NỘI DUNG
Chương 1. PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG
ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Lý luận về lực lượng sản xuất và toàn cầu hóa
1.1.1. Lực lượng sản xuất
1.1.2. Toàn cầu hóa
1.2. Ảnh hưởng của toàn cầu hóa tới sự phát triển lực lượng sản xuất
1.2.1. Ảnh hưởng tới nguồn nhân lực
1.2.2. Ảnh hưởng tới tư liệu sản xuất
Chương 2 .THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở TỈNH NINH
BÌNH HIỆN NAY
2.1. Thực trạng lực lượng sản xuất
2.1.1. Thực trạng nguồn nhân lực
2.1.1.1. Về vấn đề trí lực
2.1.1.2. Về vấn đề thể lực
2.1.2. Tư liệu sản xuất
2.1.2.1. Công cụ lao động
2.1.2.2. Đối tượng lao động
2.2. Một số vấn đề nảy sinh
2.2.1. Năng lực trình độ của người lao động còn thiếu hụt so với yêu
cầu phát triển của lức lượng sản xuất toàn cầu hóa
2.2.2. Kết cấu hạ tầng xã hội còn lạc hậu cản trở sự phát triển kinh tế
toàn cầu hóa
2.2.3. Người lao động còn ảnh hượng dậm nét của tâm lý, tập quán sản
xuất nhỏ
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
3.1. Phát triển các nhân tố của của lực lượng sản xuất
3.2. Phát huy vai trò tích cực của toàn cầu hóa
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sự vận động và phát triển của xã hội
loài người, xét đến cùng, do sản xuất xã hội quyết định, trong đó lực lượng sản
xuất là yếu tố giữ vai trò tiên quyết. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội, mọi con đường, mọi biện pháp đều phải dẫn đến thúc đẩy sự phát triển của
lực lượng sản xuất.
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã
đạt được những thành tựu "rất to lớn và rất quan trọng", thế và lực của đất nước
đã đủ vững mạnh để chuyển sang một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm mục tiêu đến năm 2020 đưa
đất nước về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, từng bước hiện thực hóa lý
tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh như các
nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng đã đề ra.
Vào giai đoạn mới, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và
kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất của đất nước cần phải phát triển nhanh hơn
so với trước đây. Việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đồng thời từng
bước cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp trình độ phát triển mới của nó là
một yêu cầu tất yếu khách quan với những khó khăn và thách thức rất lớn.
Chúng ta đang chú trọng phát triển các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất như
nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật và công nghệ... nhằm tạo ra một chất lượng
mới cho lực lượng sản xuất, và trên thực tế, những năm gần đây, chúng ta đã thu
được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, sự phát triển lực lượng sản xuất của
cả nước nói chung và ở tỉnh Ninh Bình nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
của quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế.
Nhận thấy triết học cần phải quan tâm giải quyết nhiệm vụ thực tiễn và
lý luận quan trọng này, tôi chọn "Phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Ninh
Bình trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay " làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lực lượng sản xuất và vai trò của nó trong sự phát triển là một trong
những nội dung cơ bản và quan trọng của học thuyết C. Mác về hình thái kinh tế
- xã hội, nhưng cũng là nội dung chứa đựng nhiều vấn đề còn gây tranh cãi trong
hệ thống các tri thức về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Từ nhiều năm nay, lực lượng
sản xuất và quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực
lượng sản xuất đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau ở cả
trong và ngoài nước.
Ở Liên xô và một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhiều nhà khoa
học đã có những nghiên cứu khá sâu về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và
ứng dụng quy luật này vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều vấn đề
lý luận đã được giải quyết. Nhưng cũng còn nhiều vấn đề thực tiễn chưa có câu
trả lời, đặc biệt là từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa
lâm vào khủng hoảng và tan rã.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về lực lượng sản xuất trong sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta hết sức chú ý. Từ nhiều năm trước đây,
những bài học về sự cần thiết phải tôn trọng quy luật khách quan, về những sai
lầm do quá nhấn mạnh ý nghĩa mở đường của các quan hệ sản xuất, do sự tuyệt
đối hóa vai trò của công nghiệp nặng... đã được phân tích và rút kinh nghiệm.
Tuy vậy với các công trình ở những năm trước đây, vấn đề đặt ra và cách giải
quyết cũng có khác so với hiện nay, khi tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi
và đất nước ta đã bước vào một giai đoạn mới của sự phát triển.
Những năm gần đây, có một số cuốn sách, bài viết về chủ đề toàn cầu hóa,
tác động của toàn cầu hóa tới xã hội Việt Nam. Có thể nói đến một số tác phẩm:
Từng bước xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xă hội
chủ nghĩa ở Lạng Sơn (Luận án tiến sĩ, Nông Thị Mồng, 2000); Vấn đề phát
triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta (Luận án tiến sĩ, Vi Thái
Lang, 2002); Nghiên cứu nguồn lực con người trong quá tŕnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (Luận án tiến sĩ, Đoàn Văn Khái, 2000); Lê Xuân ĐĐ́ỉnh, Ưu tiên phát
triển lực lượng sản xuất, Tạp chí Cộng sản, số 5 (03/1999); Nguyễn Cảnh Hồ, có
phải khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, Tạp chí Triết học, số 2
(02/2002); Lê Văn Dương, vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong quá tŕnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,Tạp chí Triết
học, số 1 (01/2002); Mai Quốc Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999;
Những tác động của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở
nước ta hiện nay ( Luận án tiến sĩ, Nguyễn Đức Luận 2012) ...
Bên cạnh đó, có nhiều công trình và bài viết phân tích vấn đề lực lượng
sản xuất trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cần phải kể đến những tác giả với các bài
viết đáng chú ý sau: Phạm Quốc Trụ, Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam những năm qua và triển vọng những năm tới, Tạp chí Nghiên cứu
quốc tế số 1 (80) tháng 3/2010 ) ; Bộ Ngoại giao, Việt Nam hội nhập kinh tế
trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2002; Bùi Thanh Quất. Toàn cầu hóa – một cách tiếp cận mới//Tạp
chí Cộng sản, 2003. – Số 27. - tr. 11-14; Toàn cầu hoá dưới những góc nhìn
khác nhau: Tiếng nói bè bạn. Học viện Chính trị Quốc gia, 2005. - tr.190; Tác
động
của
toàn
cầu
hoá
đến
Việt
Nam/Tạp
chí
Cộng
sản.
- ; Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Kinh tế và
Chính trị thế giới: Toàn cầu hóa, chuyển đổi và phát triển tiếp cận đa chiều, Nxb
Thế giới, 2005.....
Các công trình này tập trung bàn đến vấn đề lý luận và những đánh giá kết quả
của quá trình hội nhập song chưa đi vào nghiên cứu những yếu tố của lực lượng
sản xuất ở những địa phương cụ thể. Bởi vậy, việc làm rõ và góp phần giải quyết
những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Ninh Bình
nói riêng và cả nước nói chung trên thực tế, vẫn còn rất nhiều nội dung cần
phải bổ sung và nghiên cứu sâu hơn.
Luận văn của tôi cố gắng tiếp thu kết quả đã đạt được của những công
trình vừa nêu, nhằm tổng kết, đánh giá sự tác động của quá trình toàn cầu hóa đế
sự phát triển của các yếu tố của lực lượng sản xuất ở Ninh Bình; trên cơ sở đó
làm rõ những vấn đề đang đặt ra, tìm hướng giải quyết, đồng thời khuyến nghị
một số giải pháp có tính định hướng để thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản
xuất ở tỉnh Ninh Bình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Phân tích tác động của toàn cầu hóa tới sự phát triển lực lượng sản xuất
nói chung và lực lượng sản xuất Ninh Bình nói riêng. Đánh giá thực trạng lực
lượng sản xuất của tỉnh Ninh Bình. Chỉ ra những vấn đề đang nảy sinh từ sự vận
động và phát triển của lực lượng sản xuất ở tỉnh. Đề xuất một số giải pháp thúc
đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh nhằm đáp ứng những yêu cầu của quá
trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu hiện nay.
- Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai
trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội.
- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về toàn cầu hóa và tác động của
toàn cầu hóa tới sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta.
- Phân tích tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình. Làm rõ thực trạng,
và một số vấn đề nảy sinh của lực lượng sản xuất trong quá trình toàn cầu hóa ở
tỉnh.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển lực
lượng sản xuất, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội ở tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới sự tác động của toàn cầu hóa.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu tác động của quá trình toàn cầu hóa với
sự phát triển của lực lượng sản xuất ở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2008 đến
nay.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu và trình bày của luận văn dựa trên các nguyên tắc
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những
quan điểm của Đảng ta, đặc biệt là những quan điểm Mác - Lênin về lý luận
hình thái kinh tế - xã hội. Luận văn có kế thừa, tiếp thu những thành quả của các
công trình nghiên cứu khoa học đi trước như các bài viết, các luận văn và các tư
liệu điều tra khảo sát...
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, so
sánh, thống kê...; luận văn chú ý đặc biệt đến quan điểm thực tiễn là tiêu chuẩn
của chân lý và quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
nghiên cứu cũng như trong trình bày.
6. Cái mới của luận văn
- Thông qua phân tích thực trạng của lực lượng sản xuất ở tỉnh Ninh
Bình, chỉ ra những tác động của quá trình toàn cầu hóa đối với lực lượng sản
xuất ở tỉnh
- Nêu một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất ở tỉnh Ninh Bình trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
7. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần củng cố nhận thức lý luận về học thuyết hình thái
kinh tế - xã hội, về vai trò của các nhân tố của lực lượng sản xuất đối với sự phát
triển xã hội, nhất là đối với tỉnh Ninh Bình. Luận văn có thể dùng làm tài liệu
tham khảo phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy lý luận Mác- Lênin
ở các trường Đại học, Cao đẳng và các trường Đảng, đặc biệt là các trường trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình. Luận văn có thể sử dụng vào việc nghiên cứu và xây
dựng những cơ chế, chính sách cho phù hợp với những tác động của toàn cầu
hóa đến lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cũng như ở tỉnh
Ninh Bình.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
3 chương 6 tiết.
NỘI DUNG
Chương 1. PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG
ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Lý luận về lực lượng sản xuất và toàn cầu hoá
Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành lao động sản xuất vật
chất. Muốn hoạt động đó của con người được tiến hành bình thường, cần phải có
một số điều kiện nhất định như: môi trường địa lý, điều kiện dân số, phương
thức sản xuất. Các yếu tố kể trên đều có sự tác động qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động sản xuất vật chất nói chung; nhưng trong đó phương thức
sản xuất là yếu tố cơ bản và có ý nghĩa quyết định nhất.
Phương thức sản xuất là cách thức làm ra của cải vật chất của con người
trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Trong đó bao gồm các yếu tố như: quan
hệ sản xuất (là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) và lực
lượng sản xuất (quan hệ giữa con người với tự nhiên và là sự biểu hiện của mối
quan hệ phức tạp đó trong quá trình sản xuất). Mặc dù quan hệ sản xuất là tiêu
chuẩn giúp chúng ta phân biệt được những chế độ xã hội khác nhau của lịch sử,
phân biệt hình thái kinh tế - xã hội này với hình thái kinh tế - xã hội khác, song
xét đến cùng, trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết
định hơn cả. C.Mác đã từng nói: "Chúng ta không cần phải xét người lao động
trong mối quan hệ với người lao động khác. Một bên là con người và lao động
của con người, bên kia là tự nhiên và vật liệu của tự nhiên,- thế là đủ" [64, tr.
276]. Vậy, lực lượng sản xuất là gì? Các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử
đánh giá, xem xét như thế nào?
1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất và kết cấu của nó
1.1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất
Trong nghiên cứu sự vận động, phát triển của xã hội loài người, điểm cơ
bản làm cho C. Mác thành công và trở thành khác về chất so với các nhà triết
học trước C. Mác là ở chỗ, ông đã vận dụng phép biện chứng duy vật để giải
quyết những vấn đề của lịch sử. Cụ thể hơn, ông đã xuất phát từ những "sự thật
giản đơn" trong đời sống vật chất của con người và xã hội để giải thích các hiện
tượng của đời sống xã hội. Ph. Ăngghen đã nhận xét: "Cái sự thật hiển nhiên... là
trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước
khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính
trị, tôn giáo, triết học..." [62, tr. 166]. Nhờ đó mà C.Mác đã phát hiện hàng loạt
các quy luật của lịch sử, đó là các quy luật: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã
hội, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, quy luật quan hệ sản xuất
phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, v.v... Trong đó quy luật quan
hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản
nhất, nó chi phối mọi quy luật khác của xã hội, bởi vì mỗi con người, mặc dù có
những mục đích riêng và đều cố gắng theo đuổi những mục đích đó bằng nhiều
cách khác nhau, song những mục đích này không nằm ngoài nhu cầu ăn, mặc, ở
và các nhu cầu khác của chính con người. Về cơ bản, các hoạt động của con
người đều do những nhu cầu đó thúc đẩy, và con người phụ thuộc vào mức độ
đáp ứng những nhu cầu đó, nói cách khác là phụ thuộc vào hoạt động sản xuất
vật chất và các quy luật của nó.
Khi bàn về hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác, Ph.Ăngghen cũng như
V.I.Lênin không dành nhiều công sức cho việc định nghĩa các khái niệm lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà các ông sử dụng và trình bày các khái
niệm này thông qua phân tích nội dung của quy luật quan hệ sản xuất phải phù
hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và các hình thức biểu hiện của nó trong
những chế độ xã hội khác nhau. Tuy nhiên, qua việc các nhà kinh điển sử dụng
những khái niệm này, phần nào chúng ta đã có thể hiểu nội dung, cấu trúc của
các khái niệm đó. Với khái niệm "lực lượng sản xuất", theo tư tưởng các nhà
kinh điển, có thể hiểu những nội dung cơ bản của nó như sau:
Lực lượng sản xuất là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phản ánh
một hiện tượng xã hội tồn tại, tác động, vận động trong mọi giai đoạn lịch sử
của xã hội loài người. Khái niệm này dùng để chỉ quan hệ giữa con người với tự
nhiên và là sự biểu hiện của mối quan hệ phức tạp đó trong quá trình sản xuất.
Thuật ngữ "lực lượng sản xuất" lần đầu tiên được C.Mác và Ph.Ăngghen sử
dụng trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức". Mặc dù chưa được trình bày hoàn
chỉnh như là một thành tố cơ bản của quy luật về lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, nhưng tất cả những nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đều đã được nêu một cách khái quát
trong tác phẩm này. Sau này nội dung của quy luật trên đã được làm sáng tỏ và
phát triển thêm trong các tác phẩm như: "Sự khốn cùng của triết học", "Lao
động làm thuê và tư bản", "Tiền công giá cả và lợi nhuận", và đặc biệt là trong
bộ "Tư bản". Thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất, các yếu tố của lực lượng sản xuất, vai trò của lực lượng sản
xuất trong hệ thống sản xuất vật chất của xã hội... các nhà kinh điển đã giúp
chúng ta có cơ sở khoa học để hiểu đúng nội dung của khái niệm "lực lượng sản
xuất".
Qua ý kiến của các nhà kinh điển, chúng ta có thể hiểu rằng: muốn chinh
phục được tự nhiên, con người phải sử dụng tổng hợp những sức mạnh vật chất
và tinh thần có thể có, trong đó bao gồm cả sức mạnh cơ bắp, trí tuệ và những
tác nhân khác tác động lên tự nhiên, làm cho tự nhiên biến đổi ở một mức độ
nhất định. Cho nên, "lực lượng sản xuất" trước hết phải là một "lực lượng vật
chất". Lực lượng vật chất này nảy sinh và phát triển do con người và xã hội
chinh phục tự nhiên, vì những mục đích, nhu cầu của con người. Những sản
phẩm mà con người cần có để phục vụ cho nhu cầu của mình, thông thường
không sẵn có như là sản phẩm có thể đáp ứng ngay những nhu cầu của con
người, mà nó nằm trong tự nhiên; thậm chí một phần đáng kể còn tiềm ẩn trong
tự nhiên. Muốn có nó, con người và xã hội loài người phải tác động đến tự
nhiên, can thiệp vào tự nhiên, làm biến đổi giới tự nhiên. Vì vậy, lực lượng sản
xuất là biểu hiện của mối quan hệ qua lại giữa con người với tự nhiên. Nhưng
trong mối quan hệ này, chỉ có quan hệ vật chất giữa con người với tự nhiên mới
là biểu hiện trực tiếp của lực lượng sản xuất; còn các quan hệ khác của con
người với tự nhiên như quan hệ thích nghi, quan hệ nhận thức, quan hệ thẩm
mỹ, v.v... không trực tiếp tạo ra của cải vật chất phục vụ cho những nhu cầu của
con người, do đó không thể coi đó là biểu hiện trực tiếp của lực lượng sản xuất.
Con người đã tạo ra những yếu tố của lực lượng sản xuất, trong đó có
những bộ phận đã sẵn có trong tự nhiên, cũng có những bộ phận con người phải cải
tạo nhiều lần, qua nhiều thế hệ, khi đó vật liệu tự nhiên mới trở thành các yếu tố
của lực lượng sản xuất. Tức là cùng với vật liệu tự nhiên, trong lực lượng sản xuất
còn có sự đóng góp sức lực "vật chất" của con người. Như vậy, lực lượng sản xuất
là sản phẩm của các hoạt động vật chất của con người được tổng hợp, gom góp,
phát triển có kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như C. Mác đã viết: "Mỗi thế
hệ sau có được những lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra, và những lực
lượng sản xuất ấy là nguyên liệu cho thế hệ sau ấy để thực hiện một hoạt động
sản xuất mới,- nhờ hiện tượng ấy mà hình thành nên mối liên hệ trong lịch sử
loài người" [65, tr. 657-658].
Qua đó, có thể hiểu khái niệm lực lượng sản xuất được các nhà kinh điển
sử dụng với những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất: Lực lượng sản xuất là biểu hiện của mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, đó là một hệ thống lực lượng vật chất do con người và xã
hội loài người tạo ra để cải tạo, chinh phục tự nhiên. Hệ thống lực lượng vật chất
này đồng thời biểu hiện luôn cả sức mạnh, năng lực chinh phục tự nhiên của con
người.
Thứ hai: Lực lượng sản xuất là một thể thống nhất bao gồm yếu tố người
và các yếu tố vật, trong đó con người là yếu tố đặc biệt. Bởi vì, con người là chủ
thể sáng tạo, chế tạo ra những công cụ, các phương tiện bổ trợ cho các khí quan
của mình, tác động đến khách thể - đối tượng lao động để tạo ra những vật phẩm
đáp ứng những nhu cầu của bản thân và của xã hội. Trong quá trình đó, con
người đồng thời tự cải tạo bản thân mình cả về sinh thể và trí tuệ. Ngày nay, yếu
tố trí tuệ đang ngày càng trở nên chiếm ưu thế và được coi là lực lượng sản xuất
trực tiếp.
Thứ ba: Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong
phương thức sản xuất, nó thường xuyên vận động và phát triển; nó quyết định sự
vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Thông qua việc các nhà kinh điển sử dụng khái niệm lực lượng sản xuất,
đã có khá nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về lực lượng sản
xuất. Trong số đó, theo chúng tôi, định nghĩa sau đây phản ánh tương đối đầy đủ
nội hàm và ngoại diên của khái niệm lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất (trước
hết là công cụ lao động) và những người sử dụng những tư liệu này để sản xuất
ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất chủ yếu là những con người có thói quen,
kinh nghiệm, tri thức và trình độ chuyên môn nắm được kỹ thuật, sử dụng được
công cụ để tiến hành sản xuất [104, tr. 281-282].
Mặc dù vậy, trong định nghĩa này cũng còn nhiều vấn đề phải tranh luận.
Trong nội dung của định nghĩa chưa đặt ra một cách đầy đủ các yếu tố của lực
lượng sản xuất và giới hạn nội dung của các yếu tố đó, nhất là trong tình hình
hiện nay, khoa học - công nghệ ngày càng có vai trò lớn hơn trong lực lượng sản
xuất, hàm lượng trí tuệ ngày càng chiếm ưu thế trong tổng chi phí của một sản
phẩm và được coi là một yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, định nghĩa
chưa đặt nó thành vấn đề cơ bản trong cấu trúc của nó. Mặt khác, trong định
nghĩa trên cũng chưa phản ánh được tính kế thừa, tính liên tục, tính cách mạng
trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho người đọc khó có thể
hình dung ra toàn bộ nội dung sinh động của nó.
1.1.1.2. Kết cấu của lực luợng sản xuất
Lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố sau đây:
1.1.1.2.1. Người lao động
Người lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất của lực lượng sản xuất. V.I
Lênin đã từng viết: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là người
công nhân, là người lao động" [52, tr. 430]. Con người là chủ thể tích cực, sáng
tạo và quyết định hoạt động tác động đến tự nhiên. Trong hoạt động sản xuất,
con người không tác động một cách đơn giản, chỉ bằng sức mạnh cơ bắp của
mình đến tự nhiên, mà con người với trí tuệ là chủ đạo, biết vận dụng tri thức
khoa học - kỹ thuật, chuyên môn, kỹ xảo, v.v... còn biết tạo ra những công cụ bổ
trợ cho các khí quan của mình, và sử dụng những công cụ đó làm cho tự nhiên
thay đổi theo mục đích, yêu cầu có sẵn hình ảnh trong tư duy từ trước đó. Do đó,
trong lực lượng sản xuất, con người phải là một yếu tố đặc biệt và được xem xét
ở những mặt cơ bản như sức lao động, bao gồm cả sức cơ bắp và sức thần kinh
(trí tuệ) tham gia vào quá trình lao động. Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã và đang đòi hỏi con người sử dụng sức mạnh thần kinh - trí tuệ
ngày một nhiều hơn. Sức mạnh thần kinh - trí tuệ của con người là một loại
nguồn lực đặc biệt. A.Toffler trong tác phẩm "Thăng trầm quyền lực" đã cho
rằng, mọi nguồn lực khác của thiên nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, còn
"tri thức có tính lấy không bao giờ hết". Để tiến hành lao động được, đòi hỏi
người lao động phải có một mức độ hiểu biết nhất định về thế giới xung quanh,
nhất là những hiểu biết về những khách thể mà mình sẽ trực tiếp tác động đến
nó. Nếu những hiểu biết đó càng sâu sắc, càng có tính khái quát cao thì càng tạo
điều kiện cho hoạt động sản xuất phát triển, bởi vì nhờ đó quá trình khai thác,
tác động đến khách thể sẽ đơn giản nhất, đem lại hiệu quả cao nhất và ít lãng phí
nhất. Trên thực tế, trình độ hiểu biết (tri thức) của người lao động đóng vai trò
quyết định trong chất lượng của người lao động. Đương nhiên là những hiểu biết
- thế giới quan đó phải là đúng đắn và khoa học. Người lao động còn có kỹ
năng, kinh nghiệm lao động, dù là lao động đơn giản đến đâu chăng nữa, thì
người lao động trước hết phải học những thao tác, rèn luyện những thao tác đó
thành thục ở một mức độ nhất định; sau đó mới có thể tiến hành hoạt động lao
động được, lao động càng phức tạp thì quá trình rèn luyện các thao tác đó càng
đòi hỏi công phu và lâu dài hơn. Ngày nay, công nghệ cao được ứng dụng vào
các hoạt động sản xuất, các thao tác của người lao động ngày càng giản đơn hơn,
nhưng người lao động lại cần được tăng cường tri thức về khoa học - công nghệ.
1.1.1.2.2 Tư liệu sản xuất
Cùng với người lao động, tư liệu sản xuất là một trong những mặt cơ bản
của lực lượng sản xuất. Theo C.Mác, tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và
đối tượng lao động. Ông viết: "Nếu đứng về mặt kết quả của nó, tức là đứng về
mặt sản phẩm mà xét toàn bộ quá trình, thì cả tư liệu lao động lẫn đối tượng lao
động đều biểu hiện ra là tư liệu sản xuất" [64, tr. 271]. Trong những yếu tố của
tư liệu sản xuất, tư liệu lao động - được hiểu là những công cụ lao động, đó là
một trong những yếu tố thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người, thể
hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thông qua nó, sức mạnh của con
người trước tự nhiên được tăng lên nhiều lần. C.Mác chỉ rõ: "Một vật do bản
thân thiên nhiên cung cấp đã trở thành một khí quan của sự hoạt động của con
người, khí quan mà con người đem chắp thêm vào những khí quan của cơ thể
mình, và do đó mà kéo dài cái tầm thước tự nhiên của cơ thể đó" [64, tr. 268].
Rõ ràng, công cụ lao động là những vật thể hay những phức hợp vật thể
do con người và xã hội tạo ra để "đặt" giữa con người và đối tượng lao động.
Chúng có vai trò truyền dẫn sức lực và trí tuệ của con người đến đối tượng lao
động, cải biến những vật liệu tự nhiên thành những vật phẩm theo mục đích, yêu
cầu có trước của một quy trình sản xuất cụ thể nào đó. Tùy thuộc vào loại công
cụ và trình độ kỹ thuật của nó mà con người có thể bằng những bộ phận khí quan
nào của cơ thể mình để sử dụng nó. Đương nhiên, trong quá trình sử dụng, con
người điều khiển công cụ lao động phải có sự tham gia của trí tuệ, của tư duy để
đảm bảo cho những thao tác chính xác, phù hợp với công cụ lao động và tác
động đến đối tượng lao động theo một nhịp độ, một trình tự khách quan. Có
những công cụ lao động có kết cấu đơn giản như: công cụ thô sơ, công cụ thủ
công; có những công cụ phức tạp, tinh xảo như máy móc cơ khí, máy móc bán tự
động hoặc tự động, v.v... Trình độ phát triển của công cụ lao động chỉ rõ trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, mức độ tinh xảo của công cụ lao động giúp
chúng ta phân biệt được lực lượng sản xuất đó ở nền văn minh nào, ở giai đoạn
lịch sử nào. Nếu công cụ lao động càng tinh xảo, nó càng truyền dẫn được nhiều
sức lực của con người tác động đến đối tượng lao động thì năng suất lao động
càng cao. Vì thế có thể gọi công cụ lao động là "hệ thống xương cốt" của nền
sản xuất xã hội. Hiện nay, khoa học - công nghệ đã đặc biệt quan tâm rất sâu và
rất rộng vào các yếu tố cụ thể của công cụ lao động, nên nhiều khi người ta đã
sử dụng khái niệm công nghệ sản xuất để thay thế cho khái niệm công cụ lao
động. Nhưng trong thực tế khái niệm công nghệ sản xuất còn chứa đựng nội
dung rộng lớn hơn khái niệm công cụ lao động, bởi khái niệm đó còn được hiểu
bao gồm cả các quá trình tổ chức và quản lý sản xuất.
Con người thường xuyên tìm cách làm giảm chi phí sức lao động của mình
nhưng lại muốn sản xuất ra ngày càng nhiều những vật phẩm cần thiết, vì vậy, con
người đã liên tục cải tiến những công cụ hiện tại đang được sử dụng để nó ngày
một tinh xảo và hiện đại, phù hợp với những thao tác, yêu cầu mà con người đặt
ra, đó là các quá trình thay đổi công nghệ sản xuất, làm cho công cụ lao động trở
nên yếu tố động nhất, cách mạng nhất, và xét đến cùng mọi sự biến đổi của các
yếu tố khác trong sản xuất và trong đời sống xã hội đều chịu ảnh hưởng của sự
thay đổi này của công cụ lao động.
Cùng với công cụ lao động, trong tư liệu sản xuất còn yếu tố đối tượng
lao động là một trong những nội dung của lực lượng sản xuất đang đặt ra nhiều
vấn đề trong tình hình hiện nay.
Trong lực lượng sản xuất, nếu yếu tố con người là chủ thể sáng
tạo, là yếu tố đặc biệt bởi con người có ý thức, và thông qua ý thức điều khiển
mọi hoạt động - là một đặc điểm khác về chất so với mọi yếu tố
khác, thì đối tượng lao động là khách thể, là mặt đối lập cũng là yếu tố có vai trò
quan trọng. Khi bàn về vai trò của đối tượng lao động, C.Mác nói: "Công nhân
không thể sáng tạo ra cái gì hết nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế
giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu trong đó lao động của anh ta được thực
hiện, trong đó lao động của anh ta được triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động
của anh ta sản xuất ra sản phẩm" [67, tr.130].
Đối tượng lao động trước hết là những dạng vật chất có sẵn trong tự
nhiên, kể cả trên mặt và trong lòng đất, dưới đại dương và trong khí quyển như
đất đai, sông, biển, rừng núi, động thực vật, tài nguyên khoáng sản, v.v... Tuy
nhiên, không phải tất cả mọi dạng vật chất trong tự nhiên đều là đối tượng lao
động, chỉ có những dạng vật chất nào có khả năng tạo thành những vật phẩm theo
những mục đích, yêu cầu và đáp ứng được những nhu cầu nào đó của con người,
đã và đang được con người tác động, cải tạo, khai thác chúng thì dạng vật chất tự
nhiên đó mới là đối tượng của lao động xã hội. Chẳng hạn, những loại vật liệu,
khoáng sản như than đá, dầu mỏ, v.v... khi con người chưa biết sử dụng nó để
phục vụ đời sống và sản xuất, thì khi đó bản thân các yếu tố đó chưa trở thành
đối tượng lao động của xã hội loài người. Trình độ khoa học - công nghệ càng
cao, sản xuất - xã hội càng phát triển, thì khả năng cải tạo tự nhiên của con
người ngày càng cao, khi đó càng nhiều những dạng vật chất trong tự nhiên trở
thành đối tượng lao động hơn.
Đối tượng lao động rất phong phú, đa dạng và có nhiều cấp độ khác
nhau. Trong quá trình sản xuất, có những vật phẩm trong tự nhiên con người chỉ
việc khai thác mang về là có thể đáp ứng ngay được những nhu cầu nào đó của
mình, cũng có những loại vật phẩm lại phải qua nhiều lần cải tạo, nhiều khâu
trung gian, mới trở thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Khi nền sản
xuất xã hội càng phát triển, khoa học - công nghệ càng cao, thì loại đối tượng
phải cải tạo nhiều lần càng được mở rộng, điều này là do nhu cầu ngày càng cao
của con người quy định.
Chúng ta đã biết rằng, trong sản xuất con người thường xuyên tự cải tạo
mình về mọi mặt, cũng như liên tục cải tiến công cụ lao động, để ngày càng làm
ra nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của con người
và xã hội. Ngược lại, nhu cầu của xã hội cũng tác động làm cho sản xuất ngày
càng phát triển, kéo theo các lĩnh vực phục vụ cho hoạt động sản xuất cũng phát
triển theo. Đặc biệt là sự phát triển của công cụ lao động và việc ứng dụng các
thành tựu của khoa học để cải tiến, sáng chế, phát minh những công cụ lao động
đó, đã làm cho con người ngày càng có vai trò to lớn, càng có sức mạnh ghê
gớm trước tự nhiên. Sức mạnh của con người phát triển ở cả chiều sâu lẫn chiều
rộng trong việc tác động, khai thác đối tượng lao động. Vì thế mà hiện nay, vấn
đề đối tượng lao động cần phải được xem xét và quan tâm đặc biệt, để tránh
những hiểm họa do chính sự phát triển của nó gây ra như tài nguyên cạn kiệt,
môi trường suy thoái và ô nhiễm... làm cho sự sống của con người đang bị đe
dọa
Hoạt động lao động, nói theo C.Mác, là sự trao đổi chất giữa con người
với tự nhiên, con người phải kiểm tra và điều tiết một cách hợp lý các hoạt động
ấy, nhưng phần lớn con người mới chỉ quan tâm phần nhiều đến việc khai thác
tự nhiên, lấy ở tự nhiên là chính, ít khi trả lại cho tự nhiên những gì con người
đã lấy. Đó là những những sai lầm nghiêm trọng, phải trả giá đắt của con người,
chính các nhà kinh điển sáng lập ra phép biện chứng duy vật đã cảnh báo từ lâu:
Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm
lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài tự nhiên, mà
trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là
thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống
trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh
vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng
được những quy luật đó một cách chính xác [63, tr. 655].
Trong những đối tượng lao động mà con người tác động, khai thác, có
những yếu tố có khả năng phục hồi trở lại, cũng có những yếu tố không thể hồi
phục được bởi quá trình sinh thành nó phải trải qua một thời kỳ thiên tạo rất lâu
dài so với lịch sử của xã hội con người. Do đó, hiện nay vấn đề cạn kiệt tài
nguyên, cạn kiệt năng lượng, ô nhiễm môi trường, bệnh tật, v.v... đã trở thành
vấn đề toàn cầu, thách thức toàn nhân loại, bắt buộc mọi quốc gia, mọi dân tộc,
mọi khu vực phải xem xét lại những vấn đề thuộc về đối tượng lao động của
mình.
Trong tư liệu sản xuất, ngoài các yếu tố công cụ lao động và đối tượng
lao động, còn cần phải có rất nhiều các điều kiện, phương tiện khác hỗ trợ cho
hoạt động sản xuất như đường sá, các phương tiện vận chuyển, bến bãi, nhà kho,
thông tin phối hợp sản xuất, v.v... Mặc dù những yếu tố này không trực tiếp làm
ra sản phẩm, nhưng có những ảnh hưởng lớn đến sản xuất, sản xuất càng phát
triển đòi hỏi những điều kiện và phương tiện phục vụ sản xuất càng phải phát
triển theo. Đặc biệt, trong sản xuất hàng hóa nếu như không chú ý thỏa đáng đến
những điều kiện đó, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất xã hội vì
những yếu tố này góp phần làm tăng hay giảm các chi phí giao dịch, chi phí cho
vận chuyển nguyên vật liệu, bảo quản các sản phẩm, đó là những chi phí cũng
được lấy ra từ giá trị của sản phẩm. Đối với những vùng còn lạc hậu, càng cần
phát triển các điều kiện và phương tiện này nhiều hơn, bởi vì nó còn góp phần
lôi kéo đầu tư, lưu thông các yếu tố phục vụ sản xuất.
1.1.1.2.3. Khoa học - công nghệ
Khoa học - công nghệ là tri thức của nhân loại, ở một phạm vi nhất định
nào đó nó được xem như một yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội,
nhưng ngày nay người ta đã thừa nhận khoa học - công nghệ là một nhân tố đặc
biệt của lực lượng sản xuất, nhân tố này chỉ thực sự phát huy được vai trò của nó
khi được kết hợp với con người và các yếu tố của tư liệu lao động. Do khoa học
- công nghệ đang ngày càng có vai trò to lớn trong các yếu tố của lực lượng sản
xuất, cho nên chúng tôi xét riêng nó như một yếu tố tương đối độc lập để một
mặt đánh giá đúng vai trò to lớn khoa học - công nghệ, tránh những tư tưởng quá
coi thường hoặc quá đề cao vai trò của nó dẫn đến làm lu mờ các yếu tố khác
trong cấu trúc của lực lượng sản xuất; mặt khác qua đó có điều kiện để xét đến
những yếu tố bên ngoài lực lượng sản xuất đang tác động mạnh mẽ đến sự phát
triển của lực lượng sản xuất, mà sự tác động đó cũng là nhờ có sự xâm nhập của
khoa học - công nghệ.
Khoa học - công nghệ được ra đời trên cơ sở nhu cầu và mục đích của
đời sống thực tiễn xã hội, chính thực tiễn là động lực thúc đẩy nó phát triển.
Khoa học – công nghệ bao gồm toàn bộ các quá trình phản ánh đúng đắn hiện
thực khách quan và các quá trình cải tạo thế giới khách quan đó. Về tổng thể, có
thể coi khoa học - công nghệ là một hệ thống những tri thức căn bản phản ánh
đúng đắn hiện thực khách quan và những tri thức về các giải pháp hành động để
cải tạo hiện thực đã được thực tiễn kiểm nghiệm; được ứng dụng nhanh chóng
vào quá trình sản xuất vật chất. Như vậy, khoa học - công nghệ có nội dung khá
phong phú, trong đó bao hàm các nhân tố thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống
xã hội và cả các nhân tố vật chất và cải tạo thế giới vật chất. Công nghệ hiện đại
là kết quả của sự kết hợp khoa học và kỹ thuật với hoạt động của con người, là
tập hợp những công cụ, phương tiện một cách hợp lý, có hiệu quả cao nhằm biến
các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành những vật phẩm hay hàng hóa. Công
nghệ còn là kỹ năng chế tạo, sử dụng những công cụ lao động, trình độ tổ chức,
quản lý sản xuất và mua, bán sản phẩm, v.v... Nhờ những thành tựu của khoa
học - công nghệ mà sản xuất xã hội có những thay đổi to lớn, nó không chỉ là sự
thay đổi, phát triển trong kỹ thuật sản xuất mà còn đưa đến những công nghệ
mới, những ngành sản xuất mới, phát hiện và đề ra nhiều phương pháp mới
trong sản xuất; nhất là những phát hiện về nguồn nguyên liệu và nguồn năng
lượng mới, nó đã làm cho hoạt động sản xuất của xã hội phát triển với một tốc
độ chưa từng có, đáp ứng nhanh chóng tất cả các nhu cầu của con người. Hơn
nữa, nhờ có những thành quả của khoa học - công nghệ, chức năng của người
sản xuất đã thay đổi, con người ngày càng ít phải tham gia vào các hoạt động
sản xuất vật chất mà chủ yếu là điều khiển, nghiên cứu các quá trình sản xuất đó.
Trước sức mạnh và hiệu quả kỳ diệu của nó làm cho nhiều người lầm tưởng rằng
với khoa học - công nghệ thì có thể thay thế tất cả, nhưng cần hiểu rằng bản thân
khoa học - công nghệ không thể tách khỏi con người, chúng chỉ biểu hiện được
sức mạnh của nó thông qua công cụ lao động và thông qua hoạt động thực tiễn
của con người. Mọi lý lẽ khác, muốn dựa vào khoa học - công nghệ để giải
thích, để lảng tránh một nội dung nào khác, hay muốn thay thế vai trò to lớn của
con người trong sản xuất... đều không có cơ sở tồn tại.
Nhân loại đã từng chứng kiến nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất vật
chất do những cuộc cách mạng về khoa học - công nghệ đem lại. Càng về sau,
khoa học càng đem lại cho con người những đổi thay mạnh mẽ và sâu sắc. Cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ ngày nay, vừa phát triển mạnh về chiều sâu,
vừa mở rộng ra nhiều lĩnh vực và đang được đặc biệt quan tâm ở ba mũi nhọn
cơ bản là:
Thứ nhất: Công nghệ điện tử, tin học và viễn thông. Bằng kỹ thuật số và
ứng dụng rộng rãi tin học vào đời sống và sản xuất: từ tổ chức, quản lý, điều
hành cho đến mua bán các sản phẩm, tạo mẫu mã, v.v... Quá trình sản xuất vật
chất và hoạt động của con người đã ngày càng tự động hóa cao, trong đời sống xã hội đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới như: nền kinh tế ảo, thị trường ảo hoặc
kinh tế mạng, kinh tế tri thức... Sự toàn cầu hóa thông tin và thị trường kinh tế
làm cho thế giới dường như trở nên nhỏ bé hơn đối với con người. Điều đó cho
phép những quốc gia chậm phát triển có cơ hội tránh được các bước phát triển
tuần tự không cần thiết trong lịch sử để đi tắt, đón đầu tạo ra sự phát triển mới
của mình. Nhưng đó cũng chính là rào cản lớn nhất, làm giãn khoảng cách phát
triển giữa các nước phát triển cao với các nước đang phát triển và các nước
chậm phát triển nếu như không có các chiến lược phát triển đúng đắn, không có
các chính sách và biện pháp đi tắt đón đầu một cách phù hợp.
Thứ hai: Công nghệ vật liệu, năng lượng mới. Nhờ các thành tựu của
khoa học - công nghệ, hàng loạt các loại vật liệu mới ra đời như: vật liệu cách
điện cao cấp, vật liệu siêu dẫn, siêu bền, siêu cứng, siêu nhẹ,... và các dạng năng
lượng mới như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió,...
cũng đã được khai thác theo công nghệ mới, giúp con người làm tăng giá trị các
vật liệu tự nhiên lên nhiều lần, thay thế được nhiều vật liệu gây ô nhiễm môi
trường và khan hiếm mà trước đây con người quen sử dụng.
Thứ ba: Công nghệ sinh học. Chỉ vài thập kỷ gần đây, công nghệ sinh
học đã chứng tỏ sức mạnh kỳ diệu của mình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
nói chung, đối với lực lượng sản xuất nói riêng. Bằng những phát hiện mới về
công nghệ tế bào, công nghệ sinh sản, công nghệ gen và các phương pháp sinh
học mới, con người tạo ra những giống cây trồng và vật nuôi mới có nhiều ưu
điểm lớn cả về chất lượng cũng như năng suất và giá thành. Đặc biệt nhờ công
nghệ sinh học, làm cho con người ngày càng khỏe mạnh, có tuổi thọ cao và ngày
càng đẹp hơn. Hiện nay khoa học sinh học đã công bố bản đồ gen con người và
đã bắt đầu giải mã một phần bộ gen đó. Với thành tựu này, khoa học còn có thể
ứng dụng và chế tạo những người máy sinh học và giải quyết nhiều vấn đề về sự
sống nói chung.
Như đã biết, trước đây khoa học muốn tham gia vào quá trình sản xuất
thì phải thông qua hệ thống: con người - khoa học - kỹ thuật - sản xuất - con
người; trong đó quá trình chuyển từ khoa học đến kỹ thuật rồi đến sản xuất là
một thời gian rất dài, thậm chí nó đủ để làm lu mờ vai trò của khoa học. Ngày
nay sự phát triển của khoa học vượt trước rất xa so với nhu cầu của sản xuất,
điều đó tác động rất mạnh đến mọi mặt của quá trình sản xuất nói chung. Dưới
góc độ đó thì có thể nói rằng khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất. Nhưng
trong thực tế chỉ khi khoa học đã thẩm thấu vào các yếu tố của lực lượng sản
xuất thì chúng ta mới nhận rõ vai trò trực tiếp và to lớn của khoa học đối với lực
lượng sản xuất. Những thành tựu của khoa học - công nghệ đem lại sự phát triển
vượt bậc cho lực lượng sản xuất, song chính nó cũng có mặt trái đáng phải lưu
tâm, nhất là những người sử dụng những thành tựu này một cách phi nhân tính,
chạy theo một vài lợi ích các nhân. Tất nhiên ở đây không chỉ nói về khoa học tự
nhiên mà ngay cả khoa học xã hội cũng đang dần trong quá trình trở thành như
vậy.
Cùng với những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và
nhân văn cũng đang ngày một phát huy vai trò to lớn của mình trong đời sống sản xuất vật chất xã hội. Một mặt, khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu các
quá trình tâm, sinh lý của con người và tìm cách phát huy cao độ tính tích cực,
sáng tạo của con người trong sản xuất vật chất. Mặt khác, nó còn tìm ra những
khuynh hướng vận động của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói riêng, nhờ
đó có những chính sách, định hướng phát triển kinh tế - xã hội một cách phù
hợp.
1.1.2. Toàn cầu hóa
1.1.2.1. Khái niệm và khái quát về toàn cầu hóa
1.1.2.1.1. Khái niệm toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa (Wikipedia tiếng việt) là khái niệm dùng để miêu tả các thay
đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi
ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa,
kinh tế, v.v... trên quy mô toàn cầu.
Toàn cầu hóa là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế
giới, đó là sự ảnh hưởng tác động, xâm nhập lẫn nhau xuyên biên giới trong các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trước hết và chủ yếu là lĩnh vực kinh tế
trên phạm vi toàn cầu
Toàn cầu hóa được định nghĩa một cách khách quan nhất là sự phụ thuộc
qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân. Sự phụ thuộc qua lại có
thể xảy ra trên lĩnh vực kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá hay xã hội.... Rõ
ràng cần phân biệt toàn cầu hoá trong lực lượng sản xuất với khái niệm rộng hơn
là toàn cầu hoá nói chung.
Đặc biệt trong phạm vi lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng
để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự
do thương mại" nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng
chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật,
công nghệ, thông tin, văn hoá, mà chưa thấy được sự tác động vô cùng mạnh mẽ
của lực lượng sản xuất trên phạm vi toàn cầu.
1.1.2.1.2. Khái quát lịch sử của toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15,
sau khi có những cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn. Cuộc thám hiểm lớn lần
đầu tiên vòng quanh thế giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522.
Cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu
Á, châu Phi và châu Mỹ không phải là hiện tượng gần đây. Ngoài những trao đổi
về hàng hoá vật chất, một số giống cây cũng được đem trồng từ vùng khí hậu
này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn như khoai tây, cà chua và thuốc lá).
Thuật ngữ "tự do hoá" xuất hiện để chỉ sự kết hợp của học thuyết kinh tế
về thị trường tự do tuyệt đối và sự hủy bỏ các rào cản đối với việc lưu thông
hàng hoá. Thời kỳ bắt đầu dùng vàng làm tiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị
vàng) và tự do hoá trong thế kỷ thứ 19 thường được chính thức gọi là "thời kỳ
đầu của toàn cầu hoá".
"Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng
bản vị vàng vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930.
Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do
GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các
hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chế đối với "thương mại tự do". Vòng đàm phán
Uruguay đã đề ra hiệp ước thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO,
nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại. Các hiệp ước thương mại song
phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước Mastricht của châu Âu và Hiệp
ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêu giảm
bớt các thuế quan và rào cản thương mại. Từ thập kỷ 1970, các tác động của
thương mại quốc tế ngày càng rõ rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực.
1.1.2.1.3. Bản chất của toàn cầu hóa.
- Với tính cách là một xu thế lịch sử, toàn cầu hoá được quyết định bởi sự
phát triển mạnh mẽ, mang tính bước ngoặt của lực lượng sản xuất trong thời đại
cách mạng khoa học công nghệ.
- Toàn cầu hoá vừa mang bản chất khách quan, vừa chứa đựng tính chất tự
do tư bản; vừa tích cực vừa tiêu cực; vừa đem lại thời cơ, thuận lợi và nguy cơ,
thách thức đối với các quốc gia dân tộc, nhất là các nước kém phát triển và đang
phát triển.
- Toàn cầu hoá là một quá trình vừa hợp tác rộng mở, vừa đấu tranh gay
gắt, phức tạp giữa các quốc gia, tập đoàn, cộng đồng, cá nhân... với nhau.
- Để bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình tham gia toàn cầu hoá, các
nước trên thế giới đã và đang triển khai mạnh mẽ quá trình khu vực hoá.
1.1.2.1.4. Tính tất yếu của quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá đã và đang là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển
của thế giới. Với quá trình phân công lao động quốc tế càng ngày đi vào chiều
sâu và sự phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ đã đẩy nhanh quá
trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới. Quá trình này được thể hiện rất rõ trong sự
gia tăng rất nhanh của trao đổi quốc tế về thương mại, dịch vụ tài chính. Cùng
với sự hình thành các khu thương mại tự do và các khối liên kết trên thế giới
như các tổ chức WTO, OECD, APEC, WB (ngân hàng thế giới), IMF (quỹ tiền
tệ quốc tế).Thế giới đang sống trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ.
Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những quan hệ kinh tế gắn bó, tác động lẫn