Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Sự tác động của Cộng đồng kinh tế ASEAN đối với thị trường lao động Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (81.73 KB, 10 trang )

Sự tac đông cua Công đông kinh tê ASEAN
đôi vơi thi trương lao đông Viêt Nam
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): được thành lập ngày
31/12/2015, trong đó Việt Nam là quốc gia thành viên đã đánh
dấu một bước phát triển vượt bậc về kinh tế, khoa học và xã hội,
cho phép Việt Nam tận hưởng được những điều kiện thuận lợi
nhất để vươn mình lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, bên cạnh
những cơ hội có được, Việt Nam cũng sẽ phải đối diện với nhiều
khó khăn và thử thách. Đặc biệt, là thị trường lao động, nền tảng
cơ bản của mọi sự phát triển và tăng trưởng.
1.Tổng quan công đông kinh tê và thi trương lao đông
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập
năm 1967 nhằm xây dựng tình đoàn kết và hợp tác hữu ngh ị giữa
các quốc gia trong khu vực. Cho đến nay, tổ chức này gồm có 10
thành viên bao gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Lao, Malaysia,
Myanmar, Philippine, Singapore, Thái Lan và Việt Nam hình thành
nên một trung tâm kinh tế lớn và năng động trong khu vực và th ế
giới. Với quy mô kinh tế lớn thứ bảy, tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân 5 % mỗi năm, thị trường xuất khẩu chỉ đứng sau EU,
Bắc Mỹ và Trung Quốc cộng với thị trường lao động dồi dào, dân
số đông, vị trí địa lý thuận lợi, ASEAN đang trở thành đầu mối
kinh tế quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu
vực và thế giới.
Sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) cuối năm 2015
mở ra nhiều cơ hội mới cho sự hợp tác và phát triển kinh tế của
các nước thành viên trên nhiều lĩnh vực khác nhau v ới 4 mục tiêu
cơ bản sau:
- Hình thành một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung
giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư được xây dựng
thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá, tự do lưu chuyển d ịch vụ,


tự do lưu chuyển đầu tư, tự do luân chuyển vốn và tự do di
chuyển lao động có tay nghề.


-Hình thành một khu vực kinh tế cạnh tranh thông qua các chính
sách về cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sỡ hữu trí
tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.
Phát triển kinh tế cân bằng thông qua các kế hoạch phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa, thực hiện sáng kiến hội nhập ASEAN
nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các nước thành viên. Hội nhập
kinh tế toàn cầu, tăng cường quan hệ ngoại khối nhưng vẫn bảo
đảm vai trò trung tâm của ASEAN, tích cực tham gia chuổi cung
ứng toàn cầu.
Bảng 1.1: Môt sô chỉ sô về lao đông cua cac nươc
ASEAN-2013.
% % sô
lao sinh
Lương
Năng
đôn viên
bình
suất
Tổng sô g/
đại
quân
lao
lao đông dân học/d (usd/tha đông
Quôc gia
(ngươi) sô ân sô
ng)

(usd)
Brunei
200,383 64
25
… 100,015
Darussalam
23,900,10
16
5 83
121
3,989
Cambodia
(2011)
122,125,0
32
92 68
174
9,848
Indonesia
(2012)
3,296,672 78
18
119
5,396
Lao PDR
13,040,74
37
9 59
609 35,751
Malaysia

(2012)
29,765,55
13
5 79

2,828
Myanmar
(2012)
Philippines 42,923,36 65
34
206 10,026


4
Singapore
Thailand

3,066,596

68



3547 98,072

39,873,48
0

72


51

357 14,754

53,443,67
8

78
25
181
5,440
Vietnam
Nguồn: International Labor Organization-2013 and World
Bank 2015
-Từ bảng thống kê 1.1 chúng ta có thể thấy rằng các quốc gia
thành viên trong AEC có lợi thế về dân số đông, lực lượng lao
động dồi dào, giá rẻ, lương bình quân tương đối thấp so với mặt
bằng chung của thế giới và lực lượng lao động đang trong giai
đoạn chín muồi. Thành phần học đại học chiếm tỷ lệ lớn trong
cơ cấu dân số có thể dùng đề bổ sung và thay thế liên tục cho
một số lao động đến tuổi về hưu giúp ổn định cung cầu lao động.
Với những lợi điểm này, AEC ngày càng thu hút một số lượng lớn
các nhà đầu tư nước ngoài, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát
triển kỹ năng cho người lao động.
Tuy nhiên, năng suất lao động nhìn chung vẫn còn rất thấp, kém
xa các khu vực khác, chưa đáp ứng được kỳ vọng của yêu cầu
phát triền. =>Vì thế, hội nhập AEC đưa các nước thành viên vào
môi trường cạnh tranh mới, đặc biệt là cạnh tranh nội khối v ề
nguồn nhân lực, nền tảng của mọi sự phát triển. Việt Nam cũng
không phải ngoại lệ, những khó khăn và thử thách khi gia nhập

AEC đang đặt ra nhiều thách thức cho người lao động nhưng điều
đó không đồng nghĩa rằng thu hẹp cơ hội việc làm của họ. Theo
dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (2015), khi gia nhập AEC
số việc làm của Việt Nam sẽ tăng lên 14,5 % vào năm 2025 trong
những ngành sản xuất gạo, chế biến lương thực, dệt may, vận tải
và xây dựng. Nhu cầu việc làm đối với lao động có tay nghề tăng
28 %, lao động kỹ thuật cao tăng 13 % và lao động có trình đ ộ kỹ


năng thấp tăng 23%. Do đó, cần có những nghiên cứu đánh giá
cụ thể về ưu và nhược điểm khi gia nhập AEC tác động như thế
nào đến lực lượng lao động Việt Nam nhằm xây dựng đường lối
và chiến lược hội nhập phù hợp, kích thích sự tăng trưởng và
nâng cao thu nhập cho người lao động.
2.Thực trạng thi trương lao đông Viêt Nam trong những
năm gần đây
-Theo Ngân hàng phát triển châu Á (2015), số người trong độ
tuổi lao động của Việt Nam luôn chiếm hơn 50% tổng dân số và
tăng đều qua các năm. Cụ thể, năm 2010 với dân số là 86,93
triệu, Việt Nam có 50,4 triệu người nằm trong độ tuổi lao đ ộng,
chiếm 58 % dân số. Năm 2012, khi dân số tăng lên 88,77 tri ệu
người lực lượng lao động tăng lên 52,3 triệu người, chiếm 59 %
dân số và tốc độ tăng của số người nằm trong độ tuổi lao động
trong giai đoạn 2010-2012 là 3,9 %. Trong năm 2014, lực l ượng
lao động của Việt Nam tăng lên 53,7 triệu người và tăng 6,6 % so
với năm 2010.
-Mặc dù, trong giai đoạn 2010-2014 kinh tế thế giới cũng như
Việt Nam trải qua những thời điểm hết sức khó khăn nhưng số
việc làm vẫn được tạo ra hàng năm biểu hiện thông qua số
người có việc làm tăng dần qua các năm và luôn luôn chiếm trên

98% tổng số lực lượng lao động. Ngược lại với số người có việc
làm, tỷ lệ thất nghiệp giảm dần từ năm 2010 đến 2014 và luôn
nằm trong ngưỡng cho phép theo kế hoạch của Chính phủ.
-Theo số liệu thống kê bảng 2.1, lực lượng lao động Việt Nam
phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu vào lĩnh v ực nông
nghiệp, trong khi các khu vực khác đóng góp nhiều hơn về mặt
giá trị gia tăng nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn. Tuy
nhiên, một điều đáng mừng cho thị trường lao động Việt Nam
theo cơ cấu ngành nghề là tỷ lệ lao động hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất và phi nông nghiệp tăng dần qua các năm trong khi
số lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như không
thay đổi đáng kể. Số lao động trong lĩnh vực sản xuất từ 6,6 triệu
người năm 2010 lên đến 7,6 triệu người năm 2014, tăng 14,4 %.


Bảng: 2.1 Môt sô chỉ tiêu về dân sô và lao đông Viêt
Nam 2010-2014
201 201 201
2010 2011
2
3
4
Dân sô
88.7 89.7 90.7
Tổng dân số ( triệu người) 86.93 87.84
7
1
3
Thay đổi dân số hàng năm
( %)


1.1

Dân số thành thị ( % trên
tổng số dân)

30.5

31.6 31.8 32.2 33.1

50.4

51.4 52.3 53.2 53.7

49.0

50.4 51.4 52.2 52.7

24.3

24.4 24.4 24.4 24.4

Lực lượng lao đông
( triêu ngươi)
Lao động có việc làm
Nông nghiệp

1.0

1.1


1.1

1.1

Sản xuất

6.6

7.0

7.1

7.3

7.6

Khai khoáng

0.3

0.3

0.3

0.3

0.2

Khác


17.8

18.7 19.7 20.2 20.5

Thất nghiệp

1.3

1.0

0.9

0.9

1.0

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

2.7

2.0

1.8

1.7

1.9

Thay đổi lực lượng lao

động hàng năm (%)

2.2

2.0

1.8

1.7

0.9

Năng suất lao động ( USD,


PPP 2005)
Tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động (%)

5,23 5,44
4,896 5,082
9
0
77.4

77.0 76.8 77.5 77.5

Nam

82.0


81.7 81.2 82.1 82.1

Nữ

73.0

72.6 72.5 73.2 73.2

Nguồn: Ngân Hàng Phát
Triể Châu Á-2015
- Vê năng suất lao động: năng suất lao động vẫn còn thấp so với
mặt bằng chung ở khu vực và thế giới nhưng có cải thiện đáng
kể theo thời gian, từ mức 4.896 USD lên 5.440 USD, tăng 11,1%
trong vòng 3 năm từ 2010 đến 2013.
-Lực lượng lao động phân theo giới tính: có sự chênh chệch giữa
tỷ lệ tham gia vào thành phần lao động của nam và nữ. Điều này
cho thấy thành phần lao động nữ ngày càng tích c ực tham gia vào
thị trường lao động, giảm thiểu tỷ lệ sống phụ thuộc vào nam
giới, xoá bỏ dần quan niệm phụ nữ chỉ phụ trách các công việc
nội trợ gia đình, chăm sóc con cái và nam giới là lao đ ộng chính
chịu trách nhiệm kinh tế gia đình.
-Vê trình độ lao động chuyên môn: Theo chỉ số thống kê bảng 2.2
cho thấy rằng trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động
Việt Nam vẫn còn rất yếu kém, chủ yếu là lao động chưa qua đào
tạo, lao động phổ thông. Số người trong nhóm này luôn chiếm tỷ
lệ cao nhất, hơn 80% trong tổng số lực lượng lao động. Tuy
nhiên, tỷ lệ này có giảm dần qua các năm, từ 85,4 % năm 2010
xuống còn 81,8 % năm 2014, giảm 3,6 % trong vòng 4 năm. Lao
động qua đào tạo tay nghề và có trình độ trung cấp chuyên

nghiệp có chênh lệch không quá lớn nhưng cùng chiếm tỷ l ệ rất
thấp so với lao động chưa qua đào tạo, trung bình thấp h ơn 18
lần. Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng dần theo thời
gian từ năm 2010 đến 2013. Tăng nhanh nhất từ năm 2011 đến


2012 là 17,5 % và có giảm nhẹ từ năm 2013 đến 2014, giảm 7,5
%.
Bảng 2.2: Tỷ lê lao đông phân theo trình đô chuyên môn
kỹ thuật (%)
201 201 201 201 201
0
1
2
3
4
Chưa đào tạo chuyên môn kỹ
thuật
85,4 84,5 83,4 82,1 81,8
Dạy nghề

3,8 4,0 4,7 5,3 4,9

Trung cấp chuyên nghiệp

3,4 3,7 3,6 3,7 3,7

Cao đẳng

1,7 1,7 1,9 2,0 2,1


Đại học trở lên

5,7 6,1 6,4 6,9 7,6

Nguồn: TCTK, 2015
Lao động có trình độ cao đẳng chiếm tỷ lệ thấp nhất trong cơ
cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn, tỷ lệ này dao động
không quá 2,1 % trong vòng 4 năm từ 2010 đến 2014. Trong khi
đó, lao động có trình độ đại học trở lên xếp vị trí thứ hai về số
lượng người, cao hơn tỷ lệ lao động có trình độ dạy nghề và
trung cấp chuyên nghiệp trung bình khoảng 1,6 lần và cao hơn tỷ
lệ lao động có trình độ cao đẳng 3,5 lần. Tuy nhiên, số trình độ
lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên tăng dần theo
thời gian trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2014. Cụ thể, số lao
động có trình độ cao đẳng tăng trung bình 5,6 % mỗi năm và số
lao động có trình độ đại học trở lên tăng trung bình 7,5 % m ỗi
năm. Như vậy, mặc dù cả hai nhóm lao động có trình độ cao đẳng
và đại học trở lên tăng dần qua các năm nhưng lao động có trình
độ đại học tăng nhanh hơn, trung bình tăng 2,1 % so v ới lao đ ộng
có trình độ cao đẳng.


3.Cơ hôi và thach thưc đôi lao đông Viêt Nam khi gia nh ập
AEC
-AEC sẽ là cơ hội quý báu để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, thu
hút đầu tư nước ngoài, nhanh chóng bắt nhịp với xu thế và trình
độ phát triển kinh tế của khu vực và thế giới.Theo Hiến chương
ASEAN có hiệu lực từ 15/12/2008, AEC được thành lập vào cu ối
năm 2015 sẽ đánh dấu sự hội nhập toàn diện các nền kinh t ế 10

nước Đông Nam Á, tạo ra thị trường chung của một khu vực có
dân số 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỉ USD. Từ
năm 2004 đến nay, ASEAN đã ký kết FTA với nhiều đối tác: Trung
Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Ấn Đ ộ. Xu th ế
này phù hợp với xu thế đẩy mạnh cải cách, mở cửa của Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đang đàm phán các FTA với EU, Liên minh H ải
quan (Nga, Belarus, Kazakhstan), ASEAN+6, Hàn Qu ốc, Khối
Thương mại tự do châu Âu (Thụy Sỹ, Na Uy, Liechtenstein,
Iceland) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). AEC
ra đời cùng với việc Việt Nam mở rộng các hiệp định tự do
thương mại sẽ tạo động lực giúp các doanh nghiệp mở rộng giao
thương, thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, cắt giảm chi phí
nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, tiếp cận các thị trường rộng
lớn
hơn.
-Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi lớn, AEC ra đời, các doanh
nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc
cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN sẽ d ẫn đến
một số ngành, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí rút
khỏi thị trường. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập mạnh mẽ, các
nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt
Nam nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa
cạnh tranh của các nước. Những doanh nghiệp có lợi thế xuất
khẩu sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, trong khi doanh nghiệp có khả
năng cạnh tranh yếu đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ gặp thách
thức nghiêm trọng. Hiện nay, đa số doanh nghiệp của Việt Nam là
doanh nghiệp nhỏ, năng lực cạnh tranh hạn chế, bước vào "sân
chơi" AEC, các doanh nghiệp Việt Nam đối mặt không ít khó
khăn,
thách

thức.


Việc tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội lớn để Việt Nam đẩy m ạnh
cải cách thể chế, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao trình đ ộ
phát triển. Tuy nhiên, trong những năm tới, Việt Nam cũng đứng
trước sức ép rất lớn về cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng
cao trình độ khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh, trong
bối cảnhASEAN nhảy vọt từ nấc Khu vực thương mại tự do
ASEAN (AFTA) lên nấc thang Liên minh Kinh tế AEC. Hiện nay,
trình độ phát triển của Việt Nam còn kém xa nhiều quốc gia
trong ASEAN như: Singapore, Malaysia, Thái Lan...do vậy, sức ép
cải cách đặt ra với Việt Nam là rất lớn. Xếp hạng năng lực cạnh
tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF)
công bố cho năm 2014-2015 ở mức rất thấp và ít có cải thiện từ
nhiều năm nay.Nền quản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục
rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến năng lực cạnh
tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp Việt
Nam, đơn cử như việc các doanh nghiệp Việt Nam cần đến 872
giờ/năm để đóng thuế trong khi con số bình quân của dịch v ụ đó
ở các nước ASEAN-6 chỉ là 172 giờ/năm.Thực tế này cho thấy, c ải
cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình đ ộ khoa h ọc-công
nghệ và năng lực cạnh tranh đang là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho
Việt
Nam
khi
gia
nhập
AEC.
4.Môt sô giải phap nâng cao khả năng cạnh tranh cua lao

đông Viêt Nam
-Về phía Nhà nước, cần một chiến lược quốc gia rộng lớn mang
tính chiến lược để nâng chất lượng lao động Việt Nam vươn tới
trình độ chuyên môn cao, chất lượng cao. Nhà nước cần quan tâm
đến hướng nghiệp, dạy nghề ngay từ khi các em đang học phổ
thông, phát triển các trường cao đẳng nghề, kỹ thuật nghiệp vụ,
cao đẳng cộng đồng để đào tạo kỹ sư thực hành, công nhân trình
độ cao, góp phần giảm áp lực đối với giáo dục đại học, trang bị
kiến thức ở trình độ lành nghề và bán lành nghề cho những học
sinh chưa hoàn thành chương trình giáo dục trung học phồ thông,
không có điều kiện học cao hơn cũng như những lao động muốn
chuyền đồi nghề nghiệp.


-Đối với lao động nông nghiệp, những người chịu tác động
mạnh nhất sau khi hội nhập AEC, các cơ quan chức năng có liên
quan cần quan tâm và hỗ trợ nhiều hơn nữa thông qua các
chương trình như tài trợ chi phí học nghề, thuê chuyên gia tư
vấn, gửi đi hội thảo, giao lưu học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm với
các tổ chức cá nhân đã thành công trong cùng lĩnh v ực. Đ ối v ới
bản thân người lao động muốn nâng cao cơ hội việc làm họ phải
chủ động học hỏi, mở rộng kiến thức, phát huy sự sáng tạo, thay
đổi tư duy khoa học, trau dồi ngoại ngữ và không ngừng nổ lực
vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Xây dựng tác phong lao động
chuyên nghiệp, có tính kỷ luật cao và nâng cao đạo đức nghề
nghiệp.
-Tiến hành cải cách, đổi mới, xây dựng lại chương trình giáo dục
phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Tạo ra sự liên kết
chặt chẽ, rõ nét giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm hướng
đến sự phối hợp hài hoà và có tính hệ thống giữa bên đào t ạo lao

động và bên sử dụng lao động. Tăng cường hợp tác quốc tế để
nâng cao chất lượng đào tạo.
-Tăng cường quản lý nhà nước về thị trường lao động, thường
xuyên cập nhật thông tin liên quan đến thị trường lao động theo
hàng tuần, hàng tháng, hàng quý trên các phương tiện thông tin
đại chúng hoặc các kênh chuyên dùng riêng biệt nhằm cung cấp
cho người lao động có đầy đủ thông tin nhất về cung cầu lao
động, sự biến động lao động trong từng ngành nghề cụ thể. Các
cơ quan chức năng cần có chiến lược duy trì và phát triển nguồn
lực lao động có kỹ năng cao phù hợp với quá trình hội nhập và
điều kiện phát triển kinh tế đất nước theo từng giai đoạn cụ thể.
Bên cạnh trình độ chuyên môn tự có của người lao động, doanh
nghiệp nên chủ động đào tạo lại hoặc đào tạo nâng cao theo yêu
cầu của quá trình hoạt động kinh doanh của mình.



×