BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
……….….. ……
T¹m gi÷ trong Tè tông h×nh sù ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
HÀ NỘI – NĂM 2017
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam đã quy định hệ thống các biện pháp cưỡng chế áp dụng với
người thực hiện hoặc nghi thực hiện tội phạm, trong đó các biện pháp ngăn
chặn là các biện pháp cưỡng chế có tính nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình
sự. Nói tới các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, không thể không
nhắc tới biện pháp tạm giữ. Đây là một trong những biện pháp ngăn chặn có
tính cưỡng chế cao và có ý nghĩa quan trọng trong Tố tụng hình sự. Thông
qua việc áp dụng biện pháp tạm giữ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đảm bảo
được tính hiệu quả của các hoạt động tố tụng, góp phần bảo đảm pháp chế, ổn
định tự xã hội, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân. Biện pháp tạm giữ hạn
chế một số quyền cơ bản của con người được đã được Hiến pháp và pháp luật
quy định, mà quan trọng nhất có thể kể tới quyền “bất khả xâm phạm về thân
thể” (Điều 20 Hiến pháp năm 2013) và quyền “tự do đi lại” (Điều 23 Hiến
pháp năm 2013). Chính vì thế nếu áp dụng sai biện pháp này sẽ xâm phạm
đến quyền con người, quyền công dân, đồng thời không đảm bảo được tính
đúng đắn trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự, gây mất lòng tin trong
quần chúng nhân dân.
Biện pháp tạm giữ được quy định từ rất sớm, lần đầu tiên là trong luật
số 103-SL/005 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm
đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, ngày 20/5/1957. Từ đó đến nay,
qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với tình hình mới, biện pháp ngăn chặn tạm
giữ vẫn được quy định và ngày càng hoàn thiện hơn, điều này khẳng định tầm
quan trọng của biện pháp này trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn của Bộ
luật tố tụng hình sự (BLTTHS) nói riêng và trong pháp luật tố tụng hình sự
nói chung. Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng cũng không thể phủ nhận trong
quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn này vẫn còn tồn tại một số bất
cập, gây khó khăn trong việc áp dụng, như thẩm quyền ra lệnh tạm giữ còn
nhiều mâu thuẫn, chưa dự trù được hết những người cần có thẩm quyền tạm
giữ; về thời điểm bắt đầu của thời hạn tạm giữ cũng chưa phù hợp với đối
tượng bị áp dụng; việc trả tự do cho người bị tạm giữ cũng chưa thực sự phù
hợp, v..v…
Mặt khác có thể thấy, trong thời gian qua việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn tạm giữ đã đem lại nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong
công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, song bên cạnh đó việc áp dụng
các quy định của pháp luật về biện pháp này vẫn còn có những hạn chế và
vướng mắc nhất định như vẫn còn để xẩy ra tình trạng người bị tạm giữ sau
đó không bị khởi tố về hình sự; số người bị tạm giữ sai, không đủ căn cứ tạm
giữ vẫn còn; tạm giữ quá hạn… Những hạn chế, vướng mắc đó phần nào đã
làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, xâm phạm đến quyền
con người, quyền công dân.
Xuất phát từ thực tế nói trên, cùng với sự ra đời của Hiến pháp 2013 bản Hiến pháp đánh dấu một bước biến chuyển quan trọng trong tình hình đất
nước, trong đó, vấn đề về quyền con người, quyền công dân đặc biệt được
xem trọng - đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho công tác nghiên cứu và hoàn thiện
các quy định của pháp luật cũng như nâng cao chất lượng áp dụng biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự nói chung và biện pháp tạm giữ nói riêng. Vì
vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tạm giữ trong Tố tụng hình sự Việt Nam” làm
đề tài cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tạm giữ là một trong các biện pháp ngăn chặn được áp dụng khá
thường xuyên trên thực tế, vì thế, biện pháp ngăn chặn này đã được nhiều
công trình nghiên cứu đề cập tới. Có thể chia các công trình nghiên cứu theo
các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, những nghiên cứu có tính chất lý luận về quyền con
người là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu biện pháp tạm giữ. Có thể kể đến
một số các công trình như: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân trong Hiến pháp Việt Nam của Văn phòng thường trực về nhân quyền
và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2015); Quyền con người, quyền
công dân trong Hiến pháp Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Động (2005);
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người do các tác giả Nguyễn
Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên của Khoa luật Đại
học Quốc gia Hà Nội (2011); Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013,
quan điểm mới, cách tiếp cận mới và các quy định mới của Viện khoa học pháp
lý – Bộ Tư pháp (2014); bài viết “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận cơ bản” của tác giả Lê Cảm
đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7/2010; bài viết “Bảo vệ quyền con
người, quyền công dân trong Tố tụng hình sự theo Hiến pháp sửa đổi năm
2013” của tác giả Nguyễn Văn Hưng đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật
số 7/2014…
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu làm rõ về các quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên và cách thức hạn chế quyền con
người trong đó có biện pháp tạm giữ được pháp luật thừa nhận. Những công
trình này đã đề cập đến một số nội dung của biện pháp tạm tố tụng hình sự
nhưng lại không nghiên cứu cụ thể, trực tiếp về biện pháp này.
Nhóm thứ hai, những nghiên cứu chung về biện pháp cưỡng chế, biện
pháp ngăn chặn để nắm được tính chất, đặc điểm chung của biện pháp cưỡng
chế, biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp tạm giữ. Trong nhóm này, có
nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả khác nhau như: “Về tự do cá nhân
và biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự” của tác giả Trần Quang Tiệp (2005);
“Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Mai
Bộ (1997)… Một số luận văn, luận án như: “Các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Điệp (1996); “Căn cứ áp
dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lê
Thanh Bình (2010); Cùng với một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học
chuyên ngành như: “Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự về những biện pháp ngăn chặn” của tác giả Mai Bộ (2007) đăng trên tạp
chí Kiểm sát; “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn” của tác giả Vũ Gia Lâm
(2012) đăng trên tạp chí Luật học; “Những vướng mắc trong việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và kiến nghị
sửa đổi, bổ sung” của tác giả Phùng Văn Tài (2012) đăng trên tạp chí Nhà
nước và Pháp luật…
Những nghiên cứu này đều đã đề cập đến biện pháp tạm giữ như là một
trong số các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên những
công trình trên này chỉ đề cập đến tạm giữ như một biện pháp trong tổng thể
các biện pháp khác mà chưa đi sâu nghiên cứu về nội dung cụ thể, những quy
định qua từng thời kỳ của biện pháp này. Có những công trình đã có từ rất
lâu,do đó nhiều quy định đã được thay đổi cho phù hợp với tình hình mới
chưa được cập nhật.
Nhóm thứ ba, những nghiên cứu về biện pháp tạm giữ. Những nghiên
cứu này có thể ở mức độ đại cương về biện pháp tạm giữ như: Bình luận khoa
học Bộ luật Tố tụng hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của tác giả Võ Khánh Vinh (2012), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
của các cơ sở đào tạo như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học
Quốc gia, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; “Hỏi đáp về bắt, tạm
giữ, tạm giam, giáo dục, giáo dưỡng và thi hành án hình sự” của tác giả
Hoàng Anh Tuyên, Hoàng Hoa Sơn (2004)… Đây là những nghiên cứu có
tính chất phân tích pháp luật về biện pháp tạm giữ.
Có những nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tạm giữ như: “Một số
vấn đề chung quanh việc tạm giữ, tạm giam” của tác giả Phạm Thanh Bình
(1997); luận án tiến sỹ “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
trong Tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”
(2005) của tác giả Nguyễn Văn Điệp; “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ” của tác giả
Trần Duy Bình (2012), đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân; “Một vài trao đổi
về biện pháp ngăn chặn tạm giữ và thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn
cấp trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003” của tác giả Hoàng Đình Thanh
(2014) đăng trên tạp chí Nghề luật số 5,… Đây là những nghiên cứu đi sâu
nghiên cứu về biện pháp tạm giữ với các nội dung như khái niệm, đối tượng,
thẩm quyền, thủ tục áp dụng, đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng và hoàn thiện quy định của pháp luật về biện pháp tạm giữ trong
tố tụng hình sự.
Những công trình trên tuy đã có những nghiên cứu về biện pháp tạm
giữ, tuy nhiên những công trình này hoặc đã lạc hậu, hoặc chưa nghiên cứu
riêng về biện pháp tạm giữ, hoặc vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất nhận
thức, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, những quy
định của pháp luật Tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ và thực
trạng áp dụng những quy định này.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Về mặt lý luận, luận văn tập trung
nghiên cứu khái niệm của biện pháp ngăn chặn tạm giữ, ý nghĩa của biện
pháp này và yêu cầu khi áp dụng biện pháp này trên thực tiễn. Khi nghiên cứu
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giữ, luận văn tập
trung vào nghiên cứu các quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong
BLTTHS năm 2003 có sự so sánh đối chiếu với BLTTHS năm 2015. Về thực
trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, luận văn nghiên cứu thực trạng
áp dụng biện pháp này từ năm 2011 đến năm 2015 trên phạm vi cả nước.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý luận và thực tiễn về
biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam, nhằm đưa ra
giải pháp bảo đảm thực hiện tốt biện pháp này.
5. Câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn phải trả lời cho các câu hỏi sau đây:
- Khái niệm biện pháp tạm giữ là gì?
- Việc quy định và áp dụng biện pháp tạm giữ có ý nghĩa như thế nào?
Yêu cầu đặt ra khi áp dụng biện pháp này trên thực tiễn bao gồm những yêu cầu gì?
- Biện pháp tạm giữ được quy định trong từng giai đoạn của pháp luật
Tố tụng hình sự Việt Nam thế nào?
- Biện pháp tạm giữ được áp dụng trên thực tiễn ra sao? Những hạn
chế, vướng mắc cụ thể là gì? Cần hoàn thiện, kiến nghị những nội dung gì?
6. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng về
pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm, chính sách hình sự của Nhà nước.
Về phương pháp nghiên cứu khoa học, luận văn sử dụng các phương
pháp: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh,
phương pháp lịch sử và phương pháp chuyên gia.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp ngăn
chặn tạm giữ, luận văn xây dựng khái niệm khoa học về biện pháp ngăn chặn
này, cũng như chỉ ra những ý nghĩa quan trọng của biện pháp đó đối với thực
tiễn đấu tranh, phòng, chống tội phạm, góp phần làm giàu thêm nhận thức về
biện pháp ngăn chặn tạm giữ.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ cũng như thực tiễn áp dụng, kết quả
của quá trình nghiên cứu không chỉ phát hiện những quy định chưa thực sự
phù hợp mà còn cả những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng từ đó
đưa ra những kiến nghị, đề xuất về hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và
những kiến nghị khác góp phần bảo đảm cho việc áp dụng những quy định về
biện pháp ngăn chặn tạm giữ vào thực tiễn được chính xác, khôn khéo, có
hiệu quả.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, bố cục
của luận văn gồm 2 Chương:
- Chương I: Những vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn tạm giữ
trong tố tụng hình sự.
- Chương II: Thực trạng áp dụng và một số giải pháp nâng cao chất
lượng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIỮ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giữ
Quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong các bản Hiến
pháp của nước ta mà gần đây nhất là Hiến pháp năm 2013. Các quyền này
được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật (khoản 1 Điều
14 Hiến pháp năm 2013). Tuy nhiên, các quyền con người, quyền công dân
không phải là tuyệt đối mà vẫn có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế theo luật định.
Trong Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc về giới hạn quyền lần đầu tiên được
quy định tại khoản 2 Điều 14, theo đó, việc hạn chế quyền phải được quy định
trong luật và chỉ được đặt ra trong trường hợp cần thiết, có nghĩa nó chỉ được
đặt ra khi có lý do khách quan, hợp pháp và hợp lý nhằm bảo vệ một số lợi
ích chính đáng, bao gồm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, đạo
đức xã hội, sức khỏe cộng đồng 1. Một trong những biện pháp hạn chế quyền
con người, quyền công dân là sử dụng các biện pháp cưỡng chế.
Cưỡng chế được hiểu là biện pháp mang tính quyền lực nhà nước
do cơ quan có thẩm quyền áp dụng, nhằm tác động lên tâm lý, tư tưởng,
hành vi của công dân, buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật
quy định nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những người đã thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật 2.
Hiểu theo một cách khác, thì biện pháp cưỡng chế sẽ tác động, hạn chế
một hoặc một số quyền con người, quyền công dân của người thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết, phù
hợp với nguyên tắc dân chủ, nhân đạo của Nhà nước ta, bởi lẽ nó được thực
hiện vì mục đích chung của toàn xã hội, trong đó có lợi ích cá nhân. Phụ
thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm pháp luật, cưỡng chế có nhiều hình thức
khác nhau như cưỡng chế hành chính, cưỡng chế dân sự, cưỡng chế tố tụng
hình sự…
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan và người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có những lúc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế
đối với người bị nghi thực hiện tội phạm hoặc với người phạm tội, trong đó có
biện pháp ngăn chặn nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ gây khó khăn
cản trở cho việc tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án hình sự. Tùy theo pháp
luật của từng nước và ở từng thời điểm khác nhau mà các biện pháp ngăn
chặn được quy định có thể có sự khác nhau về số lượng, tên gọi, thủ tục áp
dụng… Mặc dù vậy, bản chất chung của các biện pháp này đều là các biện
pháp có tính chất cưỡng chế, động chạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân
thể và các quyền con người cơ bản khác, do cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng thực hiện nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn những hành vi gây
khó khăn cản trở cho việc giải quyết vụ án hình sự. Theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự, tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự. Hiện nay vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp tạm
giữ. Các nhà nghiên cứu trên cơ sở những nghiên cứu của mình, đã đưa ra
những khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn tạm giữ với những góc
độ tiếp cận và nội hàm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn
trong luật tố tụng hình sự thể hiện việc người hoặc cơ quan có thẩm
quyền quyết định tước tự do với thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong
trường hợp khẩn cấp, trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc người có
lệnh truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn việc
điều tra, xác minh và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự
(khởi tố bị can) đối với họ” 3.
Quan điểm này là tương đối hợp lý khi đã làm rõ được các dấu hiệu cơ
bản của biện pháp tạm giữ, đó là các dấu hiệu về tính chất cưỡng chế, chủ thể
có thẩm quyền, đối tượng áp dụng, trường hợp áp dụng, cũng như mục đích
của biện pháp ngăn chặn này. Tuy nhiên khái niệm này còn chưa chỉ ra căn cứ
áp dụng biện pháp tạm giữ.
Quan điểm thứ hai cho rằng “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được
quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng đối với những
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm
tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã
nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn việc điều tra, xác
minh, và để giải quyết việc khởi tố bị can, tạm giam hoặc trả tự do cho
người bị bắt” 4.
Với cách hiểu này, tác giả đã nói lên được những nội dung cơ bản về
biện pháp ngăn chặn tạm giữ như được quy định trong BLTTHS, do chủ thể
có thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp dụng và mục đích của biện pháp này.
Tuy nhiên định nghĩa này lại chưa lột tả được tính chất cưỡng chế của biện
pháp ngăn chặn tạm giữ và cũng chưa làm rõ căn cứ áp dụng của biện pháp
ngăn chặn này.
Quan điểm thứ ba cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được
áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội
quả tang để cách li họ với xã hội trong thời gian nhằm ngăn chặn người
đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người
này đối với tội phạm” 5.
Quan điểm này tuy đã nêu được tính chất cưỡng chế, đối tượng bị áp
dụng, mục đích của biện pháp tạm giữ, tuy nhiên lại chưa mô tả được ai, hay
chủ thể nào có thẩm quyền áp dụng biện pháp này.
Quan điểm thứ tư cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được
quy định trong BLTTHS do người có thẩm quyền áp dụng đối với những
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm
tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã
nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn việc điều tra, xác
minh, và để quyết định việc khởi tố bị can, tạm giam hoặc trả tự do cho
người bị bắt” 6.
Theo quan điểm này, có thể xác định được thẩm quyền, đối tượng, mục
đích của biện pháp tạm giữ. Tuy nhiên, quan điểm này lại chưa nêu bật lên
được tính chất cưỡng chế của biện pháp tạm giữ.
Theo chúng tôi, để xây dựng khái niệm khoa học về biện pháp tạm giữ,
cần phải xác định rõ những nội dung, những dấu hiệu đặc trưng của biện pháp
này. Đó là những dấu hiệu sau:
- Biện pháp tạm giữ là biện pháp có tính chất cưỡng chế trong tố tụng
hình sự. BLTTHS quy định những biện pháp cưỡng chế để áp dụng đối với
người nghi thực hiện tội phạm và người phạm tội. Các biện pháp cưỡng chế tố
tụng hình sự có thể chia thành các nhóm theo mục đích áp dụng như sau:
+ Nhóm các biện pháp cưỡng chế nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa
người nghi thực hiện tội phạm bỏ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá
trình giải quyết vụ án. Tố tụng hình sự gọi các biện pháp này là các biện pháp
ngăn chặn, bao gồm 6 biện pháp theo luật tố tụng hình sự hiện hành: Bắt, tạm
giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú,...
+ Nhóm các biện pháp cưỡng chế nhằm thu thập chứng cứ, như: khám
xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu… Đây là các biện pháp vừa mang tính
chất là hoạt động điều tra vừa là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự.
+ Nhóm các biện pháp nhằm bảo đảm cho việc tiến hành tố tụng, thi
hành án, như: dẫn giải, áp giải.
+ Nhóm các biện pháp nhằm bảo đảm thi hành án như: kê biên tài sản…
Như vậy, mặc dù trong tố tụng hình sự quy định nhiều biện pháp cưỡng
chế, song không phải mọi biện pháp cưỡng chế quy định trong BLTTHS đều
là biện pháp ngăn chặn. Từ đây có thể khẳng định tạm giữ là một biện pháp
ngăn chặn được quy định trong BLTTHS và do đó nó có tính chất cưỡng chế.
Tính cưỡng chế của biện pháp tạm giữ thể hiện ở việc biện pháp này mang
tính bắt buộc đối với tất cả đối tượng bị áp dụng.
Quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lí toàn cầu có
tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động
hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và
sự tự do cơ bản của con người 7.
Các quyền con người bao gồm nhóm các quyền dân sự, chính trị và
nhóm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, có thể kể đến một số quyền con
người cơ bản như quyền sống, tự do và an toàn cá nhân; quyền tự do đi lại, cư
trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng
trong hôn nhân; quyền làm việc và tự do lựa chọn nghề nghiệp; v..v.. 8. Ở
nước ta các quyền con người được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ và bảo đảm
thực hiện, chỉ trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định, cơ quan
hay người có thẩm quyền mới được phép hạn chế hoặc tước các quyền tự do
cá nhân đó. Trong tố tụng hình sự, biện pháp tạm giữ tạm thời hạn chế một số
quyền con người như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư
trú, quyền tự do đi lại của người bị tạm giữ. Quyền bất khả xâm phạm về thân
thể (quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013) có thể hiểu là quyền đối với
thân thể của một người mà người khác không được động chạm đến hay không
được xâm phạm vào. Điều 23 Hiếp pháp năm 2013 cũng quy định “Công dân
có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước” như vậy, theo quy định của pháp
luật, công dân có thể lựa chọn nơi cư trú cho mình và cho gia đình, và có
quyền tự do đi đến và rời khỏi nơi mình muốn đi hoặc đến. Biện pháp tạm giữ
trong tố tụng hình sự hạn chế các quyền con người nêu trên bằng cách tạm
thời cách li người bị tạm giữ khỏi xã hội trong một thời gian, buộc họ phải bị
quản lý trong các cơ sở tạm giữ. Tại đây họ bị quản lý, giám sát và có nghĩa
vụ phải chấp hành các quy định đối với người bị tạm giữ.
Ngoài tính cưỡng chế, biện pháp tạm giữ còn có tính cấp bách. Tính cấp
bách của tạm giữ thể hiện ở việc đây là biện pháp thường được áp dụng ngay
sau biện pháp bắt (trừ trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam), bởi chỉ nếu
chỉ dừng lại ở biện pháp bắt, trong nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền
sẽ không xác định được ngay đã có đủ căn cứ để khởi tố hay chưa, đủ căn cứ
để tạm giam hay không, mà nếu không có biện pháp quản lý đối tượng, nhiều
trường hợp đối tượng sau khi bị bắt có thể bỏ trốn, hoặc tiếp tục phạm tội,
hoặc tiêu hủy chứng cứ, hoặc có những hành vi khác gây khó khăn cho quá
trình giải quyết vụ việc. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần có một biện pháp nhằm
ngăn chặn ngay đối với những trường hợp này. Ngoài trường hợp nêu trên,
còn có trường hợp cũng cần phải áp dụng một biện pháp ngăn chặn nhằm hạn
chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại… của cá nhân, đó là trường hợp tự thú
hoặc đầu thú. Thực tế hiện nay cho thấy, không phải lúc nào cơ quan mà
người đầu thú hoặc tự thú đến trình báo cũng là cơ quan có thẩm quyền tố
tụng giải quyết vụ việc của họ. Tuy nhiên, đây cũng là những đối tượng cần
quản lý, bởi vậy việc giữ họ trong một thời hạn ngắn tại cơ sở giam giữ là cần
thiết để có một khoảng thời gian thích hợp để thông báo và chờ cơ quan có
thẩm quyền đến dẫn giải họ đi.
- Về mục đích của biện pháp ngăn chặn: Việc tạm thời hạn chế các
quyền con người của biện pháp tạm giữ phải được thực hiện nhằm mục đích
ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, ngăn ngừa họ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở
cho việc điều tra, đồng thời tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền điều tra
xác minh một số vấn đề như nhân thân lai lịch của họ, và để có thời gian cần
thiết thu thập chứng cứ, bước đầu kết luận người đó có thực hiện hành vi
phạm tội hay không, từ đó ra các quyết định tố tụng tiếp theo, hoặc để có đủ
thời gian cần thiết thông báo và chuyển người bị bắt theo quyết định truy nã
cho cơ quan đã ra quyết định truy nã...
- Về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ: Xuất phát từ tính cấp bách
của biện pháp tạm giữ, biện pháp này thường được áp dụng với những đối
tượng chưa bị khởi tố về hình sự. Đó là người bị nghi thực hiện tội phạm như
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc
người tự thú. Đó cũng có thể là người đã bị khởi tố hoặc bị kết tội, sau đó bỏ
trốn và có lệnh truy nã như trường hợp bắt người đang bị truy nã, hay trường
hợp đầu thú. Đây là những đối tượng mà trên thực tế chưa đủ căn cứ hoặc điều
kiện để khởi tố bị can hoặc áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ. Sau khi cơ
quan có thẩm quyền nhận người bị bắt, hoặc trường hợp tự thú, đầu thú, thì cần
phải có một khoảng thời gian để xác định thêm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị
can trong trường hợp bắt người đang bị truy nã thì cần có thời gian để tiến hành
các thủ tục thông báo và chờ cơ quan đã ra lệnh truy nã đến nhận người bị bắt 9
. Biện pháp tạm giữ có thể được áp dụng với những đối tượng sau:
Thứ nhất, đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp. Bởi khi ra
quyết định bắt người trong trường hợp khẩn cấp cơ quan có thẩm quyền đã
xác định cần phải ngăn chặn ngay việc người đó thực hiện tội phạm (đó chính
là trường hợp bắt khẩn cấp người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) hoặc cần phải ngăn chặn
ngay việc người đó trốn tránh pháp luật hay cản trở việc điều tra khám phá tội
phạm. Tuy nhiên, chỉ bắt thì chưa đủ để tiến hành các hoạt đồng điều tra, xác
minh tiếp theo, đặc biệt là trong trường hợp này, những người bị bắt hoàn
toàn có khả năng trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án... Do đó, cần tiến hành
biện pháp ngăn chặn tạm giữ để ngăn ngừa các yếu tố nói trên, đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt
động điều tra ban đầu.
Thứ hai, đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Bắt
người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm
hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt. Đối với
trường hợp này, ngay sau khi bắt, cũng cần thiết phải áp dụng ngay biện pháp
nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ...
Thứ ba, đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Trong thực tế,
người đang bị truy nã có thể là bị can, bị cáo hoặc mới chỉ là người bị bắt
đang trong quá trình xác minh thì bỏ trốn. Do đó, sau khi bắt người đang bị
truy nã, cần thiết phải hạn chế quyền tự do thân thể của họ, giữ họ trong cơ sở
cơ quan có thẩm quyền nhằm tránh trường hợp họ có thể trốn, hoặc có những
hành vi gây khó khăn cho việc xử lý sau này. Mặt khác, cơ quan điều tra nhận
người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến để
nhận người bị bắt, trong trường hợp nếu xét thấy cơ quan đã ra quyết định
truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, cơ quan
điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ.
Thứ tư, đối với người phạm tội ra tự thú, đầu thú. Người phạm tội ra tự
thú đó là khi một người đến cơ quan có thẩm quyền khai nhận về hành vi
phạm tội của mình khi mà hành vi phạm tội đó chưa bị phát hiện. Còn trường
hợp đầu thú có thể hiểu là trường hợp một người đã thực hiện hành vi phạm
tội, và người ngày đã bị khởi tố bị can, có thể chưa hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ,
tạm giam, bị xử phạt nhưng trốn tránh và bị truy nã, sau đó họ đến cơ quan có
thẩm quyền khai nhận về hành vi của mình. Đây là những trường hợp mà
thông thường người tự thú, đầu thú đã nhận ra mình có hành vi phạm tội, biết
hành vi của mình là sai, trái với đòi hỏi của xã hội, cũng như đã có sự ăn năn,
hối cải về hành vi phạm tội của mình. Với trường hợp này, trong một số
trường hợp cần thiết vẫn phải giữ họ lại tại cơ sở tạm giữ của cơ quan điều tra
để thẩm tra, xác minh, xác định rõ các tình tiết vụ án, đồng thời có thể đề
phòng họ có hành vi tiêu cực gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án
hình sự.
- Về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ: Xuất phát từ tính chất của
biện pháp tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự mang tính
cưỡng chế nhà nước áp dụng với người phạm tội hoặc nghi thực hiện tội
phạm nhằm mục đích ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, ngăn ngừa họ trốn hoặc
gây khó khăn, cản trở cho việc điều tra, đồng thời tạo điều kiện cho việc thực
hiện các hoạt động của tố tụng hình sự. Chính vì vậy, biện pháp ngăn chặn
tạm giữ phải được thực hiện bởi những người có thẩm quyền, trước hết là bởi
những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây lại là biện pháp được áp
dụng ngay sau biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người
phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc bắt người đang bị truy
nã, nên việc ra quyết định tạm giữ cũng phải được thực hiện bởi những cơ
quan có thẩm quyền nhận những người nói trên, mà cụ thể là cơ quan điều tra.
Người có thẩm quyền tạm giữ trước hết phải là Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ
quan điều tra các cấp. Ngoài ra, còn có những chủ thể không phải là cơ quan,
người tiến hành tố tụng nhưng do tính chất đặc thù trong công việc, mà họ có
thẩm quyền tạm giữ như: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung
đoàn và tương đương; Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới,
người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng. Đây là những người do đặc thù công việc có điều kiện phát hiện người
thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, mà do tính chất cấp bách phải ngăn
chặn ngay người đó có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội, hoặc có những hành vi
gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Đồng thời do điều kiện khách quan
(như về địa lý, địa bàn hoạt động, dó công việc có tính chất “động”…) nên cơ
quan điều tra không thể tiếp nhận vụ việc được ngay. Chính vì vậy các cơ
quan khác không phải cơ quan điều tra mới có quyền tạm giữ.
- Về thời hạn tạm giữ: Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị tạm giữ, cũng như để tránh tình trạng cơ quan, người có thẩm quyền chậm
trễ, trì hoãn trong việc giải quyết vụ án, đồng thời với bản chất của biện pháp
này là tạm thời hạn chế một số quyền của một người mà quan trọng nhất là
quyền tự do thân thể, tự do đi lại trong một thời hạn nhất định, mà thời hạn
tạm giữ ko được quá dài, và cũng không được quá ngắn. Bởi nếu quá dài, sẽ
làm mất bản chất của biện pháp này, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị tạm giữ, còn nếu quá ngắn sẽ không tạo được điều kiện cho
các cơ quan và người có thẩm quyền có đủ thời gian tiến hành những hoạt
động điều tra ban đầu. Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam thời
hạn tạm giữ là 3 ngày tính kể từ ngày cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt
về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ
người phạm tội tự thú, đầu thú. Nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, trong
trường hợp cần thiết thì thời hạn tạm giữ tính cả gia hạn tối đa không quá 9
ngày.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa khái niệm tạm
giữ như sau:
“Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và
người có thẩm quyền quyết định hạn chế quyền tự do thân thể và một số
quyền con người khác trong một thời hạn nhất định đối với người bị bắt trong
trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc
người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn
người đó trốn và tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án hình sự”.
1.2. Ý nghĩa của việc quy định và áp dụng biện pháp tạm giữ
BLTTHS chính là công cụ hữu hiệu để Nhà nước ta đấu tranh phòng và
chống tội phạm. Để làm được điều này, trong BLTTHS quy định nhiều biện
pháp cưỡng chế nhà nước áp dụng với những người thực hiện hoặc nghi thực
hiện tội phạm, trong đó những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất.
Thực tế cho thấy, đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,
người bị bắt trong trường hợp quả tang, người đầu thú, tự thú, không phải lúc
nào họ cũng phối hợp tích cực với cơ quan điều tra, ăn năn hối cải về hành vi
của mình, mà đôi khi họ còn có hành vi gây khó khăn, cản trở đối với việc
giải quyết vụ án của những chủ thể có thẩm quyền. Do đó, việc buộc phải tạm
thời hạn chế một số quyền công dân của họ như quyền tự do thân thể, tự do đi
lại… là điều tất yếu. Tuy nhiên, nếu việc hạn chế này không phù hợp, chính
xác, có thể làm mất đi ý nghĩa của việc áp dụng, thậm chí còn xâm phạm đến
quyền cơ bản của công dân. Chính vì lý do đó, việc BLTTHS có những quy
định cụ thể biện pháp tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn có ý
nghĩa hết sức quan trọng.
Thứ nhất, về ý nghĩa chính trị. Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển,
nhà nước ta luôn là nhà nước của dân, do dân và vì dân với mục đích xây
dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh 10. Điều này được thể hiện rõ qua các bản Hiến pháp của nước ta,
từ Hiến pháp năm 1946 (Điều 1), Hiến pháp 1959 (Điều 2), Hiến pháp 1980
(Điều 2), Hiến pháp 1992 (Điều 2), và mới đây nhất, khoản 1 Điều 2 Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng đã khẳng
định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Như vậy ở nước
ta, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước xuất phát
từ nhân dân, do nhân dân tổ chức ra và vì lợi ích của nhân dân, Nhà nước
quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Đáp ứng yêu cầu của nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân, Nhà nước quy định nhiều biện pháp
nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được tôn trọng
và bảo vệ. Tạm giữ với tư cách là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), tlđd chú thích 8, tr.134.
sự, được quy định và áp dụng bởi những cơ quan có thẩm quyền góp phần
bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Theo đó, chỉ trong những trường hợp luật
định, một người mới có thể bị tạm giữ. Việc tạm giữ này phải được thực hiện
bởi những cơ quan có thẩm quyền, theo đúng trình tự, thủ tục, căn cứ, đối
tượng theo quy định của BLTTHS. Bên cạnh đó, việc quy định và áp dụng
biện pháp còn đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, chính sách của Đảng
trong công cuộc đấu tranh phòng, ngừa tội phạm.
Các quyền con người được thế giới thừa nhận, bảo vệ và được tuyên bố
trong nhiều văn kiện pháp lí quốc tế như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,
.v..v.. Ở nước ta, các quyền con người cũng luôn được thừa nhận và bảo vệ,
mà trong đó có các quyền như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự
do cư trú, quyền tự do đi lại.v..v.. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến
pháp, và chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật. Trong tố tụng hình
sự, các biện pháp ngăn chặn chính là các biện pháp được pháp luật quy định
nhằm hạn chế một số quyền con người của người bị áp dụng. Chính vì lý do
đó, việc quy định biện pháp ngăn chặn nói chung trong đó có biện pháp tạm
giữ trong BLTTHS như về thẩm quyền, đối tượng áp dụng, trình tự, thủ tục...
sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo đảm và tôn trọng những quyền cơ bản
của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Với những quy
định đã được pháp điển hóa trong BLTTHS, cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng buộc phải tuân thủ theo đúng những gì đã được quy định,
mọi hành vi tạm giữ sai sẽ bị xử lý theo quy định. Đồng thời mọi công dân sẽ
căn cứ được vào những quy định của pháp luật về tạm giữ để kiểm tra được
tính đúng đắn của việc áp dụng này, qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích
chính đáng của mình, của người khác. Bên cạnh đó, quy định về biện pháp
ngăn chặn tạm giữ còn thể hiện tính đúng đắn và tính nhân đạo qua việc quy
định việc chăm lo người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm
giữ,chế độ tạm giữ cũng được quy định là khác đối với những người đang
chấp hành hình phạt tù. Như vậy, mặc dù người bị tạm giữ bị hạn chế quyền
tự do thân thể, tự do đi lại, nhưng pháp luật vẫn bảo đảm cho họ những quyền
và lợi ích hợp pháp khác, đồng thời đảm bảo nguyên tắc “không ai bị coi là có
tội khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án”. Ngoài ra việc áp
dụng biện pháp tạm giữ còn góp phần bảo vệ các quyền con người, quyền
công dân khác không bị hành vi phạm tội xâm phạm.
Việc quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ còn là phương
thức hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tạm giữ là biện pháp
cưỡng chế tương đối nghiêm khắc của nhà nước, tuy nhiên, đây lại không
phải là hình phạt và do đó hoàn toàn không có mục đích trừng trị người bị tạm
giữ. Như đã nói ở trên việc áp dụng biện pháptạm giữ sẽ tạo điều kiện cho quá
trình điều tra, xử lý tội phạm được nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, từ đó,
giúp cho việc xử lý người phạm tội được đúng đắn, kịp thời. Mặt khác, việc
cách li người phạm tội hoặc người bị nghi thực hiện tội phạm sẽ giúp ngăn
ngừa việc người đó có khả năng tiếp tục phạm tội. Trong quá trình tạm giữ,
bằng những biện pháp nghiệp vụ của cơ quan điều tra còn có thể góp phần
giúp cho người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi của mình, từ đó giáo dục
người phạm tội ý thức tuân theo pháp luật.
Thứ hai, về ý nghĩa xã hội. Trật tự xã hội được ổn định luôn là cái đích
mà mọi quốc gia đều hướng tới. Tuy nhiên, tội phạm lại là “hiện tượng xã hội
tồn tại trong mọi quốc gia… trái với chuẩn mực xã hội ở mức cao nhất so với
các hiện tượng lệch chuẩn khác” 11. Do đó, tội phạm có thể gây mất ổn định
xã hội, thậm chí gây ra những hệ lụy xấu cho đất nước. Chính vì thế, không
chỉ riêng ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều có những quy định
nhằm đấu tranh và phòng chống hiện tượng xã hội tiêu cực này. Ở nước ta,
nếu luật hình sự là luật nội dung, quy định những hành vi nào bị coi là tội
phạm và cách xử lý đối với những hành vi đó thì luật tố tụng hình sự là luật
hình thức, quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người
phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác
của công dân 12.
Tạm giữ được quy định trong BLTTHS với tư cách là một biện pháp
cưỡng chế nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người người bị nghi thực
hiện tội phạm, người phạm tội trốn hoặc có những hành vi gây khó khăn, cản
trở cho việc giải quyết vụ án hình sự… Với mục đích như vậy, tạm giữ góp
phần quan trong việc đảm bảo ổn định trật tự xã hội, đấu tranh phòng ngừa tội
phạm.
Ngoài ra, việc quy định và áp dụng biện pháp tạm giữ còn góp phần đáp
ứng yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ như độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm
phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công
dân… 13, do đó việc hạn chế, phòng ngừa, đấu tranh, xử lý với những hành vi
này là mong muốn chung của mọi người dân trong xã hội và BLTTHS quy
định biện pháp ngăn chặn tạm giữ chính là một trong những cách thức nhằm
đáp ứng đòi hỏi, nguyện vọng đó. Biện pháp tạm giữ được áp dụng đối với
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người tự thú, đầu
thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã. Đây đều là những người đã có
căn cứ chứng tỏ họ thực hiện hành vi phạm tội hoặc đã là người phạm tội, và