và sắp tới là 28 nước.
Năm 1977 lần đầu tiên chiếc máy tính gia đình Apple II được trình làng. Chiếc máy tính cá nhân
đầu tiên của IBM được đưa ra thị trường vào năm 1981. Phiên bản đầu tiên của hệ điều hành Windows xuất
hiện năm 1985 và phiên bản mang tính đột phá giúp máy tính cá nhân IBM dễ dàng sử dụng hơn là phiên
bản Windows 3.0 được chuyển tới khách hàng vào ngày 22/5/1990, chỉ 6 tháng sau khi bức tường sụp đổ.
Cùng với các máy tính cá nhân sử dụng phần mềm Windows cho phép hàng triệu cá nhân tạo ra nội dung
dưới hình thức số và chia sẻ nội dung ấy ở các khoảng cách xa nhau. Việc phổ biến máy tính cá nhân, fax,
hệ điều hành Windows và các modem đường truyền điện thoại được kết nối với mạng điện thoại toàn cầu
đã xuất hiện vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 đã tạo ra một nền tảng cơ bản khởi đầu cho cuộc
cách mạng thông tin. Hệ điều hành Windows, bằng việc làm cho việc liên lạc và chia sẻ dữ liệu dễ dàng
hơn bao giờ hết đã làm cho khoảng cách của thế giới trở nên nhỏ hẹp hơn hay nói cách khác đã góp phần
quan trọng “làm phẳng” thế giới.
Nhân tố làm phẳng thứ hai: Ngày 8/9/1995, kỷ nguyên kết nối mới khi mạng (web) xuất hiện và
Netscape bán cổ phiếu đợt đầu cho công chúng.
Việc thành lập ra mạng toàn cầu (world wide web) cho phép các cá nhân có thể thiết lập các địa chỉ
web về thương mại, tin tức và tất cả các hình thức lưu trữ và phổ biến dữ liệu, và việc tạo ra trình duyệt
web có thể tìm ra các tài liệu hoặc các trang web và hiển thị các trang này trên bất cứ màn hình máy tính
nào đã thực sự nắm bắt được trí tưởng tượng và thúc đẩy cuộc cách mạng làm phẳng thế giới tiến lên phía
trước.
Khái niệm về mạng toàn cầu w. w. w được tạo ra bởi một nhà khoa học người Anh trong lĩnh vực
máy tính tên là Tim Berners – Lee. Chính ông là người đã góp phần làm phẳng thế giới. Tuy nhiên một việc
quan trọng không kém phát minh của Berners – Lee chính là sự phổ cập Internet và sự ra đời các trang Web
được tạo nên bởi một công ty có tên là Netscape. Netscape đã bán cổ phiếu đợt đầu cho công chúng vào
ngày 8/9/1995 và thế giới thay đổi từ đó. Việc tạo lập ra mạng toàn cầu và thương mại hoá nó và ngày
8/9/1995 đã làm cho thế giới trở nên nhỏ bé và việc liên lạc ngày trở nên dễ dàng hơn
Nhân tố làm phẳng thứ 3: Phần mềm xử lý công việc.
Không như 2 nhân tố làm phẳng đầu tiên, việc sụp đổ của bức tường Berlin là một yếu tố lịch sử,
việc Netscape bán cổ phiếu lần đầu tiên cũng là một sự kiện rầm rộ không thể bỏ qua nhưng sự phát triển
và hoà nhập của phần mềm xử lý công việc là một cuộc cách mạng thầm lặng mà hầu hết mọi người đều
không biết điều gì đang diễn ra. Nó định hình vào giữa và cho tới cuối những năm 90 và khi đó nó có tác
động sâu sắc tới thế giới giống như hai nhân tố làm phẳng trước. Cuộc cách mạng này cho phép nhiều
người hơn và ở nhiều nơi hơn tham gia vào thiết kế, trưng bày quản lý và tiếp cận dữ liệu kinh doanh mà
trước đây chỉ có thể xử lý thủ công. Vì vậy công việc bắt đầu lưu thông dễ dàng hơn trong các công ty, giữa
các công ty và giữa các lục địa với nhau ở mức độ chưa từng thấy
Để đạt tới mức độ này cần phải có sáng tạo phần mềm mới dựa trên nền tảng của các sáng tạo trước
đó mà đột phá lớn đầu tiên là sự kết hợp giữa máy tính cá nhân và thư điện tử và giao thức I ngôn ngữ của
internet và mạng toàn cầu. HTML là ngôn ngữ cho phép bất kỳ ai cũng có thể thiết kế và xuất bản tài liệu
dữ liệu và chúng có thể truyền đi và đọc trên bất kỳ máy tính nào và ở bất kỳ nơi nào. Ngoài ra các giao
thức như HTTP, TCP/IP cùng với HTML cho phép mọi người trao đổi nhiều thứ chứ không chỉ là tài liệu
văn bản hoặc thư điện tử mà là bất kỳ loại tài liệu nào.
Nhân tố làm phẳng thứ tư: Tải lên mạng.
Sự hình thành hệ thống thế giới phẳng không chỉ cho phép có nhiều người hơn trở thành tác giả của
các nội dung số và cộng tác với nhau về các nội dung này mà còn cho phép mọi người tải các nội dung này
lên mạng và toàn cầu hoá chúng với tư cách cá nhân hoặc thông qua một cộng đồng mà không phải thông
qua sự kiểm duyệt của bất kỳ tổ chức nào hoặc thể chế mang tính cấp bậc nào. Quyền lực mới của các cá
nhân và cộng đồng trong việc gửi các ý tưởng sản phẩm miễn phí tới mọi nơi chứ không chỉ thụ động tải về
các phần mềm từ các doanh nghiệp thương mại hoặc các tổ chức truyền thống đang cơ bản hình thành lại
các quá trình sáng tạo cải tiến, vận động chính trị, thu thập và phổ biến thông tin.
Rõ ràng là tải lên mạng đang trở thành một trong những hình thức cộng tác mang tính cách mạng
nhất trong thế giới phẳng. Hơn bao giờ hết tất cả chúng ta có thể trở thành những nhà sản xuất chứ không
đơn thuần là người tiêu dùng. Ba hình thức tải lên mạng được đề cập bao gồm phần mềm do cộng đồng
phát triển (Apache, Linus), Wikipedia và Blogging/podcasting. Việc tải lên mạng đã góp phần làm phẳng
2
thế giới, làm cho việc bày tỏ ý kiến, trở thành người tạo ra và kiểm soát thông tin của mọi công dân được
dễ dàng hơn bao giờ hết.
Nhân tố làm phẳng thứ năm: Thuê làm bên ngoài, Y2K.
Thuê làm bên ngoài là thay vì thực hiện một chức năng nhất định nhưng hạn chế mà công ty của
bạn đang phải làm trong nội bộ công ty – như các trung tâm nghiên cứu, địên thoại hoặc các tài khoản có
thể tiếp nhận - bạn để các công ty khác thực hiện chức năng đó cho bạn sau đó gắn phần công việc đó vào
phần công việc chung của bạn. Điển hình cho việc thuê làm bên ngoài là việc một số công ty, tập đoàn ở
các quốc gia phát triển tận dụng các nhân tố làm phẳng đã trình bày ở trên ( phần mềm xử lý công việc,
mạng toàn cầu ) để thuê các công ty ở các nước đang phát triển nhưng có tri thức và trình độ công nghệ
thông tin như Ấn Độ làm những phần việc ít tính sáng tạo lặp lại với chi phí thấp. Như trong sự cố máy tính
Y2K, Mỹ đã thuê các kỹ sư công nghệ thông tin Ấn Độ sửa chữa các mã để khắc phục sự cố Y2K. Thuê
làm bên ngoài thực sự mở ra một kỷ nguyên mới khi tạo ra cơ hội cho các cá nhân và công ty bên ngoài các
nước phát triển tham gia vào các công việc ở các nước phát triển, tạo điều kiện cho một thế giới phẳng, một
sân chơi công bằng cho tất cả cá nhân và tổ chức trên thế giới.
Nhân tố làm phẳng thứ sáu: Chuyển sản xuất ra nước ngoài.
Chuyển sản xuất ra nước ngoài là việc một công ty chọn một trong những nhà máy đang hoạt động
ở một nước phát triển và chuyển toàn bộ nhà máy đó sang một nước đang phát triển để sản xuất. Ở đó nhà
máy này sản xuất toàn bộ những sản phẩm giống hệt với cách thức tương tự, chỉ khác nhân công rẻ hơn,
thuế thấp hơn, năng lượng được trợ cấp, và chi phí y tế thấp hơn. Kể từ khi Trung Quốc ra nhập WTO, cả
Trung Quốc và phần còn lại của thế giới phải chạy ngày càng nhanh hơn. Nguyên nhân là do việc Trung
Quốc gia nhập WTO đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho hình thức chuyển sản xuất ra nước ngoài. Bởi vì
Trung Quốc có thể cung cấp số lượng công nhân rất lớn ở trình độ kỹ năng, bán kỹ năng và không có kỹ
năng, bởi vì nước này khao khát các công việc ở nhà máy, về thiết bị và về tri thức nhằm tạo việc làm cho
người dân, và vì nước này có một thị trường tiêu dùng khổng lồ và phát triển nhanh chóng, Trung Quốc đã
trở thành một khu vực không có đối thủ trong việc chuyển sản xuất ra nước ngoài.
Nhân tố làm phẳng thứ bảy: Chuỗi cung
Chuỗi cung là một phương pháp cộng tác theo chiều ngang giữa các nhà cung cấp, nhà bán lẻ và
khách hàng nhằm tạo ra giá trị. Wal-Mart, nhà bán lẻ hàng đầu trên thế giới là một trong những người đi
tiên phong và cũng là người tạo ra chuỗi cung siêu hiệu quả. Hàng hoá được đưa đến các trung tâm phân
phối của Wal-Mart từ các nhà cung cấp, từ đây hàng hoá được luân chuyển tới các chuyến xe bằng các băng
chuyền một cách hiệu quả nhất để tới hàng nghìn cửa hiệu của Wal-Mart ở khắp các nơi. Khi hàng hoá
được phân phối tới các cửa hàng và được người tiêu dùng lựa chọn thì việc mua hàng cũng được thông báo
cho hệ thống của Wal-Mart và cho nhà cung cấp mặt hàng đó để họ tiếp tục sản xuất một mặt hàng giống
như thế.
Chuỗi cung sẽ làm giảm thiểu hàng tồn kho và hiệu quả hoá việc bán hàng cũng như sản xuất hàng
hoá, vì thế sẽ làm giảm chi phí, làm giảm giá thành hàng hoá. Chính chuỗi cung là nhân tố góp phần làm
phẳng thế giới, vì dù là nhà cung cấp, là người mua hàng, là nhà bán lẻ và dù ở đâu trên thế giới bạn cũng
có thể liên kết và nhờ sự liên kết đó làm cho bạn được hưởng lợi, người mua có được giá tốt cho hàng hoá
mình mua, nhà cung cấp có được thông tin và xu hướng sản xuất và được cạnh tranh bình đẳng trên cơ sở
chi phí dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ.
Nhân tố làm phẳng thứ 8: Thuê làm bên ngoài.
Thuê bên ngoài làm là một phương thức hợp tác hoàn toàn mới tạo giá trị theo chiều ngang, có thể
thực hiện nhờ một thế giới phẳng và thậm chí chính nó làm thế giới phẳng hơn. Thuê bên ngoài làm có thể
thực hiện được vì thế giới trở nên bằng phẳng, công ty nhỏ có thể hoạt động mạnh. Nhưng nhiều công ty
trong số này không biết cách làm sao thực hiện tất cả các công đoạn một cách trọn vẹn hoặc không có khả
năng thực hiện chuỗi cung toàn cầu phức hợp. Nhiều công ty lớn hơn cũng không muốn quản lý khâu phức
tạp này, mà thà sử dụng những tiềm năng của họ để sản xuất. Vì vậy chuỗi cung của các công ty này được
thực hiện nhờ thuê bên ngoài. Các công ty như UPS sẽ giúp họ giải quyết vấn đề này với đội ngũ chuyên
gia, vận tải, quản lý để giúp các công ty làm phần công việc chuỗi cung mà họ không muốn thực hiện.
Chính việc thuê làm bên ngoài này tạo cơ hội và sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, dù lớn dù
nhỏ, nên được coi như một nhân tố làm phẳng thế giới.
Nhân tố làm phẳng thứ 9: Cung cấp thông tin bằng việc tìm kiếm trên các trang web Google,
Yahoo và MSN.
3
Sự ra đời và phát triển của các phương tiện tìm kiếm như google, yahoo, MSN là một nhân tố quan
trọng góp phần làm phẳng thế giới vì nó tạo công cụ cho tất cả mọi người, từ già đến trẻ tiếp cận một cách
bình đẳng, không có sự phân biệt nào cả với nguồn thông tin vô tận của nhân loại trên mạng. Việc tìm kiếm
nguồn thông tin vô tận một cách bình đẳng đã trao cho con người quyền lực mà trước đây họ chưa từng có,
góp phần làm phẳng thế giới.
Nhân tố làm phẳng thứ 10: Các nhân tố xúc tác.
* Nhân tố xúc tác đầu tiên là tin học: Đó là khả năng tính toán, khả năng lưu trữ thông tin và khả
năng cung cấp đầu ra đầu vào (tốc độ mà thông tin truyền ra và truyền vào máy tính).
*Nhân tố xúc tác thứ hai: Các đột phá trong việc chia sẻ tài liệu.
* Nhân tố xúc tác thứ ba: Việc gọi điện qua mạng.
*Nhân tố xúc tác thứ tư: Đàm thoại qua video.
* Nhân tố xúc tác thứ năm: Đồ hoạ máy tính.
* Nhân tố xúc tác thứ sáu: Gồm các công nghệ và thiết bị không dây mới.
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KDQT
Nội dung:
1.1 Khái niệm KDQT
1.2 Mục đích KDQT
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến KDQT
1.4 Môi trường KDQT
1.1 Khái niệm:
KDQT là toàn bộ các họat động giao dịch kinh doanh được thực hiện giữa các quốc gia nhằm thỏa
mãn các mục tiêu của các DN, cá nhân và các tổ chức kinh tế-xã hội.
Đối tương nghiên cứu là các quan hệ kinh tế trong quá trình buôn bán giữa các nước; tức là nghiên
cứu các quy luật, cơ chế vận động và xu hướng phát triển của thương mại quốc tế.
1.2 Mục đích của KDQT:
*Mở rộng cung ứng tiêu thụ hàng hóa
*Tìm kiếm các nguồn lực ở nước ngòai
*Đa dạng hóa họat động kinh doanh
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng
* Điều kiện kinh tế (vốn)
* Khoa học công nghệ
* Điều kiện chính trị, xã hội và quân sự
* Sự hình thành các liên minh, liên kết về kinh tế, chính trị và quân s
1.4 Nhiệm vụ của môn học
-Trang bị hệ thống lý luận và thực tiễn về kinh tế, tổ chức và quản lý kinh doanh thương mại quốc tế
trong nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước.
- Trang bị những kiến thức cơ bản về phát triển thương mại quốc tế, cơ chế, chiến lược phát triển
thương mại quốc tế.
- Nghiên cứu hệ thống các chính sách và công cụ quản lý thương mại quốc tế để từ đó đề xuất các
phương hướng, giải pháp phát triển thương mại quốc tế
- Nghiên cứu các hình thức, nội dung hội nhập thương mại quốc tế cũng như những thời cơ và thách
thức khi tham gia vào các hình thức liên kết kinh tế quốc tế
- Giới thiệu các tổ chức và định chế thương mại quốc tế và tập quán quốc tế
1.5 Môi trường KDQT
*Khái niệm:
Là sự tổng hợp và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố gây ảnh hưởng tới họat động kinh doanh tại
DN. Nói một cách khác, nó là tổng thể các môi trường kinh doanh thành phần như: môi trường luật pháp,
chính trị, kinh tế, văn hóa, cạnh tranh……
*Các môi trường KDQT
-Môi trường luật pháp
4
-Môi trường chính trị
-Môi trường kinh tế
-Môi trường văn hóa và con người
-Môi trường cạnh tranh
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO
20 năm - từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, bảo thủ, lạc hậu, trì trệ, chuyển qua kinh tế thị trường,
Việt Nam đã phải mất không ít thời gian để quen dần với qui luật thương trường, dần dần định hình và phát
triển.
I. CƠ HỘI
Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO. Những cơ hội mà việc gia nhập WTO đem
lại cho Việt Nam có thể khái quát như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế
nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của
các nước này, không bị phân biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu
và trong tương lai - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ mở
lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan
trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh
doanh của nước ta ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm
năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn,
công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và
chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng
và rút ngắn khoảng cách phát triển .
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngoài có vai trò
quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi trội: năm 2007, đầu tư nước ngoài chiếm
37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao
động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch
định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công
bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả
đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều
hành của ta.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở trong nước
để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế
thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn,
có hiệu quả hơn.
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập
WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối
ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế
giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển.
Những cơ hội mà việc gia nhập WTO đem lại cho Việt Nam được cụ thể hóa như sau:
* Mở rộng thị trường và tăng cường xuất khẩu: Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thị trường và đẩy
mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà mình có tiềm năng, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng nông sản và dệt
may. Hàng hóa và dịch vụ Việt Nam sẽ được đối xử bình đẳng trên thị trường của tất cả các thành viên
WTO (theo nguyên tắc MFN), tránh được những bất lợi trong các hiệp định thương mại song phương gắn
với những điều kiện phi thương mại như tiêu chuẩn lao động, yêu cầu về môi trường…
* Hàng hóa và dịch vụ Việt Nam được đối xử bình đẳng: Hệ thống chính sách minh bạch, ổn định sẽ
giúp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong nước và nước ngoài.
*Cải cách các chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng giảm thiểu các rào cản trái với quy định
của WTO, bãi bỏ sự phân biệt đối xử, các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư vào thị trường
tiêu thụ rộng.
5
*Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng và viện trợ không hoàn lại của các
tổ chức và các chính phủ nước ngoài.
*Việc thực hiện những cam kết về mở của thị trường dịch vụ chắc chắn cũng sẽ kéo theo một làn
sóng đầu tư nước ngoài vào nhiều ngành kinh tế dịch vụ.
Đầu tư nước ngoài gia tăng sẽ đem lại những lợi ích cho nền kinh tế như:
*Tạo động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp.
*Tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu.
*Góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo.. Các cán bộ
quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động có điều kiện cũng như có yêu cầu phải nâng cao trình độ, tay
nghề, nâng cao vốn ngoại ngữ, pháp luật quốc tế.
.Giải quyết việc làm cho lao động trực tiếp và gián tiếp trong nhiều ngành kinh tế.
.Góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển.
.Tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp
trong nước học hỏi thêm về cách thức bố trí sản xuất, quản lý, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm và
cách thức tiếp thị, phục vụ khách hàng
- Tạo điều kiện cải cách chính sách, thể chế luật pháp:
- Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện cơ chế thị trường, cải cách hành chính và cải
cách doanh nghiệp trong nước, minh bạch hóa toàn bộ các chính sách liên quan đến thương mại và thông
báo các kế hoạch hành động để tuân thủ các nguyên tắc của WTO;
-Hệ thống pháp luật sẽ phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh
tranh lành mạnh và khuyến khích thương mại, đầu tư cũng như hợp tác về các vấn đề khác với cộng đồng
quốc tế;
- Doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài đầu tư ở Việt Nam được đối xử công bằng
khi tham gia và thị trường của các nước thành viên WTO.
Tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp thương mại:
- Có lợi thế hơn trong giải quyết tranh chấp thương mại, do tiếp cận được hệ thống giải quyết tranh
chấp công bằng và hiệu quả của WTO, tránh tình trạng bị các nước lớn gây sức ép trong các tranh chấp
thương mại quốc tế.
- Tạo điều kiện để Việt Nam không bị đối xử như một nền kinh tế phi thị trường trong các vụ tranh
chấp thương mại như hiện nay.
Một trong những lợi ích lớn khi gia nhập WTO là hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vào các nước
thành viên WTO sẽ chịu ít hơn các rào cản, bao gồm thuế quan thấp hơn, Mỹ và EU cũng dỡ bỏ cô-ta đối
với hàng dệt may (chiếm khoảng 15% hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam).
Điều này quan trọng không chỉ vì dệt may là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, sau dầu
thô. Vấn đề là ở chỗ điều này sẽ giúp Việt Nam có chỗ đứng bình đẳng với các thành viên WTO khác,
những nước đã được hưởng cơ chế miễn quota từ năm 2005.
Một lợi ích cơ bản khác của việc gia nhập WTO là gia tăng niềm tin.
Các nhà đầu tư nước ngoài như Intel (Mỹ) chứng tỏ họ đang gia tăng sự tin tưởng vào Việt Nam khi
gia nhập WTO. Khuynh hướng này sẽ tiếp tục với việc các công ty nước ngoài đang xem Việt Nam là điểm
an toàn để đầu tư.
Các cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam - điều kiện để gia nhập WTO – sẽ là yếu tố thu hút
hơn nữa các nhà đầu tư đang tìm kiếm cơ hội ở nền kinh tế đang bùng nổ này. Một điều quan trọng không
kém khác là các cải cách của Việt Nam đã có ảnh hưởng trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO.
Những đạo luật mới về đầu tư và doanh nghiệp có hiệu lực từ tháng 7/2006 cung cấp cùng một hệ
thống luật lệ cho các Cty trong, ngoài nước và tạo cơ sở để khuyến khích, bảo vệ cho tất cả các hình thức
đầu tư. Theo WTO, Việt Nam cũng thay đổi để có sự hài hòa trong luật lệ về quyền kinh doanh, vì vậy các
thủ tục đăng ký đều giống nhau đối với thương gia trong ngoài nước.
II. THÁCH THỨC
Bên cạnh đó, việc gia nhập WTO cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Việt Nam:
1. Thách thức đối với Chính phủ
Phải sửa đổi và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp với các quy định của WTO:
- Sửa đổi và xây dựng mới khối lượng lớn văn bản luật và pháp lệnh
- Khuôn khổ pháp luật về kinh tế thương mại cần được hoàn thiện để hoạt động hiệu quả hơn và phù
hợp hơn với các quy định và chuẩn mực quốc tế.
6
- Nội luật hóa những vấn đề mới phát sinh trong thương mại quốc tế
- Bỏ các phương thức quản lý không phù hợp với WTO như những lệnh cấm, hạn chế định lượng,
trợ cấp không đúng qui định.
- Xây dựng các chính sách mới phù hợp với quy định của WTO, hỗ trợ xuất khẩu trong xúc tiến
thương mại, nâng cao chất lượng hàng hóa, hỗ trợ cước vận tải.v.v…
Nguồn thu ngân sách bị suy giảm: Việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách
trong giai đoạn đầu.
- Vấn đề cán cân thanh toán: Thâm hụt cán cân thanh toán sau khi gia nhập WTO là vấn đề lo ngại
của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Giải quyết vấn đề phát sinh như đào tạo lại để giải quyết việc làm cho những người lao động mất
việc…
- Việc cải cách doanh nghiệp đòi hỏi đầu tư rất nhiều về vốn, kỹ thuật và cả yếu tố con người;
- Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng và bao trùm nhiều thách thức lớn trong tiến trình hội
nhập. Các cán bộ Việt Nam thường hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức kinh tế thị trường, ngoại ngữ và đặc
biệt là kỹ năng đàm phán;
- Vấn đề an sinh xã hội: Giải quyết việc làm cho người lao động dư thừa do cải tổ ngành sản xuất
trong nước để phát triển, đặc biệt đảm bảo đời sống của người nông dân;
2. Thách thức đối với doanh nghiệp.
Mở cửa thị trường dẫn tới cạnh tranh gay gắt trong khi doanh nghiệp Việt Nam phần lớn vốn ít,
công nghệ không cao, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh không cao.
Doanh nghiệp không được Nhà nước bao cấp vì phải bỏ những loại trợ cấp, hỗ trợ trái quy định của
WTO;
- Các doanh nghiệp chưa sẵn sàng tận dụng những cơ hội tiếp cận thị trường mới do hạn chế khả
năng và kiến thức hiểu biết thị trường bạn. Các nước lại có xu hướng áp đặt nhiều biện pháp bảo hộ thông
qua các biện pháp kỹ thuật, chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ, tiêu chuẩn môi trường…;
- Cạnh tranh trên thị trường nội địa sẽ tăng khi các hàng rào thương mại được cắt giảm;
- Những doanh nghiệp năng lực cạnh tranh kém có nguy cơ phá sản, hoặc giảm lợi nhuận vì tác
động của giảm thuế mở cửa thị trường;
- Doanh nghiệp Việt Nam sẽ thường vấp phải nhiều tranh chấp trong thương mại quốc tế và luôn ở
thế yếu hơn.
3. Thách thức đối với người dân và xã hội
Giải quyết lao động dôi ra do cải cách bộ máy hành chính, cải tổ ngành công nghiệp, nông nghiệp,
doanh nghiệp phá sản, bị đóng cửa do làm ăn thua lỗ;
Khoảng cách giàu nghèo và mất công bằng trong xã hội gia tăng trong quá trình phát triển kinh tế
nếu như không có sự can thiệp hợp lý của Chính phủ.
Đòi hỏi về trình độ lao động, chuyên môn, ngoại ngữ, tác phong lao động công nghiệp đối với
người lao động ngày càng cao hơn, đòi hỏi họ phải không ngừng học hỏi thêm.
4. Thách thức lớn nhất khi Việt Nam
- Thách thức lớn nhất khi Việt Nam ra “chợ tỉnh” là tư duy cũ thể hiện trên nhiều mặt, nhất là tư duy
ỷ lại, nhiều nơi còn khá nặng nề.
- Tương tự như vậy, các doanh nghiệp phải tự thân vận động khi hội nhập chứ không nên ngồi chờ.
Nhà nước chỉ tạo khuôn khổ pháp lý, cung cấp thông tin chứ không thể làm thay cho hàng vạn doanh
nghiệp được.
III. MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG & CHÍNH SÁCH
1.Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, nhằm hình thành nhanh và đồng bộ
các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết
- Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho các ngân hàng thương mại
thực sự là các đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các khoản vay và cho vay trên cơ sở hiệu quả,
không có sự phân biệt đối xử về hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường đất đai và bất động sản, tạo bước đột phá trong hoạt động của
thị trường này.
- Cải cách chế độ kế toán và tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế;
7
+ Xây dựng các biện pháp hỗ trợ đối với một số lĩnh vực, sản phẩm đi đôi với việc loại bỏ các hình
thức trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp gắn với tỷ lệ nội địa hoá phù hợp với các cam kết của ta trong Tổ chức
thương mại thế giới;
+ Hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh.
+ Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm phù hợp để bảo vệ thị
trường nội địa và người tiêu dùng;
+ Kết hợp chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, hạn
mức tín dụng, tỷ giá ... để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nâng cao chất lượng của công tác thông tin, dự báo
về thị trường, giá cả, quan hệ cung cầu để xác định các cân đối lớn.
+ Đẩy mạnh cải cách tiền lương, chế độ bảo hiểm; sớm nghiên cứu hình thành quỹ bảo hiểm thất
nghiệp, và các chính sách an sinh xã hội;
+ Đổi mới cơ chế quản lý các cơ quan khoa học - công nghệ theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự
hạch toán. Gắn kết chặt chẽ các cơ quan này với doanh nghiệp để thúc đẩy việc đổi mới công nghệ sản xuất
ở doanh nghiệp, nhằm phát triển thị trường khoa học, công nghệ. Có chính sách khuyến khích các doanh
nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào đầu tư, kinh doanh đi đôi với việc bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ.
2. Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính:
- Bãi bỏ các thủ tục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp
và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá và dịch vụ vào kinh doanh. Việc quản lý xuất nhập khẩu các
mặt hàng quản lý chuyên ngành chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện
hành nghề, không dùng giấy phép làm công cụ để hạn chế thương mại.
*Điều này không những là tiền đề của chống tham nhũng mà còn là điều kiện để tạo ra thị trường
cạnh tranh, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp và công dân, là điều kiện bảo đảm hiệu quả của tăng
trưởng.
3. Sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước, theo yêu cầu quản lý đa ngành, đa lĩnh vực:
*Làm việc này không phải là để tinh gọn tổ chức một cách giản đơn. Làm việc này là tạo ra tiền đề
tổ chức để bảo đảm sự đồng bộ, tầm nhìn liên ngành, khắc phục sự chồng chéo, kém hiệu quả trong việc
xây dựng và thực thi các thiết chế quản lý.
*Trên cơ sở sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước và cải cách thủ tục hành chính để xây dựng lại hệ
thống phân cấp theo những tiêu chí khoa học, bảo đảm tính tương thích, sự đồng bộ và tính mục tiêu trong
các lĩnh vực đã phân cấp. Quan điểm nhất quán ở đây là: bảo đảm tính thống nhất quản lý và mục tiêu phát
triển, phân cấp mạnh cho địa phương và cơ sở. Vấn đề sẽ được giải quyết ở cấp nào mà ở đó có đầy đủ
thông tin và khả năng thực hiện công việc tốt nhất. Gắn phân cấp với kiểm tra, giám sát.
4. Đổi mới để phát triển mạnh nguồn nhân lực:
*Chúng ta thường nói và người nước ngoài cũng nói: nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động
trẻ chiếm 70% lực lượng lao động. Người Việt Nam cần cù, chịu khó học tập, nhận thức nhanh. Đây là một
lợi thế cạnh tranh. Điều đó đúng nhưng chưa phản ánh đầy đủ thực trạng nguồn nhân lực nước ta.
Hướng chính ở đây là:
- Chấp nhận cơ chế thị trường trong đào tạo đại học thuộc các ngành kỹ thuật - công nghệ và dạy
nghề để huy động các nguồn lực nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo gắn liền với việc thực hiện
đầy đủ cơ chế thị trường trong việc trả lương cho người lao động.
*Từ quan điểm hệ thống và bảo đảm tính liên thông trong hệ thống giáo dục - đào tạo từ phổ thông đại học và dạy nghề, giải quyết trước việc cải cách giáo dục đại học và dạy nghề. Học tập kinh nghiệm của
các nước có nền giáo dục đại học và dạy nghề tiên tiến để chọn lọc, sử dụng. Trên cơ sở bảo đảm tính thống
nhất trong những nguyên tắc lớn và sự quản lý thống nhất của nhà nước đối với giáo dục và đào tạo, phát
huy tính tự chủ, bản sắc riêng và tính cạnh tranh trong đào tạo đại học và dạy nghề. Nhà nước sẽ đầu tư
nhiều hơn cho những ngành nghề cần thiết nhưng tính cạnh tranh thấp.
Hiện tại, chúng ta chỉ có lợi thế cạnh tranh thực tế trong những ngành nghề đòi hỏi sử dụng nhiều
lao động với kỹ năng trung bình và thấp. Những lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi trình độ cao, chúng
ta đang rất thiếu và do đó làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư vào những lĩnh vực này như cơ khí chế tạo,
sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, tư vấn thiết kế, tạo mẫu và trong các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng
8
cao... Hạn chế này là do những yếu kém, bất cập trong hệ thống giáo dục của ta, cần phải nhanh chóng tìm
ra các giải pháp để khắc phục.
*Khẩn trương xây dựng chiến lược cải cách giáo dục từ nội dung chương trình, phương pháp giảng
dạy, chế độ thi cử ở tất cả các cấp đào tạo.
5. Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng:
-Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng đã và sẽ hạn chế thu hút đầu tư làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Cạnh tranh giữa các nước về cơ sở hạ tầng sẽ là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là trong điều
kiện các hình thức ưu đãi trái với quy định của Tổ chức thương mại thế giới sẽ bị loại bỏ. Vì vậy, phải đặc
biệt coi trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng. Lâu nay nhà nước đã rất chú ý phát triển cơ sở hạ tầng bằng nhiều
nguồn vốn khác nhau: vốn ngân sách, vốn ODA, vốn của doanh nghiệp đầu tư theo phương thức BOT, BT,
…, vốn của dân. Khuyết điểm ở đây là tình trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước phân tán, kéo dài chậm
được khắc phục.
- Phát triển cơ sở hạ tầng là yêu cầu bức xúc của các địa phương, các vùng kinh tế. Khi nhu cầu lớn,
nguồn lực có hạn, để thoả mãn được nhiều đối tượng dễ dẫn đến cách phân bổ phân tán, dàn trải. Kết quả là
thời gian thi công kéo dài, nợ đọng lớn, không ít công trình hiệu suất sử dụng thấp, hiệu quả không cao xét
trên yêu cầu phát triển tổng thể của nền kinh tế. Phải kiên quyết khắc phục tình trạng này.
- Huy động mọi nguồn lực kể cả các nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào việc xây dựng cơ
sở hạ tầng giao thông, năng lượng.
6. Về nông nghiệp, nông thôn và nông dân:
- Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn cả khi thực hiện cam kết cắt giảm thuế
nông sản. Để giải quyết vấn đề này phải thực hiện theo 2 hướng:
Một là: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp và nông thôn, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ; đưa
các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, yêu cầu đào tạo không cao về nông thôn; phát triển các làng
nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn. Đây là
hướng phát triển quan trọng nhất
Hai là: Tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn cùng với việc dành toàn bộ các nguồn
vốn hỗ trợ trước đây cho khuyến khích xuất khẩu nông sản để đầu tư phát triển thuỷ lợi, giao thông nông
thôn. Nhà nước hỗ trợ việc xây dựng hệ thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảm hao hụt,
bảo đảm chất lượng sản phẩm sau thu hoạch, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hoá lưu thông trên thị
trường nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn. Giảm mạnh sự đóng góp của nông dân.
- Đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt để cung
cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước. Phát triển và tổ chức lại hệ thống khuyến nông
trên cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã và hợp tác xã.
- Phát triển các doanh nghiệp, các hợp tác xã cổ phần sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ ở
nông thôn, thông qua đó mà thúc đẩy quá trình hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông
nghiệp, bảo đảm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư cho nông dân. Khuyến khích nông dân trở thành cổ
đông của các doanh nghiệp và các hợp tác xã cổ phần, là đồng sở hữu các nhà máy chế biến nông sản, bảo
đảm thu nhập của nông dân và cung cấp ổn định nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Nghiên cứu để hình thành cơ chế gắn việc thu hút lao động trong nông nghiệp sang làm công nghiệp
hoặc dịch vụ, xuất khẩu lao động với việc chuyển giao, cho thuê lại ruộng đất để đẩy nhanh quá trình tích
tụ ruộng đất.
7. Phát triển các loại hình dịch vụ:
- Lĩnh vực dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nền kinh tế. Các nước công
nghiệp phát triển trình độ cao, dịch vụ chiếm từ 60 - 70%. Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá và sự
phân công lao động gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa đặt ra nhu cầu vừa tạo khả năng phát triển
dịch vụ. Ngược lại sự phát triển dịch vụ sẽ làm giảm chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó,
phải hết sức coi trọng phát triển tất cả các ngành dịch vụ.
*Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao: dịch vụ tài chính, ngân hàng
với nhiều sản phẩm đa dạng, dịch vụ viễn thông, dịch vụ du lịch, các loại dịch vụ tư vấn để hỗ trợ các tổ
chức, cá nhân lập doanh nghiệp, lựa chọn phương án kinh doanh, các dịch vụ nghề nghiệp như kế toán,
kiểm toán để đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo đảm công khai, minh bạch về tình trạng
tài chính của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán. Nhanh chóng xây dựng hệ
9
thống mã số các loại dịch vụ theo phân loại của WTO. Trên cơ sở đó, có định hướng đúng đắn chiến lược
phát triển dịch vụ.
8. Phát triển những lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng mở rộng thị trường.
Vì vậy, việc lựa chọn các ngành và sản phẩm để phát triển phải căn cứ vào các yếu tố sau đây:
(1) lợi thế so sánh dài hạn;
(2) quy mô kinh tế đặt trong quy hoạch liên vùng (để bảo đảm giảm chi phí cố định);
(3) dung lượng thị trường (để bảo đảm có được thị phần và tăng thị phần mà không bị các biện pháp
tự vệ, điều tra chống bán phá giá); (4) mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết (để đo sức ép cạnh
tranh của hàng nhập khẩu).
-Đi đôi với việc phát triển một số ngành, sản phẩm theo các tiêu chí nêu trên cần hết sức coi trọng
phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp nền tảng cho công nghiệp hoá.
9. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước:
- Khuyến khích mọi người đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh, phát triển các loại hình doanh
nghiệp, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ:
- Việc sắp xếp lại, đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua đã đem lại
những kết quả tích cực. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đều có doanh thu, lợi nhuận,
nộp ngân sách cao hơn trước khi cổ phần hoá; việc làm và đời sống người lao động trong doanh nghiệp đã
cổ phần hoá được bảo đảm, có phần được cải thiện; quyền làm chủ thực sự trong quản lý doanh nghiệp
từng bước được xác lập. Việc bán giá trị của doanh nghiệp thông qua đấu thầu trên thị trường chứng khoán
đã khắc phục được tình trạng thất thoát vốn, tài sản của nhà nước.
- Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp mà nhà nước có cổ phẩn hoặc cổ phần chi phối còn nhiều. Vốn của
nhà nước trong doanh nghiệp còn lớn, tín dụng dành cho doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ cao. Phải khẩn
trương hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công
ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần, kể cả các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế.
- Một nước ở trình độ phát triển thấp như nước ta, lại đang trong giai đoạn chuyển đổi, tuyệt đại bộ
phận là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 95%), loại hình doanh nghiệp này thực sự đang là động lực
của sự phát triển. Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ có hiệu quả hơn nữa các doanh nghiệp này.
So với dân số và nhu cầu tăng trưởng kinh tế, số lượng doanh nghiệp nước ta hiện rất thấp. Đây là
hạn chế lớn trong việc phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, tạo ra thị trường cạnh tranh và huy
động nguồn lực của xã hội. Vì vậy, khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển các
loại hình doanh nghiệp. Định hướng cơ bản để thực hiện việc này là tạo điều kiện để doanh nghiệp có môi
trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi, giảm chi phí tham gia thị trường, miễn giảm thuế trong thời gian đầu
lập nghiệp, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo quản trị doanh nghiệp.
10. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN:
Chủ thể của tiến trình hội nhập và cạnh tranh là nhà nước và doanh nghiệp. Trong đó doanh nghiệp
trực tiếp cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường trong và ngoài nước. Có thể thấy rõ 4
điểm yếu của doanh nghiệp nước ta:
• số lượng doanh nghiệp ít;
• quy mô nhỏ, thiếu vốn;
• công nghệ sản xuất kinh doanh nhìn chung lạc hậu;
• khả năng quản trị doanh nghiệp còn yếu kém.
Những hạn chế này có nguyên nhân khách quan của một nền kinh tế đang phát triển ở trình độ
thấp, đang trong quá trình chuyển đổi. Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nhận thức được các hạn
chế yếu kém đó, có kế hoạch để khắc phục các yếu kém đó.
*Muốn vậy, các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược mặt hàng và chiến lược thị trường
đúng đắn. Trên cơ sở lựa chọn đúng chiến lược thị trường, chiến lược mặt hàng mà đổi mới công nghệ sản
xuất, công nghệ quản lý; áp dụng các tiêu chuẩn ISO, hoàn thiện phương thức kinh doanh; tạo ra bản sắc
riêng có, những nét độc đáo riêng có của doanh nghiệp mình thông qua đó mà thu hút khách hàng, phát
triển thị trường, xây dựng thương hiệu. Phải tăng cường liên kết hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang; xác
lập quan hệ bạn hàng và nhanh chóng hình thành hệ thống phân phối. Cần nhận thức rằng cạnh tranh và
hợp tác luôn song hành trong hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trưởng.
10
11. Tiền đề quan trọng và có ý nghĩa quyết định để thực hiện thắng lợi các chủ trương và giải
pháp nêu trên là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ
quyÒn quèc gia và định hướng của sự phát triển.
Nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội về bản chất và nội dung của quá trình hội nhập kinh tÕ
quèc tÕ, những cơ hội và thách thức khi VN gia nhập WTO. Tạo ra sự thèng nhÊt trong nhận thức, thèng
nhÊt đánh giá, thèng nhÊt hành động. Trên cơ sở đó phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân,
truyÒn thống yêu nước và cách mạng, ý chí tự lực tự cường của mọi người Việt Nam nh»m tận dụng cơ
hội, vượt qua thách thức đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chương 2 : BẢN CHẤT CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
2.1 Thương mại quốc tế và những đặc trưng cơ bản
2.1.1 Bản chất của thương mại quốc tế
Là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán;
Là một quá trình kinh tế đồng thời vừa được coi là một ngành kinh tế
2.1.2 Những đặc trưng của thương mại quốc tế.
- Khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan
hệ kinh tế quốc tế
- phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế ở trình độ kỹ thuật cao và quy mô lớn
- Là quan hệ kinh tế- xã hội phức tạp: hệ thống luật pháp, điều ước, công ước, quy tắc, thông lệ..
- Tình hình thị trường tiền tệ, chính sách tiền tệ, chính sách ngọai thương của các nước
- Là lọai hàng hóa, dịch vụ mà thế giới chấp nhận, tức là phải được tiêu chuẩn quốc tế hóa
2.2 Vai trò và nội dung của thương mại quốc tế
2.2.1 Vai trò của thương mại quốc tế
- Mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, tăng mức sống của dân cư,thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ
cấu sản phẩm:
+ Thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Thấy được, giới thiệu được và khai thác được những thế mạnh, những tiềm năng của đất nước
mình
+ Tạo điều kiện cho các nước tranh thủ, khai thác các tiềm năng, thế mạnh của các nước khác để
thúc đẩy quá trình SX
- Thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế, xã hội giữa các nước
- Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngòai, mở rộng các mối quan hệ quốc tế
2.2.2 Nội dung của thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, dưới đây là một số nội dung hoạt động
của thương mại quốc tế.
Một là: Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lương thực, thực
phẩm, các loại hàng hoá tiêu dùng… Đây là nội dung chủ yếu giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Hai là: Các hoạt động dịch vụ thương mại quốc tế. Dịch vụ thương mại quốc tế ngày càng có tỷ
trọng lớn phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự phát triển của các ngành dịch vụ trong
nền kinh tế quốc dân.
Ba là: Gia công quốc tế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế và sự phát triển của phân công lao động
ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu thì gia công quốc tế thông qua hình thức nhận gia công cho
nước ngoài và thuê nước ngoài gia công là cần thiết. Hoạt động gia công mang tính chất công nghiệp nhưng
chu kỳ gia công thường rất ngắn, có đầu vào và đầu ra gắn liền với thị trường nước ngoài.
Bốn là: Tái xuất khẩu và chuyển khẩu. Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu
tạm thời hàng hoá từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang nước thứ ba với điều kiện hàng hoá
đó không qua gia công, chế biến. Như vậy, ở đây có cả hành động mua và hành động bán nên mức độ rủi ro
có thể lớn và lợi nhuận có thể cao. Còn trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà ở đây
chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hoá… Bởi vậy, mức độ rủi
ro trong hoạt động chuyển khẩu nói chung là thấp và lợi nhuận cũng không cao.
11
Năm là: Xuất khẩu tại chỗ. Trường hợp này, hàng hoá hoặc các hoạt động dịch vụ có thể chưa vượt
ra ngoài biên giới quốc gia, nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu. Đó là những
công việc như cung cấp hàng hoá dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế
2.3 Chức năng, nhiệm vụ của thương mại quốc tế
2.3.1 Chức năng của thương mại quốc tế
-Tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ với các quốc gia trên thế giới
-Thực hiện giá trị của hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu
-Nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới
2.3.2 Nhiệm vụ của thương mại quốc tế
-Xây dựng và tiếp tục hòan thiện chiến lược chính sách, công cụ phát triển thương mại quốc tế.
-Nâng cao hiệu quả họat động kinh doanh thương mại quốc tế
-Tham gia vào việc giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọng của quốc gia như: tạo vốn;
công ăn việc làm, thu nhập của người lao động…..
-Bảo đảm sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong các họat động thương mại quốc tế
2.4 Thực trạng, mục tiêu và quan điểm phát triển thương mại quốc tế ở nước ta
2.4.1 Thực trạng trong thời gian vừa qua
a- Những thành tựu Về kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước tăng mạnh qua các năm, năm sau cao hơn năm
trước, bình quân hàng năm thời kỳ 1991-1995 tăng 17,8%, thời kỳ 1996-2000 tăng 21%, thời kỳ 2001-2005
tăng 17,5%. Nếu như năm 1991 nước ta xuất khẩu đạt 2,087 tỷ USD thì đến năm 2000 đã đạt tới 14,4 tỷ
USD, năm 2006 đạt tới 39,826 tỷ USD tăng hơn 2,7 lần năm 2000 va tăng gấp 19 lần năm 1991. Kim ngạch
xuất khẩu tính trên đầu người bình quân năm 1991 là 36,3 USD, năm 1995 là 76 USD, năm 2000 là 166
USD và năm 2006 đạt 474 USD.
Bảng 1.1: Tình hình xuất khẩu, nhập của việt Nam giai đoạn (1991-2006)
Đơn vị tính: Triệu UDS
Tổng kim
Năm
nghạch
Kim ngạch
TT
XNK
Xuất khẩu Nhập khẩu
Nhập siêu Tỷ lệ NK/XK [Lần]
1
1991
4.425
2.087
2.338
251
1,100
2
1992
5.121
2.580
0,900
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
1993
6.909
2.985
3.924
938
1994
9.880
4.054
5.825
1.771
1995
13.604
5.448
8.155
2.706
1996
18.399
7.255
11.143
3.887
1997
20.777
9.185
11.592
2.407
1998
20.859
9.360
11.499
2.139
1999
23.262
11.540
11.622
820
2000
30.120
14.483
15.637
1.154
2001
31.200
15.000
16.200
1.200
2002
36.400
16.700
19.700
3.000
2003
45.450
20.150
25.300
5.150
2004
58.500
26.500
32.000
5.5
2005
69.400
32.400
37.000
4.6
2006
84.717
39.826
44.891
5.065
Nguồn: Tổng cục Thống kê; Báo cáo của Bộ Thương mại
1,300
1,400
1,400
1,500
1,200
1,200
1,007
1,070
1,080
1,170
1,250
1,200
1,140
1,120
Bảng 1.2: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn (1990-2005)
TT
Mặt hàng
Đơn vị tính
Tỷ trọng bình quân
12
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
1990-1995
1996-2000
Dầu thô
Triệu tấn
23.5
18.8
Hàng dệt may
Triệu USD
10.5
14.5
Giầy dép
Triệu USD
2.7
10.3
Hàng thủy sản
Triệu USD
12.4
9.2
Gạo
Triệu tấn
11.6
8.6
Cà phê
Nghìn tấn
6.6
5.0
Cao su
Nghìn tấn
3.0
1.7
Hạt điều
Triệu USD
1.5
1.1
Hàng rau quả
Triệu USD
1.1
1.0
Than đá
Triệu tấn
1.8
1.0
Hạt tiêu
Triệu USD
0.6
0.9
Nguồn: Tổng cục Thống kê; Báo cáo của Bộ Thương mại
2001-2005
88.2
17.5
11.4
11.1
20.1
4.2
2.2
1.5
1.1
47.2
0.6
- Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập do đó nhập siêu ở mức trên là khó tránh
khỏi, vì thực chất nhập khẩu thời kỳ này chủ yếu phục vụ cho những mục đích như: nhập khẩu nhằm hướng
vào mục tiêu chủ yếu là phục vụ cho chiến lược phát triển xuất khẩu và đáp ứng các yêu cầu thiết yếu của
sản xuất, tiêu dùng trong nước; thay đổi cơ cấu nhập khẩu theo hướng tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất,
giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng; mở rộng thị trường nhập khẩu, nâng cao chất lượng hàng nhập khẩu, nhập
khẩu góp phần đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất
khẩu của Việt Nam.
- Tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991-2006 cũng tăng với tốc độ khá, tổng kim
ngạch nhập khẩu đạt khoảng 259,3 tỷ USD, tốc độ tăng trung bình mỗi năm đạt 16,2% mỗi năm, tăng dần
qua các năm, nếu như năm 1991 kim ngạch nhập khẩu đạt 2,3 tỷ USD thì đến năm 2006 đã đạt đến 44,8 tỷ
USD. Trong giai đoạn này kim ngạch nhập khẩu ở nước ta thường gấp 1,2 lần kim ngạch xuất khẩu, chỉ có
duy nhất năm 1991 kim ngạch xuất khẩu tăng cao hơn kim ngạch nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu cao
hơn kim ngạch xuất khẩu dẫn đến nhập siêu tăng, năm 1991 nhập siêu là 251 triệu USD, đến năm 2006 con
số này lên đến trên 5 tỷ USD.
- Về cơ cấu hàng xuất khẩu
Cơ cấu các mặt hàng đã có sự thay đổi tích cực, được cải thiện theo chiều hướng đa dạng hoá, giảm
tỷ trọng hàng nông, lâm, hải sản, giảm tỷ trọng loại hàng hoá chưa qua chế biến. Năm 1991 kim ngạch xuất
khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản chiếm tới 52,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, còn hàng hoá
ngành công nghiệp nặng và khoáng sản 33,4% và tỷ trọng hàng công nghiệp nhẹ - tiểu thủ công nghiệp là
14%. Đến năm 2000 tỷ trọng các loại hàng hoá đã thay đổi với cơ cấu tương ứng là 30,1% hàng nông
nghiệp, 35,6% hàng công nghiệp nặng va 34,3% hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp. Đến năm
2006 tỷ trọng này là 35,7% hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp là 40,2% và hàng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 24,1% nếu so với năm 1991 thì tỷ trọng này đã
giảm hơn 1/2 Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, đã
chiếm ưu thế trong tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu
- Về thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và đã có sự thay đổi về cơ
cấu thị trường, định hình rõ thị trường trọng điểm. Từ chỗ thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là thị
trường Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, đến nay thị trường này không còn nữa thì các nước châu Á đã
nhanh chóng trở thành các bạn hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Hiện nay, thị trường khu vực châu Á –
Thái bình dương chiếm đến 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta. Trong số thị trường các nước
ở châu Á thì thị trường Nhật Bản và thị trường ASEAN đóng vai trò to lớn. Trong vài năm gần đây nhiều
thị trường mới đã được khai thông và mở rộng thêm về quy mô cho xuất khẩu như thị trường Mỹ, thị
trường Úc, các nước Châu Phi và Trung cận Đông. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
sang các nước trên thế giới đã thay đổi theo hướng tăng dần khối lượng xuất khẩu sang các nước thuộc khối
EU và các nước châu Mỹ đặc biệt là thị trường Mỹ.
13
•
Bảng 1.3: Một số thị trường chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn giai đoạn (2000-2005)
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Tổng KN
Nhật Bản
Tỷ trọng (%)
Trung Quốc
Tỷ trọng (%)
Singapor
Tỷ trọng (%)
Đài loan
Tỷ trọng (%)
Đức
Tỷ trọng (%)
Anh
Tỷ trọng (%)
Mỹ
Tỷ trọng (%)
úc
Tỷ trọng (%)
32.441
4.411
13,5
2.961
9,1
1.808
5,5
936
2,8
1086
3,3
1015
3,1
5.930
18,2
2.570
7,9
14.482
15.029
16.706
20.149
26.485
2.575
2.509
2.437
2.908
3.542
17,7
16,6
14,5
14,4
13,3
1.536
1.417
1.518
1.883
2.899
10,6
9,4
9,0
9,3
10,9
885
1.043
961
1.024
1.485
6,1
6,9
5,7
5,0
5,6
756
806
817
749
890
5,2
5,3
4,8
3,7
3,3
730
721
729
854
1064
5,0
4,7
4,3
4,2
4,0
479
511
571
754
1010
3,3
3,4
4,4
3,7
3,8
732
1.065
4.452
3.938
5.024
5,0
7,0
14,6
19,5
18,9
1.272
1.041
1.328
1.420
1.884
8,7
6,9
7,9
7,0
7,1
Nguồn: Niên giám Thống kê 2005; Báo cáo của Bộ Thương mại
b- Những hạn chế
- Cùng với những thành tựu kết quả đạt được trên đây, trong quá trình triển khai thực hiện, hoạt
động thương mại quốc tế đã bộc lộ một số hạn chế nhất định như:
- Cơ cấu thị trường xuất khẩu vẫn còn sự bất hợp lý, mang nặng tính tình thế, đối phó, nhất là thị
trường xuất khẩu nông sản, các bạn hàng lớn còn ít và không ổn định.
- Chiến lược phát triển và mở rộng thị trường chưa được xây dựng trên thế chủ động từ các yếu tố
lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng. Dự báo dài hạn thiếu cơ sở khoa học đã dẫn tới sự tự
phát trong phát triển thị trường.
- Xuất khẩu thô, gia công xuất khẩu còn chiếm tỷ trọng lớn nên giá trị mang lại thấp, cơ cấu hàng
xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, chưa chú trọng đến công tác chế biến.
- Chưa khai thác hết được tiềm năng xuất khẩu của khu vực ngoài Nhà nước. Mặc dù trong thời gian
qua xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh song chưa đạt được tỷ trọng xuất
khẩu theo đúng như giấy phép đăng ký đầu tư. Khu vực doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích xuất
khẩu nhưng tỷ trọng còn thấp và chưa phát huy được vị thế của mình.
- Khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới còn thấp, chậm đổi mới mẫu
mã sản phẩm cho thích ứng với thị trường, chất lượng sản phẩm còn có những hạn chế, xây dựng thương
hiệu hàng hoá và xúc tiến thương mại quốc tế còn yếu kém.
- Vẫn còn hiện tượng chất lượng hàng hoá nhập khẩu chưa bảo đảm, với công nghệ sản xuất nhập
khẩu lạc hậu gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
- Cơ chế chính sách và hiệu lực quản lý Nhà nước đối với thương mại quốc tế còn có những bất cập.
Tình trang buôn bán gian lận trong thương mại quốc tế có chiều hướng gia tăng, công tác kiểm tra kiểm
soát hàng hoá nhập khẩu còn có sự buông lỏng.
2.4.2 Mục tiêu, quan điểm và giải pháp phát triển thương mại quốc tế
a-Thời cơ và thách thức đối với phát triển thương mại quốc tế ở nước ta
Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cùng với triển
vọng nền kinh tế, thương mại nước ta trong những năm tới đã tạo ra cho nền kinh tế nước ta không ít những
cơ hội và thách thức mới trong quá trình phát triển nền kinh tế và thương mại quốc tế thể hiện trên các mặt
sau đây:
Về cơ hội và những thuận lợi:
14
•
•
- Cho phép khai thác được lợi thế của các nước phát triển trên thế giới về kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến và trình độ quản lý sản xuất.
- Có điều kiện hơn trong tham gia vào phân công lao động quốc tế, trong chuyên môn hoá sản xuất
để tăng cao năng suất và hiệu quả đồng thời có điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm đổi mới
cơ sở hạ tầng và tạo ra các cơ sở cần thiết khác nhằm phát triển nền kinh tế.
- Cơ hội để phát triển và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ ra nước ngoài được
mở rộng, phát triển.
Thể chế kinh tế thị trường ở nước ta đã bước đầu hình thành và vận hành có hiệu quả. Triết lý kinh doanh
của nền kinh tế hàng hoá ngày càng được nhận thức sâu rộng hơn trong các loại hình doanh nghiệp, trong
các tầng lớp dân cư đã tạo ra động lực để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển.
- Kết quả của sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã tạo ra những tiền đề thuận lợi cho sự
phát triển tiếp theo. Sự giữa vững và ổn định chính trị tạo ra những điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát
triển.
- Mối quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được củng cố và phát triển, lộ trình hội nhập của nước ta
tiếp tục đẩy mạnh với việc triển khai thực hiện hầu hết các nghĩa vụ trong tổ chức Thương mại Thế giới
WTO.
Về những khó khăn, thách thức:
- Nền kinh tế nước ta còn nhỏ bé, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của các
doanh nghiệp và toàn nền kinh tế còn thấp.
- Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của nước ta còn yếu kém gây ra không ít những khó khăn cho gia tăng
tốc độ phát triển nền kinh tế.
- Hệ thống luật pháp và những chính sách kinh tế của nước ta còn có những bất cập, có những điểm
chưa tương thích với yêu cầu hội nhập phát triển kinh tế đòi hỏi phải được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện.
- Năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh còn thiếu và yếu, trình độ lao động tay
nghề của người lao động còn thấp đã gây không ít cản trở cho phát triển hội nhập.
Thực trạng gian lận thương mại, trốn lậu thuế, hàng giả, hàng nhái, lãng phí, tham nhũng vẫn còn khá phổ
biến và chưa được ngăn chặn có hiệu quả
Về mục tiêu phát triển:
- Mục tiêu bao trùm đối với thương mại quốc tế phải là góp phần vào thực hiện thắng lợi các mục
tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta thời kỳ đến năm 2010 và những năm tiếp theo, đưa
nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào những năm 2020. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đã xác định rõ một số phương hướng cụ thể về phát triển kinh tế xã hội và quá trình tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta. Bám sát các chủ trương và các mục tiêu chiến lược đã được
xác định, thương mại quốc tế phải tập trung vào thực hiện những mục tiêu sau đây
Phát triển mạnh thương mại quốc tế, nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động để mở rộng giao lưu hàng
hóa, đẩy mạnh xuất nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Góp
phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, quá trình tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả của khu vực doanh
nghiệp Nhà nước; khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Tạo lập và phát triển đồng bộ các loại thị trường, mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ, tổ chức tốt thị trường và lưu thông hàng hoá làm cho thương mại quốc tế thực sự là đòn bẩy
thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội.
Tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện có hiệu quả các cam kết và lộ trình hội nhập
kinh tế quốc tế cũng như những nghĩa vụ khi đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
- Đổi mới cơ bản công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung và
phát triển thương mại quốc tế nói riêng cho phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường. Chủ động
điều chỉnh cơ cấu thương mại quốc tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
- Tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi, hệ thống cơ chế chính sách hợp lý để đẩy nhanh tốc độ
xuất khẩu, phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ,
chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến, sản
phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ; chú trọng nhập khẩu những
thiết bị, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất, bảo đảm cán cân thương mại ở mức hợp lý.
15
Nõng cao hiu lc v hiu qu qun lý Nh nc v thng mi quc t nhm hn ch nhng mt
trỏi v tớnh t phỏt ca kinh t th trng. Tng cng k cng, trt t th trng, bo v quyn li chớnh
ỏng v hp phỏp ca ngi sn xut v ngi tiờu dựng, bo v mụi trng sinh thỏi.
- Phn u t tc tng trng xut khu hng hoỏ giai on 2006-2010 tng 14-16%/nm, giỏ tr
t c t 59 n 64 t USD vo nm 2010. Tc tng trng xut khu dch v tng 15%, giỏ tr t
c 8,1 t USD nm 2010. Tc tng trng nhp khu hng hoỏ bỡnh quõn t 13,5-14,5%/nm, giỏ tr
kim ngch t t 69-72 t USD vo nm 2010.
V quan im phỏt trin:
- Phỏt trin thng mi quc t phi nhm úng gúp ngy cng nhiu hn na vo s tng trng
GDP, vo s chuyn dch c cu kinh t theo hng cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ v gii quyt cỏc vn
xó hi, to ra ng lc phỏt trin sn xut.
- Phỏt trin thng mi quc t trờn c s phỏt huy v s dng mi kh nng, tớnh tớch cc ca cỏc
thnh phn kinh t, cỏc hỡnh thc s hu. ng thi trờn c s phỏt trin ng b cỏc th trng hng hoỏ,
dch v, phỏt huy vai trũ nũng ct, nh hng v iu tit ca Nh nc trờn th trng. Vic m rng v
phỏt trin th trng nc ngoi phi gn vi vic phỏt trin n nh th trng trong nc.
Phỏt trin thng mi quc t phi trờn c s khai thỏc v xõy dng nng lc cnh tranh mi cp khỏc
nhau, ly mc tiờu hiu qu kinh t lm thc o tiờu chun trong mi bc ng phỏt trin. t hiu qu
kinh doanh thng mi quc t trong hiu qu kinh t - xó hi ca ton b nn kinh t.
- Phỏt trin thng mi quc t phi chỳ trng n xõy dng nn thng mi Vit Nam vn minh
hin i v trờn c s bo v, gi gỡn an ninh quc gia, bo v mụi trng sinh thỏi.
- Phỏt trin thng mi quc t ũi hi phi theo ỳng nhng quy tc ca th trng, ng thi cú
cỏc bin phỏp tip tc i mi v hon thin chớnh sỏch, c ch qun lý Nh nc v thng mi
Bi tp tiu lun:
1. Lý thuyt thng mi quc t c in v tõn c in:
-Lý thuyt ca ch ngha trng thng
-Lý thuyt li th tuyt i
-Lý thuyt li th tng i
-Lý thuyt tng quan cỏc nhõn t
-Nghch lý Leontief
2. Lý thuyt thng mi quc t hin i:
-Lý thuyt chu k sng sn phm v thng mi quc t
-Mt s lý thuyt thng mi quc t mi khỏc:
+ Chi phớ vn chuyn v thng mi quc t
+Chớnh sỏch mụi trng v thng mi quc t
-Lý thuyt v kh nng canh tranh cp quc gia
CHNG 3 : CN CN THANH TON V AN TON TI CHNH QUC GIA
1. Cán cân thanh toán quốc tế
1.1. Định nghĩa
Cán cân thanh toán là một bảng báo cáo thống kê đợc ghi chép theo nguyên
tắc kế toán về những khoản thu chi liên quan đến các giao dịch quốc tế của một
quốc gia tại một thời điểm hoặc một thời kỳ nhất định.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cán cân thanh toán có thể đợc lập cho một
thời kỳ hay tại một thời điểm, cán cân thanh toán song phơng hay cán cân thanh
toán tổng hợp.
Cán cân thanh toán là một tài liệu rất quan trọng đối với mọi quốc gia, bởi vì:
Các thông tin trong cán cân thanh toán là những thông tin chi tiết liên quan
đến cung và cầu tiền tệ của một quốc gia với quốc tế.
Dữ liệu trên cán cân thanh toán có thể đợc sử dụng để đánh giá khả năng
cạnh tranh trên thị trờng quốc tế của một quốc gia.
1.2. Các khoản mục trên các cân thanh toán
16
Cán cân thanh toán phản ánh tất cả giao dịch quốc tế của một quốc gia tại
một thời điểm hoặc một thời kỳ nhất định, vì vậy nó bao gồm một số khoản mục
khác nhau. Tuy nhiên, các giao dịch quốc tế của một quốc gia có thể đợc gộp thành
ba loại chính:
Tài khoản vãng lai.
Tài khoản vốn.
Tài khoản dự trữ chính thức.
Để nghiên cứu rõ hơn, ta tham khảo cán cân thanh toán của Mỹ năm 1994 sau
đây:
Khoản mục
Có
Nợ
Tài khoản vãng lai
(1)
Xuất khẩu
832.86
(1.1)
Hàng hoá
502.73
(1.2)
Dịch vụ
172.29
(1.3)
Yếu tố thu nhập
157.84
(2)
Nhập khẩu
-954.42
(2.1)
Hàng hoá
-669.09
(2.2)
Dịch vụ
-128.01
(2.3)
Yếu tố thu nhập
-157.32
(3)
Chuyển tiền đơn phơng thuần
-34.12
(3.1)
Chuyển tiền đơn phơng khu vực t
-18.42
(3.2)
Chuyển tiền đơn phơng khu vực công
-15.70
Số d tài khoản vãng lai [(1)+(2)+(3)]
-155.68
Tài khoản vốn
(4)
ầu t trực tiếp
1.64
(5)
ầu t chứng khoán
33.43
(6)
Vốn khác
112.12
Số d tài khoản vốn [(4)+(5)+(6)]
147.19
(7)
Sai số thống kê
-33.25
Số d tài khoản vãng lai và tài khoản
vốn
-41.74
17
Tài khoản dự trƯ chính phủ
(8)
Tài sản dự trữ chính phủ của Mỹ
5.34
(9)
Tài sản dự trữ chính phủ của nớc ngoài
36.40
Số d giao dịch dự trữ
41.74
1.2.1. Tài khoản vãng lai
Bảng trên cho thấy xuất khẩu của Mỹ là 832,86 tỷ USD trong năm 1994 và
nhập khẩu là 954,42 tỷ USD. Tài khoản vãng lai đợc định nghĩa là xuất khẩu trừ
nhập khẩu cộng chuyển tiền thuần, nghĩa là (1)-(2)+(3). Trên bảng trên là số âm (155,68 USD).
Chênh lệch giữa xuất khẩu hàng hoá (1) và nhập khẩu hàng hoá (2) gọi là cán
cân thơng mại. Khi nhập khẩu hàng hoá lớn hơn xuất khẩu hàng hoá, chúng ta có
một sự thiếu hụt cán cân thơng mại. Nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, chúng ta có
thặng d cán cân thơng mại.
Tài khoản vãng lai đợc chia thành bốn nhóm nhỏ hơn: thơng mại hàng hoá, dịch
vụ, yếu tố thu nhập và chuyển tiền thuần.
-Thơng mại hàng hoá: biểu thị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá nh dầu, xe
hơi, máy tính, quần áo... Bảng trên cho thấy xuất khẩu hàng hoá của Mỹ là 502,73 tỷ
USD và nhập khẩu là 669,09 tỷ USD. Nh vậy Mỹ có một khoản thâm hụt trên cán
cân thơng mại (còn gọi là thâm hụt thơng mại).
- Dịch vụ: là nhóm thứ hai của tài khoản vãng lai, bao gồm các khoản phải
thanh toán và các khoản đợc thanh toán về cố vấn, luật pháp, dịch vụ kỹ thuật, bản
quyền, bằng phát minh và tài sản tri thức, tiền đóng bảo hiểm, phí vận chuyển, chi
tiêu dịch vụ. Những khoản thơng mại là dịch vụ này đôi khi đợc gọi là thơng mại vô
hình. Trong năm 1994, Mỹ xuất khẩu 172,29 tỷ USD dịch vụ và nhập khẩu 128,01 tỷ
USD, nh vậy thặng d 44,28 tỷ USD.
Yếu tố thu nhập: là nhóm thứ ba của tài khoản vãng lai, bao quát những khoản
thanh toán và khoản đợc trả từ tiền lãi, cổ tức đến cả những thu nhập khác từ đầu
t ở nớc ngoài từ trớc. Ví dụ, nếu những nhà đầu t Mỹ đợc trả lãi từ những trái phiếu
nớc ngoài mà họ nắm giữ, thì khoản tiền lãi này đợc phản ánh nh một khoản ghi Có
trên cán cân thanh toán. Ngợc lại, những khoản do ngời Mỹ phải thanh toán cho các
nhà đầu t nớc ngoài sẽ đợc phản ánh nh những khoản ghi Nợ. Trong năm 1994, công
dân Mỹ đã chuyển tiền ra nớc ngoài 157,32 tỷ USD cho ngời nớc ngoài và cũng nhận
đợc 157,84 tỷ USD.
Chuyển tiền đơn phơng (chuyển tiền thuần): là nhóm thứ t của tài khoản
vãng lai, bao gồm khoản chuyển tiền không đợc hoàn lại, ví dụ nh viện trợ cho nớc
ngoài, những khoản bồi thờng, trợ cấp t nhân, trợ cấp chính phủ, quà tặng. Không
giống nh những tài khoản khác trên cán cân thanh toán, chuyển tiền đơn phơng là
những dòng chuyển tiền một hớng, không có dòng ngợc chiều tơng ứng. Ví dụ nh
trong trờng hợp mua bán hàng hoá, hàng hoá chảy theo một hớng và tiền thanh toán
chảy theo hớng ngợc lại.
Tài khoản vãng lai, đặc biệt là cán cân thơng mại, có khuynh hớng nhạy cảm
với những thay đổi của tỷ giá. Khi đồng tiền của một quốc gia giảm giá so với đồng
tiền của những đối tác thơng mại chính, xuất khẩu của quốc gia đó có xu hớng tăng
và nhập khẩu của quốc gia đó có xu hớng giảm, làm cải thiện cán cân thơng mại.
1.2.2. Tài khoản vốn
Cán cân vốn đo lờng chênh lệch giữa bán vốn cho ngời nớc ngoài và mua vốn
từ nớc ngoài. Nhập khẩu vốn đợc phản ánh nh những khoản ghi Có, vì luồng vốn
18
đầu t sẽ đổ vào. Ngợc lại, xuất khẩu vốn ra nớc ngoài đợc phản ánh nh những khoản
ghi Nợ, vì chúng dẫn đến những luồng vốn đầu t ra.
Theo số liệu trong bảng, Mỹ có thặng d trên tài khoản vốn 147,19 tỷ USD vào
năm 1994, điều này cho thấy luồng vốn đầu t vào Mỹ vợt xa luồng vốn đầu t ra.
Tài khoản vốn có thể đợc chia thành ba nhóm: đầu t trực tiếp, đầu t chứng
khoán và vốn khác.
- Đầu t trực tiếp: trong cán cân thanh toán của Mỹ, có đợc từ 10% trở lên, cổ
phần bỏ phiếu của một doanh nghiệp đợc xem là cho hạn định kiểm soát.
- Đầu t chứng khoán: phản ánh bán và mua tài sản tài chính nớc ngoài nh cổ
phiếu, trái phiếu. Những chứng khoán này không liên quan đến sự chuyển dịch
quyền kiểm soát. Bảng cán cân thanh toán của Mỹ cho thấy Mỹ đã đầu t chứng
khoán thuần 33 tỷ USD trong năm 1994
-Vốn khác: bao gồm đầu t vào các công cụ ngắn hạn nh tiền gửi ngân hàng,
các công cụ trên thị trờng tiền tệ... Những công cụ này rất nhạy cảm với sự thay đổi
của lãi suất giữa các quốc gia và sự thay đổi về tỷ giá. Nếu lãi suất tăng ở Mỹ, trong
khi các biến số khác không thay đổi, Mỹ sẽ nhận một luồng vốn đầu t vào vì các
nhà đầu t muốn gửi tiền hoặc đầu t vào Mỹ để hởng lợi thế lãi suất cao và ngợc lại
1.2.3. Sai số thống kê
Số liệu trên bảng cho thấy sai số thống kê là - 33,25 tỷ USD của những giao
dịch bị bỏ sót hay ghi chép sai. Những ghi chép của những khoản thanh toán hoặc
hoá đơn quốc tế đợc thực hiện vào những thời gian khác nhau, địa điểm khác
nhau và có thể bằng những phơng pháp khác nhau. Do vậy, những ghi chép này cơ sở để xây dựng các thống kê của cán cân thanh toán- chắc chắn không hoàn
hảo. Từ đó dẫn đến những sai số thống kê. Vì lý do đó, cán cân thanh toán luôn
luôn có một khoản sai lệch thống kê, hoặc ghi Có, hoặc ghi Nợ nh là một khoản để
làm cân bằng cán cân thanh toán.
1.2.4. Tài khoản dự trữ chính thức
Khi một quốc gia chi trả để thanh toán cho nớc ngoài vì thâm hụt cán cân
thanh toán, NHTW của quốc gia đó nên giảm bớt tài sản dự trữ chính thức nh vàng,
ngoại tệ, SDR hoặc vay NHTW nớc ngoài. Ngợc lại, nếu một số quốc gia có thặng d
trên cán cân thanh toán, NHTW nớc đó sẽ trả nợ nớc ngoài hoặc tăng thêm tài sản dự
trữ.
Bảng trên cho thấy để bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán 41,74 tỷ USD,
quỹ dự trữ liên bang đã bán 5,34 tỷ USD tài sản dự trữ và vay nợ mới 36,4 tỷ USD từ
các nớc khác.
Khi Mỹ và chính phủ các nớc khác muốn làm tăng giá trị đồng đô la Mỹ trên
thị trờng hối đoái, sẽ bán ngoại tệ, SDR hoặc vàng để mua đô la. Những giao
dịch này sẽ làm tăng cầu đô la và sẽ đợc phản ánh nh một khoản mục dơng(+) trong
dự trữ chính thức. Ngợc lại, nếu các chính phủ muốn đồng đô la yếu đi họ bán
đô la và mua vàng, ngoại tệ... Những giao dịch này làm tăng cung của đồng đô
la và sẽ đợc phản ánh nh một khoản mục âm (-) trong dự trữ chính thức.
Tài sản dự trữ quốc tế bao gồm:
-Vàng
-Ngoại tệ
-Quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
-Các hình thức dự trữ trong quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Đồng SDR (Special Drowing Right) là đồng tiền đợc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
cho ra đời 1970, là tiền tệ hiệp định nhằm thay thế các lọai tiền tệ trong dự trữ
và thanh tóan quốc tế. SDR đợc xác định dựa trên các đồng tiền chủ yếu: USD,
EURO, Yên Nhật và Bảng Anh.
1.3. Đặc trng và những tín hiệu từ cán cân thanh toán
Khi các tài khoản trên cán cân thanh toán đợc ghi đúng thì tổng số d của tài
khoản vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản dự trữ phải bằng không.
19
Số d trên tài khoản dự trữ phản ánh sự thay đổi của dự trữ chính phủ. Phơng
trình trên là đặc trng của cán cân thanh toán, cần thiết phải đợc duy trì. Cân
bằng trên cho thấy rằng một quốc gia có thể có thể cân bằng, thặng d hoặc thâm
hụt trên cán cân thanh toán bằng cách tăng hay giảm dự trữ chính thức của mình.
Bng 1.2: Mõu cỏn cõn thanh toỏn quc t ca Vit Nam
Quý
Nm
I CN CN VNG LAI
1 Cỏn cõn thng mi
- Xut khu (FOB)
- Nhp khu (FOB)
2 Thu, chi t dch v (rũng)
- Thu
- Chi
3 Thu nhp
- Thu nhp ca ngi lao ng
- Thu nhp v u t
+ Lói n hn ca cỏc khon vay n (rũng)
* Thc tr (rũng)
4 Chuyn giao vóng lai mt chiu
- Chuyn giao ca khu vc nh nc
- Chuyn giao ca khu vc t nhõn
II CN CN VN V TI CHNH
1 Chuyn giao mt chiu
2 u t trc tip (rũng)
3 u t vo giy t cú giỏ (rũng)
4 Tớn dng trung-di hn (rũng)
- Gii ngõn
- N gc n hn ca cỏc khon vay n (rũng)
* Thc tr (rũng)
5 Tớn dng ngn hn (rũng)
- Gii ngõn
- N gc n hn ca cỏc khon vay n (rũng)
* Thc tr (rũng)
III LI V SAI SểT
IV CN CN TNG TH
V NGI B P
1 Thay i ti sn cú ngoi t (rũng)
- Thay i d tr (- tng; + gim)
- S dng vn ca Qu Tin t Quc t (rũng) (vay,
2
tr)
3 Thay i n quỏ hn
Cỏc ngun ti tr khỏc
Bng 1.3: Cỏn cõn thanh toỏn ca Vit Nam (triu USD)
1995
1996 1997
1998
1999
Xut khu (FOB)
Nhp khu (FOB)
9,365
10,341
11,540 14,449 15,027
10,460 14,072 14,401
5,198
8,353
7,330 9,145
10,483 10,461
2000
2001
20
Cõn bng thng mi
Dch v u ra
Dch v (rũng)
-Trong ú: Lói
Chuyn giao (rũng)
Chuyn giao chớnh thc (rũng)
-3,155
159
-279
361
626
153
-3,153
-62
-428
500
1,200
150
-1,316
-625
-614
478
890
175
-976
-540
-668
558
1,127
172
1,080
-547
-429
550
1,185
130
378
-615
-597
544
1,477
136
627
-572
-634
582
1,251
150
Chuyn giao t nhõn (rũng)
473
1,050
715
955
1,055
1,341
1,101
Cỏn cõn vóng lai (tr vin tr)
-2,802
-2,592 -1,893
-1,229
1,158
507
521
Cỏn cõn vn
Trung v di hn
Gii ngõn
- Tong ú: IDA
ODA hin ti v mi
Tr n lói/gc
Ngn hn
u t trc tip
2,333
-253
443
47
358
696
311
2,276
2,105
43
772
189
148
729
224
1,838
1,681
218
1,022
181
384
804
-612
2,074
580
70
1,120
254
539
1,050
-290
800
-337
-423
944
157
787
1,367
-614
700
-823
77
1,298
175
1,123
1,221
-1,700
800
-576
-276
1,062
282
780
1,338
-1,200
900
Sai s
278
-14
-20
-47
-183
297
230
Cõn bng tng th
-38
-351
-4
-524
768
116
325
Ti tr
Thay i d tr ngoi t
IMF (rũng)
N ng
Gión n
38
351
4
524
-482
-368
-265
63
92
178
-54
-78
0
541
323
126
428
0
0
413
Ghi chỳ: S liu c lm trũn
-768
-1,290
-26
548
0
-116
-116
-21
-9,691
9,691
-325
-325
59
0
0
2. An toàn tài chính quốc gia
Dới ảnh hởng của xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá, các quốc gia phải đối mặt
với rủi ro tài chính ngày càng lớn và khủng hoảng tài chính đã trở thành mối đe dọa
chủ yếu đối với an toàn tài chính.
An toàn tài chính là một khái niệm để chỉ một tình trạng tài chính lành
mạnh, không bị nguy hiểm bởi các tác động dẫn đến các rủi ro tài chính, từ
đó dẫn đến khủng khoảng tài chính.
Để đảm bảo an toàn tài chính trong quan hệ tài chính quốc tế cần chú ý đến
những quan hệ cụ thể nh sau:
-Đối với quan hệ tín dụng quốc tế: vay nợ nớc ngoài là nguồn vốn quan trọng
trong phát triển kinh tế nhng cũng có thể sẽ dẫn đến rủi ro khi sử dụng nguồn vốn
này. Vì vậy, để hạn chế rủi ro cần lựa chọn nguồn vốn vay, hình thức và điều kiện
vay trả có lợi nhất cho nớc đi vay. Mặt khác, phải lựa chọn loại ngoại tệ thích hợp để
tránh rủi ro tỷ giá hối đoái, áp dụng các biện pháp để quản lý vay và trả nợ.
- Đối với hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài: đây là nguồn vốn tơng đối an
toàn đối với nớc tiếp nhận đầu t, tuy nhiên cũng cần có định hớng chiến lợc và giải
21
pháp để huy động vốn, tránh tình trạng phá vỡ cơ cấu kinh tế đã lựa chọn, cũng nh
sự lấn át của chủ đầu t nớc ngoài đối với các doanh nghiệp trong nớc.
-Đối với việc mở cửa thị trờng tài chính: các nớc nghèo và kém phát triển nh
Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm, cần phải có lộ trình mở cửa và hội nhập cho phù
hợp để tránh sự lũng đoạn của các nhà đầu t nớc ngoài dẫn đến những thiệt hại cho
nền kinh tế và khủng hoảng kinh tế.
3. Các tổ chức tài chính quốc tế
3.1. Những vấn đề chung về các tổ chức tài chính quốc tế
Các tổ chức kinh tế quốc tế là các hình thức tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế
do các nớc cùng quan tâm tổ chức ra trên cơ sở các hiệp định đợc ký kết
trong các lĩnh vực khác nhau của sự hợp tác kinh tế.
Các tổ chức kinh tế quốc tế có chức năng phối hợp hoạt động của các nớc tham
gia hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế nhất định và nó không thực hiện việc
quản lý sản xuất trực tiếp. Mức độ rộng hẹp của các chức năng của các tổ
chức này tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể và nguyện vọng của các nớc
tham gia hợp tác.
Để đảm bảo nguồn tài chính cho các tổ chức này hoạt động, các nớc thành viên phải
góp vốn vào quỹ của tổ chức. Đó là quỹ luật định của các tổ chức kinh tế liên nhà
nớc.
Mức đóng góp của mỗi thành viên vào quỹ luật định của tổ chức do điều lệ
của mỗi tổ chức quy định.
Ngân sách của tổ chức đợc xây dựng hàng năm, sau đó phân bổ cho các
thành viên.
Thu - chi ngân sách của các tổ chức đợc tính theo đơn vị tiền tệ của nớc mà
tổ chức đặt trụ sở hoặc theo ngoại tệ chuyển đổi tự do.
Phần sau đây sẽ là giới thiệu về một số tổ chức tài chính quốc tế kể trên.
3.2 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
IMF là một tổ chức tự trị của LHQ, đợc thành lập năm 1944, hoạt động trên
lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, quốc tế. Thành viên của IMF gồm nhiều quốc gia
khắp nơi trên thế giới, đến nay đã có trên 180 quốc gia thành viên.
Trụ sở của IMF đặt tại Washington. Hoạt động hàng ngày của quỹ do một ban
điều hành thực hiện, gồm 22 giám đốc, đứng đầu là một tổng giám đốc
điều hành
Điều hành hoạt động của IMF gồm có một hội đồng các thống đốc, một ban
điều hành, một tổng giám đốc điều hành, và đội ngũ nhân sự. Mỗi quốc gia
thành viên đều có một thống đốc đại diện và một thống đốc dự bị trong hội
đồng các thống đốc- cơ quan quyền lực cao nhất của tổ chức này. Hội đồng
này nhóm họp hàng năm và có thể tham gia bỏ phiếu bằng th hoặc bằng
điện tín trong các cuộc họp. Quyền bỏ phiếu của mỗi thành viên phụ thuộc
vào mức đóng góp của quốc gia đó vào nguồn tài chính của quỹ.
Trụ sở của IMF đặt tại Washington. Hoạt động hàng ngày của quỹ do một ban
điều hành thực hiện, gồm 22 giám đốc, đứng đầu là một tổng giám đốc
điều hành.
3.2.1 Mục đích hoạt động của IMF
-Thúc đẩy hợp tác tiền tệ quốc tế.
-Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và tăng trởng ổn định của thơng
mại quốc tế.
-Thúc đẩy hớng dẫn một sự ổn định ngoại hối, duy trì trật tự cơ chế tỷ giá
giữa các nớc thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ mang tính cạnh tranh.
-Hỗ trợ xác lập một hệ thống thanh toán đa phơng cho các giao dịch vãng lai các
thành viên và loại bỏ các quản chế ngoại hối làm tổn hại đến sự phát triển thơng mại
thế giới.
22
-Tạo niềm tin ở các thành viên bằng tổng tài nguyên của IMF có thể tạm thời sử
dụng trong chừng mực cẩn trọng nhằm tạo cơ hội cho các nớc thành viên điều chỉnh
những sai lệch trong cán cân thanh toán quốc tế mà không phải sử dụng các biện
pháp làm tổn hại đến lợi ích quốc gia và quốc tế.
-Rút ngắn thời gian và giảm bớt tình trạng thiếu thăng bằng cán cân thanh
toán quốc tế của các nớc thành viên trong khuôn khổ phù hợp với các mục tiêu đã nêu.
3.2.2 Một số nghĩa vụ chung của các nớc thành viên
-Tránh áp dụng những hạn chế đối với thanh toán thờng xuyên.
-Tránh việc thu xếp, thanh toán tiền tệ có sự phân biệt.
-Chuyển đổi các số d tiền tệ do các thành viên khác nắm giữ.
-Gửi và trao đổi các thông tin cho quỹ theo yêu cầu của quỹ.
-Trao đổi, tham khảo, lấy ý kiến của các thành viên về các hiệp định, thoả
thuận quốc tế hiện hành.
-Có nghĩa vụ hợp tác với quỹ và các thành viên về các chính sách đối với các tài
sản dự trữ.
3.2.3 Nguồn vốn của IMF
Nguồn vốn của IMF bao gồm nguồn tự có và nguồn đi vay.
Nguồn vốn tự có do các thành viên đóng góp theo hạn mức của mình và thu
nhập ròng của quỹ không đem phân chia, nguồn vốn này gồm có vàng, SDR
và tiền của các nớc thành viên.
Hệ thống hạn mức là một trong những nét đặc thù nổi bật của quỹ. Hạn mức
của một thành viên phản ánh quy mô kinh tế của nó trong mối quan hệ với tất cả các
thành viên khác của IMF. Mỗi thành viên phải đóng mức vốn đăng ký cho quỹ, tơng
đơng với hạn mức của nó. Hội đồng các thống đốc sẽ quyết định phần đợc trả bằng
SDR hoặc bằng loại tiền tệ của thành viên đó.
Hạn mức đóng góp của mỗi nớc thành viên là quota. Hạn mức này phụ thuộc vào mức
độ phát triển của mỗi nớc.
Số quota đóng góp của các thành viên gồm 25% bằng tài sản dự trữ, phần còn
lại đóng góp bằng tiền của nớc thành viên.
-Nguồn vốn đi vay: để bổ sung nguồn vốn của quỹ. Quỹ có một số thoả
thuận vay mợn trong thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ bổ sung ngày càng tăng
lên của các thành viên. Những nhu cầu không thể đáp ứng thì bằng nguồn vốn riêng
của IMF.
3.2.4 Các hình thức sử dụng nguồn vốn chung của quỹ
Sử dụng nguồn vốn chung của quỹ là hình thức các nớc thành viên dùng đồng
tiền của mình mua SDR của quỹ hay đồng tiền của một nớc thành viên khác
để sử dụng trong một thời hạn xác định nào đó, chủ yếu là dùng cho nhu cầu
về cán cân thanh toán.
Các hình thức tài trợ của quỹ từ nguồn vốn chung thể hiện dới dạng một số
chính sách, hình thức tín dụng mà mức độ cho vay tuỳ thuộc vào chính sách
điều chỉnh của các nớc thành viên và nhu cầu của cán cân thanh toán của nớc
đó.
3.3. Chơng trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP)
3.3.1 Cơ cấu tổ chức
UNDP là một tổ chức trực thuộc Đại hội đồng LHQ, mọi hội viên của LHQ đều
đợc tham gia UNDP mà không cần thủ tục kết nạp.
Trụ sở chính của UNDP đặt tại New York. Đại hội đồng UNDP họp mỗi năm hai
lần: đầu năm tại New York, giữa năm tại Geneve.
Đứng đầu UNDP là một tổng giám đốc do tổng th ký LHQ chỉ định. Hội
đồng quản trị UNDP gồm 48 thành viên.
Bộ máy điều hành của UNDP dới quyền tổng giám đốc gồm 4000 ngời. Hiện nay
UNDP đã đặt văn phòng đại diện tại phần lớn các nớc hội viên LHQ.
23
UNDP đợc LHQ giao cho việc quản lý các qũy mới thành lập của LHQ nh quỹ
trang thiết bị (FENU), quỹ ngời tình nguyện (UNV), quỹ tự phục hồi về thăm
dò dầu mỏ, quỹ về thập kỷ phụ nữ, quỹ đặc biệt cho các nớc không bờ biển...
Đối với tất cả các tổ chức quốc tế thuộc hệ thống LHQ hoạt động tại một nớc,
đại diện UNDP đợc giao trách nhiệm làm điều phối viên.
3.3.2 Nguồn vốn và phân bổ vốn của UNDP
Vốn của UNDP do các nớc tự nguyện đóng góp hàng năm tại Đại hội đồng LHQ.
Hầu hết vốn viện trợ của UNDP là do các nớc t bản phát triển đóng. Vì NSNN
các nớc chỉ lập hàng năm và cam kết đóng góp của các nớc cũng chỉ làm hàng
năm, do đó, để có thể dự kiến ngân sách 5 năm và phân bổ chi tiêu viện trợ
cho các nớc, UNDP còn phải luôn đi vận động các nớc có đóng góp vốn và thăm
dò cho dự kiến ngân sách 5 năm.
Việc phân bổ ngân sách viện trợ của UNDP đợc quy định theo nguyên tắc:
-Khoảng 15% dành cho các chơng trình quốc tế và khu vực.
-Phần còn lại phân bổ cho các nớc đang phát triển theo tỷ lệ nghịch với GDP
tính theo đầu ngời và tỷ lệ thuận với dân số (trong phạm vi 100 triệu dân). Quyền
u tiền đợc dành cho các nớc có GDP tính theo đầu ngời dới 500 USD. Quyền đặc
biệt u tiên đợc dành cho 44 nớc đợc LHQ công nhận là kém phát triển nhất
Ngoài ra, UNDP còn dành một khoản dự trữ nhỏ cho các nớc mới độc lập, viện
trợ khẩn cấp. Về nguyên tắc, chỉ tiêu viện trợ UNDP chỉ đợc phân bổ cho các chính
phủ đợc LHQ công nhận (tuy nhiên, cũng có thể có ngoại lệ).
3.3.3 Các nguyên tắc và chính sách công khai về hoạt động của UNDP
Các nguyên tắc và chính sách công khai về hoạt động của UNDP đã đợc chính
thức ghi trong các văn kiện của UNDP, ECOSOC (Hội đồng kinh tế- xã hội) và Đại hội
đồng LHQ.
Mục tiêu chung của UNDP là giúp các nớc giải quyết các vấn đề khó khăn về
kinh tế- kỹ thuật bằng chuyển giao kỹ thuật mới hoặc chuẩn bị các điều kiện cần
thiết cho đầu t, nhằm giúp tiến tới tự lực cánh sinh trong phát triển kinh tế.
Các nguyên tắc cơ bản đợc chính thức hoá trong các văn kiện về viên trợ của
UNDP là:
-Hoàn toàn công bằng và vô t trong viện trợ.
-Tôn trọng quyền tự quyết, tránh để viện trợ biến các nớc thành phụ thuộc nớc
ngoài.
-Không đợc dùng viện trợ làm phơng tiện xâm nhập về kinh tế và không đợc kèm
điều kiện chính trị hay một sự phân biệt đối sử nào.
-Yêu cầu với nớc chủ nhà: Cung cấp thông tin cần thiết cho hoạt động viện trợ, lập
và duy trì một cơ cấu chính quyền thích hợp để chính phủ tiếp thu và điều phối
viện trợ, xem xét nghiêm túc khuyến nghị của UNDP, hỗ trợ thực hiện chơng trình
dự án.
3.4 Ngân hàng thế giới (World Bank)
Ngân hàng thế giới là một tổ chức bao gồm bốn tổ chức thành viên: Ngân
hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), Công
ty tài chính quốc tế (IFC), Công ty bảo đảm đầu t đa biên (MIGA) với mục tiêu
chung nhất là giúp các nớc đang phát triển nâng cao mức sống và phát triển kinh tế
thông qua việc chuyển các nguồn tài trợ từ các nớc công nghiệp phát triển sang các nớc đang phát triển.
3.4.1 Ngân hàng tái thiết và phát triển (IBRD)
IBRD đợc thành lập năm 1945 tại Mỹ. Hiện nay tổ chức này có hơn 150 nớc
thành viên. Nguồn vốn dùng để cho vay của IBRD chủ yếu đợc huy động trên thị trờng vốn quốc tế. Các khoản vay của IBRD thờng có thời hạn không quá 15 năm, trong
đó có 5 năm ân hạn với lãi suất cho vay phụ thuộc vào lãi suất mà IBRD đi vay trên
thị trờng quốc tế. Lãi suất này đợc điều chỉnh sáu tháng 1 lần.
3.4.2. Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA)
24
Tổ chức này đợc thành lập năm 1960 với số hội viên hiện nay là hơn 140 nớc.
IDA cho các nớc nghèo nhất thế giới vay để phát triển kinh tế. IDA không có đội ngũ
cán bộ riêng, do đó toàn bộ công việc của IDA do các cán bộ của IBRD thực hiện.
Nguồn vốn của IDA là:
-Vốn cổ phần đóng góp của các nớc hội viên.
-Vốn đóng góp bổ sung của các nớc phát triển (thờng góp theo đợt ba năm một
lần).
-Phần lãi của IBRD (sau khi đã bổ sung vào dự trữ và dành để chi những khoản
cần thiết) chuyển sang.
*Một trong những nguyên tắc căn bản của IDA khi cho vay là chỉ cho các
chính phủ vay. Các thể thức cho vay của IDA cũng tơng tự nh các thể thức cho vay
của IBRD. Tuy nhiên, điều kiện cho vay của IBD có u đãi hơn: thời hạn cho vay là 3540 năm, trong đó có 10 năm ân hạn.
3.4.3. Công ty tài chính quốc tế (IFC)
Công ty này đợc thành lập năm 1956 với số hội viên hiện nay là hơn 140 nớc.
Chức năng chính của IFC là hỗ trợ sự phát triển kinh tế của các n ớc đang phát triển
bằng chính sự giúp đỡ khu vực kinh tế t nhân và giúp huy động vốn trong và ngoài
nớc vào mục đích này. IFC tham gia đầu t bằng cách mua cổ phần hoặc cho vay ở
các nớc hội viên, không cần có sự bảo lãnh của chính phủ nớc chủ nhà. Các khoản cho
vay của IFC thờng có thời hạn từ 7-12 năm và lãi suất phụ thuộc vào chi phí huy động
vốn trên thị trờng.
3.4.4. Công ty đảm bảo đầu t đa biên (MIGA)
MIGA đợc thành lập năm 1988 với số thành viên là gần 100 quốc gia.
Mục tiêu chính của MIGA là khuyến khích đầu t cổ phiếu và đầu t trực tiếp
vào các nớc đang phát triển thông qua việc tháo gỡ bớt các trở ngại phi thơng mại.
3.5. Ngân hàng phát triển châu A (ADB)
Ngân hàng phát triển châu á (ADB) là một ngân hàng phát triển khu vực, đợc
thành lập năm 1966. Trụ sở của ADB đặt tại Manilla- Philippine với phạm vi hoạt động
là các nớc đang phát triển ở khu vực châu á và vành đai Thái Bình Dơng. Hiện nay,
ADB có hơn 50 thành viên, bao gồm cả các thành viên trong khu vực và thành viên
ngoài khu vực
Chng 4: HNG RO THU QUAN
Mt trong nhng cụng c chớnh sỏch thng mi quc t quan trng l thu quan, chng ny s
nghiờn cu cỏc loi thu quan v vai trũ ca tng loi thu quan i vi thng mi quc t. Cỏc phng
phỏp ỏnh thu v nh hng, c bit l nh hng ti dũng hng hoỏ, dch v chu chuyn gia cỏc quc
gia s c phõn tớch nhm nh hng cho cỏc nh lm chớnh sỏch khai thỏc vai trũ v tỏc dng ca hng
ro thu quan. Tỏc ng kinh t ca thu quan c xem xột di gúc cõn bng tng quan cho nhiu loi
hng hoỏ xut nhp khu v cn bng b phn cho mt hng hoỏ lm c s ra chớnh sỏch thu quan
phự hp vi mc ớch qun lý thng mi quc t.
4.1 Thu quan v phng phỏp ỏnh thu quan
4.1.1 Thu quan v c im ca thu quan:
Thu quan l thu ỏnh vo hng hoỏ, dch v mua bỏn v vn ng qua biờn gii hi quan ca
mt quc gia hay vựng lónh th hi quan. Thu quan cú th ỏnh vo hng hoỏ, dch v nhp khu, hng
quỏ cnh. Thu quan cú cỏc c trng c bn sau õy:
Thu quan l mt hng ro thng mi, gn vi biờn gii hi quan ca quc gia hay vựng lónh
th. Biờn gii hi quan l mt khỏi nim th hin ch quyn kim soỏt hng hoỏ, dch v ca cỏc chớnh
ph v do ú by k mt hng hoỏ, dch v no cng phi lm th tc hi quan khi qua biờn gii ny.
Thu quan c th hin biu thu quan. Biu thu quan khỏ phc tp vi hng ngn khon mc
riờng bit v cỏch ỏp dng khỏc nhau. Tu theo phng phỏp ỏnh thu m biu thu quan cú th
th hin bng s tin tuyt i, t l phn trm hay kt hp.
25