A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỹ là một trong những trung tâm kinh tế hàng đầu của thế giới, là một
quốc gia với nhiều sắc tộc và thành phần xã hội rất phức tạp, có nhiều tộc
người và các nhóm dân cư không giống nhau nhiều khi còn mâu thuẫn đối lập
với nhau.Thêm vào đó thể chế chính trị Mỹ lại là thể chế đặc trưng cho mô
hình cộng hòa Tổng thống , là quốc gia thực hiện triệt để nhất thuyết “tam
quyền phân lập” trong đó ba nhánh quyền lực hành pháp, lập pháp, tư pháp
không nhánh nào có quyền lực tuyệt đối, hoạt động độc lập và kiềm chế lẫn
nhau. Đó là các lý do tại sao mà hoạt động vận động hành lang lại phát triển ở
Mỹ.
Anh là quê hương của vận động hành lang nhưng Mỹ lại là trung tâm của
hoạt động này. Ở Mỹ vận động hành lang diễn ra rất tấp nập và sôi động nó
đã trở thành một nét văn hóa gắn bó chặt chẽ trong đời sống chính trị của
người dân Mỹ. Nó chi phối toàn bộ đời sống chính trị Mỹ. Quyết định sự
thành công hay thất bại của mỗi một chính sách công ở Mỹ. Theo như các nhà
nghiên cứu trên 60% dự luật sẽ không thể hình thành nếu không có hoạt động
vận động hành lang giống như lời khẳng định của chủ tịch Liên đoàn các nhà
Lobby Hoa Kỳ-Paul Miller : không có chúng tôi chắc không có điều luật nào
ở Mỹ được thông qua . Bởi vậy em quyết định chọn đề tài “Vận động hành
lang với quy trình chính sách công ở Mỹ” để nghiên cứu kỹ hơn về vai trò
của vận động hành lang với việc hình thành một chính sách công cũng như
việc tổ chức thực hiện và đánh giá một chính sách công ở quốc gia được coi là
trung tâm của nghề vận động hành lang này.
2. Tình hình nghiên cứu
1
Vận động hành lang là hoạt động không còn xa lạ gì đối với chúng ta,
hầu hết các quốc gia khi gia nhập WTO và hòa mình vào xu thế toàn cầu hóa
đều phải sử dụng vận động hành lang như một công cụ để hội nhập vào xu thế
chung của thế giới. Bởi vậy vận động hành lang nói chung và vận động hành
lang ở Mỹ nói riêng là vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu với nhiều công trình khác nhau. Nhưng những nghiên cứu đó chỉ
tập trung nghiên cứu về hoạt động vận động hành lang ở một số lĩnh vực cụ
thể, hoặc là nghiên cứu về thực trạng của hoạt động vận động hành lang đang
diễn ra ở một số nước... Qua nghiên cứu đề tài , em đã tìm hiểu một số công
trình nghiên cứu về vấn đề này như sau:
“Vận động hành lang” trong hoạt động lập pháp các nước và xu hướng
ở Việt Nam, số 83/2006 của tác giả Nguyễn Chí Dũng. Công trình tập trung
nghiên cứu về hoạt động vận động hành lang trong quá trình lập pháp ở mỗi
nước và từ đó xem xét với hoạt động lập pháp ở Việt Nam.
“Các nhóm lợi ích và vận động hành lang trong nền chính trị Mỹ”, 2007,
của tác giả Nguyễn Quốc Văn. Công trình này tập trung nghiên cứu về hoạt
động vận động hành lang trong đời sống chính trị nước Mỹ và sự tham gia
của các nhóm lợi ích vào trong hoạt động vận động hành lang ở nước này.
“ Vận động hành lang trong đời sống chính trị các nước phương Tây”,
Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính, Hà Nội, 2010, tác giả Lưu Văn An. Cuốn
sách tập trung nghiên cứu về hoạt động vận động hành lang ở phương Tây và
vai trò cuả nó trong đời sống chính trị các nước phương Tây…
Các công trình nghiên cứu trên, ở từng góc độ tiếp cận khác nhau cũng
đã đề cập đến vai trò của vận động hành lang với việc ban hành một chính
sách hay đạo luật nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của vận
động hành lang đối với quy trình chính sách công đặc biệt là ở một quốc gia
2
mà hoạt động vận động hành lang diễn ra vô cùng sôi nổi và tấp nập như Mỹ.
Đó chính là lí do em chọn đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên sơ sở tìm hiểu hoạt động vận động hành lang ở nước Mỹ từ đó chỉ
ra được vai trò của vận động hành lang đối với quy trình chính sách công của
Mỹ trong tất cả các giai đoạn của một quy trình chính sách bao gồm các giai
đoạn hoạch định chính sách công, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách
công.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và khái quát các tri thức về hoạt động vận động hành
lang,cũng như thực tiễn hoạt động vận động hành lang ở nước Mỹ và các tri
thức cơ bản về quy trình chính sách công.
Làm rõ được vai trò của vận động hành lang đối với quy trình chính sách
công ở Mỹ trong các giai đoạn của một quy trình chính sách công bao gồm:
hoạch định chính sách, tổ cức thực hiện và đánh giá chính sách công.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vai trò của vận động hành lang với quy trình chính sách công ở nước
Mỹ-đất nước là trung tâm của hoạt động vận động hành lang.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận chủ nhĩa MácLênin, cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch
sử.
- Phương pháp riêng: Đề tài vận dụng tổng hợp các phương pháp hệ
tthống, phương pháp lôgic-lịch sử, phân tích-tổng hợp và so sánh…để giải
quyết vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp của đề tài
3
Đề tài có ý nghĩa tham khảo đối với việc nghiên cứu lý luận về vai trò
của vận động hành lang đối với một quy trình chính sách công. Những vai trò
mà đề tài rút ra trong quá trình nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc xây dựng và
hoàn chỉnh một chính sách công có tính hiệu lực và tính hiệu quả cao nhất.
Đồng thời đóng góp thêm vào kho tàng lí luận của công tác nghiên cứu và
phân tích chính sách công những giá trị nhất định.
4
B. NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ VẬN
ĐỘNG HÀNH LANG, THỰC TIỄN TÌNH HÌNH VẬN ĐỘNG HÀNH
LANG Ở MỸ.
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH CHÍNH SÁCH CÔNG
1.1.1. Khái niệm quy trình chính sách công
Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo đề ra để giải
quyết những vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền, được quyết định bởi cấp quản
lý cao nhất của tổ chức.
Chính sách công là quyết định của các chủ thể quyền lực nhà nước,
nhằm quy định mục đích, cách thức và chế định hành động của nững đối tượng
liên quan, để giải quyết những vấn đề nhất định mà xã hội đặt ra. Đó là tổng thể
các chuẩn mực, biện pháp mà nhà nước sử dụng để quản lý xã hội.
Chính sách công từ khi ra đời cho đến lúc có quyết định sửa đổi hoặc
hủy bỏ phải trải qua một qua trình nhất định của nó vậy quy trình đó là gì và
bao gồm những bước nào?
Quy trình chính sách công là những bước đi cơ bản tất yếu , bao quát
toàn bộ đời sống của một chính sách kể từ khi nảy sinh ý tưởng (vấn đề chính
sách) tới việc định hình, hoàn chỉnh, thi hành, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc hủy
bỏ nó… Trong đó mỗi bước đều có ý nghĩa, vị trí to lớn đối với quy trình
chính sách công. Là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc
sống, do đó việc tuân thủ đúng đầy đủ các bước trong quy trình chính sách trở
thành yêu cầu hoạt động của các nhà quản lý.
1.1.2. Các giai đoạn của quy trình chính sách công
1.1.2.1. Hoạch định chính sách
5
Hoạch định chính sách là giai đoạn tiền đề, giai đoạn cơ sở, định hướng
mở đường cho cả quy trình chính sách. Nó là giai đoạn mà các chính sách
được nghiên cứu đề xuất để Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai. Việc
nghiên cứu đề xuất chính sách do các nhà hoạch định, các cơ quan, tổ chức
đoàn thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện. Trên cơ sở phân tích chính sách,
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ chọn một phương án tối ưu để phê
chuẩn và ban hành thành chính sách.
1.1.2.2. Thực hiện chính sách
Là một khâu hợp thành của quy trình chính sách, là trung tâm kết nối các
bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống. Đây là giai đoạn thực
hiện các mục tiêu chính sách trên cơ sở vận dụng những giải pháp đã định
trước để biến những dự định của chính sách thành những kết quả thực tế.
Thực hiện chính sách đòi hỏi việc huy động các nguồn nhân lực, vật lực và tài
chính để hoạt động, vì vậy tổ chức thực hiện và duy trì chính sách là yếu tố
quan trọng hàng đầu để đảm bảo sự thành công của chính sách.
1.1.2.3. Đánh giá chính sách
Đánh giá chính sách là giai đoạn cuối cùng trong quy trình chính sách,
nó giúp kiểm tra xem một chính sách ban hành ra có đúng hay không từ đó có
các biện pháp giúp điều chỉnh chính sách cho phù hợp và đúng đắn hơn. Nó là
giai đoạn tiến hành xác định kết quả thực tiễn và phân tích hiệu quả thực hiện
chính sách trên cơ sở so sánh kết quả đó với mục tiêu và các yêu cầu đề ra, so
sánh qua trình thực hiện với các biện pháp, nguồn lực và thời hạn đã được xác
định trước. Kết quả của quá trình đánh giá chính sách là cơ sở để các cơ quan
nhà nước quyết định có tiếp tục duy trì chính sách hay không, hoặc sửa đổi,
bổ sung để chính sách phù hợp với thực tiễn.
6
1.2. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
1.2.1. Khái niệm vận động hành lang
Có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm vận động hành lang. Theo nguyên
nghĩa gốc tiếng Anh, vận động hành lang là lobby (danh từ) để chỉ “hành lang
ở nghị viện”. Thuật ngữ vận động hành lang này được lấy theo tên địa điểm
mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, là hành lang của nghị viện
nước Anh, nơi mà trong thời gian giải lao, các nghị sĩ thường trao đổi với
đồng nghiệp hoặc với bất kỳ người nào để bổ sung thông tin về vấn đề đang
được bổ sung hoặc thảo luận tại nghị viện. Lobby còn được hiểu là động từ ,
chỉ hành động đưa ra hoặc thông qua một đạo luật ở nghị viện, hoặc lui tới
hành lang của nghị viện để tranh thủ lá phiếu của nghị sĩ.
Một cách chung nhất ta có thể hiểu vận động hành lang là: một quá trình
tác động của chủ thể lên đối tượng có quyền lực nhằm đạt được các quyết
định có lợi cho mình. Đó là các hoạt động có tính hệ thống nhằm tiếp cận,
cung cấp thông tin, gây ảnh hưởng, thuyết phục các tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền trong quá trình hoạch định thực thi chính sách, vì lợi ích của cộng
đồng hoặc vì lợi ích của cá nhân.
1.2.2. Các phương thức vận động hành lang
Theo cách tiếp cận đối tượng: bao gồm vận động hành lang trực tiếp,
vận động hành lang xã hội (gián tiếp), vận động hành lang liên minh, vận
động hành lang cơ sở và vận động hành lang bằng các phương tiện điện tử.
Theo cách vận động hành lang truyền thống: bao gồm cung cấp thông
tin, giúp đỡ tiền bạc và thời gian, giúp thảo các dự luật
Các chiến thuật vận động hành lang: thông qua những kỹ thuật liên lạc
trực tiếp giữa những nhà vận động hành lang và các quan chức nhà nước,
7
thông qua cử tri, thông qua việc gây ảnh hưởng đến các cuộc bầu cử hoặc
điều chỉnh dự luật.
1.2.3. Vai trò và mặt trái của vận động hành lang trong đời sống
chính trị
1.2.3.1. Một số vai trò của vận động hành lang trong đời sống chính
trị
Đối với hoạt động của các Đảng chính trị thì vận động hành lang giúp
gây quỹ trong quá trình tranh cử của các Đảng chính trị, nó là phương thức
hữu hiệu của các Đảng chính trị trong bầu cử.
Đối với các cơ quan Nhà nước, trước hết là trong hoạt động của cơ quan
lập pháp: vận động hành lang giúp các nghị sĩ có được thông tin quan trọng
để hình thành, bổ sung các dự luật, giúp Quốc hội tạo được sự đồng tình ủng
hộ của xã hội đối với các dự luật, vận động hành lang còn giúp cho hoạt động
phản biện, điều trần ở Quốc hội trở nên thực chất và có ý nghĩa hơn. Trong
hoạt động của cơ quan hành pháp: vận động hành lang cung cấp thông tin
giúp Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn, giúp Chính phủ có được nguồn lực
để thực hiện chính sách dễ dàng hơn và chia sẻ lợi ích trong xã hội. Trong cơ
quan tư pháp, vận động hành làn giúp các thẩm phán có thêm thông tin hơn
trong quá trình xét xử, nó có tác động mạnh mẽ đến các phán quyết của tòa
án.
Đối với hoạt động của các nhóm lợi ích: giúp các nhóm lợi ích truyền tải
thông tin của mình đến các cơ quan công quyền, giúp các nhóm lợi ích liên
kết với nhau, hình thành những lực lượng quan trọng trong đời sống chính trị.
Đối với hoạt động chính trị của công dân: vận động hành lang nâng cao
ý thức công dân và thúc đẩy người dân tham gia tích cực vào đời sống chính
8
trị, vận động hành lang giúp giải quyết nhanh chóng những vấn đề bức xúc
trong đời sống của người dân.
1.2.3.2. Những tồn tại của vận động hành lang trong đời sống chính
trị
Vận động hành lang tuy là có vai trò rất lớn trong đời sống chính trị
nhưng nó vẫn tồn tại những mặt trái: vận động hành lang rất tốn kém, đòi hỏi
nguồn tài chính lớn, vì vậy giới chủ giàu có mới có khả năng tiến hành vận
động hành lang còn ý kiến, nguyện vọng của những người dân nghèo yếu khó
có cơ hội đến với chính quyền và được thể hiện trong chính sách.Bởi vậy nó
lấy đi cơ hội dân chủ của đa số những người dân nghèo trong việc đóng góp ý
kiến của mình vào quá trình chính sách mang lại lợi ích nhỏ bé cho giai tầng
mình. Có thể nói vận động hành lang là của ngừơi giàu cho người giàu và vì
người giàu.
Vận động hành lang còn là môi trường cho tham nhũng, hối lộ, thúc đẩy
sự tha hóa quan chức, bởi đồng tiền một khi mà dính líu với quyền lực sẽ dẫn
đến nguy cơ bóp méo quyền lực đó. ( Đó là lý do tại sao mà Tổng thống Bill
Clinton đã ký ban hành Đạo luật về công khai hóa hoạt động lobby ở Mỹ năm
1995.)
1.3. HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG HÀNH LANG Ở MỸ
Mỹ hiện nay được coi là trung tâm của hoạt động vận động hành lang , là
nơi mà hoạt động này diễn ra sôi nổi và tấp nập nhất . Tại thủ đô
washington.D.C, mà tiêu biểu là thành phố K của Mỹ thì lobby là một trong
năm nghề đông đảo nhất bên cạnh các nghề viên chức nhà nước, ấn loạt, dịch
vụ pháp luật và dịch vụ du lịch. Hiện nay ở Mỹ có khoảng 50.000 người đăng
9
ký chính thức hành nghề lobby, khoảng 300 công ty đăng ký kinh doanh (năm
2009).
Vận động hành lang đã trở thành một thứ văn hóa chính trị ở Mỹ, thâm
nhập vào toàn bộ các lĩnh vực, các ngành sản xuất kinh doanh tại Mỹ , nó có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật tại
quốc gia này. Vận động hành lang là một thói quen chính trị nhưng đã được
luật pháp Mỹ quy định và bảo hộ thông qua Đạo luật vận động hành lang
được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1946 và Đạo luật về công khai hóa hoạt
động vận động hành lang điều chỉnh các mối quan hệ trong và ngoài nước ở
Mỹ ngày 19/12/1995, do Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã ký ban hành, quy
định: bắt buộc mỗi người hoạt động lobby phải đăng ký, công khai hoá các
khách hàng, các cuộc tiếp xúc, công khai hóa các vấn đề lobby và số tiền
được chi trả.
Ở Mỹ vận động hành lang được hiểu là sự vận động (hay hành lang vận
động) các nghị sỹ dân biểu trong Quốc hội ở cả Thượng viện và Hạ viện để họ
đưa ra hoặc ủng hộ các đạo luật, các nghị quyết các quyết định mang tính
chính sách có lợi cho các “nhóm lợi ích” khác nhau. Những người làm nhiệm
vụ này được gọi là những nhà vận động hành lang. hoạt động này không diễn
ra trong các phòng họp mà nó diễn ra bên ngoài hành lang của nghị viện và
bên ngoài trụ sở của nghị viện với các phương thức khác nhau để tác động
đến các nhân viên Chính phủ, các nghị sỹ, các nhân viên trong guồng máy
hành chính như: gặp mặt, gửi thư, gửi các văn bản góp ý …
Ở Mỹ vận động hành lang có sự tác động rõ rệt của các nhóm lợi ích, các
nhóm lợi ích này là tổ chức của những người có cùng quan tâm, có cùng quan
điểm với từng vấn đề xã hội khác nhau cố gắng tác động đến việc xây dựng
10
chính sách của Chính phủ, và đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ thành
các chính sách để phục vụ lợi ích của nhóm dân cư có cùng mối quan tâm mà
họ là đại diện. Ở Mỹ hiện nay có khoảng 40.000 nhóm lợi ích, 60% dân số
Mỹ tham gia vào các nhóm lợi ích với rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau:
nhóm lợi ích về kinh doanh như các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia;
nhóm hiệp hội nghề nghiệp, nhóm liên Chính phủ, nhóm lợi ích công, nhóm
công đoàn. Các nhóm lợi ích ở Mỹ đa dạng và thực chất là các phe phái chính
trị tập hợp lại với nhau vì một lợi ích chung nào đó. Các nhóm lợi ích này
thường gây ảnh hưởng mạnh đến các cơ quan làm luật ở cả cấp bang và Liên
bang nhưng hoạt động của các nhóm lợi ích ở cấp bang mạnh hơn. Các nhóm
này vận động để thông qua các dự luật hoặc bác bỏ các dự luật ảnh hưởng đến
quyền lợi của họ. Do tính chất của hệ thống chính trị Mỹ, không có một
nhánh quyền lực nào có quyền lực tuyệt đối, các nhánh quyền lực kiềm chế
lẫn nhau khiến cho các nhóm lợi ích có thể tác động đến hoạt động lập pháp
hoặc hoạt động hành chính của các cơ quan chính quyền về các khâu, các giai
đoạn của quá trình làm luật và chính sách.Các nhóm này hoạt động trên phạm
vi rộng lớn tham gia làm lobby vào mọi lọai hình và trong tất cả các giai đoạn
của hoạt động chính trị. Những đối tượng cần đến nhóm này là các tổ chức
chính trị, các công ty, các tập đoàn, tiểu bang, cơ quan nước ngoài và nhiều
nhóm khác. Hiện nay ở Mỹ nhóm lobby mạnh mẽ nhất là nhóm dại diện cho
lợi ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản (chiếm tới 72%): lobby công
nghiệp quốc phòng, lobby dầu khí, lobby phục vụ nước ngoài trong khi đó chỉ
có 2% đại diện cho người nghèo và 1% đại diện cho những người yếu thế
trong xã hội như người già, người tàn tật. Khi các nhóm lợi ích cùng kết hợp
thành một hiệp hội có sự liên kết hơn, họ sẽ thành một tổ chức vận động hành
11
lang có tính chất chuyên nghiệp, giữ vai trò chi phối với việc ban hành và
thực thi một chính sách công ở quốc gia này.
Chính bởi những luật lệ về vận động hành lang ở Mỹ rất thoáng, nên
không thể nào liệt kê hết các phương thức hoạt động của nó. với khoản tiền
thu hằng năm tới 4 tỷ USD từ các khoản tiền ủng hộ, tài trợ của các nhà đầu
tư, có thể nói ưu thế về tài chính và những vận động “ngoài lề” trong vận
động hành lang đã có ảnh hưởng to lớn tới chính trường Mỹ và cụ thể là trong
quá trình xây dựng chính sách và pháp luật.Có thể nói rằng vận động hành
lang ở Mỹ là một “ bàn tay vô hình” chi phối toàn bộ đời sống chính trị Mỹ,
cũng giống như thuyết “ bàn tay vô hình” của Adam Smith chi phối sự vận
động của toàn bộ nền kinh tế. Vận động hành lang giúp điều hòa và điều phối
đời sống chính trị đảm bảo lợi ích nhất định của tất cả các nhóm lợi ích trong
xã hội. Giúp cân bằng đời sống chính trị Mỹ.
Tuy nhiên trên thực tế vận động hành lang ở Mỹ cũng chỉ dành cho
những người có tiền và thế lực trong xã hội bởi vậy mà những ý nguyện của
người dân nghèo thường khó mà đến được với những nhà làm luật, những nhà
hoạch định chính sách khiến nền dân chủ nhiều khi bị bóp méo. Thêm vào đó
là tình trạng “đi đêm”, hay “ chân gỗ” chính là nguyên nhân của tình trạng
tham nhũng, hối lộ thúc đẩy sự tha hóa nhanh chóng đội ngũ cán bộ, quan
chức.
12
Chương 2
VAI TRÒ CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG VỚI QUY TRÌNH
CHÍNH SÁCH CÔNG Ở MỸ
2.1. VẬN ĐỘNG HÀNH LANG VỚI QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH
SÁCH CÔNG Ở MỸ
Theo như nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về chính sách công ở Hoa
Kỳ thì có tới trên 60% dự luật sẽ không thể hình thành ở đây nếu không có
hoạt động vận động hành lang. Bởi vậy vận động hành lang đóng một vai trò
vô cùng quan trọng đối với quá trình hình thành một chính sách công ở Mỹ.
Trước hết:
2.1.1. Vận động hành lang giúp cung cấp những thông tin cần thiết
cho các nhà hoạch định chính sách công Mỹ hình thành, bổ sung và hoàn
tất chính sách công của mình
Hoạch định chính sách là quá trình xây dựng một chính sách mới theo
yêu cầu quản lý, bao gồm việc nghiên cứu đề xuất ra một chính sách và ban
hành một chính sách đó. Trong đó thông tin đóng một vai trò quan trọng
xuyên suốt tất cả các bước kể trên đúng như khẳng định của Lênin: Không có
thông tin thì không có thắng lợi trong bất kỳ lĩnh vực nào cả khoa học kỹ
thuật và sản xuất .
Một quy trình hoạch định chính sách công không chỉ bao gồm những nhà
lập pháp và những nhà làm dịch vụ công mà còn có sự tham gia và tác động
của nhiều những tổ chức cả chính thức và không chính thức, với sự tham gia
giúp đỡ của nhiều công cụ và phương tiện đặc biệt là truyền thông đại chúng.
Ở Mỹ quá trình ban hành một chính sách hay một đạo luật nào đó chịu sự chi
13
phối rất lớn của hoạt động vận động hành lang bởi Mỹ là một nước mà các
nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp hoạt động độc lập và kiềm
chế lẫn nhau, không nhánh nào nắm quyền lực tuyệt đối. Có thể nói ở Mỹ
hoạt động vận động hành lang chi phối toàn bộ quy trình chính sách kể từ khi
lựa chọn vấn đề chính sách cho đến khi chính sách đó được thực thi và mang
lại hiệu quả trong thực tiễn. Ngay từ khi lựa chọn một vấn đề xã hội để đưa nó
trở thành một vấn đề chính sách thì đã có sự xuất hiện của các nhà vận động
hành lang đại diện cho một nhóm lợi ích nhất định nào đó có thể là nhóm lợi
ích bang hoặc cũng có thể là nhóm lợi ích liên bang . Họ mang đến cho các cơ
quan hoạch định chính sách của Mỹ những thông tin bổ ích và hữu dụng sau
những sự cố gắng và nỗ lực tìm hiểu của mình đổi lại họ nhận được các khoản
thù lao từ phía những người chủ đã thuê mình. Hoặc trong trường hợp các
nhóm lợi ích này liên hợp lại với nhau thì họ sẽ trở thành một tổ chức vận
động hành lang mang tính chất chuyên nghiệp họ sẽ tự đấu tranh bảo vệ lợi
ích cho chính nhóm mình.
Trên thực tế các nhà hoạch định chính sách cần hai loại hình thông tin
liên quan tới nhau: kỹ thuật và chính trị. Rất nhiều vấn đề chính sách quan
trọng là hết sức phức tạp, các quan chức chính quyền luôn muốn chánh những
sai lầm nguy hiểm bởi vậy họ luôn hoan nghênh các thông tin giúp làm giảm
tính không chắc chắn và sự bất ngờ có hại. Nhận thức được điều này các
nhóm lợi ích đã cung cấp vô số thông tin kỹ thuật được thiết kế nhằm chứng
tỏ rằng tiến trình hành động mà các nhóm ửng hộ sẽ tạo ra kết quả vượt trội,
và rằng những chính sách mà họ phản đối sẽ thất bại, quá tốn kém hoặc tạo ra
những thảm họa mới. Còn thông tin chính trị đó là phản ứng của công chúng
trước những chính sách khác nhau cũng như phản ánh những mong muốn,
14
tâm tư nguyện vọng của nhân dân mà đại diện cho họ chính là các nhóm lợi
ích. Từ đó những nhà hoạch định chính sách công có thể nắm bắt được những
vấn đề xã hội nổi cộm đang thu hút sự chú ý của nhân dân, những vấn đề bức
xúc đòi hỏi phải có giải pháp hành động từ đó chọn ra các vấn đề để có thể
đưa nó thành một vấn đề chính sách. Những thông tin mà các nhà vận động
hành lang đưa ra là những thông tin có giá trị cho các quyết định chính sách
nếu các nhà hoạch định tỉnh táo và có đủ khả năng để phân tích, bởi để có
được những thông tin cơ bản về một lĩnh vực nào đó bản thân nhà vận động
hành lang đã phải là chuyên gia trong lĩnh vực đó, hoặc phải tổ chức được
một nhóm nghiên cứu chuyên nghiệp thu thập thông tin về nó, có như vậy họ
mới có thể đưa ra những bằng cứ, lý lẽ xác thực khi thực hiện công tác thương
thuyết của mình. Ở Mỹ những nhà vận động hành lang thường là các nghị sĩ,
đã từng hoặc đang giữ chức vụ nào đó trong cơ quan lập pháp, bởi vậy mà họ
có khả năng tác động rất lớn tới các nhà hoạch đinh chinh sách. Họ hiểu được
những nhà hoạch định chính sách cần gì và họ luôn cố gắng để làm thỏa mãn
bất kỳ nhu cầu nào từ phía những nhà hoạch định nếu có thể. Như vậy ngay từ
khi chính sách vẫn chỉ là mầm mống thì sự tác động của các nhóm vận động
hành lang đã là rất rõ ràng. Khi mà các quan chức nhà nước do bận nhiều
công việc nên khó có thể cập nhật thông tin trong xây dựng chính sách thì các
nhóm vận động hành lang đã bỏ thời gian, công sức của mình để tập hợp tư
liệu, cung cấp thông tin cho các vị quan chức làm chính sách. Để sau khi vấn
đề chính sách đã được lựa chọn thì họ sẽ bắt tay vào xây dựng chương trình
nghị sự. Ở Mỹ do đặc điểm của quá trình lập pháp hay quy trình ban hành một
chính sách công thường có một thời gian khá dài để các dự luật hoặc các vấn
đề chính sách được đưa ra xem xét ở hai viện,hay đưa ra bàn, bạc thảo luận,
15
lấy ý kiến trong chương trình nghị sự. Đây chính là thời gian để các nhóm lợi
ích tác động đến các nhà hoạch định chính sách để hướng nội dung của dự
luật hoặc chính sách có lợi cho mình. Các nhóm lợi ích thuê những người vận
động hành lang để đưa ra những mục tiêu chính trị riêng của mình trực tiếp tới
các nhà hoạch định chính sách, vì trên thực tế không phải ai cũng có thể gặp gỡ
và tác động đến quyết định của các nhà hoạch định chính sách công dễ dàng.
Trên cơ sở những thông tin thu được từ các nhà vận động hành lang phản
ánh về tâm tư, nguyện vọng của các nhóm lợi ích; về thực tế vấn đề đó đang
diễn ra như thế nào trong xã hội và có thực sự nó là một vấn đề cấp thiết đòi
hỏi phải có một hành động ngay hay không? Từ đó các ngị sĩ quyết định xem
có nên đưa vấn đề này ra để thảo luận, bàn bạc trong chương trình nghị sự
quốc gia hay không? Và khi đã đưa vào trong chương trình nghị sự rồi thì
phải làm thế nào để xác định được những phương án chính sách và những lưạ
chọn tối ưu trong quá trình bàn bạc và thảo luận trước Quốc hội?
Như vậy ngay từ khi lựa chọn vấn đề chính sách, xác lập một chương
trình nghị sự thì đại diện của các nhóm vận động hành lang đã len lỏi vào đó,
họ có thể là những người được thuê mướn hay cũng có thể là chủ thể trực tiếp
được lợi từ những quyết định chính sách đó. Bằng cách cung cấp thông tin
những nhà vận động hành lang đã khôn khéo lồng ghép lợi ích của “khách
hàng” mình hoặc của chính nhóm mình vào đó. Đó chính là thực chất của
hoạt động vận động hành lang ở Mỹ nói rêng cũng như tất cả các quốc gia
phương Tây nói chung.
Ví dụ ở Mỹ vào cuối thập kỷ 1990, dưới sự vận động hành lang của câc
tập đoàn dược phẩm hùng mạnh, việc nhập khẩu thuốc vào Mỹ theo đơn rất
ngặt nghèo. Không chịu nổi giá thuốc leo thang, các cụ già vùng Đông Bắc
16
Mỹ dưới sự tổ chức của các hội hưu trí đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc.
Phong trào này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền. Dù cuộc chiến pháp lý
giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng con tiếp diễn, nhưng hàng loạt
bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá cho người nghèo, hay nới
lỏng quy định nhập khẩu thuốc.
Ngoài ra vận động hành lang còn thể hiện vai trò mạnh mẽ của mình đối
với việc ra quyết định của một chính sách công. Trong đó có bao gồm bước
xây dựng chính sách và quyết định chính sách. Ở Mỹ những thông tin mà các
nhà vận động hành lang cung cấp cho các nhà làm luật, các nhà hoạch định
chính sách sẽ giúp họ định hướng những mục tiêu chính sách- cái đích vạch ra
mà việc thực hiện cần hướng tới. Để có thể ra đời một dự luật hay một chính
sách công thì vai trò của thông tin là vô cùng quan trọng, và các nhà vận động
hành lang chính là những người đem lại những nguồn thông tin quý giá đó
cho những nhà hoạch định chính sách và những nhà làm luật để họ có thể xác
định được con đường mà một chính sách công cần đi cũng như cái đích mà
một chính sách công cần hướng đến. Có thể khẳng định yếu tố quyết định tuổi
thọ của một chính sách công chính là nó có đáp ứng được mong mỏi, đáp ứng
được nhu cầu của công chúng như thế nào? và có được sự hài lòng từ công
chúng hay không? Bởi vậy ngay từ đầu việc khảo sát lấy ý kiến của công
chúng đã là một công tác vô cùng quan trọng, mà không phải nhà hoạch định
chính sách nào cũng có thể làm được đặc biệt là ở quốc gia mà thành phần xã
hội rất phức tạp và có số lượng các bang lớn như ở Mỹ khi đó những nhà vận
động hành lang sẽ là tầng lớp trung gian là cầu nối giữa các nhà hoạch định
chính sách với các nhóm lợi ích trong xã hội. Họ có thể tiếp cận công chúng
nắm bắt được tâm lý của công chúng, hiểu được họ muốn gì cũng như nắm
17
được các nhân tố chi phối đến việc xây dựng một chính sách công như những
vấn đề về phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý…từ đó phản ánh
với những nhà hoạch định chính sách giúp các nhà hoạch định chính xây dựng
được các mục tiêu , lựa chọn được các phương án chính sách phù hợp, sát
thực và mang tính khả thi cao. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một điều rằng bên
cạnh những nhóm vận động hành lang tích cực còn tồn tại những nhóm vận
động thường xuyên gây áp lực đối với việc xây dựng và ban hành một chính
sách công vì chính sách đó ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của họ đặc biệt là ở
một quốc gia mà tồn tại nhiều nhóm lợi ích cũng như chủng tộc như Mỹ .
Thông qua việc đưa thông điệp, truyền tải thông tin, các nhóm cũng đồng thời
sử dụng các phương pháp để gây áp lực với các cơ quan công quyền để chính
sách khi được ban hành phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của nhóm
mình, mà tác động của các nhóm vận động này ta không thể phủ nhận. Qua
đây ta cũng có thể khẳng định được một điều,vai trò của những luồng thông
tin đến từ các nhà vận động hành lang không hề nhỏ, nó quyết định xem một
chính sách có thể tiếp tục được duy trì hay phải hủy bỏ vì áp lực của những
luồng dư luận trái chiều trong xã hội.
Ví dụ như dự luật Cải cách y tế năm 1994 của B.Cliton, đã bị những
người phản đối sử dụng hàng trăm nhóm vận động hành lang cơ sở để huy
động hàng triệu người dân bày tỏ sự phản đối dự luật và kết quả là dự luật Cải
cách y tế của B.Clinton đã bị thất bại.
Ta còn có thể thấy rõ vai trò không nhỏ của vận động hành lang trong
quá trình lập pháp của Mỹ, trong việc xây dựng các đạo luật. Nghị sĩ sẽ trình
dự án luật với Thượng viện và Hạ viện nơi mình là thành viên (gửi cho ban
thư ký). Sau đó Thượng viện và Hạ viện họp toàn viện dể xem xét thông qua
18
dự luật. Tại đây dự luật tiếp tục được sửa đổi, chỉnh lý cả nội dung và câu
chữ. Chỉ cần quá 50% tổng số nghị sĩ của mỗi viện tán thành là một dự án luật
thông qua. Sau khi dự án luật được cả hai viện thông qua được trình lên Tổng
thống ký, Tổng thống có thể ký hoặc không ký. Việc ban hành luật ở Mỹ có
một điểm đặc biệt đó là có sự tham gia của các nhà vận động hành lang.
Người vận động hành lang gặp các nghị sĩ để trình bày, tư vấn chính sách và
thuyết phục để nghị sĩ hiểu, lên tiếng ủng hộ hay bảo vệ chính sách, quyết
định mà họ đưa ra. Nhiều trường hợp những nhà vận động hành lang còn thảo
sẵn dự án luật cho nghị sĩ, hoặc cố thuyết phục để các nghị sĩ Quốc hội bác bỏ
một đạo luật nào đó. Với trách nhiệm và kiến thức của mỗi người nghị sĩ sẽ
chỉ nghe theo những vấn đề đúng, có ích cho xã hội. Nhưng dù sao vận động
hành lang vẫn là một cách làm, một kênh thông tin hữu hiệu mà các nghị sĩ
Quốc hội thừa nhận, tham khảo. Thậm chí có những dự luật do nhà vận động
hành lang chuẩn bị đã được các nghị sĩ hoan nghênh và đệ trình ra Quốc hội.
2.1.2. Vận động hành lang giúp điều hòa mâu thuẫn giữa các nhóm
lợi ích trong xã hội để nhà hoạch định chính sách công có thể đưa ra
những chính sách hợp lý, mang lại lợi ích cho số đông mọi người trong xã
hội Mỹ.
Mỹ được biết đến như là một quốc gia với nhiều sắc tộc và thành phần
xã hội phức tạp, cùng với rất nhiều nhóm lợi ích đại diện cho các giai khác
nhau tầng trong xã hội. Theo thống kê hiện nay ở Mỹ có khoảng 40.000 nhóm
lợi ích khác nhau. Nhưng phần đa trong số đó là các nhóm lợi ích đại diện cho
những người giàu có và có thế lực trong xã hội. Với nhóm lobby mạnh mẽ
nhất là nhóm dại diện cho lợi ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản (chiếm
tới 72%): lobby công nghiệp quốc phòng, lobby dầu khí, lobby phục vụ nước
19
ngoài trong khi đó chỉ có 2% đại diện cho người nghèo và 1% đại diện cho
những người yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật. Với nhiều
nhóm lợi ích như vậy chắc chắn sẽ có lúc xảy ra mâu thuẫn, thường thì một
chính sách công luôn cố gắng dung hòa lợi ích của các nhóm nhưng trên thực
tế chính sách mang lại lợi ích cho nhóm này sẽ có hại hoặc cản trở sự phát
triển của nhóm kia. Tuy vậy dưới sự tác động của các nhà vận động hành lang
thì chính sách của Chính phủ nhiều khi giống như sự mặc cả giữa hai bên có
lợi ích liên quan, giữa các nhóm, hay giữa nhân viên hành chính giữa các
nhóm, điều này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên. Thực chất của hoạt động
vận động hành lang giống như là sự “dàn xếp tỷ số” giữa hai đội chơi mà tỷ
số luôn luôn được cân bằng khiến cho cả hai bên cùng có lợi. Và đây cũng
chính là lý do tại sao nước Mỹ nhiều nhóm lợi ích như vậy mà nó vẫn duy trì
được thế đứng cân bằng trong mọi hoạt động trao đổi qua lại. Khi mà một
chính sách công hay một đạo luật được thông qua, tất nhiên sẽ có một hoặc
vài nhóm trong số 40.000 nhóm lợi ích đó có lợi hơn các nhóm khác nhưng
mấu chốt là ở chỗ vận động hành lang trong đời sống của Mỹ rất “sòng
phẳng” theo phương châm: mọi người đều cần đến nhau ít nhất một lần và
một khi nhóm lợi ích này được hưởng lợi lớn thì nhất định cũng không để
nhóm lợi ích đối lập phải thiệt thòi. Điều này một lần nữa chứng tỏ trong đời
sống kinh tế cũng như chính trị của các nhóm lợi ích Mỹ luôn tồn tại một
“bàn tay vô hình” nó đảm nhiệm vai trò điều phối các hoạt động chính trị,
kinh tế của các nhóm lợi ích này, khiến cho chúng luôn ở thế cân bằng và
không bị lệch ra khỏi quỹ đạo vốn có của nó. Từ đó giúp nhà vận động hành
lang cân bằng được các lợi ích trong quá trình xây dựng một chính sách công,
đảm bảo lợi ích được phân phối hài hòa, tránh gây sự tranh dành giữa các
20
nhóm lợi ích điều này sẽ làm tăng tính khả thi và hài hòa của một chính sách
công khi nó được hoạch định ra. Nó còn giúp chính sách đó tránh được một
cuộc đấu tranh giữa các nhóm lợi ích đối lập dẫn đến nguy cơ một chính sách
công sẽ bị hủy bỏ ngay từ khi nó chỉ là một ý tưởng mà còn chưa được đưa ra
trong chương trình nghị sự quốc gia. Như vậy ta thấy rằng vai trò của một nhà
vận động hành lang là vô cùng quan trọng đối với việc định hình một chính
sách công đặc biệt là ở một quốc gia mà xã hội vô cùng phức tạp bởi sự chi
phối của các nhóm lợi ích và các nhóm sắc tộc như Mỹ.
Ví dụ những năm 80 của thế kỷ XX, Chính phủ Rigân cân nhắc sản xuất
máy bay ném bom chiến lược B-1 hay máy bay cường kích tàng hình kiểu
mới, bởi vì nếu sản xuất máy bay B-1 buộc phải từ bỏ sản xuất máy bay ném
bom chiến lược tầm xa đã được chính quyền thông qua. Do đó đại diện của
hai nhà sản xuất của hai loại máy bay đó đã huy động vốn liếng chính trị, trực
tiếp dùng các nhà vận động hành lang cao cấp như các quan chức cao cấp Bộ
quốc phòng và các nghị sĩ tiến hành cuộc mặc cả ngầm với Tổng thống Rigân.
Kết cụa chính quyền Rigân quyết đinh đồng thời sản xuất cả hai loại máy bay
này cùng với kế hoạch sản xuất tên lửa đạn đạo, gộp lại thành kế hoạch hiện đại
hóa lực lượng chiến lược…
Như vậy ta có thể thấy rõ một điều rằng ở Mỹ vai trò của vận động hành
lang với quá trình hình thành một chính sách công là rất lớn. Trong đó những
nhà vận động hành lang luôn là cầu nối giữa những nhà hoạch định chính sách
công, những cơ quan có thẩm quyền hoạch định với công chúng. Họ là những
người trung gian giúp phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng đến với
các cơ quan có thẩm quyền hoạch định chính sách và cũng là những người gửi
gắm và truyền đi những thông điệp từ những cơ quan hoạch định chính sách
21
đến với quần chúng. Nhờ có họ mà khoảng cách giữa các nhóm lợi ích, các
tập đoàn với các cơ quan hoạch định chính sách công được thu hẹp lại, thúc
đẩy quá trình ban hành và tổ chức thực thi chính sách công phù hợp với thực
tế và mang lại hiệu lực, hiệu quả cao.
2.2. VẬN ĐỘNG HÀNH LANG VỚI QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH CÔNG Ở MỸ
Quá trình tổ chức thực hiện của quy trình chính sách công là quá trình
thực hiện các mục tiêu chính sách trên cơ sở vận dụng những giải pháp đã
định trước để biến những dự định của chính sách thành những kết quả thực tế.
Để một chính sách công sau khi có quyết định công bố và đưa ra tổ chức thực
hiện có hiệu quả thì cần phải huy động các nguồn lực trong đó có cả nhân lực
và vật lực và một công tác cũng không kém quan trọng trong khâu tổ chức
thực hiện đó là việc tuyên truyền và giải thích chính sách công để mọi người
trong xã hội hiểu hơn về chính sách công sắp được ban hành từ đó xác định
cho mình một thái độ đúng đắn hơn khi các cơ quan có thẩm quyền tổ chức
thực hiện chính sách đó trong thực tiễn.
Ở Mỹ , công tác tổ chức và thực hiện chính sách công cũng chịu sự tác
động rõ rệt của hoạt động vận động hành lang. Trong đó:
2.2.1. Vận động hành lang giúp huy động các nguồn lực cần thiết tạo
điều kiện cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách công diễn ra thuận
lợi hơn.
Một chính sách công khi được ban hành và đưa vào thực hiện sẽ rất cần
đến nguồn nhân lực cả vật lực, nhưng trên thực tế chỉ dựa vào ngân sách của
Nhà nước cũng như nguồn nhân lực hạn hẹp của Chính phủ thì việc tổ chức
thực hiện một chính sách công sẽ gặp nhiều khó khăn và khó có thể đạt được
22
những kết quả như mong đợi. Bởi vậy mà việc có được sự tài trợ của các
nhóm xã hội luôn được các chính trị gia hoan nghênh, mặc dù họ biết đó
không chỉ là sự giúp đỡ đơn thuần, mà đằng sau sự giúp đỡ đó luôn là những
tính toán. Đặc biệt Mỹ là một quốc gia với nhiều nhóm lợi ích đại diện cho
các giai tầng khác nhau trong xã hội nên quá trình tổ chức thực hiện một
chính sách công sẽ thu hút sự tham gia của rất nhiều các nhóm lợi ích trong xã
hội , các tập đoàn nhưng không phải là tất cả các nhóm lợi ích , các tập đoàn
đó đều có thể được tham dự vào quá trình tổ chức thực hiện chính sách công.
Mà thực chất đó là cuộc đấu tranh mạnh mẽ của các nhóm, các tập đoàn để có
thể có được cái quyền đặc biệt đó. Và rõ ràng khi này vận động hành lang sẽ
lại một lần nữa thể hiện được vai trò to lớn của mình. Các nhóm, tập đoàn này
sẽ thuê những người vận động hành lang để cố gắng thuyết phục các quan
chức Chính phủ rằng họ là nhóm có điều kiện để thực hiện chương trình, họ
có khả năng giúp các cơ quan chủ chốt thực hiện được chính sách của mình
thông qua tiềm lực tài chính và cả nguồn nhân lực của mình. Và Chính phủ sẽ
là những người lựa chọn xem nhóm nào sẽ phù hợp cho việc thực hiện chính
sách. Chính nhờ hoạt động vận động hành lang này Chính Phủ sẽ có được
những nguồn lực to lớn và phù hợp để thực hiện chính sách công một cách dễ
dàng và hiệu quả nhất. Ở Mỹ cái quyền này không thể thuộc về ai khác ngoài
những ông chủ tài phiệt nắm trong tay những tải sản kếch xù như những
nhóm đại diện cho lobby công nghiệp quốc phòng, lobby dầu khí…họ làm
lũng đoạn cả đời sống kinh tế cũng như môi trường chính trị nhờ những tài
khoản khổng lồ được “bơm” hàng năm cho Chính phủ bởi vậy không có lý do
gì mà họ lại không được hưởng lợi ích từ những quyết sách của Chính phủ.
Họ có thể trực tiếp tài trợ về vốn, cũng có thể là nguồn nhân lực như những
23
chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực đó giúp Chính phủ có điều kiện thực thi
chính sách một cách tốt hơn, dễ dàng hơn. Như vậy dù là một cách trực tiếp
hay gián tiếp các nhà vận động hành lang cũng đã góp phần không nhỏ cho
việc huy động các nguồn lực cơ bản giúp chính sách thực thi một cách thuận
lợi và có hiệu quả cao nhất.
Ví dụ như năm 2010, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã gạt Airbus ra để ký với
Boeing hợp đồng mua máy bay tiếp liệu trị giá 35 tỷ USD. Một số người cho
rằng kết quả này là đương nhiên vì Boeing là công ty Hoa Kỳ trong khi đó
Airbus lại là công ty Châu Âu. Nhưng thực tế để chạy được hợp đồng này,
Boeing đã phải chạy đua với Airbus suốt hơn mười năm, từ khi Bộ Quốc
phòng Hoa Kỳ có kế hoạch nâng cấp máy bay tiếp liệu. Mặt trận chính trong
cuộc chay đua giữa hai đại gia này không phải là công nghệ, giá cả mà là
lobby. Nhờ lobby đúng người đúng chỗ mà Boeing đã dành được hợp đồng
cung cấp máy bay tiếp nhiên liệu trị giá 35 tỷ USD cho không quân Hoa Kỳ.
Bởi vậy mà có thể khẳng định vận động hành lang có vai trò rất lớn với
quy trình chính sách công ở Mỹ. Và nói như các nhà ngiên cứu thì, không có
vận động hành lang chính sách công ở Mỹ rất khó hình thành, bởi luôn tồn tại
những bất đồng giữa lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Để chính sách ra đời
cần phải tiến hành dàn xếp mà đã dàn xếp, thỏa hiệp tức là cần đến các nhà
vận động hành lang.
2.2.2. Vận động hành lang giúp tuyên truyền, giải thích chính sách
thúc đẩy việc tổ chức thực hiện chính sách công trở nên dễ dàng và suôn
sẻ
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “…công bố đạo luật này
chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải giáo dục lâu dài mới thực
24
hiện được tốt”. [2, tr.524]. Bởi vậy mà một chính sách khi ban hành ra không
phải cứ như vậy là có được sự đồng tình ủng hộ của mọi người, nếu không có
sự giúp đỡ của công tác tuyên truyền giải thích chính sách thì một chính sách
ban hành ra cũng sẽ gặp phải nhiều trở lực từ dư luận và khó có thể thực thi
trong thực tiễn. Mỗi một chính sách ban hành đều có tác động đến nhận thức,
tư tưởng của những người liên quan, từ đó hình thành nên thái độ của họ đối
với việc chấp hành chính sách. Việc nhận thức đúng đắn vấn đề để mọi người
có liên quan cùng đi theo một con đường chung là yếu tố quan trọng đảm bảo
cho thực hiện chính sách thắng lợi. Vì vậy các cơ quan công quyền phải tuyên
truyền, giải thích, chuẩn bị dư luận cho việc thực hiện chính sách để mọi
người hiểu, ủng hộ có như vậy việc tổ chức thực hiện một chính sách công
mới thuận lợi, và tránh được những luồng dư luận trái chiều.
Ở Mỹ công tác tuyên truyền giải thích chính sách công trong quá trình tổ
chức thực hiện cũng mang đậm dấu nét của hoạt động vận động hành lang.
Một chính sách công khi được các cơ quan công quyền thông qua, thì sẽ được
đưa vào thực hiện trong thực tiễn đời sống. Nhưng không phải một chính sách
đưa ra là có thể thuận lợi đưa vào tổ chức thực hiện, mà nó thường xuyên phải
chịu những luồng dư luận trái chiều có thể là của những người đồng tình hoặc
phản đối. Nhất là ở một xã hội phức tạp về sắc tộc, cũng như đa dạng về các
nhóm lợi ích của cả cấp bang và cấp liên bang như Mỹ. Chính sách công đưa
ra có thể có lợi cho nhóm này nhưng cũng có thể cản trở gây bất lợi cho nhóm
khác, vậy làm thế nào để mọi người hiểu được và có một tiếng nói chung khi
một chính sách công được đưa ra thực hiện trong thực tiễn? Lúc này vai trò
của những nhà vận động hành lang lại được biểu hiện rõ rệt. Những cơ quan
chủ chốt được giao thực hiện chính sách sẽ bỏ tiền ra thuê những nhà vận
25