Hoa Thủy Tinh
CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƠN PHƯƠNG
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ
1. Các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Hiện tại chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về các trường hợp đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, hợp đồng dịch vụ pháp lý
có bản chất là hợp đồng dân sự, cụ thể hơn nó là hợp đồng dịch vụ. Vì vậy, ta áp dụng các
quy định trong Bộ luật dân sự (BLDS) để điều chỉnh việc đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Tuy nhiên, căn cứ theo khoản 1, khoản 2 điều 5 và điểm a khoản 2 điều 21 Luật luật
sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 thì luật sư ngoài việc tuân thủ theo Hiến pháp và
pháp luật thì còn phải tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
Trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (QTĐĐVƯXNNLSVN)
năm 2011 do Hội đồng luật sư Việt Nam ban hành có quy định về các trường hợp luật sư đơn
phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý.
Chính vì vậy, các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp
lý ngoài tuân theo quy định trong BLDS 2015 thì còn phải tuân theo các trường hợp quy
định trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2011.
1.1.
Các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý theo
quy định trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm
2011
“Quy tắc 10. Đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý
10.1. Khi đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý theo Quy tắc 9.2, luật sư,
tổ chức hành nghề luật sư thông báo bằng văn bản cho khách hàng trong thời hạn hợp lý để
Page 1 of 27
Hoa Thủy Tinh
khách hàng có điều kiện tìm luật sư khác, đồng thời giải quyết nhanh chóng các vấn đề liên
quan đến việc chấm dứt Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết;
10.2. Khi đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý, luật sư, tổ chức hành nghề
luật sư có thái độ tôn trọng, xử sự ôn hòa, không dùng lời lẽ có tính chất xúc phạm đối với
khách hàng, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của nghề luật sư, danh dự và uy tín của
khách hàng.”
Căn cứ theo quy tắc 10.1 trong QTĐĐVƯXNNLSVN năm 2011, luật sư đơn phương
chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý trong các trường hợp sau:
Một, khách hàng đưa ra yêu cầu mới mà yêu cầu này không thuộc phạm vi hành nghề
luật sư hoặc trái đạo đức, trái pháp luật;
Hai, khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn giải quyết vụ việc đúng pháp luật,
phù hợp với đạo đức do luật sư đưa ra, mặc dù luật sư đã cố gắng phân tích thuyết phục;
Ba, khách hàng vi phạm cam kết theo hợp đồng dịch vụ pháp lý mà các bên không thể
thỏa thuận được hoặc quan hệ giữa luật sư với khách hàng bị tổn hại không phải do lỗi của
luật sư;
Bốn, có sự đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng hoặc người
khác buộc luật sư phải làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp mà luật sư không thể đối
phó;
Năm, khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư để thực hiện hành vi trái pháp
luật;
Sáu, có căn cứ xác định khách hàng đã lừa dối luật sư;
Bảy, phát hiện vụ việc thuộc trường hợp quy định tại Quy tắc 9.1;
Tám, các trường hợp phải từ chối do quy định của pháp luật hoặc trường hợp bất khả
kháng khác.
Như vậy, từ quy định trong quy tắc thì có thể hiểu việc đơn phương chấm dứt thực
hiện dịch vụ pháp lý ở các trường hợp trên xảy ra khi luật sư đã nhận vụ việc từ khách hàng,
Page 2 of 27
Hoa Thủy Tinh
đồng nghĩa với thời điểm đó, có thể luật sư đã ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách
hàng. Từ đó có thể suy ra, các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý
cũng chính là căn cứ cho các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
pháp lý.
1.1.1. Phân tích các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
pháp lý theo quy định trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt
1.1.1.1.
Nam năm 2011
Khi khách hàng đưa ra yêu cầu mới mà yêu cầu này không thuộc phạm vi hành nghề
luật sư hoặc trái đạo đức, trái pháp luật
Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, nhưng sự thỏa thuận đó phải đúng pháp
luật, đúng với đạo đức. Vì vậy, nếu khách hàng đưa ra yêu cầu thỏa thuận về một công việc
nhưng trái đạo đức, trái pháp luật hay không thuộc phạm vi hành nghề của luật sư thì luật sư
phải từ chối yêu cầu đó của khách hàng. Việc từ chối thực hiện ngay cả khi luật sư đã nhận
vụ việc từ khách hàng, nhưng họ lại đưa thêm yêu cầu mới mà yêu cầu này trái đạo đức, trái
pháp luật hay không thuộc phạm vi hành nghề của luật sư. Bởi vì luật sư chỉ được quyền
thực hiện những yêu cầu phù hợp trong phạm vi hành nghề của mình và không được thực
hiện trái với các nguyên tắc đạo đức của một người luật sư. Việc bảo vệ cho khách hàng,
đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng nhưng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật, trong
khuôn khổ của đạo đức nghề luật.
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A đến tìm văn phòng luật sư B để tư vấn. Sau khi bàn bạc
đã ký kết hợp đồng dịch vụ để văn phòng luật sư B, cụ thể là luật sư C thuộc văn phòng luật
sư B sẽ tư vấn thường xuyên các vấn đề pháp lý liên quan đến công ty do ông A làm chủ và
sẽ đứng ra đại diện cho công ty nếu xảy ra tranh chấp với các bên. Trong quá trình tư vấn, thì
ông A có đề nghị luật sư C tư vấn và thực hiện cho công ty để công ty có thể trốn thuế.
Nhưng luật sư C đã từ chối tiếp tục tư vấn pháp lý cho công ty của ông A, do yêu cầu mới
của ông A trái pháp luật.1
1 />
Page 3 of 27
Hoa Thủy Tinh
Ví dụ 2: Luật sư A và chị B ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý thỏa thuận về việc luật
sư A sẽ bào chữa cho con của chị B tại phiên tòa. Vì thương con và nghe người khác xúi giục
nên chị B đã yêu cầu luật sư B đút lót tiền cho điều tra viên được phân công điều tra vụ án
mà con chị là bị cáo, vì mong con được thoát tội. Trong trường hợp này, luật sư không được
thực hiện yêu cầu mới này của chị B vì việc đút lót cho điều tra viên để chạy tội là hành vi vi
phạm pháp luật. Về nguyên tắc, luật sư hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
dịch vụ pháp lý với chị B. Tuy nhiên, luật sư nên giải thích rõ cho chị B về yêu cầu trái pháp
luật của chị và khuyên chị từ bỏ yêu cầu này. Nếu chị không chấp nhận việc từ bỏ yêu cầu
đó thì khi đó luật sư hãy đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết.
1.1.1.2.
Khi khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn giải quyết vụ việc đúng pháp luật,
phù hợp với đạo đức do luật sư đưa ra, mặc dù luật sư đã cố gắng phân tích thuyết
phục
Khi đã nhận vụ việc của khách hàng hay đã ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý thì luật
sư sẽ căn cứ qua những tài liệu được cung cấp, bằng những kiến thức, khả năng chuyên môn
của mình thì luật sư sẽ đưa ra những ý kiến tư vấn, những định hướng cho khách hàng về
cách giải quyết, cách thực hiện quy trình… cho đúng pháp luật. Tuy nhiên, dù đã cố gắng
phân tích, giảng giải cho khách hàng nhưng khách hàng vẫn không chấp nhận ý kiến tư vấn
của luật sư thì luật sư có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Bởi hợp đồng thể hiện sự thiện chí của các bên, nếu khách hàng mà không có thiện chí hợp
tác thì việc thực hiện nghĩa vụ của luật sư khó mà thực hiện được, từ đó mục đích của việc
giao kết hợp đồng khó thực hiện được. Việc quy định luật sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện
vụ việc đã nhận của khách hàng trong trường hợp này là điều hợp lý và dễ hiểu.
Ví dụ: Luật sư X ký hợp đồng với Y về công việc là bào chữa cho bị cáo Y tại phiên
tòa Sơ thẩm. Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, các tài liệu được cung cấp thì Y phạm
vào tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Luật sư nhận thấy có thể bào
chữa theo hướng giảm nhẹ khung hình phạt cho Y. Tuy nhiên, Y một mực không tin lời tư
vấn và hướng làm của luật sư dù luật sư đã giải thích rất tường tận. Trong trường hợp này
Page 4 of 27
Hoa Thủy Tinh
luật sư X hoàn toàn có quyền từ chối tiếp tục dịch vụ và đơn phương chấm dứt hợp đồng với
Y.
1.1.1.3.
Khi khách hàng vi phạm cam kết theo hợp đồng dịch vụ pháp lý mà các bên không
thể thỏa thuận được hoặc quan hệ giữa luật sư với khách hàng bị tổn hại không phải
do lỗi của luật sư
Những cam kết theo hợp đồng dịch vụ pháp lý là những quyền, nghĩa vụ mà luật sư
và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Vì vậy, việc thực hiện đúng hợp đồng là nghĩa
vụ mà các bên phải tuân theo. Khi khách hàng không tuân thủ đúng những cam kết trong
hợp đồng đã ký kết thì hai bên hoàn toàn có thể ngồi lại và cùng đàm phán cách giải quyết.
Nếu việc thỏa thuận không thành thì luật sư hoàn toàn quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng. Ngoài ra, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý của luật sư có thể xảy
ra khi quan hệ giữa khách hàng và luật sư bị tổn hại mà không phải do lỗi của luật sư. Như
vậy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp này phải thỏa hai điều kiện:
một là quan hệ giữa khách hàng và luật sư bị tổn hại, hai là sự tổn hại của quan hệ này không
do lỗi từ phía luật sư. Nhưng sự “tổn hại” trong quan hệ giữa khách hàng với luật sư liệu có
thể đong đếm được không? Pháp luật có định lượng được không? Có vẻ như sự “tổn hại”
trong mối quan hệ này do cảm nhận chủ quan từ phía luật sư. Nguyên nhân của sự tổn hại có
thể xuất phát từ bên khách hàng hoặc nhân tố khác bên ngoài tác động vào.
Ví dụ: Khách hàng A là nguyên đơn trong vụ kiện chia thừa kế nhờ luật sư K bảo vệ
tại phiên tòa sơ thẩm. Để thu thập chứng cứ luật sư K đã thông báo cho bà A về việc mình sẽ
gặp gỡ ông B là nguyên đơn và bà C là người có quyền lợi liên quan đến vụ án để xác minh
về di sản và nguồn gốc tài sản thừa kế. Một lần phát hiện luật sư K đang ngồi uống nuớc và
nói chuyện rất vui vẻ với bà C, khách hàng A nghi ngờ luật sư K có quan hệ “không tốt” với
C và đã yêu cầu luật sư K chấm dứt quan hệ với bà C. Luật sư K có giải thích việc gặp bà C
vì lý do công việc và đã thông báo trước cho khách hàng A nhưng khách hàng A vẫn bảo lưu
quan điểm của mình và suy diễn rằng việc quan hệ cá nhân quá thân mật với C có thể làm
ảnh hưởng đến quyền lợi của mình. Bởi bà C và ông B có quan hệ rất gần gũi nhau lại cùng
một phe. Quan hệ của hai bên xấu đi và luật sư A đã từ chối tiếp tục thực hiện công việc theo
Page 5 of 27
Hoa Thủy Tinh
hợp đồng, đề nghị khách hàng K đến thanh lý hợp đồng dịch vụ nhưng khách hàng K lại
không đồng ý vì lý do chưa tìm được luật sư giỏi như luật sư A. Việc từ chối tiếp tục thực
hiện dịch vụ của A trong trường hợp trên đây là có căn cứ tại vì khách hàng A đã không tin
tưởng luật sư K và đã có những yêu cầu không hợp lý, vi phạm những cam kết trong hợp
đồng dịch vụ pháp lý.2
1.1.1.4.
Khi có sự đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng hoặc người
khác buộc luật sư phải làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp mà luật sư không
thể đối phó
Hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng là loại hợp đồng được giao kết dựa trên nguyên tắc tự
nguyện thỏa thuận giữa các bên, nhưng không thiếu các trường hợp khi đang thực hiện hợp
đồng thì khách hàng lại có hành vi đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần, gây khó
khăn cho luật sư và yêu cầu luật sư phải làm những việc trái pháp luật hoặc đạo đức nghề
nghiệp. Từ đó, làm ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện hợp đồng, đồng thời làm cho mối
quan hệ giữa luật sư và khách hàng trở nên xấu đi. Nếu bị đe dọa hoặc bị gặp áp lực như vậy
mà luật sư là người không kiên quyết thì có thế thực hiện những hành vi trái với pháp luật và
trái với đạo đức nghề nghiệp. Vì vậy, quy tắc này cho phép trong trường hợp này luật sư có
quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý cho khách hàng để tránh
tình trạng làm trái với pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.
Ví dụ: Con trai luật sư A được Giám đốc công ty TNHH KKK là doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài đã tuyển dụng và cấp học bổng để du học sau đại học tại Anh quốc và
đồng thời Giám đốc công ty TNHH KKK hứa sau khi học về sẽ nhận cháu vào làm tại doanh
nghiệp. Cảm kích trước tấm lòng của chủ doanh nghiệp nên luật sư A đã nhận lời mời cung
cấp dịch vụ pháp lý thường xuyên cho doanh nghiệp KKK. Quá trình cung cấp dịch vụ luật
sư A được biết doanh nghiệp KKK luôn dùng các thủ thuật về kế toán để không phải nộp
thuế cho nhà nước Việt Nam, chuyển lãi ra nước ngoài, báo lỗ ở Việt Nam và sử dụng dịch
vụ của luật sư như là một khâu để đảm bảo tính chặt chẽ về mặt pháp lý. 3 Giả sử, Luật sư A
2 THS. Nguyễn Hữu Ước và TS. Nguyễn Văn Điệp, 2010, Tập bài giảng Luật sư và nghề Luật sư, trang 187.
3 THS. Nguyễn Hữu Ước và TS. Nguyễn Văn Điệp, 2010, Tập bài giảng Luật sư và nghề Luật sư, trang 187.
Page 6 of 27
Hoa Thủy Tinh
đã nhiều lần nhắc nhở doanh nghiệp về hành vi này, nhưng doanh nghiệp yêu cầu luật sư A
phải giữ im lặng và coi như không biết chuyện này, nếu không sẽ không tiếp tục hỗ trợ học
bổng cho con của luật sư A và sẽ không nhận con của A vào làm. Như vậy, luật sư hoàn toàn
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý đối với công ty này để đảm bảo
tuân theo pháp luật và đạo đức của nghề luật sư.
1.1.1.5.
Khi khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư để thực hiện hành vi trái pháp
luật
Điều tối kỵ nhất của một người luật sư là làm những việc trái đạo đức nghề nghiệp,
đạo đức xã hội và đặc biệt là trái pháp luật. Luật sư phải từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý
cho khách hàng nếu như khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp để thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm đạo đức xã hội. Bởi việc khách hàng lợi dụng
dịch vụ pháp lý mà luật sư cung cấp để làm trái đạo đức, trái pháp luật sẽ ảnh hưởng xấu đến
hình ảnh, uy tín của luật sư.
Ví dụ: Công ty TNHH một thành viên A ký với công ty Luật TNHH 2 thành viên B
để thẩm tra các Hợp đồng mẫu ký kết với khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ của
doanh nghiệp A. Là doanh nghiệp độc quyền của nhà nước nên dự thảo hợp đồng đã xây
dựng các điều khoản có lợi cho doanh nghiệp A và bất lợi cho khách hàng. Luật sư đã chỉnh
sửa lại các điều khoản trong hợp đồng để đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên. Doanh nghiệp
A không đồng ý với sự chỉnh sửa trên và vẫn sử dụng dự thảo hợp đồng của mình, đồng thời
từ chối thanh toán phần tiền còn lại theo hợp đồng đã ký kết, lấy lý do chất lượng thẩm định
của công ty Luật TNHH B không tốt, không bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp A. Nếu
muốn được thanh toán phần tiền còn lại, công ty Luật TNHH B phải chỉnh sửa lại ý kiến tư
vấn và dự thảo hợp đồng theo ý kiến của công ty A. Giám đốc Công ty Luật TNHH B đã từ
chối thực hiện yêu cầu trên và đề nghị thanh lý hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết, đồng
thời yêu cầu thanh toán phần tiền còn lại vì cho rằng công ty mình đã thực hiện xong nghĩa
vụ.4
4 THS. Nguyễn Hữu Ước và TS. Nguyễn Văn Điệp, 2010, Tập bài giảng Luật sư và nghề Luật sư, trang 187
Page 7 of 27
Hoa Thủy Tinh
Việc từ chối và yêu cầu của Giám đốc công ty Luật TNHH B trong tình huống là
hoàn toàn có căn cứ vì khách hàng muốn sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư để thực hiện
hành vi trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng đạo đức xã hội nên luật sư có thể từ chối tiếp
tục thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết.
1.1.1.6.
Khi có căn cứ xác định khách hàng đã lừa dối luật sư
Khi đã giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý thì hai bên phải tin tưởng lẫn nhau. Khách
hàng nhờ đến luật sư để tiến hành giải quyết vụ việc của mình thì yêu cầu khách hàng phải
tuyệt đối tin tưởng và thành thật với luật sư bằng việc cung cấp những loại giấy tờ, thông tin,
bằng chứng cần thiết để luật sư tiến hành một cách thuận lợi và nhanh chóng nhất. Nhưng lại
có một số trường hợp khách hàng không tin tưởng luật sư, hay bằng lý do nào đó đã cố ý lừa
dối luật sư bằng việc không cung cấp thông tin hồ sơ đúng sự thật. Dù luật sư đã nhận vụ
việc rồi nhưng nếu luật sư có căn cứ là khách hàng đã lừa dối mình thì luật sư có quyền từ
chối và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng pháp lý với khách hàng.
1.1.1.7.
Khi phát hiện vụ việc thuộc trường hợp quy định tại Quy tắc 9.1
Quy tắc 9.2 quy định 8 trường hợp luật sư có quyền từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc
đã nhận của khách hàng. Tuy nhiên, khi luật sư đã nhận và đang thực hiện vụ việc nhưng lại
phát hiện các vi phạm thuộc 6 trường hợp ở Quy tắc 9.1 thì luật sư vẫn có quyền từ chối tiếp
tục thực hiện vụ việc theo Quy tắc 9.2.7. Cụ thể từng trường hợp ở Quy tắc 9.1 như sau:
• Quy tắc 9.1.1: Luật sư không đủ khả năng chuyên môn hoặc điều kiện thực tế để thực hiện
vụ việc
Nếu áp dụng quy tắc này cho quyền từ chối nhận vụ việc của khách hàng thì có lẽ
không có gì đáng nói. Vì bản thân luật sư tự biết rằng khả năng chuyên môn và điều kiện
thực tế của mình tới đâu để đưa ra quyết định là nhận hay không nhận một vụ việc. Tuy
nhiên nếu gán quy tắc trên cho quyền từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc đã nhận của khách
hàng thì ta có thể hiểu nguyên nhân có thể đến từ một trong hai bên hoặc cả hai. Nếu trong
quá trình giải quyết vụ việc, khách hàng cung cấp thêm thông tin nhưng thông tin đó khiến
cho vụ việc lại nằm ngoài khả năng chuyên môn hoặc điều kiện thực tế của luật sư thì trong
Page 8 of 27
Hoa Thủy Tinh
trường hợp này lỗi không thuộc về phía luật sư. Tuy nhiên, nếu trong quá trình tìm hiểu giải
quyết vụ việc luật sư phát hiện ra những tình tiết mà những tình tiết này khiến cho vụ việc
nằm ngoài khả năng giải quyết của luật sư thì lỗi một phần xuất phát từ phía luật sư vì đã
không xem xét kỹ và lường trước những tình huống có thể xảy ra.
Vậy khả năng chuyên môn là gì? Điều kiện thực tế là gì?
Không có bất kì một tài liệu hay văn bản nào quy định cụ thể rõ ràng về khả năng
chuyên môn của luật sư và điều kiện thực tế được nhắc đến trong quy tắc trên. Vì vậy, có lẽ
mỗi người sẽ có một cách hiểu khác nhau. Riêng đối với bản thân nhóm, hiểu “khả năng
chuyên môn” tức là khả năng chuyên về một lĩnh vực cụ thể nào đó của một người. Đối với
luật sư cũng vậy, khả năng chuyên môn của mỗi luật sư là khác nhau, có người chuyên về tố
tụng, có người chuyên về tư vấn pháp lý. Đó là về chuyên môn còn về điều kiện thực tế có
thể được hiểu theo nghĩa là những tác động của hiện thực gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc
thực hiện vụ việc của luật sư. Như vậy, việc từ chối thực hiện dịch vụ pháp lý trong trường
hợp này thuộc về nhận định của luật sư về chuyên môn, điều kiện thực tế của mình khi thực
hiện vụ việc với khách hàng.
• Quy tắc 9.1.2: Khách hàng thông qua người khác yêu cầu luật sư mà người này có biểu hiện
lợi dụng tư cách đại diện cho khách hàng để mưu cầu lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng đến uy
tín của luật sư và quyền lợi hợp pháp của khách hàng
Nếu một người đại diện cho khách hàng để yêu cầu luật sư thực hiện một vụ việc
dưới danh nghĩa là khách hàng đó nhưng lại có biểu hiện lừa dối, che giấu và là người trung
gian giữa luật sư và khách hàng nhưng không hề có sự trung thực nhằm mang lại lợi ích cho
bản thân đồng thời gây ánh hưởng đến uy tín cũng quyền lợi hợp pháp của luật sư và khách
hàng thì khi phát hiện, luật sư có quyền từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc.
• Quy tắc 9.1.3: Khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của luật sư với ý định lợi dụng dịch vụ
đó cho mục đích khác hoặc khách hàng không tự nguyện mà bị phụ thuộc theo yêu cầu
không chính đáng của người khác
Page 9 of 27
Hoa Thủy Tinh
Việc khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của luật sư nhưng lại có ý định sử dụng dịch
vụ đó cho mục đích khác mà không hề có sự thông báo hay thỏa thuận trước cho phía luật
sư. Hành vi này có thể được xem là thiếu trung thực khi thực hiện giao kết hợp đồng và
đương nhiên phía luật sư có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Việc khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý là do ý chí của bên thứ ba, bị phụ thuộc
hoàn toàn vào bên thứ ba thì trong trường hợp này việc giao kết hoàn toàn thiếu sự tự
nguyện được quy định khi thực hiện việc giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, bản thân nhóm thấy
việc đưa ra yêu cầu dịch vụ pháp lý của khách hàng hoàn toàn không dựa trên sự tự nguyện
của khách hàng mà bị phụ thuộc theo yêu cầu của người khác thì cho dù yêu cầu của bên thứ
ba có chính đáng hay không chính đáng thì bên phía luật sư đều có quyền từ chối tiếp tục
thực hiện vụ việc vì về căn bản giao kết hợp đồng này không dựa trên sự tự nguyện của hai
bên.
Ví dụ: Kế toán của công ty X theo sự yêu cầu của giám đốc công ty và luật sư Y ký
hợp đồng tư vấn pháp lý. Cụ thể, kế toán công ty này ( dưới sự chỉ định của công ty) đã thực
hiện hành vi mua hóa đơn đầu vào giả để nhằm giảm thuế VAT cho công ty. Kế toàn này
muốn luật sư tư vấn cho việc làm thế nào để không bị cơ quan Thuế phát hiện khi thanh tra.
Như vậy, việc mua hóa đơn giả của công ty là hành vi trái pháp luật. Việc công ty muốn luật
sư tư vấn để che giấu cho hành vi trái pháp luật của mình là sai. Vì vậy, luật sư có quyền từ
chối thực hiện dịch vụ pháp lý.
• Quy tắc 9.1.4: Có căn cứ rõ ràng xác định khách hàng đã cung cấp chứng cứ giả hoặc yêu
cầu của khách hàng không có cơ sở, trái đạo đức, trái pháp luật
Trong quy tắc, luật sư là người nhận định, đánh giá về việc khách hàng đã cung cấp
chứng cứ giả hoặc yêu cầu của khách hàng không có cơ sở, trái đạo đức, trái pháp luật khi có
căn cứ xác thực. Khi khách hàng cung cấp thông tin thì luật sư có nghĩa vụ phải xác minh
những chứng cứ đó có xác thực không, có đúng sự thật không để từ đó có thể đưa ra những
giải pháp, biện pháp, hướng đi đúng đắn nhất. Nhưng thế nào là căn cứ rõ ràng? Căn cứ đó
phải dựa trên những thông tin, tài liệu, hồ sơ, giấy tờ… mà khách hàng đã cung cấp cho luật
sư.
Page 10 of 27
Hoa Thủy Tinh
Theo Điều 123 BLDS 2015 quy định: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử
chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Yêu cầu trái pháp luật
là những yêu cầu không phù hợp với các quy định của pháp luật. Quy định trên cũng dễ có
thể để hiểu được rằng việc khách hàng yêu cầu luật sư thực hiện vụ việc nhưng yêu cầu đó
lại không thực tế, không có cơ sở xác đáng, vi phạm những nguyên tắc chuẩn mực ứng xử
chung trong đời sống xã hội, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, quy tắc trên có thể được hiểu
theo hai nghĩa. Thứ nhất, luật sư chỉ được từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc khi khách hàng
hội tụ đủ 3 yếu tố: (1) yêu cầu không có cơ sở hoặc cung cấp chứng cứ giả, (2) hành vi đó
trái đạo đức; (3) hành vi đó trái pháp luật. Thứ hai, có thể hiểu theo việc chỉ cần khách hàng
vi phạm một trong ba điều trên thì luật sư đã có quyền từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc. Và
nhóm chúng tôi nghiêng về hướng giải thích thứ hai, chỉ cần xuất hiện một trong ba yếu tố
trên thì cũng đủ điều kiện để luật sư chấm dứt việc cung cấp dịch vụ pháp lý hay đơn
phương chấm dứt hợp đồng.
• Quy tắc 9.1.5: Có sự xung đột về lợi ích theo Quy tắc 11.1 mà không giải quyết được nếu
tiếp nhận vụ việc đó
Theo quy tắc 11.1 quy định: “Xung đột về lợi ích trong hành nghề luật sư là sự đối
lập về quyền lợi vật chất hay tinh thần đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra giữa hai hay
nhiều khách hàng của luật sư; giữa luật sư, nhân viên, vợ, chồng, con, cha mẹ, anh em của
luật sư với khách hàng trong cùng một vụ việc hoặc trong những vụ việc khác có liên quan
đến vụ việc đó”
Như vậy, có thể thấy rằng Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp do Liên đoàn
luật sư ban hành có quy định cụ thể hơn và dự liệu nhiều trường hợp có thể dẫn đến xung đột
lợi ích hơn so với quy định của Luật luật sư. Cụ thể Quy tắc ứng xử quy định nguyên tắc
tránh xung đột lợi ích phát sinh không chỉ giữa khách hàng của luật sư với nhau mà còn dự
liệu sự xung đột giữa luật sư, nhân viên, vợ, chồng, con, cha mẹ, anh em của luật sư với
khách hàng trong cùng một vụ việc. Đồng thời, Quy tắc ứng xử cũng quy định nguyên tắc
tránh xung đột lợi ích không chỉ xác định trong phạm vi một vụ việc cụ thể mà còn áp dụng
Page 11 of 27
Hoa Thủy Tinh
giữa các vụ việc có liên quan với nhau trong khi đó Luật luật sư chỉ cấm luật sư cung cấp
dịch vụ pháp lý đối với các khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc.
Quy tắc này dựa trên cơ sở của nguyên tắc tránh xung đột lợi ích trong tư vấn pháp
luật. Pháp luật về luật sư có quy định rất rõ về việc hạn chế xung đột lợi ích trong tư vấn
pháp luật. Cụ thể: điểm a Khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012 quy
định như sau:
“1. Nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi sau đây:
a) Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ
án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của
pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc)”
Vì vậy, Luật sư không được tư vấn cho cả hai bên có quyền lợi đối lập nhau trong
cùng một vụ việc. Việc hạn chế tư vấn cho các bên có quyền lợi đối lập nhau trong một vụ
việc cũng được áp dụng đối với các luật sư trong cùng một văn phòng luật sư hay công ty
luật.
Ví dụ: Trong cùng một văn phòng Luật sư (hay công ty luật) thì không được nhận tư
vấn pháp luật cho bên nguyên lẫn bên bị của cùng một vụ án.
Trong trường hợp phát hiện có mâu thuẫn trong khi bắt tay vào công việc, Luật sư
phải ngừng ngay công việc cho khách hàng khi có sự phát sinh đối kháng về quyền lợi giữa
các khách hàng này.5
Ví du: Anh Bê và chị Xê có bạn thân là luật sư Đê thuộc văn phòng luật sư X. Anh Bê
và chị Xê thỏa thuận việc ly hôn với nhau nhưng có tranh chấp về chia tài sản. Do cùng quen
biết luật sư Đê nên cả hai đã gặp Đê để yêu cầu luật sư này tư vấn cho các thủ tục công nhận
ly hôn cần thiết. Luật sư Đê nhận thấy hai vợ chồng này chưa giải quyết việc chia tài sản và
có mâu thuẫn trong việc chia tài sản nên đã tư vấn cho họ mời thêm luật sư cùng trong văn
phòng X với mình để mỗi người tư vấn cho một người. Như vậy, việc làm của luật sư Đê là
vi phạm đạo đức nghề luật. Bởi luật sư đã cung cấp dịch vụ pháp lý cho 2 khách hàng có
5 />
Page 12 of 27
Hoa Thủy Tinh
quyền lợi đối lập nhau, đồng thời đã tư vấn cho họ sử dụng dịch vụ pháp lý với luật sư cùng
trong văn phòng mình. Trong trường hợp này, luật sư Đê phải từ chối tư vấn cho anh Bê, chị
Xê thì mới đúng quy định.
• Quy tắc 9.1.6: Khách hàng có thái độ không tôn trọng luật sư và nghề luật sư và không thay
đổi thái độ này
Có thể thấy rằng, nếu khách hàng có những biểu hiện, lời nói hay ý chí thiếu tôn trọng
luật sư cũng như nghề luật sư thì luật sư có quyền từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc. Tuy
nhiên, việc khẳng định thái độ của khách hàng là không tôn trọng luật sư thì vẫn chưa có
những chuẩn mực cụ thể nào quy định bởi thế nào là tôn trọng và thế nào là không tôn
trọng? Việc đánh giá sự tôn trọng hay không tôn trọng dựa trên cảm tính của luật sư. Việc
nghi ngờ đạo đức của luật sư cũng là biểu hiện của thái độ không tôn trọng luật sư. Áp đặt,
khống chế suy nghĩ của mình lên luật sư cũng là biểu hiện của thái độ không tôn trọng. Và
thế nào là việc “không thay đổi thái độ” ? Có thể hiểu: Sau khi có những thái độ không đúng
đối với luật sư nói riêng và nghề luật sư nói chung thì luật sư phải giải thích để khách hàng
hiểu ý chí của mình để từ đó có những suy nghĩ cũng như thái độ đúng đắn nhưng khách
hàng vẫn khăng khăng và không thay đổi thái độ thiếu tôn trọng thì luật sư có quyền từ chối
tiếp tục thực hiện vụ việc.
1.1.1.8.
Các trường hợp phải từ chối do quy định của pháp luật hoặc trường hợp bất khả
kháng khác
Hiện nay pháp luật luật sư không có quy định cụ thể về các trường hợp bất khả kháng
trong nghề luật sư. Tuy nhiên, trong BLDS 2015 có quy định về sự kiện bất khả kháng, cụ
thể tại khoản 1 điều 156: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan
không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và khả năng cho phép.” Luật sư từ chối vụ việc đã nhận của khách hàng khi trùng
lịch xét xử không thể hoãn được phiên toàn, khi có công việc đột xuất của gia đình khi công
tác nước ngoài theo sự phân công của Tổ chức hành nghề luật sư vv…. Có được coi là bất
khả kháng hay không? Sự không cụ thể của pháp luật đặt ra nghĩa vụ đạo đức của luật sư
phải tự xác định để lựa chọn xử sự phù hợp khi rơi vào các trường hợp “bất khả kháng” , từ
Page 13 of 27
Hoa Thủy Tinh
đó luật sư xác định mình có quyền từ chối vụ việc đã nhận hay không. Các trường hợp “bất
khả kháng” theo quy tắc này, theo quan điểm của chúng phải là các trường hợp luật sư không
thể cung cấp được dịch vụ pháp lý, hoặc không thể cung cấp dịch vụ pháp lý chất lượng tốt
trong khi luật sư rơi vào tình trạng không biết trước, không có nghĩa vụ phải viết trước các
sự kiện xảy ra mà khi gặp phải nếu tiếp tục cung cấp dịch vụ sẽ ảnh hưởng không tốt đến
quyền lợi của khách hàng. Nếu đang thực hiện vụ việc mà khách hàng giao cho, luật sư gặp
phải tai nạn hoặc sự cố ngoài ý muốn hoặc những trường hợp bất khả kháng khác thì luật sư
có thể từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc đó.
Đối với khách hàng, khi đã ủy thác cho luật sư, họ rất tin tưởng vào luật sư nhưng nếu
gặp phải những trường hợp như đã phân tích ở trên thì lỗi không phải do luật sư mà nó đã
gây cản trở cho việc tiến hành thực hiện vụ việc nên luật sư có thể từ chối tiếp tục thực hiện
vụ việc trong các trường hợp đó.
1.2.
Các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp
lý theo quy định trong BLDS 2015
Hợp đồng dịch vụ pháp lý có bản chất là hợp đồng dân sự, cụ thể hơn nó là hợp đồng
dịch vụ. Vì vậy, ta áp dụng các quy định trong Bộ luật dân sự (BLDS) để điều chỉnh việc
đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Có thể hiểu rằng, đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý là hành vi pháp lý đơn phương của một bên
nhằm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng khi xảy ra các trường hợp được quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng theo như thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo các trường hợp được quy
định trong pháp luật.
Trong BLDS 2015, việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự được quy
định tại các điều 428, khoản 2 điều 516, điều 520. Cụ thể:
“Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi
thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có
thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Page 14 of 27
Hoa Thủy Tinh
2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia
biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời
điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh
chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực
hiện.
4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên
kia được bồi thường.
5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy
định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định
là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật
này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.”
“Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ
2. Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng
dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt
hại.”
“Điều 520. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
1. Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ
thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo
cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền
công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.
2. Trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng
dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Theo các quy định trên thì một bên được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý trong 3 trường hợp sau đây:
Page 15 of 27
Hoa Thủy Tinh
Thứ nhất, bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng;
Thứ hai, việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ;
Thứ ba, theo thỏa thuận trong hợp đồng về các trường hợp được đơn phương chấm
dứt thực hiện hợp đồng.
Như vậy, việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự nói chung và hợp
đồng dịch vụ pháp lý nói riêng, có thể xảy ra khi có sự vi phạm hợp đồng hoặc không có sự
vi phạm hợp đồng của bên bị đơn phương chấm dứt hợp đồng (tức bên còn lại). Nếu như
việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không thuộc các trường hợp trên thì việc đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là trái pháp luật. Khi đó, bên đơn phương chấm dứt
hợp đồng trái pháp luật là bên vi phạm nghĩa vụ và phải chịu các chế tài theo quy định.
Các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý quy định
trong QTĐĐVƯXNNLSVN năm 2011 khác với quy định trong BLDS 2015 ở chỗ: chủ thể
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý là luật sư. Còn đối với các trường
hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng quy định trong BLDS 2015 thì tùy trường
hợp mà có các chủ thể được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.
1.2.1. Phân tích các trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch
1.2.1.1.
vụ pháp lý theo BLDS 2015
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý do vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ hợp đồng:
Cơ sở pháp lý của trường hợp này được quy định tại khoản 1 điều 428, khoản 2 điều
516, khoản 2 điều 520 BLDS 2015:
“Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi
thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có
thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
“Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ
Page 16 of 27
Hoa Thủy Tinh
2. Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng
dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt
hại.”
“Điều 520. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
2. Trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng
dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt
hại.”
Thứ nhất là về chủ thể có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên
kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ: cả bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ đều có
quyền. Tương ứng với khoản 2 điều 520 BLDS 2015 là khoản 2 điều 525 BLDS 2005 quy
định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ. Theo đó, khoản 2 điều 525
BLDS 2005 quy định như sau: “trong trường hợp bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụ
của mình hoặc thực hiện không đúng theo thoả thuận thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng...” Tương ứng với khoản 2 điều 516 BLDS 2015 là
khoản 2 điều 521 BLDS 2005 về quyền của bên thuê dịch vụ. Theo đó, “trong trường hợp
bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng...”
Ta thấy có sự khác nhau trong cách quy định của BLDS 2015 và BLDS 2005. Thứ
nhất, BLDS 2015 đã sửa đổi thuật ngữ “bên thuê dịch vụ” thành “bên sử dụng dịch vụ”. Thứ
hai, theo cách quy định trong BLDS 2005 thì chỉ bên thuê dịch vụ (tức bên sử dụng dịch vụ)
mới có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi mà bên cung ứng dịch vụ vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ.
Thứ hai, về điều kiện đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Vậy như thế nào là
“vi phạm nghiêm trọng” nghĩa vụ? Điều này đã được quy định trong khoản 2 điều 423
BLDS 2015 như sau: “Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một
bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.” Nghĩa
vụ ở đây là các nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng và các nghĩa vụ
quy định trong BLDS. Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho
Page 17 of 27
Hoa Thủy Tinh
bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng có thể được hiểu là việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ này được thực hiện khi một
bên có lỗi của bên còn lại, làm ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ trong hợp đồng được giao
kết. Tuy nhiên, điều này chưa toát lên được rõ việc “đến mức làm cho bên kia không đạt
được mục đích” là như thế nào? Không đạt được mục đích ở đây có thể hiểu theo nghĩa
không đạt được mục đích hoàn toàn hay chỉ cần không đạt được mục đích một phần trong
hợp đồng. Và việc vi phạm này chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi đã làm cho bên
kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng hay họa chăng có trường hợp bên A
thấy bên B không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình và bên A có thể tiên đoán được rằng
việc không thực hiện nghĩa vụ sẽ ảnh hưởng đến mục đích giao kết hợp đồng của mình
không đạt được vậy bên A có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp này hay
không? Bên cạnh đó, việc thực hiện đúng nhưng chưa đủ có được xem là “không thực hiện
đúng nghĩa vụ” trong trường hợp trên hay không? Đối với ý kiến cá nhân nhóm nhận thấy
việc thực hiện “đúng nghĩa vụ” ở đây tức phải thực hiện đúng và đủ. Cho dù thực hiện đúng
các nghĩa vụ trong hợp đồng nhưng chỉ cần thiếu một phần nhỏ trong nghĩa vụ thì đó cũng
chính là việc bạn đã không hoàn thành đúng nghĩa vụ chung trong hợp đồng.
Ta có thể thấy quy định trong khoản 2 Điều 520 BLDS 2015 đã có sự thay đổi so với
khoản 2 điều 525 BLDS 2005. Theo đó, BLDS 2015 có quy định điều kiện để đơn phương
chấm dứt hợp đồng đó là khi có sự “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ”, còn quy định tại
khoản 2 Điều 525 BLDS 2005 là khi “không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện
không đúng theo thỏa thuận”. Theo nhận định của nhóm thì việc quy định như trong BLDS
2015 có sự ưu việt hơn so với BLDS 2005. Trước hết là có sự đồng nhất về một trong những
điều kiện được quyền đơn phương đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, cụ thể tại
khoản 1 điều 428, khoản 2 điều 516 và khoản 2 điều 520, đó là khi có “vi phạm nghiêm
trọng nghĩa vụ”. Tiếp theo là có sự đồng nhất về chủ thể được quyền đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng khi có “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ”, đó là cả bên cung ứng dịch vụ
và bên sử dụng dịch vụ đều có quyền. Như vậy, sẽ đảm bảo quyền lợi, cũng như sự công
bằng giữa hai chủ thể này về quyền được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của
mình khi có sự vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của bên kia.
Page 18 of 27
Hoa Thủy Tinh
Theo Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 của Bộ Tư pháp thì “thực tế
hiện nay cho thấy, rất nhiều hợp đồng dễ dàng bị một trong các bên tuyên bố huỷ bỏ hoặc
đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự chỉ vì bên kia vi phạm một điều khoản nào
đó của hợp đồng. Điều này gây nên sự bất ổn định cho các giao dịch và tốn kém khi mà một
bên có thể sử dụng sự vi phạm không đáng kể của phía bên kia để chấm dứt hợp đồng. Do
đó, Bộ luật cần phải quy định rõ chỉ khi có những vi phạm nghiêm trọng, làm cho mục đích
của việc giao kết hợp đồng không đạt được thì hợp đồng mới bị chấm dứt”. Bởi “vi phạm
nghiêm trọng” không chỉ là một khái niệm khoa học mà là căn cứ pháp lý góp phần quan
trọng vào việc ổn định các quan hệ hợp đồng, ổn định giao lưu dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các chủ thể – một yêu cầu khách quan của bất cứ nền kinh tế thị trường nào.” 6
Điều đó có thể cho ta thấy, việc đưa ra quy định về “vi phạm nghiêm trọng” nghĩa vụ
trong BLDS 2015 là mang tính cấp thiết và kịp thời. Bởi chỉ những vi phạm mang tính chất
“nghiêm trọng” mới được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Từ đó, tạo sự
chặt chẽ trong việc kiểm soát và thực hiện hợp đồng của các bên, đồng thời hạn chế bớt sự
bất ổn khi các bên đang thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Ta cùng phân tích tình huống:
Ông Cao Văn Mỹ có tranh chấp với mẹ của ông là bà Phương Nga về mảnh đất trị giá
16,5 tỉ. Ông Mỹ có đến văn phòng luật sư ‘’Đại Gia và các cộng sự’’ để thuê luật sư bào
chữa cho mình. Hai bên có thỏa thuận sẽ để luật sư Đại Gia đứng ra bào chữa cho ông. Tuy
nhiên, ông Gia có việc đột xuất phải đi công tác nên có để lại hồ sơ vụ án cho 1 trong các
cộng sự của ông để giải quyết mà không có bất kì thông báo nào cho phía ông Mỹ. Việc đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của ông Mỹ có đúng pháp luật không?
Nhận xét tình huống: Trong trường hợp trên giữa ông Mỹ và Văn phòng luật sư đã ký
kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với nhau. Và có thỏa thuận cho luật sư Gia đứng ra bào vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Mỹ. Tuy nhiên bên phía Văn phòng đã có sự thay đổi
người thực hiện nhưng lại không hề báo trước cũng như không được sự chấp nhận của ông
6 />
Page 19 of 27
Hoa Thủy Tinh
Mỹ nên ông Mỹ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Khoản 2 Điều 517 và Khoản
2 Điều 428 BLDS 2015.
1.2.1.2.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý do việc tiếp tục thực hiện
công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 điều 520 BLDS 2015 quy định:
“ Điều 520. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
2. Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ
thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo
cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền
công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.”
Chúng ta có thể thấy rằng đối với hợp đồng dịch vụ pháp lý có bản chất chung của
hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
trong quan hệ cung ứng dịch vụ pháp lý. Pháp luật hợp đồng dịch vụ pháp lý ngoài việc
hướng đến việc tạo lập hành lang pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các chủ thể tham gia hợp
đồng thì bước đầu cũng đã xác lập được những quy định loại bỏ những hành vi không có lợi
cho các bên tham gia đó là cho phép bên sử dụng dịch vụ đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng.
Pháp luật cho phép bên sử dụng dịch vụ được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng nếu bên sử dụng dịch vụ thấy việc tiếp tục thực hiện công việc trong hợp đồng
không có lợi cho mình. Dường như việc cho rằng “việc tiếp tục thực hiện công việc không
có lợi cho bên sử dụng dịch vụ” thuộc về ý chí, nhận định chủ quan của bên sử dụng dịch vụ.
Nếu có tranh chấp xảy ra thì đương nhiên bên sử dụng dịch vụ phải có nghĩa vụ chứng minh
rằng “việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi” cho bên mình. Đồng thời, cũng có quy
định là bên sử dụng dịch vụ phải thông báo cho bên cung ứng dịch vụ về việc đơn phương
chấm dứt hợp đồng một thời gian hợp lý kèm theo trả phần thù lao mà bên cung ứng dịch vụ
đã bỏ ra. Trường hợp không kịp thời thông báo mà gây thiệt hại cho bên cung ứng dịch vụ
thì bên thuê dịch vụ phải bồi thường. Quy định này phù hợp với thực tế, nhằm tránh bớt khả
Page 20 of 27
Hoa Thủy Tinh
năng do bên thuê dịch vụ có thể tùy ý chấm dứt hợp đồng vào bất cứ lúc nào, nhưng đồng
thời cũng đảm bảo được quyền lợi của bên cung ứng dịch vụ. Vì dù việc tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo quan điểm của bên sử dụng dịch vụ là không có lợi
cho họ nhưng khi bên cung ứng thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên này cũng đã phải
chi trả những chi phí như hồ sơ, giấy tờ, sổ sách, phí đi lại…vv thì đương nhiên họ có quyền
được trả thù lao cho các công việc đó.
Tuy nhiên, việc thông báo cho bên cung ứng dịch vụ một “thời gian hợp lý” là bao
lâu? Pháp luật Việt Nam không quy định rõ là thời gian là bao lâu nhưng để hiểu khoảng thời
gian hợp lý là khoảng thời gian mà sau khi bên thuê dịch vụ thông bảo cho bên cung ứng
dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có đủ thời gian để sắp xếp và hoàn thiện công việc để chấm
dứt hợp đồng, đồng thời tránh khỏi những thiệt hại không đáng có cho bên cung ứng dịch vụ
trong quá trình cũng ứng dịch vụ. Như vậy, nếu pháp luật không quy định rõ thì trong khi hai
bên kí kết hợp đồng, cần có những quy định rõ ràng về thời hạn thông báo khi một bên có
quyết định đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhằm tránh xảy ra tranh chấp không
đáng có, hạn chế tổn thất cho bên cung ứng dịch vụ.
Ở đây, tôi có đặt ra một câu hỏi là: Nếu bên thuê dịch vụ không có lợi ích từ việc thuê
dịch vụ và còn phải trả thù lao cho bên cung ứng dịch vụ, vậy bên cung ứng dịch vụ có phải
chịu trách nhiệm gì hay không? Và nếu vẫn tiếp tục thực hiện việc không có lợi cho bên sử
dụng dịch vụ thì khi tranh chấp xảy ra, bên thuê dịch vụ hay bên cung ứng dịch vụ có nghĩa
vụ chứng minh việc không có lợi này? Cũng giống như đương sự trong vụ án dân sự, khi có
tranh chấp xảy ra, để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình thì người thuê dịch vụ
có nghĩa vụ chứng minh họ “không có lợi ích từ việc thuê dịch vụ”, còn người cung ứng
dịch vụ cũng có quyền chứng minh những yêu cầu phía người thuê dịch vụ là không đúng.
Trường hợp bên thuê dịch vụ đã chứng minh được họ “không có lợi ích từ việc thuê dịch vụ”
thì bên cung ứng dịch vụ phải chịu trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm mà bên cung ứng dịch
vụ phải chịu ở đây còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trước khi giao kết hợp đồng.
Ví dụ trong hợp đồng có điều khoản quy định bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành công
việc hiệu quả nhưng người thuê dịch vụ lại không nhận được lợi ích nào, nghĩa là bên cung
Page 21 of 27
Hoa Thủy Tinh
ứng đã có hành vi vi phạm hợp đồng, bên cung ứng phải trách nhiệm đối với phần thiệt hại
trên thực tế do hành vi của mình gây ra.
Ta cùng phân tích tình huống sau:
Ngày 10/01/2016 ông Minh ký kết hợp đồng với công ty luật Phương Nam, qua đó
công ty sẽ cử Luật sư Hải tham gia thương lượng, hòa giải và tham gia tố tụng, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho ông Minh trong vụ việc tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa công ty
TNHH Phương Nam và công ty TNHH thương mại dịch vụ Toàn Minh. Ngày 10/02/2016
ông Minh đã ứng trả trước mức thù lao cho công ty luật là 50 triệu đồng. Trong quá trình
tham gia tố tụng, ông Minh nhận thấy luật sư tranh tụng không thể nào giúp ông thắng trong
vụ kiện này nên ông Minh đã đơn phương chấm dứt hợp đồng với công ty luật Phương Nam
và đòi lại số tiền thù lao đã trả trước. Hành vi đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của
ông Minh có đúng quy định pháp luật không?
Nhận xét tình huống:
Ông Minh ký kết hợp đồng với công ty luật Phương Nam => đây là hợp đồng dịch vụ
pháp lý giữa ông Minh và công ty luât Phương Nam.
Theo quy định tại khoản 1 điều 520 Bộ luật dân sự 2015 thì ông Minh có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng dich vụ pháp lý giữa ông và công ty luật. Tuy nhiên với yêu cầu
nhận lại toàn bộ số tiền thù lao đã trả trước là không hợp lý. Vì công ty luật Phương Nam đã
cử luật sư Hải tham gia tranh tụng cho ông, tuy không đạt được kết quả nhưng trong quá
trình đó ông Hải cũng đã bỏ ra thời gian và công sức để tìm hiểu và thu thập những thông tin
cần thiết cho việc tranh tụng của ông Minh. Vậy nên, ông Hải phải được nhận phần tiền
công mà ông đã bỏ công sức ra.
1.2.1.3.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý theo thỏa thuận trong hợp
đồng
Page 22 of 27
Hoa Thủy Tinh
Ngoài hai trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy
định của pháp luật thì BLDS 2015 còn quy định các bên được quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng theo thỏa thuận của các bên. Cụ thể theo khoản 1 điều 428 BLDS 2015:
“Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi
thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có
thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Tức là trong hợp đồng được ký kết, các bên sẽ thỏa thuận thêm các điều khoản về các
trường hợp được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ngoài các trường hợp mà BLDS
đã quy định. Và khi xảy ra một trong các trường hợp đó thì một bên có quyền đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng.
Các trường hợp được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà các bên thỏa
thuận không được trái với quy định của pháp luật. BLDS cho phép các bên thỏa thuận các
trường hợp được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, bởi vì bản chất của hợp đồng
dân sự là sự thỏa thuận của các bên, là sự thống nhất ý chí của các bên về việc thực hiện
công việc trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, pháp luật đặt ra quy định cho phép một
bên được đơn phương chấm dứt hợp đồng căn cứ theo các trường hợp mà các bên đã thỏa
thuận trong hợp đồng là sự tôn trọng việc thỏa thuận, việc thống nhất ý chí của các bên.
Trên thực tế, khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, để bảo vệ quyền lợi cho nhau thì
các bên thỏa thuận thêm các điều khoản về trường hợp được đơn phương chấm dứt thực hiện
hợp đồng. Ví dụ như:
• Từ khi Hợp đồng này có hiệu lực pháp lý, Bên A không được giao dịch với bất kỳ bên thứ ba
nào (mà chưa có sự đồng ý chính thức bằng văn bản của Bên B) với mục đích yêu cầu bên
thứ ba đó can thiệp vào nội dung công việc mà Bên B đang thực hiện theo quy định của hợp
đồng này. Nếu vi phạm cam kết này, Bên B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đồng
thời yêu cầu Bên A bồi thường.7
7 />
Page 23 of 27
Hoa Thủy Tinh
• Bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng này nếu có bằng chứng chứng minh rằng
Bên B đã tiết lộ bí mật của Bên A cho người khác không do Bên A chỉ định và/ hoặc sử dụng
tài liệu của Bên A vào những việc khác mà không được Bên A đồng ý. 8
Khi đơn phương chấm dứt thực hợp đồng dịch vụ pháp lý theo trường hợp này thì căn
cứ theo khoản 2, khoản 3 điều 428 BLDS 2015, bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải
thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng giống như 2 trường hợp trên.
Ta cùng phân tích một tình huống sau:
Ông Dương Quá (bên A) ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng Luật sư Cổ Mộ
(bên B) để thuê luật sư tham gia một tranh chấp về bí mật kinh doanh tại TAND tỉnh Hồ
Cốc. Trong hợp đồng, hai bên có thỏa thuận: “Bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng này nếu có bằng chứng chứng minh rằng Bên B đã tiết lộ bí mật của Bên A cho người
khác không do Bên A chỉ định và/ hoặc sử dụng tài liệu của Bên A vào những việc khác mà
không được Bên A đồng ý.” Trong quá trình thực hiện, Luật sự được Văn phòng cử tham gia
vụ tranh chấp đã bán những tài liệu có liên quan đến bí mật kinh doanh của Dương Quá mà
không có sự cho phép của Dương Quá cho Doãn Chí Bình. Tuy nhiên, sự việc này bị đã bị
Dương Quá phát hiện. Vậy, Dương Quá có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ
pháp lý này không?
Nhận xét tình huống:
Trước hết, giữa Dương Quá và Văn phòng Luật sư Cổ mộ có quan hệ hợp đồng dân
sự, cụ thể là hợp đồng dịch vụ pháp lý. Căn cứ theo khoản 1 điều 428 BLDS 2015, Việc luật
sự được Văn phòng cử tham gia vụ tranh chấp đã bán những tài liệu có liên quan đến bí mật
kinh doanh của Dương Quá mà không có sự cho phép của Dương Quá đã vi phạm thỏa
thuận trong hợp đồng và thuộc trường hợp được phép đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý. Vì vậy, Dương Quá có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư Cổ mộ. Nếu việc bán những tài liệu có liên quan
8 />
Page 24 of 27
Hoa Thủy Tinh
đến bí mật kinh doanh của Dương Quá gây thiệt hại cho Dương Quá thì Văn phòng Luật sư
và luật sư đã bán những tài liệu đó phải bồi thường thiệt hại cho Dương Quá.
1.3.
Hậu quả pháp lý của hành vi đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ
pháp lý
Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện kể từ thời điểm bên kia nhận được
thông báo chấm dứt thực hiện hợp đồng. Như vậy, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng
đúng pháp luật sẽ làm hợp đồng chấm dứt hiệu lực kể từ khi bên đơn phương chấm dứt hợp
đồng gửi thông báo cho bên kia và bên kia nhận được thông báo. Việc chứng minh bên đơn
phương chấm dứt hợp đồng có gửi thông báo hay không nếu có xảy ra tranh chấp sẽ do bên
đơn phương chứng minh. Nếu như gửi qua bưu điện thì xác định là đã gửi thông báo cho bên
kia dựa trên dấu của bưu điện. Nghĩa vụ thông báo khi đơn phương chấm dứt hợp đồng
ngoài quy định theo khoản 2 điều 428 BLDS 2015 còn được quy định tại quy tắc 10.2 trong
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. Theo đó, luật sư phải thông báo cho khách
hàng một thời gian hợp lý để khách hàng có thể tìm luật sư khác thực hiện dịch vụ pháp lý
cho mình, đồng thời giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng dịch vụ
pháp lý đã ký kết với khách hàng.
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng nhằm giải phóng các bên khỏi những nghĩa vụ
trong tương lai, tức là giải phóng khỏi các nghĩa vụ còn lại trong hợp đồng sau khi hợp đồng
bị chấm dứt hiệu lực. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện
nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện. Bởi khi đang thực
hiện nghĩa vụ thì ít nhiều cũng đã tốn kém các chi phí nên việc quy định như vậy là cần thiết
nhằm bồi đắp cho bên đã thực hiện nghĩa vụ.
Ngoài ra, nếu bên đơn phương chấm dứt thực hợp đồng không thông báo mà gây thiệt
hại cho bên kia thì phải bồi thường. Việc bồi thường tuân theo nguyên tắc gây thiệt hại bao
nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu. Mặt khác, bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng
nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường. Việc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
không loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên gây thiệt hại. Bởi khoản 4 điều 428
Page 25 of 27