A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang
bước vào xu thế Hội nhập hóa - Quốc tế hóa trên toàn thế giới. Xu thế này
đã đem lại cho Việt Nam những thuật lợi to lớn nhưng bên cạnh đó cũng gặp
không ít những khó khăn thử thách. Quá trình Hội nhập hóa - Quốc tế hóa
một mặt đã làm cho con người phải đối diện với những “ luồng” giá trị văn
hóa tốt xấu lẫn lộn, làm cho bản sắc dân tộc ngày một phai nhạt trước “ cơn
lốc ” của công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước. Mặt khác, quá trình này
còn làm cho những thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước
núp dưới chiêu bài dân tộc, tôn giáo để có cơ hội thực hiện các hành động
chống phá Nhà nước ta.
Đứng trước thực trạng ấy, Việt Nam cần phải khắc phục những khó khăn,
hạn chế đồng thời phát huy những nhân tố tích cực để đưa đất nước ta không
ngừng phát triển đi lên. Và để làm được điều đó thì trước hết chúng ta phải
quan tâm, chú trọng và phát triển tới rất nhiều vấn đề bao gồm cả kinh tế, xã
hội, văn hóa, chính trị… Đặc biệt trong đó vấn đề “ khơi dậy ý thức cội
nguồn của dân tộc Việt Nam” là vấn đề được Đảng và nhân dân ta hết sức
quan tâm và được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích nâng cao tinh thần đoàn
kết, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam, đồng thời
chống lại những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong giai đoạn hiện nay.
Và vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã được
Đảng và Nhà nước ta đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học của
đất nước ta những năm gần đây. Nhất là khi nghiên cứu về thời đại Hùng
Vương - Thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử phát triển
dân tộc Việt Nam ta.
Thời đại Hùng Vương là thời kì đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh tế,
văn hóa xã hội còn ở mức sơ khai nhưng trong quá trình phát triển của lịch
sử đã tạo dựng nên truyền thống quý báu của dân tộc ta: cần cù, sáng tạo
trong lao động sản xuất, đoàn kết chiến thắng thiên tai dịch họa và dũng cảm
kiên cường trong đấu trang chống giặc ngoại xâm. Những truyền thống quý
báu đó là nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn thử thách
trong thời đại ngày nay, để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng đất
nước ngày càng hùng mạnh và có vị thế trên trường quốc tế. Nhìn nhận về
thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc, sách lịch sử Việt Nam của nhà
xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 có viết: “ Thời kỳ Văn Lang,
thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính
trong thời kỳ này đã xây dựng nên nền tảng dân tộc Việt Nam, nền tảng Văn
hóa Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam”. Để tôn vinh thời đại mở
đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, đề cao những truyền thống văn hóa
quý báu đã có từ thời đại các Vua Hùng, mà Bác Hồ kính yêu đã nhắc nhở
chúng ta trong câu nói bất hủ của Người:
“ Các Vua Hùng đã có công dựng nước,
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Thời đại Hùng Vương gắn liền với những truyền thuyết cổ xưa nhất của
dân tộc Việt Nam. Những truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đã đi sâu
đời sống, ăn sâu trở thành những hình thức tín ngưỡng truyền thống của dân
tộc ta như tôn thờ tổ tiên, tôn thờ những vị anh hùng có công chống giặc
ngoại xâm… gắn liền với nó là những lễ hội truyền thống của dân tộc để nhớ
về cội nguồn của dân tộc ta tiêu biểu như: Lễ hội Đền Hùng; Lễ hội Thánh
Gióng; Lễ hội Bánh Chưng-Bánh Giầy…đều là những lễ hội bắt nguồn từ
những truyền thuyết về Thời đại Hùng Vương. Đặc biệt để tưởng nhớ tổ
tiên, từ năm 2008 Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 10 tháng
3(âm lịch) là ngày Quốc giỗ của dân tộc, mọi người dân trong cả nước được
nghỉ và cứ 5 năm một lần Giỗ tổ Hùng Vương sẽ do Trưng ương tổ chức. Và
các lễ hội bắt nguồn từ truyền thuyết Hùng Vương ngày nay đã trở thành
những lễ hội truyền thống mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.
Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được xem là một trong những vấn đề nhạy cảm
nhất trong giai đoạn hiện nay vì nó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của
một bộ phận nhân dân trong xã hội. Song sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo
lại dựa trên cơ sở của thế giới siêu nhiên nào đó cho nên nó rất dễ bị các thế
lực phản động lợi dụng vì mục đích xấu. Vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề này,
Đảng và Nhà nước ta cần phải có những chính sách mềm dẻo và khéo léo để
vừa tôn vinh đức tin của các tín đồ, vừa dẫn dắt họ theo lẽ phải, theo chân lý
đúng đắn dựa trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng Mác để họ có
cái nhìn đúng đắn về những giá trị văn hóa truyền thống quý báu mà cha ông
ta thế hệ trước đã để lại cho chúng ta.
Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề trên, cùng với mong
muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ vào việc tìm hiểu những triết
lý nhân văn mà truyền thuyết Hùng Vương để lại đồng thời góp phần gìn
giữ, phát huy và quảng bá truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tín
ngưỡng…của quê hương đến mọi miền đất nước và bạn bè thế giới. Vì thế
mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng
Vương” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời đại Hùng Vương cùng với những đặc trưng về văn hóa - xã hội,
kinh tế, chính trị…đã trở thành đề tài được rất nhiều các nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm, giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc
văn hóa của dân tộc từ thuở khai sinh lập nước cho đến nay. Đặc biệt trong
xu thế hội nhập ngày nay, các giá trị văn hóa thực - hư đan xen lẫn lộn vào
nhau thì việc nghiên cứu và tìm hiểu đề tài này lại càng có ý nghĩa quan
trọng hơn bao giờ hết.
Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thời đại Hùng
Vương, cụ thể như:
- Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Kim Biên, “Truyền thuyết
Hùng Vương - Thần thoại vùng đất tổ”, nhà xuất bản Sở Văn hóa thể thao và
Du Lịch Phú Thọ, 2009: là cuốn sách sưu tầm 32 truyện cổ tích đặc sắc của
vùng đất tổ bao gồm 23 truyện thuộc thời Hùng Vương và 9 truyện thuộc
các thời kỳ sau từ thế kỷ 2 Trước công nguyên đến Triều đại nhà Nguyễn.
Các câu chuyện truyền thuyết đã được tác giả sưu tầm và biên soạn lại sao
cho dễ hiểu, dễ tìm kiếm hơn nhằm mục đích phục vụ cho việc nghiên cứu
của các tác giả sau này.
- Tập thể các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn
Cảnh Minh, “Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội, 2007 : đã khái quát một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc - Thời
đại Hùng Vương dựng nước, khái quát về kinh tế, chính trị, xã hội của con
người thời đại Hùng Vương cũng như khẳng định công lao to lớn của các
Vua Hùng và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
phương bắc xâm lược.
- Tác giả Đặng Xuân Tuyên,“ Thời đại Hùng Vương - truyền thuyết
và lịch sử”, Nhà xuất bản Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Tỉnh Phú Thọ, 2007
: Cuốn sách viết về các truyền thuyết Thời đại Hùng Vương dựng nước,
ngày nay dựa vào các truyền thuyết ấy mà các lễ hội với rất nhiều tín
ngưỡng mang đậm nét dân gian vẫn còn ẩn dấu trong lễ hội ngày nay mà
tiêu biểu nhất là Lế hội Đền Hùng tổ chức vào ngày 10 tháng 3 ( âm lịch )
hàng năm.
- Công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả Lê Tượng, Nguyễn
Anh Tuấn, Phạm Hoàng Oanh, “ Nước Văn Lang thời đại các Vua Hùng”,
của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Phú Thọ, 2009 : đã khẳng định thời
kỳ Hùng Vương là có thật với các di tích, di vật đã khai quật từ trong lòng
đất là cơ sở vững chắc để chứng minh sự tồn tại của hệ thống thiết chế Nhà
nước của các Vua Hùng, với phong tục tập quán, ca múa nhạc, điêu khắc…
mang bản sắc độc đáo còn tồn tại đến tận bây giờ trên đất nước Việt Nam.
- Viện Khảo cổ học, với tác phẩm “ Hùng Vương dựng nước”, Nxb
Khoa học xã hội, 1970: bao gồm các bài phát biểu, báo cáo và tham luận đọc
tại hội nghị nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương họp tại Hà Nội do Viện
khảo cổ học phối hợp với Viện sử học; Viện bảo tàng lịch sử; Trường đại
học tổng hợp tổ chức. Với nhiều bài viết của các tác giả đã nghiên cứu một
cách sâu sắc về cuộc sống, về các phong tục Thời kỳ Hùng Vương dựng
nước.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về thời đại Hùng Vương
trên các tạp chí như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí văn học, tập san đại
học của rất nhiều tác giả như tác giả Nguyễn Linh, tác giả Văn Tân, tác giả
Lê Văn Lan…
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu công phu
về thời đại Hùng Vương của các bậc tiền bối đi trước, nghiên cứu vấn đề “
triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” là một đề tài còn
rất mới mẻ và nhiều hạn chế song kết quả của đề tài khóa luận này hướng
đến không ngoài mục đích nhằm góp phần làm phong phú thêm kho tư liệu
về thời đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Với việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta bước đầu làm quen với
hoạt động nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống, có lôgíc và hoàn thiện
hơn. Đồng thời tạo điều kiện vận dụng một cách khoa học thế giới quan duy
vật biện chứng trong việc nghiên cứu các truyền thuyết về thời đại Hùng
Vương, góp phần vào việc quảng bá những nét văn hóa truyền thống đặc sắc
của quê hương vùng đất tổ Vua Hùng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý luận
Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; Tư
tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài này dựa trên lập trường thế giới
quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp của phép
biện chứng duy vật.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu toàn bộ thời đại Hùng Vương dựng nước( khoảng
từ thế kỉ 6-7 trước công nguyên) thông qua các truyền thuyết để thấy được
triết lý nhân sinh quan của toàn bộ thời đại Hùng Vương.
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài “ Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” bước
đầu làm rõ các khía cạnh nhân sinh quan trong thời đại Hùng Vương: triết lý
về sự hình thành con người, về đời sống của con người, về các mối quan hệ
của con người trong xã hội…
Đồng thời với đề tài nghiên cứu này sẽ trở thành nguồn tài liệu tham
khảo cho những tác giả quan tâm, nghiên cứu về thời đại Hùng Vương.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội
dung của đề tài bao gồm 2 chương.
Chương 1: Những vấn đề chung về truyền thuyết
Chương 2: Một số vấn đề nhân sinh quan của thời đại Hùng Vương.
B. NỘI DUNG
Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỀN THUYẾT
1.1. Sự hình thành và phát triển của truyền thuyết thời đại Hùng Vương
1.1.1. Sự ra đời của truyền thuyết
Trong xã hội nguyên thủy, mặc dù sống trong tình trạng văn hóa thấp
kém, nhưng con người luôn luôn khát vọng thể hiện trong các tác phẩm nghệ
thuật của mình tất cả những hoạt động sinh hoạt, những tâm tư, tình cảm của
mình trước con người, trước tự nhiên. Trước khi xuất quân đi săn bắn tập thể
hay đánh cá, người nguyên thủy thường tập hợp nhau lại để diễn tập những
khâu của công việc lao động mà mình sẽ tiến hành. Lúc thắng lợi trở về,
người ta lại diễn lại những kỳ tích đạt được trong quá trình lao động ấy ở
buổi lễ ăn mừng, phân chia thành quả lao động đó. Những sinh hoạt tập thể
ấy, một mặt nhằm mục đích rèn luyện cho nhau về những kĩ năng sản xuất,
những hiểu biết về tự nhiên tích lũy được trong lao động sản xuất. Mặt khác
đó cũng chính là dịp lễ để biểu dương những anh hùng, những bậc tiền bối
có nhiều công lao, nhiều thành tích trong cuộc đi săn đó đối với thị tộc, đối
với bộ lạc.
Trên cơ sở những sinh hoạt có mục đích ấy thì văn nghệ nguyên thủy đã
được nảy sinh. Những thành tích và công lao của những người kiệt suất đó
không những được kể lại hoặc được diễn ra đúng với sự thực mà nó còn
được tô điểm theo các tư tưởng chất phác và phong phú của con người
nguyên thủy. Và đó chính là nguyên nhân đã nảy sinh truyền thuyết ra đời.
Như vậy, truyền thuyết chính là một bộ phận của văn hóa nguyên thủy
được phát sinh trên cơ sở lao động và đời sống tập thể của người xưa.
Truyền thuyết chính là kho tàng lịch sử thiêng liêng, là kho tàng kinh
nghiệm sản xuất và chiến đấu của nhân dân được gìn giữ và phát triển cho
tới tận ngày nay. Tác giả Lã Duy Lan trong tác phẩm “ Truyền thuyết Việt
Nam” đã khẳng định rằng: “ truyền thuyết chính là những điều truyền tụng
về các nhân vật lịch sử, các địa danh, các sự kiện liên quan đến lịch sử phát
triển của một cộng đồng và đồng thời cũng là đại diện, là tiêu biểu hay thể
hiện những giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần
của cộng đồng người đó”.
1.1.2. Đặc điểm của truyền thuyết
1.1.2.1. Yếu tố hư cấu
Truyền thuyết là một loại hình sáng tác nghệ thuật nên yếu tố hư cấu
đóng một vai trò hết sức quan trọng nhưng phải dựa trên những cơ sở hiện
thực đáng tin cậy đó là sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Đây chính là đặc
điểm riêng, nổi bật và hết sức độc đáo của thể loại truyền thuyết. Truyền
thuyết vừa phảng phất yếu tố thần kỳ, hoang tưởng nhưng mang bóng dáng
của sự thật lịch sử. Vì thế để hiểu đúng và chính xác về nội dung của các câu
chuyện truyền thuyết chúng ta phải biết “ gặn lọc” những yếu tố hoang
đường, thần thoại trong đó để nhìn thấy được những giá trị lịch sử đúng đắn
ẩn chứa bên trong truyền thuyết mà ta nghiên cứu.
1.1.2.2. Tính khái quát hóa và cụ thể hóa
Tính cụ thể, xác thực là đặc trưng nổi bật nhất của thể loại truyền thuyết.
Nếu như Thần thoại chỉ là những câu truyện về các vị thần theo trí tưởng
tượng của con người sáng tạo ra, mang tính chất hoang đường, kỳ ảo, siêu
nhiên thì truyền thuyết lại được nhân dân sáng tác dựa trên những câu
chuyện gắn liền với lịch sử của dân tộc ta.
Ở thời kỳ Văn Lang cổ đại, truyền thuyết mang tính chất sử thi anh hùng
và chịu ảnh hưởng của thần thoại. Tính chất huyền ảo, hoang đường đậm nét
nhất là trong các truyền thuyết mô tả lại chiến công của các vị anh hùng giữ
nước của Vua Hùng dựng nước, Thánh Gióng, An Dương Vương…Ở thời kỳ
sau thì tính cụ thể lịch sử lại được thể hiện rõ hơn. Các nhân vật lịch sử được
mô tả rõ ràng, chân thực gắn liền với đời sống của nhân dân kiểu như truyền
thuyết về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền…
Vì thế cho nên tính cụ thể, xác thực đã trở thành đặc trưng nổi bật nhất để
phân biệt truyền thuyết với các thể loại văn học dân gian khác.
1.1.2.3. Đặc điểm nhân vật
Các nhân vật truyền thuyết gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộng đồng,
họ là con người của cộng đồng, họ không phải là thần thánh bởi vì họ có lai
lịch con người rõ ràng nhưng họ cũng không phải là con người bình thường,
nhỏ bé và bất hạnh. Họ phi thường với sức mạnh ngang tầm với thần linh và
những hành động của họ mang tính thần kỳ và mạnh mẽ.
Có thể thấy rằng, sự chuyển đổi nhanh chóng “trung tâm” là các nhân vật
trong nội dung truyền thuyết đã phản ánh sự nối tiếp và phát triển trong lịch
sử phát triển của các thể loại văn học dân gian, nó xuất phát từ thế giới thần
linh đến người anh hùng mang tính chất thần kỳ và rồi lại quay trở về với
những con người bình thường - con người đúng nghĩa là con người. Điều
này phần nào đã phản ánh rõ nét sự phát triển trong nhận thức của bản thân
con người, con người ngày càng ý thức được rõ hơn về bản thân mình, về
sức mạnh tiềm ẩn bên trong bản thân con người. Với tinh thần đoàn kết con
người có thể chiến thắng tất cả mà không cần đến sức mạnh của Thần linh
hay Thượng Đế tạo ra nữa.
Tóm lại, truyền thuyết là một gạch nối, một mắt xích nối liền thần thoại
với các thể loại văn học dân gian khác, nó là bước chuyển tiếp bảo đảm tính
liên tục hoàn chỉnh, hợp lý trong cơ cấu thể loại cũng như trong tiến trình
lịch sử phát triển của loại hình tự sự dân gian.
1.2. Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương
Thứ nhất: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã thể hiện ý thức tự
hào về tổ tiên, về nòi giống Rồng - Tiên cao quý của dân tộc Việt Nam. Đó
chính là một truyền thống đặc trưng, đầy tự hào của dân tộc ta. Khác với các
dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đã chứng minh được nguồn gốc
ra đời của dân tộc mình thông qua truyền thuyết cổ xưa nhất còn lưu truyền
tới tận ngày nay đó là truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ. Nguồn gốc của
dân tộc ta đã được thần thánh hóa và quan niệm “ con rồng cháu tiên” đã trở
nên quên thuộc với nhân dân Việt Nam ta hàng bao đời nay, là niềm tự hào
của mỗi người dân Việt Nam khi nói về nguồn gốc hình thành của dân tộc
mình.
Hình ảnh “ bọc trăm trứng” nở ra trăm người con trai không chỉ là hình
ảnh thể hiện sự sinh sôi nảy nở của dân tộc vốn có chung một nguồn gốc đó
là nguồn gốc Rồng - Tiên_nguồn gốc cao quý của dân tộc Việt Nam mà hình
ảnh đó còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm cộng đồng của những người
con cùng sinh ra từ “ một bọc trăm trứng”, cùng nhau bảo vệ đất nước khi
đất nước bị lâm nguy.
Như vậy, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã trở thành “ bản ghi
chép” giới thiệu về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là bản “
anh hùng ca” ca ngợi công lao của các vị Vua Hùng đã có cộng dựng nước
và giữ nước của dân tộc để con cháu chúng ta sau này khi tìm hiểu về cội
nguồn dân tộc mình càng thêm tự hào về nguồn cội, về truyền thống yêu
thương, đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Thứ hai: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương phản ánh tinh thần
dũng cảm, tinh thần đoàn kết nhân dân để chiến thắng mọi khó khăn do
thiên tai, dịch bệnh gây ra.
Người dân Văn Lang quan niệm rằng con người sinh ra từ tự nhiên, sống
trong tự nhiên, vì thế họ phải cùng nhau gìn giữ và bảo vệ tự nhiên. Tự nhiên
trở thành ngôi nhà che chở cho cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, trong tự
nhiên lại luôn luôn tiềm ẩn rất nhiều tai họa khủng khiếp rình rập, đe dọa
cuộc sống của con người như: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… làm cho
cuộc sống của con người ngày càng trở nên khó khăn và nguy hiểm. Vì thế
để tồn tại được trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vậy, người dân Văn
Lang phải đoàn kết cùng nhau chống lại các thảm họa do thiên nhiên gây ra.
Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh nhân dân Văn Lang đã phản ánh những
kỳ tích tập thể mà người dân đã đạt được trong công cuộc lao động chinh
phục thiên nhiên, là sức mạnh chiến thắng tất cả những lực lượng thù địch
của người dân Văn Lang. Ngoài ra, truyền thuyết cũng đã khẳng định quyền
làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng tiêu biểu của đất tổ là vùng biển, đồng
bằng và trung du. Xác định địa bàn cư trú ổn định của dân tộc để nhân dân ta
yên tâm sinh sống hòa bình, hăng say lao động và ra sức bảo vệ thành quả
lao động của chính mình.
Thứ ba: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương thể hiện lòng thiết tha
yêu mến quê hương, bảo vệ xứ sở và địa bàn cư trú của mình.
Nhân dân Văn Lang đã xây dựng nên hình tượng Thánh Gióng là người
đại diện tiểu biểu nhất của dân tộc Việt Nam ta về sức mạnh chống giặc
ngoại xâm và ý chí quật cường của dân tộc. Sức mạnh ấy là sức mạnh tổng
hợp của tinh thần và vật chất, của con người và vũ khí, của cá nhân và cộng
đồng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc ta trước kẻ thù xâm lược
hung bạo đó là giặc Ân. Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh của một con
người, một siêu nhân mà là sức mạnh của toàn cộng đồng bộ tộc hun đúc
nên. Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa những người đứng đầu bộ tộc với
mọi thành viên. Sức mạnh của một đội quân hình thành nhanh chóng trong
hoàn cảnh đất nước nguy cấp, sức mạnh của đồng tâm hiệp lực, của tinh thần
vật chất, của lương thực, của vũ khí…
Ngoài ra, truyền thuyết về thời đại Hùng Vương còn thể hiện tinh thần
cảnh giác trước những âm mưu xâm lược nham hiểm của kẻ thù xâm lược.
Truyền thuyết An Dương Vương Truyền thuyết đã thể hiện triết lý sâu sắc về
bài học giữ nước của dân tộc Việt Nam ta đó là: khi chúng ta đề cao cảnh
giác, phòng bị chắc chắn, nhân dân trên dưới một lòng cùng nhau bảo vệ đất
nước thì tất yếu sẽ dẫn tới thắng lợi của đất nước, chiến thắng mọi kẻ thù
xâm lược. Còn khi chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước những mưu đồ của
giặc thì sớm muộn cũng sẽ dấn đến mất nước.
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, thông qua nội dung của các truyền thuyết về thời đại Hùng
Vương đã đem lại cho chúng ta những tri thức quý giá về cuộc sống sinh
hoạt, về tâm tư, tình cảm của nhân dân Lạc Việt thời đại Vua Hùng. Là cơ sở
để hình thành nên những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ta như
truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống tự hào về nguồn
cội của dân tộc, ca ngợi tinh thần đoàn kết dân tộc để chống lại những khó
khăn do thiên tai dịch bệnh gây ra, bảo vệ quê hương xứ sở…Những truyền
thống văn hóa này đã trở thành một nét đẹp văn hóa được cha ông ta từ ngàn
xưa gìn giữ và lưu truyền cho tới tận ngày nay.
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG
TRUYỀN THUYẾT THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG
2.1. Quan niệm về đời người
2.1.1. Sự hình thành con người
Khác với những quan niệm duy tâm trước kia khi xem con người là sản
phẩm của Chúa trời, Thượng Đế sinh ra, thì thông qua Truyền thuyết Lạc
Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng một tư tưởng hết sức duy vật của người
dân Văn Lang về sự hình thành con người. Dưới con mắt của người dân Văn
Lang thì mọi vật đều được sinh ra từ trời và đất. Đất là nơi nâng đỡ và nuôi
nấng muôn loài giống như vai trò của người mẹ. Trời mang đến cho thế giới
ánh sáng, không khí, nước…góp phần duy trì sự sống giống như vai trò của
một người cha. Do đó, khi trời đất giao hòa, âm dương kết hợp thì sẽ sinh sôi
nẩy nở ra muôn loài trên thế giới. Và sự hình thành của con người cũng gắn
liền với trời và đất.
Theo quan niệm của người dân Văn Lang, con người là sự kết hợp của hai
phần: “phần hồn” và “phần xác”. Phần xác có thể nhìn thấy được còn phần
hồn thì không. Trong phần hồn được chia thành hai phần là: “ phần hồn” và
“ phần vía”. Con người có ba hồn nhưng phần vía thì ở nam có bảy còn ở nữ
thì có chín. “ Phần xác” của con người lại được sinh ra từ “bọc trứng” của
mẹ Âu Cơ.“ Bọc trứng” là một dạng vật chất cụ thể, dưới tác động đầy đủ
của của các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, không khí thì trứng sẽ
tự nở, gắn liền với sự hài hòa của trời đất. Con người được sinh ra không
phải do Thượng Đế, do Nữ Oa nặn đất sét mà thành mà là do yếu tố vật chất
cụ thể tạo ra. Do vậy, quan niệm về sự hình thành con người giai đoạn này
chứa đựng yếu tố duy vật. Tuy còn sơ khai nhưng họ cũng đã thấy được rằng
sự hình thành con người gắn với yếu tố vật chất.
Vậy, qua cách nhìn về cuộc sống của người dân Văn Lang, chúng ta đã
thấy được rằng ngay từ đầu người dân Văn Lang đã có cái nhìn hết sức duy
vật về nguồn gốc của sự sống. Sự sống không phải ở đâu xa sôi mà nó nằm
ngay ở trong những thứ gần gũi với cuộc sống của chúng ta đó là trời, là đất,
là môi trường sống tự nhiên. Con người cũng như vạn vật trong tự nhiên đều
được sinh ra từ sự biến hóa lâu dài của trời đất chứ không phải do bất kỳ một
đấng sáng tạo nào tạo ra. Con người là sản phẩm tiến hóa, phát triển lâu dài
của tự nhiên. Thế giới tự nhiên luôn luôn vận động và phát triển từ thấp tới
cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, và đỉnh cao là con người. Con người
là một thực thể sống, có quá trình trao đổi chất với môi trường xung quanh,
có tâm sinh lý, có nhu cầu vật chất nhất định. Con người trong qua sinh tồn
tại của mình không chỉ tác động và tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên
mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất con người. Bản chất
của con người được thể hiện rõ không chỉ trong lao động mà còn được thể
hiện trong các mối quan hệ của các cộng đồng dân cư. Điều này đã đánh dấu
một bước phát triển mới trong tư duy của người dân Văn Lang về việc lý
giải một cách duy vật về bản chất con người trong thời đại Hùng Vương nói
riêng và con người Việt Nam nói chung. Điều này đã được triết học Mác Lênin đã có cái nhìn tổng quát và sâu sắc về bản chất con người đó là:“ Bản
chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các
mối quan hệ xã hội”(C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995, t3, tr11).
Như vậy, truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã có cách nhìn bước đầu về
quan niệm hình thành con người. Mặc dù một số nội dung trong truyền
thuyết còn đan xen những tình tiết mang tính chất duy tâm, thần bí song với
con mắt nhìn hiện đại của chúng ta sau khi đã tách bỏ những yếu tố duy tâm,
thần bí thì chúng ta sẽ thấy được tính chất duy vật thô sơ, mộc mạc ẩn chứa
bên trong truyền thuyết này, đồng thời thông qua truyền thuyết khẳng định
công lao to lớn của người dân Văn Lang đã đạt được lúc bấy giờ kể cả trong
tư duy và trong thực tiễn.
2.1.2. Đời sống của con người
Mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự
nhiên…được người dân Văn Lang thể hiện chủ yếu trên hai mặt của đời
sống đó là: đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Đời sống vật chất của người dân Văn Lang gắn liền với sản xuất nông
nghiệp mà đặc biệt là ngành nông nghiệp trồng lúa nước. Ngành nông
nghiệp trồng lúa nước không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của
cư dân mà nó còn mà nó còn giúp hình thành nên những phẩm chất quý báu
của người dân Văn Lang. Người dân Văn Lang rất coi trọng tình nghĩa, yêu
thương nhau, đoàn kết với nhau ngay cả trong lao động sản xuất và trong các
hình thức sinh hoạt cộng đồng khác như lễ hội, tín ngưỡng…
Ở thời đại Hùng Vương người dân Văn Lang đã sớm thấy được vai trò
của lao động đối với cuộc sống vật chất của mình. Lao động chính là nguồn
sức mạnh vật chất cung cấp của cải vật chất cho đời sống con người. Chỉ có
thông qua lao động thì các như cầu thiếu yếu của con người mới được đảm
bảo như ăn, uống, mặc, nhà ở…Vì thế người dân Văn Lang rất đề cao lao
động, coi lao động như là yếu tố quyết định sự tồn tại của con người, quyết
định vận mệnh của đất nước. Một quốc gia thịnh trị thì trước tiên phải đảm
bảo được đời sống của người dân. Mỗi một thành viên trong cộng đồng phải
được đáp ứng đầy đủ về cuộc sống vật chất, về tinh thần.
Như vậy, tư tưởng đề cao lao động đã thể hiện một cái nhìn hết sức duy
vật của người dân Văn Lang về đời sống vật chất của mình. Họ đã thấy được
tính quyết định của đời sống vật chất đối với sự tồn tại của con người, đối
với sự phát triển của đời sống tinh thần. Do vậy mà người dân Văn Lang rất
đề cao lao động, hăng say sản xuất với ước mong về một cuộc sống đầy đủ.
Họ không trông chờ, ỷ lại vào tự nhiên, nơi cung cấp cho con người nguồn
thức ăn sẵn mà họ vẫn chăm chỉ lao động, sống hết mình cho lao động, hăng
say lao động để tạo ra của cải vật chất nhằm phục vụ cho cuộc sống của
mình.
Đời sống tinh thần của người dân được thể hiện trong các hình thức sinh
hoạt cộng đồng như các lễ hội, phong tục, tín ngưỡng thờ cúng của người
dân Văn Lang. Ở lễ hội, hai hình thức văn nghệ được nhân dân Văn Lang
quan tâm tới nhất đó là tục đánh trỗng đồng và hát đối đáp, thể hiện ý
nguyện cầu mong việc làm ăn thịnh vượng, sự sinh sôi nảy nở dồi dào và gợi
nhớ tới tổ tiên, nguồn gốc dân tộc đồng thời giáo dục và rèn luyện kĩ năng,
tinh thần sản xuất chiến đấu của người dân Văn Lang.
Ở thời đại Hùng Vương hình thức tín ngưỡng được thể hiện hết sức đa
dạng và phong phú với các tín ngưỡng thờ Vật tổ, thờ Thần Mặt Trời, thờ
Thần Núi, thờ Thần Nước, tôn thờ các vị thần đại diện cho sức mạnh đoàn
kết của nhân dân như: Vua Hùng, Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử…
thể hiện một phong cách tư duy và tình cảm riêng của người dân Văn Lang
dành cho những con người mà họ yêu mến: ý thức về giống nòi, tinh thần
đoàn kết, yêu thương giữa các thành viên trong cộng đồng. Tình cảm này
cùng với sự bảo lưu một cách đặc biệt, bền bỉ các hình thức tín ngưỡng thời
đại Hùng Vương trong suốt quá trình lịch sử đã làm nên một đặc trưng độc
đáo trong đời sống tinh thần ở Việt Nam.
Đến đây chúng ta có thể khẳng định rằng đời sống của người dân Văn
Lang thời đại Hùng Vương rất phong phú và đa dạng được thể hiện dưới
nhiều hình thức kể cả trong lao động sản xuất cũng trong sinh hoạt đời sống
tinh thần. Con người đã có những bước phát triển mới trên cả sản xuất và tư
duy. Người dân Văn Lang đã thấy được vai trò của lao động đối đời sống
con người. Chỉ có thông qua lao động thì con người mới có thể tồn tại được.
Lao động chính là yếu tố quyết định giúp người dân Văn Lang phát triển một
cách hoàn thiện về bản thân con người thông qua đời sống vật chất cũng như
đời sống tinh thần, để từ đó xây dựng nên đất nước Văn Lang ổn định và
thịnh trị.
2.1.3. Quan hệ giữa con người với con người
Thứ nhất: Người dân Văn Lang luôn yêu thương, đùm bọc che chở
cho nhau, sẵn sàng hy sinh vì nhau. Tư tưởng này xuất phát từ hình ảnh “
bọc trăm trứng” hình ảnh tượng trưng cho tinh thần đoàn kết, yêu thương
đùm bọc lẫn nhau. Đây cũng chính là truyền thống văn hóa quý giá của cha
ông ta để lại cho thế hệ sau, của thời đại Hùng Vương nói riêng và của dân
tộc Việt Nam nói chung xuyên suốt từ ngàn xưa và trở thành nét văn hóa
không thể thiếu trong đời sống của con người Việt Nam thời nay.
Thời đại Hùng Vương, trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp. Xã hội
bao gồm ba giai cấp cơ bản là giai cấp quý tộc, giai cấp nô lệ và thành viên
công xã, nhưng sự phân chia giai cấp không có sự nghiệt ngã như trong xã
hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến mà các tầng lớp trong xã hội vẫn có
sự bình đẳng với nhau, sống chan hòa với nhau. Giai cấp quý tộc mà điển
hình là Vua vẫn sống gần gũi và chan hòa với nhân dân. Vua Hùng tuy là
người đứng đầu giai cấp thống trị nhưng lại phảng phất vai trò của một vị tù
trưởng, luôn luôn gần gũi với nhân dân và thấu hiểu được cuộc sống của
nhân dân. Vua Hùng là người đã dạy nhân dân ta biết trồng lúa, trồng khoai,
ăn trầu, săn bắn, trị thủy…Còn Sơn Tinh đã cùng với nhân dân gánh đất trị
thủy, cùng ăn, cùng ở, cùng đánh cá như những người dân bình thường khác.
Như vậy, mặc dù có địa vị được tôn quý nhưng cả Vua Hùng và Sơn Tinh
không hề chiếm một đặc quyền đặc lợi nào cho riêng mình cả mà họ luôn
quan tâm tới đời sống của nhân dân, sống cùng với nhân dân để hiểu được
những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Điều này phần nào đã phản ánh
được tinh thần bình đẳng, dân chủ trong xã hội con người lúc bấy giờ. Mọi
người trong xã hội đều được hưởng hạnh phúc, công bằng như nhau, ai cũng
yêu thương đùm bọc nhau, sống chan hòa và gần gũi với nhau.
Đây cũng chính là đích hướng đến của những giá trị đạo lý của thời đại
Hùng Vương mà đỉnh cao của nó là sự hòa hợp tâm hồn trong tình yêu
thương giữa con người với con người tràn đầy tính nhân văn sâu sắc.
Thứ hai: Người dân Văn Lang rất quan tâm tới mối quan hệ tình
cảm, gắn bó keo sơn giữa các thành viên trong gia đình đó là mối quan hệ
tốt đẹp giữa cha mẹ với con cái, giữa vợ với chồng, giữa anh em ruột thịt
với nhau.
Người dân Văn Lang đã thể hiện sâu sắc quan điểm của mình về cuộc
sống gia đình thông qua hình ảnh Chử Đồng Tử trong truyền thuyết Chử
Đồng Tử và mối quan hệ của các nhân vật trong truyền thuyết Trầu Cau.
Hình ảnh Chử Đồng Tử nhường chiếc khố cho cha mặc khi qua đời đã thể
hiện “tấm gương hiếu nghĩa” của mình đối với bậc sinh thành ra mình đó
chính là cha mẹ. Đối với cha mẹ thì con cái phải biết quý trọng cha mẹ, biết
phụng dưỡng khi cha mẹ về già hay lúc ốm đau, bệnh tật, biết thờ phụng khi
cha mẹ qua đời. Đó chính là đạo lý làm người mà mỗi người con cần phải có
và phải tôn trọng nó trong mối quan hệ giữa con người với con người trong
xã hội Văn Lang. Còn trong truyền thuyết Trầu Cau, mặc dù đây là một
truyền thuyết kết thúc không có hậu khi cả ba nhân vật trong câu chuyện đều
bị chết nhưng thực chất cái chết của cả ba nhân vật này lại để một hình ảnh
đẹp thể hiện tình cảm anh em phải yêu thương nhau, vợ chồng phải thủy
chung son sắc. Tác giả dân gian đã xây dựng cho hình ảnh dây trầu (sự hóa
thân của người vợ) quấn quanh phiến đá (sự hóa thân của người chồng) và
cây cau (sự hóa thân của người em) thể hiện tình cảm vợ chồng thủy chung,
gắn bó. Dù có trải qua hiểu lầm, nghi kị ghen tuông hay những biến cố trong
đời sống thì tình cảm gắn bó giữa anh - em, vợ - chồng cũng không thể nào
thay đổi được.
Như vậy, trong mối quan hệ giữa con người với con người, người dân
Văn Lang rất đề cao mối quan hệ giữa con người với con người trong gia
đình. Sống phải có tình nghĩa, con cái phải biết phụng dưỡng cha mẹ, anh
em phải biết thương yêu nhau, vợ chồng phải thủy chung son sắt… Các
thành viên trong gia đình phải yêu thương, đùm bọc nhau để tạo nên một xã
hội ổn định. Những quan niệm này đã trở thành truyền thống đạo đức quý
báu và tự hào của dân tộc Việt Nam ta.
Thứ ba: Trong đời sống của người dân Văn Lang, họ không chỉ quan
tâm tới mối quan hệ giữa con người với con người khi con đang sống, đang
tồn tại mà ngay cả khi họ qua đời thì người dân cũng thể hiện mối quan tâm
của mình với người đã chết. Với việc tiễn đưa, chôn cất người chết đã thể
hiện sự tiến bộ và tinh thần nhân văn cao cả của người dân Văn Lang trong
cách đối xử giữa con người với con người, giữa người sống với người đã
mất… Họ đã hiểu được một điều rằng: dù sự sống có quý giá đến đâu nhưng
con người sinh ra thì cũng có lúc phải mất đi. Sinh - tử là lẽ đương nhiên của
cuộc đời không có ai là không thể chết cho nên khi đứng trước cái chết họ
chỉ biết nuối tiếc và sót thương chứ không thể làm gì được. Điều đó cũng
chính là biểu hiện rõ nhất của tư tưởng tôn trọng quy luật khách quan, thuận
theo lẽ trời của người dân Văn Lang thời đại Hùng Vương.
Thứ tư: Trước sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên như bão tố, lũ
lụt, sóng thần… con người Văn Lang trở nên hết sức nhỏ bé, cuộc sống của
họ gặp nhiều rất nhiều khó khăn và nguy hiểm. Và để sinh tồn xã hội ấy
người dân Văn Lang đã tìm đến một hình thức trấn an tinh thần của mình,
đó là họ đã thần thánh hóa những con người có thật ở thời đại Hùng Vương
lên trở thành những vị thần như Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử…Để
họ đứng ra che chở và bảo vệ người dân trước sức mạnh khủng khiếp của tự
nhiên hay trước sự lâm nguy của đất nước khi có nạn ngoại xâm lược, mơ
ước về một cuộc sống hạnh phúc hơn. Dưới cách nhìn của nhân dân Văn
Lang, với mong muốn về một cuộc sống ấm no hạnh phúc, người dân Văn
Lang đã nhân hóa những con người thời đại Hùng Vương trở thành những vị
thần che chở cho cuộc sống của họ. Thân phận của con người khi đứng trước
những khó khăn do tự nhiên gây ra, những khó khăn khi đất nước bị lâm
nguy đã trở nên nhỏ bé và yếu ớt. Vì thế họ phải tìm đến các vị thần để an
ủi, che chở, bảo vệ. Đồng thời chúng ta còn thấy rằng khi đất nước bị lâm
nguy, với lòng yêu thương đất nước thì dù ở bất kỳ tầng lớp nào, dù trai hay
gái, dù già hay trẻ thì họ cũng đứng lên đánh giặc. Điều này đã nói lên dân
tộc Việt Nam có ý thức về quốc gia độc lập có chủ quyền từ rất sớm.
Qua đây chúng ta thấy được một phong cách tư duy hết sức tinh tế của
người xưa khi nhìn nhận về con người, đánh giá về con người. Người dân
Văn Lang không đánh giá con người ở những giá trị phù phiếm bên ngoài
như hình thức, xuất thân, gia thế…mà họ chỉ quan tâm đến cái cốt lõi tạo
nên giá trị của một con người đó là tài năng, đức độ, phẩm giá của con người
và những đóng góp thực tế mà họ đã mang lại cho cộng đồng, cho đất nước.
Thứ năm: Cũng trong thời kỳ này, xã hội Văn Lang đã có một bước
chuyển mạnh từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ quyền, vai trò của người
phụ nữ ngày càng trở nên mờ nhạt quyền lực chuyển dần sang tay người
đàn ông. Trong xã hội hay trong cuộc sống gia đình thì người đàn ông giữ
vai trò quyết định tuyệt đối và giữ vai trò làm chủ gia đình. Sự phân biệt địa
vị của nam và nữ trong xã hội này đã được nhân dân Văn Lang thể hiện
trong những truyền thuyết cổ nhất của dân tộc Việt Nam ta. Trong truyền
thuyết Sơn Tinh đã phát triển một tục lệ có ý nghĩa đặc sắc đó chính là tục
thách cưới. Người phụ nữ không có quyền lựa chọn hạnh phúc của mình mà
phải chịu cảnh áp bức, áp đặt hạnh phúc vì thế mà quan niệm “ cha mẹ đặt
đâu con ngồi đó” đã được ra đời từ thời đại Hùng Vương mà tồn tại cho tới
hết thời đại xã hội phong kiến của lịch sử dân tộc Việt Nam ta.
Bất công không phải chỉ đối với người phụ nữ mà còn đối với cả những
kẻ xấu chuyên làm việc làm, những vị quan lại tham lam, keo kiệt… Đồng
thời cũng thể hiện nỗi cảm thông sâu sắc đối với những con người hiền lành,
yếu đuối phải hứng chịu những bất công do xã hội gây ra. Người dân Văn
Lang đã tìm đến một vị thần để “ xử lý những oan khuất” mà con người phải
chịu đựng đó chính là hình ảnh của vị Thần Thiên Lôi - vị thần công lý. Vị
thần có khuôn mặt dữ tợn, nhưng lại rất hiền lành luôn luôn đứng về lẽ phải,
bảo vệ những con người yếu đuối hiền lành không phải chịu cảnh áp bức bất
công, bảo vệ công bằng cho xã hội. Vì thế mà mỗi khi có ai phải chịu cảnh
bất công trong xã hội thì người dân Văn Lang lại tìm đến vị thần Thiên Lôi
để đòi lại công lý cho mình.
2.2. Một số khía cạnh của đời sống kinh tế và đời sống tinh thần trong
truyền thuyết thời đại Hùng Vương
2.2.1. Trong đời sống kinh tế
Con người có mối quan hệ mật thiết với tự nhiên nhất là trong sản xuất
nông nghiệp trồng lúa nước. Cây lúa đã có ý nghĩa hết sức to lớn trong đời
sống của người dân Văn Lang không chỉ trong đời sống vật chất mà cả trong
đời sống tinh thần. Người dân Văn Lang đã tôn thờ cây lúa trở thành Thần
Lúa - một vị thần đầy uy quyền và quyết định sự sinh tồn của con người.
Chúng ta có thể thấy được hình ảnh sinh động của cây lúa trong Truyền
thuyết Bánh Chưng - Bánh Giầy. Hai loại bánh này không chỉ là món ăn của
người Văn Lang mà nó còn là sự biểu trưng sâu sắc của đời sống văn hóa
tinh thần trong mỗi người dân trong đó Bánh Chưng vuông tượng trưng cho
mặt phẳng của đất còn Bánh Giầy tròn tượng trưng cho bầu trời bao la, rộng
lớn. Hình ảnh Bánh Chưng - Bánh Giầy được đặt sóng đôi bên nhau trên bàn
thờ tổ tiên vào dịp lễ tết hằng năm đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho sự
giao hòa của trời đất. Đồng thời, cũng là niềm mong ước của người dân
nông nghiệp mong cho năm sau trời đất sẽ thuận hòa, mùa màng tươi tốt, đời
sống nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy mối quan hệ gắn bó giữa lao động sản xuất
của con người với tự nhiên qua các nông cụ, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức,
đồ mai tang của người dân Văn Lang…
Như vậy, con người xã hội Văn Lang đã thấy được vai trò to lớn của tự
nhiên đối với cuộc sống của mình mà trước tiên đó là đối với sản xuất nông
nghiệp. Gắn liền với tự nhiên đó cũng chính là gắn liền với lao động sản
xuất, yêu tự nhiên cũng chính là yêu lao động. Trong tư tưởng của mình,
người Văn Lang luôn coi tự nhiên là “ người bạn thân thiết” của mình vì thế
họ sống gắn bó và chan hòa với tự nhiên, tôn trọng và gìn giữ tự nhiên. Họ
sống hết mình cho cuộc sống hiện tại chứ không mơ ước một cuộc sống cao
xa nơi thiên đường nào cả. Mỗi người dân trong công xã đều tự ý thức được
điều đó và không trông chờ vào sự “ ban phát” của Thượng đế. Ước mong
cháy bỏng duy nhất của người dân đó là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa
màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi nảy nở thuận theo lẽ tự nhiên. Điều này đã
hình thành nên một lối tư duy mới của người dân Văn Lang đó là: hăng say,
chăm chỉ lao động, không trông chờ, ỷ lại vào tự nhiên, cùng sống gắn bó và
gìn giữ tự nhiên.
2.2.2. Trong đời sống tinh thần
Khi quan sát những hiện tượng mà người dân Văn Lang phải đối diện
hành ngày xảy ra trong tự nhiên bão tố, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh…thì cũng
có những hiện tượng mà người dân không thể giải thích được như hiện
tượng sấm, sét, mây, mưa…Để khỏa lấp chỗ trống trong nhận thức của
mình, người dân Văn Lang đã phát huy trí tưởng tượng của mình một cách
triệt để thông qua việc sáng tạo nên những câu chuyện thần thoại bất hủ về
các vị thần tự nhiên. Các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên được nhân dân
nhân hóa lên trở thành các vị thần của tự nhiên như Thần Trụ Trời, Thần
Núi, Thần Gió, Thần Sấm, Thần Sét…Mỗi vị thần có nguồn gốc ra đời, có
tâm tư tình cảm và đặc biệt các vị thần đều là các vị thần tốt, luôn đứng về
phía nhân dân để bảo vệ đời sống của nhân dân, được nhân dân Văn Lang
tôn thờ và thờ phụng. Các vị thần được nhân hóa thành các vị thần khổng lồ
thể hiện ước mong cháy bỏng của người dân: mong cho trời đất yên lành,
mưa thuận gió hòa, muôn loài sinh sôi nảy nở để đời sống của nhân dân
được ấm no, hạnh phúc.
Bên cạnh việc tôn thờ các hiện tượng tự nhiên thì người dân Văn Lang
còn tôn thờ cả những loài động vật gắn liền với đời sống của người dân.
Những loài thú hiền lành như hưu, nai, chim, cóc… đã được người dân nhân
hóa lên trở thành những con vật thiêng liêng có sức mạnh to lớn. Người dân
đã nhân hóa các loài vật có thật trong tự nhiên như chim, rắn, cá sấu thành
hai giống vật thiêng Rồng - Tiên với quan niệm đó chính là tổ tiên của dân
tộc mình. Từ đó khơi dậy ý thức tự hào dân tộc, tự hào về đất nước của mỗi
người dân Việt Nam ta khi nói về nguồn gốc của dân tộc mình.
Với quan niệm con người sinh ra và gắn liền với tự nhiên, người dân Văn
Lang đã có cái nhìn duy vật khi đi tìm nguồn gốc sự sống của con người.
Người dân Văn Lang không tìm ở bất kỳ đâu xa xôi trên thế giới mà họ tìm
thấy ngồn gốc ra đời của con người ở ngay trong chính cuộc sống của mình.
Đó là nguồn thức ăn nuôi sống họ hàng ngày, từ các con vật hiền lành trong
tự nhiên. Từ hiện thực hiển nhiên ấy đã được người xưa tô vẽ lại bằng nhiều
huyền thoại, truyền thuyết ly lỳ, hấp dẫn chứa đựng nhân văn sâu sắc về
lòng biết ơn của con người đối với tự nhiên đã nuôi sống mình, cho dù
chúng là những thứ có sẵn trong tự nhiên. Và thông qua đó chúng ta thấy
được một cách nhìn hết sức duy vật của người xưa khi thấy rằng sự sống
không phải do Chúa trời, do Thượng đế tạo ra mà nó bắt nguồn từ giới tự
nhiên. Tự nhiên chính là nơi con người sinh ra và cũng chính từ tự nhiên lại
con người nuôi sống con người.
Như vậy, các truyền thuyết Hùng Vương đã phản ánh được một thời đại
lịch sử của dân tộc ta. Mặc dù trình độ phát triển của kĩ thuật chưa cao,
nhưng con người Văn Lang lại không vì thế mà mất đi tính chất nhìn nhận
duy vật của mình. Tính chất duy vật được thể hiện cả trong đời sống lao
động sản xuất, trong đời sống tinh thần, trong các lễ hội và trong cả các tín
ngưỡng đa thần của người dân Văn Lang. Do đó để tránh cái nhìn duy tâm,
phiến diện thì chúng ta cần phải đứng trên góc độ triết học Mác - LêNin để
có cái nhìn đúng đắn, đánh giá thời kỳ lich sử này_Thời đại Hùng Vương
dựng nước.
2.3. Nhận xét, đánh giá về vấn đề nhân sinh quan của truyền thuyết thời
kỳ Hùng Vương
Các truyền thuyết thời đại Hùng Vương không chỉ là nền tảng đóng góp to
lớn tạo nên nền văn hóa Văn Lang mà nó còn tạo điều kiện cho việc hình
thành nền văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam ta. Những câu chuyện
truyền thuyết thời đại Hùng Vương phản ánh đa dạng cuộc sống sinh hoạt
của người dân Văn Lang lúc bấy giờ thông qua các truyền thuyết Bánh
Chưng – Bánh Giầy, truyền thuyết Trầu Cau… thể hiện những truyền thống
đạo lý tốt đẹp về đạo lý của cha ông ta từ ngàn xưa để lại. Vì thế mà truyền
thuyết có vai trò hết sức quan trọng, nó vừa là nhịp cầu nối kết nối giữa thế
hệ hôm nay với thế hệ cha ông ta chúng ta từ ngàn xưa.
Truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã đề cao ý thức tự hào về tổ tiên, về
nòi giống Tiên - Rồng của dân tộc ta. Từ đó nâng cao tinh thần đoàn kết, ý
thức tự hào dân tộc trong lòng mỗi người dân Việt Nam, chống lại những âm
mưu xuyên tạc về văn hóa của kẻ thù trong thời đại ngày nay.
Truyền thuyết thời đại Hùng Vương phần nào phản ánh trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của cư dân Văn Lang được thể hiện qua việc luyện binh khí
chống kẻ thù xâm lăng trong truyền thuyết Thánh Gióng, chế biến lương
thực trong truyền thuyết Bánh Chưng - Bánh Giầy, nghệ thuật diễn xướng
(hát xoan) trong truyền thuyết Hát xoan và đặc biệt đã hình thành tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên, hình thành chế độ tộc quyền cha truyền con nối, đạo nghĩa
cha - con , vợ - chồng… đã trở thành nền tảng cơ bản làm nên “ tiền đề” cho
tâm lý dân tộc, làm tư tưởng cốt lõi và bền vững trong tâm hồn con người
Việt Nam nhất là tư tưởng thờ cúng tổ tiên và đạo nghĩa cha - con, vợ chồng.
Bên cạnh những yếu tố tích cực của các truyền thuyết thời đại Hùng
Vương thì thông qua nội dung của các truyền thuyết vẫn còn mang một số
hạn chế. Hầu hết nội dung của các truyền thuyết đều mang đậm yếu tố thần
thoại và huyền bí và nhiều khi yếu tố thần thoại quá lớn đã làm cho các yếu