Tải bản đầy đủ (.docx) (77 trang)

Quy định về hôn nhân gia đình trong hoàng việt luật lệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (367.36 KB, 77 trang )

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: HÔN NHÂN...................................................................................1
1.1.
Sự kết lập hôn nhân............................................................................................ 1
1.1.1. Điều kiện về nội dung................................................................................1
1.1.1.1. Các điều kiện thuộc về gia đình.....................................................2
1.1.1.2. Các điều kiện thuộc về người kết hôn.......................................3
1.1.1.3. Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn................................8
1.1.2. Điều
kiện
về
hình
thức
...............................................................................................................................
13
1.1.2.1.
Lễ
đính
hôn
......................................................................................................................................
14
1.1.2.2.
Lễ
thành
hôn
......................................................................................................................................
1.2.

16
Sự


chấm
dứt
hôn
nhân
......................................................................................................................................
17
1.2.1.

1.2.2.

Ly
hôn
...............................................................................................................................
17
Chấm dứt hôn nhân do một người chết trước
...............................................................................................................................

26
CHƯƠNG
2:
QUAN
HỆ
GIA
ĐÌNH
................................................................................................................................
27
2.1.

Quan
hệ

vợ
chồng
......................................................................................................................................
27
2.1.1.

Quan
hệ
nhân
thân
...............................................................................................................................

27
2.1.1.1. Quan hệ nhân thân khi hôn nhân ch ưa ch ấm d ứt

1


......................................................................................................................................
27
2.1.1.2. Quan hệ nhân thân khi hôn nhân chấm d ứt
......................................................................................................................................
34
2.1.2.

2.2.

Quan
hệ
tài

sản
...............................................................................................................................

35
Quan
hệ
giữa
cha
mẹ

con
......................................................................................................................................
36
2.2.1.

Quan
hệ
nhân
thân
...............................................................................................................................

38
2.2.1.1.
Cha
mẹ
đối
với
con
cái
......................................................................................................................................

38
2.2.1.2.
Con
cái
đối
với
cha
mẹ
......................................................................................................................................
39
2.2.2.

Quan
hệ
tài
sản
...............................................................................................................................

42
2.2.2.1.
Khi
cha
mẹ
còn
sống
......................................................................................................................................
42
2.2.2.2.
Khi
cha

mẹ
đã
chết
......................................................................................................................................
2.3.

43
Các
mối
quan
hệ
khác
trong
gia
đình
......................................................................................................................................
47
2.3.1.

2.3.2.

Quan hệ giữa các thành viên và tôn trưởng
...............................................................................................................................
47
Quan

hệ

giữa


cha

mẹ

vợ



con

rể

2


...............................................................................................................................
2.3.3.

49
Quan
hệ
giữa
vợ
cả

vợ
lẽ
...............................................................................................................................

51

CHƯƠNG
3:
BÀI
HỌC
KINH
NGHIỆM
................................................................................................................................
53
3.1.

Đánh giá các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng
Việt
luật
lệ
......................................................................................................................................
53
3.1.1.

3.1.2.

Tính độc lập của các quy định về hôn nhân và gia đình
trong
Hoàng
Việt
luật
lệ
...............................................................................................................................
53
Tính nhân văn của các quy định về hôn nhân và gia đình
trong

Hoàng
việt
luật
lệ
...............................................................................................................................
59
3.1.2.1.

3.1.2.2.

3.2.

Trong hôn nhân, quyền lợi của cá nhân người kết hôn
được đặt bên cạnh lợi ích chung của gia đình
.............................................................................................................
59
Trong quan hệ gia đình, quyền lợi của mỗi thành viên
được
tôn
trọng

bảo
vệ
.............................................................................................................

62
Kế thừa và phát triển những giá trị tích cực của các quy định hôn
nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ vào pháp luật hôn nhân

gia

đình
ngày
nay
......................................................................................................................................

66
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

3


CHƯƠNG 1: HÔN NHÂN
Hôn nhân là một nội dung cơ bản của các quy định về hôn nhân và
gia đình trong Hoàng Việt luật lệ. Bộ luật không đưa ra định nghĩa về
hôn nhân nhưng để cho quá trình tìm hiểu được dễ dàng h ơn, ta có th ể
hiểu hôn nhân dưới thời Nguyễn là thuật ngữ chỉ mối quan hệ gi ữa v ợ
và chồng sau khi đã thỏa mãn đầy đủ các điều kiện kết hôn. Cách hi ểu
này có phần giống với khái niệm hôn nhân trong Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam năm 2000. Điều 8 khoản 6 quy định: “Hôn nhân là quan
hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [2-tr.12]. Nh ưng hôn nhân d ưới
thời Nguyễn, bên cạnh các đặc điểm chung của hôn nhân phong ki ến
còn có những nét riêng đầy thú vị phản ánh đời sống xã hội c ủa ông cha
ta thế kỷ XIX.
Những đặc điểm đó trước hết được thể hiện qua việc thiết lập và
chấm dứt hôn nhân.
1.1.
Sự kết lập hôn nhân.
Kết hôn là sự mở màng quan trọng của trai gái đồng th ời là s ự ki ện
thiết lập quan hệ thông gia giữa hai dòng họ với nhau. Thông qua m ột s ố

quy định về điều kiện kết hôn trong Hoàng Việt luật lệ (các Điều 94, 96,
98, 100, 101, 108,109…) và đặc điểm hôn nhân d ưới th ời Nguy ễn, ta có
thể hiểu kết hôn là sự phối hợp giữa người con trai và người con gái,
được gia đình hai bên và pháp luật cho phép với mục đích chính là sinh
con nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên.
Để quan hệ hôn nhân hợp pháp và bền vững thì ngay từ ban đ ầu
việc kết hôn phải thỏa mãn các điều kiện về nội dung cũng nh ư các điều
kiện về hình thức.
1.1.1. Điều kiện về nội dung.
Bao gồm: Điều kiện thuộc về gia đình hai bên trai gái, điều kiện
thuộc về trai gái và không thuộc trường hợp cấm kết hôn.
1.1.1.1.
Các điều kiện thuộc về gia đình.

4


Giống như các triều đại phong kiến trước đây, th ời nhà Nguy ễn
quan niệm hôn nhân trước hết là sự liên hệ đến nền tảng của hai gia
đình: “Theo cổ luật và tục lệ, sự cưới xin là sự thỏa hiệp gi ữa gia đình hai
bên nhiều hơn là các người phối ngẫu vị lai” [11-tr.23]. Vì v ậy, các đi ều
kiện thuộc về gia đình được đặt ra trước tiên đối với một cuộc hôn nhân
hợp pháp.
 Sự đồng ý của hai bên gia đình
Trong những quy định về việc kết hôn của trai gái, nhà làm lu ật
luôn nhắc đến các thuật ngữ “nhà trai”, “nhà gái”, ho ặc “hai nhà” đ ể th ể
hiện việc quyết định hôn sự không phải chỉ là chuyện riêng của trai gái
mà còn là sự kiện quan trọng của gia đình. Ví d ụ trong Điều 94 v ới t ựa
đề “Nam nữ hôn nhân” có quy định: “Phàm trai gái định chuy ện c ưới
nhau phải không bị tàn tật, bịnh hoạn, già trẻ so le, là con dòng nhánh

con nuôi, con cùng tông xin nuôi khác họ, hai nhà cần nói rõ ra đ ể đôi bên
thỏa sự mong cầu... Nếu người xin cưới mà nhà gái m ạo nhận, ch ủ hôn
bị phạt 80 trượng. Như nhà gái có đứa tàn tật, khi coi m ặt thì m ạo trá ch ị
em ra, khi cưới lại đưa con gái tật nguyền ra làm thành v ợ ch ồng, truy
thu lễ vật trả cho nhà trai” [6-tr.315]. Phần giải thích của Đi ều này cũng
có nói: “Trai gái cưới nhau thì hai nhà phải ch ấp nhận. Người bịnh t ật
[thì chẳng phải người hoàn toàn], già trẻ tuổi không x ứng nhau; đó là
đều không phải là điều ước mong của mọi người” [6-tr.316].
Như vậy, sự ưng thuận của gia đình hai bên là điều kiện c ần thiết
của hôn nhân. Các bậc bề trên trong gia đình nh ư ông bà, cha m ẹ, bác,
chú hoặc người tôn trưởng sẽ là người quyết định. Vì nh ững người này
thường lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống gia đình. H ọ có
thể lựa chọn ra người dâu rể phù hợp với gia đình đ ể đạt đ ược m ục đích
chính của hôn nhân là sinh con nối dõi, th ờ ph ụng gia tiên.

5




Phải có chủ hôn
Việc cưới gả của trai gái cần phải có người đứng ra làm chủ hôn. Chủ

hôn thường là người đã ưng thuận việc kết hôn, là người có uy tín trong gia
đình như ông bà, cha mẹ hay người tôn trưởng. Điều 94 lệ 1 quy định: “Cưới
gả đều do ông bà cha mẹ đứng làm chủ hôn. Nếu không có ông bà cha mẹ thì
do những người thân thuộc khác làm chủ hôn. Con gái đến tuổi lấy chồng mà
cha đã chết thì mẹ làm chủ hôn” [6-tr.319]. Phần giải thích của Điều 109 cũng
khẳng định vai trò của chủ hôn đối với việc cưới gả: “Hôn nhân ắt phải có chủ
hôn. Nếu ông bà chủ hôn cho cháu, cha mẹ chủ hôn cho con, anh cho em, chị

cho em hay ông bà ngoại làm cho cháu ngoại, đó là phận tôn trọng hôn nhân
bởi sự chuyên chế, bề dưới không thể không nghe theo” [6-tr.348].
Khác với người mai mối, chủ hôn nhà trai và chủ hôn nhà gái sẽ phải
chịu trách nhiệm trước gia đình thông gia và trước pháp luật về các vấn đề
như thông tin liên quan đến trai gái, việc hối hôn cũng như vấn đề cưới gả trái
luật. Đối với việc hối hôn, chủ hôn nhà trai hoặc nhà gái sẽ bị phạt 50 roi nếu
đã hứa gả mà nhà trai hoặc nhà gái đổi ý không gả nữa; phạt 70 trượng nếu
hứa gả tiếp cho người khác; phạt 80 trượng nếu đã thành hôn với một người
khác [6-tr.315]. Chủ hôn cũng phải chịu trách nhiệm trong việc cưới gả trái
luật. Điều 109 quy định: “Phàm cưới gả sái luật, nếu do ông bà cha mẹ, bác,
thím, cô, huynh đệ và ông bà ngoại của đôi trai gái, đứng chủ hôn thì tội sái
luật chỉ buộc vào chủ hôn, trai gái không tội” [6-tr.347].
1.1.1.2.
Các điều kiện thuộc về người kết hôn.
 Điều kiện về độ tuổi
Trước nhà Nguyễn, độ tuổi của người kết hôn thường để cho gia
đình tự quyết định hoặc dựa vào phong tục tập quán để điều ch ỉnh.
Nhưng đến thời Nguyễn điều kiện này đã được quy định minh th ị trong
luật tại Điều 94 lệ 2 Hoàng Việt luật lệ: “Hôn nhân trai gái đều có đ ịnh
ngày cả, có kẻ chỉ bụng cắt áo đơn cho là thành thân, cái đó c ấm hoàn
toàn” [6-tr.319]. Theo tinh thần của quy định trên thì việc nam n ữ kết

6


hôn khi còn quá nhỏ sẽ bị cấm. Vì về phương diện sinh lý hai bên không
thể thực hiện được chức năng làm cha làm mẹ, từ đó không đảm bảo
được mục đích của hôn nhân. Hoặc việc quyết định cưới gả gi ữa hai gia
đình khi con cái còn đang trong bào thai cũng bị cấm hoàn toàn. M ặc dù
không xác định cụ thể về độ tuổi nhưng đây là một quy định tiến bộ của

pháp luật nhà Nguyễn nhằm hạn chế nạn tảo hôn và vẫn được duy trì,
phát triển trong pháp luật ngày nay. Là một trong các điều kiện k ết hôn
theo khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000:
“Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” [2-tr.14].
Ngoài ra, kết hôn giữa những người có sự chênh lệch lớn về độ tuổi
cũng được các nhà lập pháp cân nhắc đến: “… già trẻ tu ổi không x ứng
nhau; đó là đều không phải là điều ước mong của m ọi ng ười” [6-tr.316],
hai gia đình cần phải nói rõ cho nhau biết. Độ tuổi nam nữ cách nhau
quá xa không những ảnh hưởng đến việc sinh con cái mà sâu xa còn ảnh
hưởng đến hạnh phúc của cá nhân những người kết hôn. Nếu có sự gi ấu
giếm, lừa dối sẽ phải gánh chịu chế tài: “Nhà gái phạt 80 tr ượng, nhà trai
tăng thêm 1 bực” [6-tr.318].
Như vậy, bên cạnh quy định về điều kiện độ tuổi kết hôn, Bộ luật
cũng đã có những quy định hạn chế việc “già trẻ so le” lấy nhau. Cũng là
để mong muốn cho cuộc sống hôn nhân gia đình được tốt đẹp h ơn.
• Điều kiện về sức khỏe và thân thế
Việc cưới gả con cháu cho một người bệnh tật cũng là đi ều không
mong muốn trong gia đình và dòng họ, nh ất là đối v ới nhà trai. B ởi l ấy
người bị các tật bệnh hiểm nghèo thì trước hết không đảm đương đ ược
chức năng sinh con nối dõi, làm tròn chữ hiếu với tổ tông; sau n ữa là
không thể lao động tốt để đóng góp vào việc duy trì cu ộc s ống c ủa gia
đình. Không hoàn toàn cấm tuyệt đối việc kết hôn của nh ững ng ười
bệnh tật, Bộ luật chỉ ấn định điều kiện mang tính chất hạn chế. Đi ều 94

7


quy định: “Phạm ban đầu trai gái định chuyện cưới nhau ph ải không b ị
tàn tật, bịnh hoạn… hai nhà cần nói rõ để đôi bên thỏa s ự mong c ầu.
Nếu không bằng lòng thì đình lại. Nếu bằng lòng thì l ập hôn th ư ng ắn

gọn, y lễ mà cưới gả” [6-tr.315]. Ngoài ra, thân thế địa vị của trai gái trong
gia đình cũng cần được làm rõ để không làm ảnh h ưởng đến quy ền l ợi
và danh dự của hai nhà. Điều 94 quy định: “… là con dòng nhánh con
nuôi, con cùng tông xin nuôi khác họ, hai nhà cần nói rõ đ ể đôi bên th ỏa
sự mong cầu” [6-tr.315].
Vì thế, trước khi kết thành thông gia hai gia đình cần ph ải nói rõ
cho nhau biết, không được phép giấu giếm tình trạng bệnh tật cũng nh ư
thân thế của người kết hôn. Nếu không thông báo hoặc có hành vi đánh
tráo sẽ bị coi là lừa dối, “mạo nhận” và sẽ phải chịu chế tài. Đi ều 94 quy
định: “Nếu người xin cưới mà nhà gái mạo nhận, ch ủ hôn bị phạt 80
trượng. Như nhà gái có đứa tàn tật, khi ra mặt thì m ạo trá ch ị em ra, khi
cưới lại đưa con gái tật nguyền ra làm thành vợ ch ồng, truy thu l ễ v ật
trả lại cho nhà trai. Nhà trai mạo nhận thì tăng thêm m ột b ực, nghĩa là
không phải chính người con trai ấy mà là người con trai có t ật nguy ền,
nhưng khi coi mặt thì mạo trá anh hoặc em ra, như vậy là không ứng
đúng nguyện vọng của hôn nhân, không trả lễ vật” [ 6-tr.315-316]. Ở đây,
nhà lập pháp chỉ đưa ra một ví dụ về trường hợp “mạo nhận”; ngoài ra,
phạm vi của hành vi “mạo nhận” không chỉ bó hẹp ở trường hợp trên mà
còn có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nữa: “Mạo nh ận là
giả mạo, lừa dối người ta; chuyện giả mạo bất nhất, lời chú chỉ nêu 1, 2
điều để làm luật lệ thôi. Ngoài những điều ấy phải suy ra, không ắt nh ư
lời chú nói” [6-tr.318]. Ví dụ quy định tại Điều 107: “Nếu mạo láo nô tỳ là
lương nhân, cùng lương nhân làm chồng vợ thì ph ạt 90 tr ượng. M ạo láo
bởi gia trưởng thì bắt tội gia trưởng, bởi nô tỳ thì bắt tội nô tỳ. Ph ải li d ị

8


cải chính, nghĩa là người con gái bị nhập tịch làm nô phải s ửa l ại là l ương
nhân mới được” [6-tr.342]. Đây là trường hợp nói dối nô tỳ là người sang

để được kết hôn với dân lành.
Nhà gái mà gian dối thì phạt 80 trượng, còn nhà trai thì tăng thêm
một bực. Chế tài này có phần ưu ái hơn cho nhà gái. Bởi: “Nhà gái dù
mạo nhận, người con trai vẫn có thể lấy vợ. Trái lại, nhà trai mạo nhận
thì nhà gái đã thất thân, sự việc càng thêm trầm trọng” [ 6-tr.318]. Nếu
chưa thành hôn thì được phép tiến hành hôn nhân với người con trai, con
gái không bị ác tật hay có thân thế như lúc ra coi m ắt: “Ch ưa thành hôn
thì vẫn y như nguyên định là [chỗ trá ngụy về] không tật bệnh c ủa anh
em, chị em con ruột của cha mẹ là người cưới vợ” [ 6-tr.316]. Còn đã thành
hôn rồi thì ly dị, nhưng đối với nhà gái thì luật không bắt buộc ph ải ly d ị
mà cho phép nhà gái lựa chọn: “Nếu người con gái không mu ốn l ấy
chồng khác thì cũng được khỏi li dị” [ 6-tr.319]. Quy định này đã cân nhắc
đến quyền lợi của người con gái, bởi chữ trinh tiết của người con gái
thời phong kiến đặc biệt quan trọng.
• Điều kiện về ý chí
Bên cạnh điều kiện quan trọng là sự ưng thuận c ủa gia đình thì ý
chí của người kết hôn cũng được tôn trọng trong một số tr ường h ợp:
Trường hợp người kết lập hôn nhân không còn ông bà, cha mẹ, bác,
thím, cô, anh chị em, và ông bà ngoại mà chỉ còn bà con xa thì h ọ có th ể
tự đứng ra quyết định hôn sự của mình. Bà con xa là nh ững ng ười thân
thuộc khác như “những bà con ti ấu, đại công trở xuống, tôn tr ưởng” [ 6tr.347]. Ví dụ anh chị họ của người kết hôn, hay ông bà là anh em ru ột
của ông bà nội của người kết hôn. Nếu có “cưới gả sái luật” thì bà con xa
chỉ là đồng phạm còn trai gái kết hôn là chủ mưu. Điều 109 quy đ ịnh:
“Việc do chủ hôn thì người ấy là thủ, trai gái là tòng, đ ược gi ảm 1 b ực.
Việc do trai gái thì họ là thủ, chủ hôn là tòng” [6-tr.347].

9


Trường hợp phải đi làm xa nhà thì con cái có th ể kết hôn mà không

cần sự đồng ý của gia đình. Điều kiện lãnh thổ của n ước ta th ời các vua
Nguyễn rất rộng lớn [13-tr.325] nên việc đi lại khó khăn; để thuận ti ện
hơn, họ thường phải ở lại chỗ làm tùy vào tính chất của từng công vi ệc.
Điều 94 quy định: “Nếu ty ấu, quan, hoặc người đi buôn bán ngoài xa mà
ở nhà ông bà, cha mẹ, chú bác, cô, anh chị (từ sau khi ty ấu ra đi) đã đính
hôn mà ty ấu không biết, nên đã tự ý lấy vợ rồi, nh ưng phải c ưới ng ười
vợ này. Người nữ kia cho phép lấy chồng khác. Còn nếu nh ư ch ưa c ưới
vợ thì theo chỗ định của tôn trưởng, người nữ kia tự định lấy chồng
khác” [6-tr.316]. Hôn nhân do người ti ấu cử hành trước sẽ được coi trọng
hơn sự quyết định của tôn trưởng. Quy định này một mặt tôn trọng ý chí
của chủ thể kết hôn, mặt khác phần nào hướng đến việc duy trì s ự ổn
định của hôn nhân.
Trường hợp chồng chết, sau khi mãn tang, người v ợ không c ải giá
mà nguyện thủ chí với chồng. Điều 98 quy định: “Mãn tang phục ch ồng
mà thê thiếp quả có nguyện thủ chí mà bị ép bởi ông bà cha m ẹ và ông
bà cha mẹ nhà chồng thì phạt 80 trượng. Trong vòng thân thuộc thì tăng
1 bực, đại công trở xuống lại tăng 1 bực. Người đàn bà và người c ưới
đều không có tội. Nếu chưa thành hôn thì đưa về nhà chồng cũ, cho phép
được thủ chí mình, thu lại tiền cưới. Còn như đã thành hôn r ồi thì cho v ề
đoàn tụ, tiền cưới cho vào quan” [ 6-tr.324]. Quy định này đã tôn trọng và
bảo vệ ý kiến của người quả phụ, không ai được quy ền ép buộc họ,
ngay cả khi đó là ông bà, cha mẹ đẻ. Trước đây, pháp luật nhà Lê s ơ cũng
có quy định về vấn đề này nhưng không cấm đối với ông bà, cha mẹ c ủa
người quả phụ đó. Điều 320 Quốc triều hình luật quy định: “Tang ch ồng
đã hết mà người vợ muốn thủ tiết, nếu ai không phải là ông bà cha m ẹ
mà ép gả cho người khác, thì xử biếm ba tư và bắt ph ải li d ị; ng ười đàn

10



bà phải trả về chồng cũ; người đàn ông lấy [người đàn bà ấy] thì không
phải tội” [3-tr.130]. Như vậy, so với Quốc triều hình luật thì quy đ ịnh
trên của pháp luật nhà Nguyễn mức độ tôn trọng quy ền tự do cá nhân
của người quả phụ cao hơn.
Với điều kiện ý chí của những người kết hôn cho thấy lợi ích của cá
nhân đã được nhà lập pháp thời Nguyễn xem trọng và đ ặt bên cạnh l ợi
ích chung của đại gia đình.
1.1.1.3.
Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn.
Căn cứ vào tính chất của sự cấm đoán có th ể chia các tr ường h ợp
cấm kết hôn thành 2 nhóm: cấm tương đối và cấm tuyệt đối. Các tr ường
hợp kết hôn thuộc nhóm cấm tương đối thì không bắt buộc ph ải ly dị
nhưng phải chịu chế tài. Còn các trường hợp thuộc nhóm cấm tuy ệt đ ối
thì bắt buộc phải ly dị đồng thời phải chịu cả chế tài.
 Nhóm thứ nhất: cấm tương đối
• Kết hôn khi gia đình đang có tang
Gia đình có tang là một chuyện buồn. Còn hôn s ự là việc đáng đ ể vui
nên thường tổ chức lễ cưới linh đình, ăn uống hát ca. Tang cha mẹ và
tang chồng thuộc loại trảm thôi (3 năm) [4-tr.77] được xem là đại tang
nên việc cử hành hôn sự trong lúc đang có tang cha mẹ bị coi là bất hi ếu
[4-tr.107]; đang có tang chồng bị coi là bất nghĩa [4-tr.108]. Bất hiếu và
bất nghĩa là 2 trong số 10 tội ác được xem là nguy hi ểm nh ất trong xã
hội. Điều 98 quy định: “Phàm trai gái để tang cha mẹ và thê, thi ếp đ ể
tang chồng mà tự thân chủ hôn cưới gả thì phạt 100 tr ượng. Nếu con
trai để tang cha mẹ mà lấy vợ nhỏ, vợ để tang chồng, con gái đ ể tang cha
mẹ mà đem gả làm thiếp cho người khác thì được giảm 2 bực tội” [ 6tr.324]. Ngoài ra, khi chưa mãn tang những người thân khác “mà con gái
lấy chồng, con trai cưới vợ là chẳng phải lễ” [ 6-tr.325]. Đó là thuộc vào
tang tề thôi (1 năm) [4-tr.78] thì không bắt ly dị nhưng vẫn phải chịu chế
tài: “Nếu để tang ông bà, chú bác, cô, anh em (tr ừ cháu th ừa tr ọng là con


11


dòng lớn, cha mất sớm, nên phải để tang ông bà 3 năm thay cho cha) mà
cưới gả thì bị phạt 80 trượng, không phải li dị, thiếp không bị tội” [ 6tr.324]. So với Quốc triều hình luật thì quy định trên của Hoàng Việt luật
lệ rộng hơn về đối tượng được để tang. Quốc triều hình luật chỉ cấm cử
hành hôn lễ trong thời kỳ cư tang cha mẹ, còn Hoàng Việt luật lệ quy
định cả đối với tang của ông bà, chú bác hay anh em ruột. Tuy nhiên, v ề
phần chế tài thì Quốc triều hình luật khắt khe h ơn khi bắt bu ộc ch ấm
dứt hôn nhân. Điều 317 Quốc triều hình luật quy định: “Ng ười nào đang
có tang cha mẹ, hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc c ưới v ợ thì x ử
tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử tội biếm ba tư và đôi v ợ
chồng mới cưới phải chia lìa” [3-tr.129].
• Kết hôn trong khi ông bà, cha mẹ đang bị giam
Ông bà, cha mẹ đang phải chịu cảnh tù đày, sống chết không biết lúc
nào mà con cháu đã không tỏ lòng lo lắng lại tổ chức cưới gả, quên đi n ỗi
khổ của bậc sinh thành là đã quên đi đạo làm con cháu. Điều 99 quy
định: “Phàm ông bà cha mẹ phạm tội chết, đang bị giam trong tù, mà
cháu con tự cưới gả thì phạt 80 trượng. Nếu con trai l ấy thiếp, con gái
gả làm thiếp thì giảm 2 bực tội” [ 6-tr.328]. Xuất phát từ đạo nghĩa của
con cháu mà nhà làm luật đã đặt ra quy định trên. Nh ưng đ ược s ự cho
phép của ông bà, cha mẹ thì hôn lễ được phép cử hành: “Ông bà cha m ẹ
đang trong tù mà ra lịnh cho gả, cưới thì không có tội, nh ưng cũng không
được tiệc tùng kéo dài. (Nếu làm trái là tiệc kéo dài trong khi cha m ẹ
đang ở trong tù, thì phạt 80 trượng)” [ 6-tr.328]. Pháp luật thời Lê sơ cũng
có quy định tương tự nhưng trong trường hợp không được sự đ ồng ý c ủa
ông bà, cha mẹ thì chế tài mang tính chất tuyệt đối là bắt bu ộc ph ải ly
dị. Điều 318 Quốc triều hình luật quy định: “Trong khi ông bà cha m ẹ bị

12



giam cầm tù tội, mà lấy vợ lấy chồng thì đều x ử biếm ba t ư và đôi v ợ
chồng phải li dị” [3-tr.129].
• Nô tỳ lấy dân lành
Dưới thời Nguyễn việc phân biệt các tầng lớp trong xã h ội đ ược th ể
hiện rõ thông qua các quy định của pháp luật. Trong pháp lu ật v ề hôn
nhân và gia đình, việc ngăn cản nô tỳ có quan hệ hôn nhân v ới dân lành
phần nào thể hiện tư tưởng đó. Điều 107 quy định: “Phàm gia tr ưởng
cưới vợ cho nô bộc là con gái nhà lành, thì bị phạt 80 tr ượng, ch ủ hôn
nhà gái giảm 1 bực. Không biết không tội… Người nô bộc họ t ự c ưới g ả
thì tội cũng thế. Gia trưởng biết chuyện thì giảm hai bực, nhân đó mà ghi
vào sổ (chỉ gia trưởng) khiến người gái kia là nô bộc thì phạt 100
trượng” [6-tr.341-342].
 Nhóm thứ hai: cấm tuyệt đối
• Cấm kết hôn làm mất trật tự thê thiếp
Để ổn định trật tự trong gia đình, nhà làm luật đặt ra quy định ph ải
tôn trọng thứ bậc giữa vợ cả và vợ lẽ. Mặc dù thừa nhận chế độ đa thê
nhưng pháp luật cấm tình trạng “song hôn”, với ý nghĩa “là s ự kết lập giá
thú khi còn một giá thú trước chưa đoạn tiêu” [20-tr.265]. Vợ cả còn sống
thì chỉ được lấy vợ lẽ mà không được lấy thêm vợ cả nữa. Bên cạnh đó, hành
vi đưa vợ lẽ lên vị trí vợ cả cũng bị cấm vì đã làm ảnh h ưởng đến s ự ổn
định của gia đình. Điều 96 quy định: “Phàm đem thê làm thi ếp thì ph ạt
100 trượng. Vợ lớn còn sống mà đem vợ nhỏ làm vợ lớn thì phạt 90
trượng và sửa đổi lại cho đúng. Nếu đã có vợ chính (l ớn) mà còn c ưới v ợ
lớn nữa thì phạt 90 trượng. Vợ cưới sau: phải li dị, trả về cho tông t ộc”
[6-tr.322].
• Cấm mệnh phụ phu nhân cải giá
Tuy đã hết tang chồng nhưng những người phụ nữ được vua ban
giấy khen phong làm “mệnh phụ phu nhân” mà tái giá thì x ử t ội nh ư

người thường (Điều 98). Nhà làm luật nói rõ: “Hạng mệnh phụ từng

13


nhận ân mệnh vua ban, không thể so với đàn bà tầm th ường đ ược, nên
phải giữ cái nghĩa tùng có một cho đến cuối đời. Cho nên chết ch ồng mà
tái giá là luận tội, coi như đàn bà th ường đang c ư tang ch ồng mà l ấy
chồng khác, tội phạt 100 trượng, làm thiếp thì giảm 2 bực, và v ẫn thu v ề
giấy khen của vua” [6-tr.325]. Trường hợp này phải ly dị và truy thu tiền
cưới.


Cấm kết hôn với họ hàng thân thích
Để bảo vệ tôn ty thứ bậc trong dòng họ, pháp luật nhà Nguy ễn còn

quy định cấm kết hôn giữa những người có họ hàng với nhau. Được quy
định tại Điều 100: Cưới người cùng họ đồng tông, Điều 101: Tôn ti cùng
cưới nhau và Điều 102: Cưới người trong thân tộc làm thê thiếp [6tr.329-333]. Nếu kết hôn thuộc 1 trong 3 trường hợp trên thì bắt buộc ly
dị và phải chịu chế tài. Ví dụ trường hợp lấy người cùng họ đ ồng tông:
“Phàm cưới người cùng dòng họ thì chủ hôn và trai gái, mỗi người bị
phạt 60 trượng, li dị, phụ nữ đưa về tông tộc, tiền cưới cho quan”. Ngoài
mục đích giữ gìn sự ổn định trong gia đình, quy định này cũng xu ất phát
từ việc nhận thức được hậu quả của hành vi giao cấu giữa những người
có quan hệ bà con gần: những đứa trẻ sinh ra thường bị d ị tật, đần đ ộn.
So với Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 thì quy đ ịnh
cấm người thân thuộc kết hôn của pháp luật nhà Nguy ễn có ph ạm vi
rộng hơn, bao gồm cả những người không có quan hệ ruột th ịt nh ư c ấm
lấy chị em của con rể hoặc lấy chị em của vợ các cháu trong dòng họ [6tr.330]. Tuy có phần khắt khe nhưng nhà làm luật đã căn c ứ trên c ơ s ở
luân thường đạo lý, cũng như vì lý do s ức khỏe sinh s ản, s ự phát tri ển

bình thường, khỏe mạnh của giống nòi mà quy định như trên.
• Cấm cưới bộ dân làm thê thiếp
Điều 103 quy định: “Phàm các quan dân vào làm vi ệc ở ph ủ, châu,
huyện mà cưới phụ nữ bộ dân làm thê thiếp thì phạt 80 tr ượng. Nếu

14


quan giám lâm nội ngoại, thượng ty, cưới, bị hỏi mới đem thê thiếp và
con gái làm thê thiếp hầu người, thì phạt 100 trượng, ng ười ch ủ hôn
nhân nhà gái cùng tội. Thê thiếp vẫn sống l ưỡng li, con gái c ấp v ề cho
cha mẹ” [6-tr.333]. Việc quan và dân địa phương kết hôn sẽ không được
phép. Hai bên sẽ phải ly dị và chịu hình phạt. Quy đ ịnh này th ể hi ện s ự
phân biệt đẳng cấp xã hội trong việc ngăn cấm quan lại có quan h ệ v ới
thường dân.
Nhằm mục đích ngăn ngừa sự lạm dụng địa vị của các quan ch ức đ ịa
phương để ép buộc dân lành kết hôn, nhà làm luật cũng định ra ch ế tài
đối với hành vi cưỡng ép kết hôn. Điều 103 quy đ ịnh: “ Ỷ th ế m ạnh mà
cưới bắt ép thì tăng 2 bực tội, nhà gái không bị tội. Đàn bà cho v ề ch ồng
trước, con gái cho về cha mẹ, không truy thu tiền cưới” [ 6-tr.334]. Tăng 2
bực so với tội kết hôn với dân nghĩa là hình ph ạt đ ối v ới quan thân dân
sẽ là 100 trượng, quan giám lâm là 70 trượng và đồ n ửa năm.
• Kết hôn với phụ nữ phạm tội chạy trốn
Vì sự tôn nghiêm của luật pháp, nhà làm luật đặt ra các chế tài thích
đáng đối với những ai biết phụ nữ phạm tội chạy tr ốn mà vẫn k ết hôn
và với chính người phụ nữ đã phạm tội. Điều 104 quy đ ịnh: “Phàm ph ụ
nữ phạm tội bị phát ở quan rồi chạy chốn ra ngoài, mà cưới làm v ợ l ớn,
vợ nhỏ. Biết chuyện chạy trốn kia thì xử tội y nh ư người ph ạm t ội kia.
Phụ nữ tăng hai bực tội vì chạy trốn, còn người cưới thì không tăng t ội.
Đến chết thì giảm 1 bực, li dị. Nếu không có chồng l ại g ặp lúc mi ễn xá

tội, không được li dị, chỉ có điều không hợp nhau là li d ị” [ 6-tr.335]. Việc
cưới phụ nữ phạm tội chạy trốn là trái luật nên phải ly d ị và ch ịu các
chế tài. Đối với những người phụ nữ phạm vào tội có hình phạt chết mà
kết hôn, nhà trai sẽ được giảm 1 bực so với tội chết; còn nh ư người phụ
nữ phạm vào các tội có hình phạt khác thì nhà trai sẽ b ị x ử theo t ội c ủa
người phụ nữ đã phạm lúc chạy trốn, người phụ n ữ sẽ chịu hình ph ạt

15


nặng hơn. Phần giải thích của Điều này có nói rõ thêm: “Biết chuy ện mà
vẫn cưới thì xử tội giống như người phạm tội. Như người ph ụ n ữ bị tội
100 trượng, nay tăng 2 bực vì tội trốn thời phạt 70 tr ượng, đ ồ n ửa năm.
Biết chuyện mà cưới thì phạt 100 trượng. Phụ nữ tội đến chết, biết v ậy
mà cưới thì giảm 1 bực tội phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm, li d ị” [ 6tr.335-336].
• Cưỡng chiếm vợ con gái nhà lành
Điều 105 quy định: “Phàm người cường hào nhiều th ế c ưỡng đo ạt
vợ con gái nhà lành, dối trá chiếm làm thê thiếp thì ph ạt th ắt c ổ giam
chờ. Đàn bà cho về nhà chồng, con gái cho về nhà cha mẹ. Nếu đem g ả
cho con cháu, em cháu thì người chủ mưu lãnh tội nh ư v ừa nói trên. Còn
người bị gả là trai gái sẽ bị tội vẫn phải li dị, cấp về cho cha m ẹ” [ 6tr.336]. Quy định này một mặt trừng phạt sự hóng hách, ngang ng ược, ỷ
thế của những gia đình giàu, có quyền lực; mặt khác bênh v ực nh ững
người dân lành yếu thế, bị ức hiếp. Từ đó thể hiện t ư tưởng nhân đ ạo
của pháp luật nhà Nguyễn.
• Cấm sư nam, đạo sĩ kết hôn
Điều 106 quy định: “Phàm Tăng, Đạo cưới thê thiếp thì ph ạt 80
trượng, hồi tục. Người chủ hôn nhà gái đồng tội, bắt li dị” [ 6-tr.340].
Người theo đạo lấy vợ thì đã không còn giữ được giới luật, không còn
xứng đáng làm tăng đạo nên buộc phải hồi tục. Ng ười con gái đã l ấy h ọ
sau khi ly dị thì về với cha mẹ, tiền cưới sẽ phải n ộp vào quan.

Trên đây là 3 điều kiện được đặt ra đối với việc kết lập hôn nhân.
Nam nữ muốn tiến tới hôn nhân thì phải đáp ứng được các điều ki ện
trên, bằng không cuộc hôn nhân đó về mặt pháp lý sẽ không đ ược th ừa
nhận. Trong đó, các điều kiện thuộc về gia đình vẫn là điều ki ện c ơ bản
nhất và quan trọng hơn cả, nhưng các điều kiện thuộc về người kết hôn

16


đặc biệt là các điều kiện ý chí cũng được xem trọng. Điều đó cho th ấy l ợi
ích của cá nhân được đặt bên cạnh lợi ích chung của gia đình.
1.1.2. Điều kiện về hình thức.
Hôn nhân trong Hoàng Việt luật lệ, cũng như trong cổ luật Việt Nam
nói chung được xem là sự liên hệ đến nền tảng của dòng h ọ h ơn là c ủa
người kết hôn. Vì danh dự của hai gia đình, hôn lễ th ường đ ược c ử hành
một cách trọng thể và có hệ thống. Thông qua một số quy định trong Bộ
luật, ta có thể thấy thủ tục kết hôn trải qua 2 giai đoạn, đó là l ễ đính
hôn và lễ thành hôn.
1.1.2.1.
Lễ đính hôn.
Lễ đính hôn (hay hứa hôn) là sự giao ước của hai gia đình v ề m ột
hôn thú trong tương lai. Theo tinh thần của Điều 94 thì vi ệc h ứa hôn có
thể được thể hiện dưới 2 hình thức là hôn th ư hoặc trao nh ận sính lễ.
Hôn thư là văn bản thường có ký nhận rõ ràng của người chủ hôn hai gia
đình. Còn sính lễ phải là một số tiền, tùy thuộc vào gia cảnh mà gia đình
nhà trai trao cho nhà gái khi hỏi cưới. Thời nhà Lê s ơ thì sính lễ ngoài
tiền ra có thể bằng lụa, vàng bạc hay lợn, rượu (Điều 315 Quốc tri ều
hình luật).
Sau khi đã có hôn thư hoặc hai nhà đã trao nhận sính lễ cho nhau thì sự
hứa hôn đã thành và quan trọng là nó có giá trị pháp lý ràng buộc gia đình hai

bên cũng như đối với người thứ ba cho tới trước khi tổ chức lễ thành hôn.
Điều đó được thể hiện rõ nhất thông qua các chế tài được quy định đối với
việc vi phạm giao ước đính hôn:
 Chế tài về sự bãi hôn
Điều 94 quy định, sau khi đã đính hôn mà nhà gái hoặc nhà trai đ ổi ý
không gả nữa thì người chủ hôn bị phạt 50 roi, nếu h ứa g ả cho ng ười
thứ ba thì phạt 70 trượng, nếu đã thành hôn với người này r ồi ph ạt 80
trượng. Nhưng việc giải quyết các mối quan hệ sau đó thì không hoàn
toàn giống nhau:

17


Đối với việc bãi hứa của nhà gái, dù chưa hay đã thành hôn v ới
người thứ ba thì đều phải đưa về nhà trai đã hứa hôn trước; nhà trai này
không chịu cưới thì phải đưa gấp đôi tiền sính lễ cho nhà gái, ng ười con
gái được phép theo người thứ ba. Chủ hôn của gia đình ng ười th ứ ba
cũng bị phạt giống như chủ hôn nhà gái nếu biết có việc h ứa hôn tr ước
đó mà vẫn cưới hỏi, sính lễ bị truy thu và sung vào quan; nếu không bi ết
thì không có tội.
Đối với sự bãi hôn của nhà trai thì có phần khác. Ch ưa thành hôn thì
phải lấy người con gái trước, người con gái sau được phép g ả ch ỗ khác.
Còn: “Nếu đã thành hôn thì khó bắt người ta cắt đ ứt ra… Đàng trai này
lấy người con gái đã thất thân, không chỗ nương t ựa, việc ấy khác nhau.
Nếu buộc li dị gả nơi khác thì chẳng những trái nhân tình mà cũng không
phải ý của luật” [6-tr.318]. Như vậy, hôn nhân với người thứ ba có giá trị
nên cho phép người con gái hỏi trước được gả ch ỗ khác và không ph ải
trả lại sính lễ.
 Chế tài về ép cưới của nhà trai và trì hoãn cưới c ủa nhà gái
Điều 94 quy định: “Tuy đã nạp lễ cưới [tiền] rồi, ch ưa đến ngày h ẹn

mà đằng trai ép gả, hoặc đến hẹn kì mà nhà đàng gái sai hẹn thì ch ủ hôn
hai bên bị phạt 50 roi” [ 6-tr.316]. Hôn nhân là chuyện hệ trọng của hai
gia đình. Việc nhận lời hứa gả con cháu, kết thành thông gia không gi ống
những lời nói giao tiếp bình thường. Khi đã giao ước hôn nhân, hai gia
đình luôn phải giữ chữ tín với nhau. Nên nhà lập pháp đặt ra chế tài đối
với hành vi ép cưới của nhà trai khi chưa đến ngày cưới đã đ ịnh và hành
vi trì hoãn cưới của nhà gái đã đến ngày định mà không c ưới. Trong Qu ốc
triều hình luật nhà Lê không có quy định này.
 Chế tài về trì hoãn cưới của nhà trai
Để bảo vệ quyền lợi – “cái thì” của người con gái, nhà làm lu ật đã
quy định thời hạn tối đa giữa lễ đính hôn và lễ thành hôn là 5 năm. Đi ều

18


108 lệ 2 quy định: “Trong hạn 5 năm không m ắc l ỗi l ầm nào mà không
gả… thì cho phép thưa lên quan cấp chấp chiếu cho ra đi c ải giá, cũng
không đòi tiền cưới” [6-tr.347]. Trong thời hạn 5 năm nhà trai không chịu
cưới thì lời hứa hôn không còn giá trị ràng buộc đối với gia đình nhà gái,
người con gái sau khi thưa lên quan sẽ được phép đi l ấy ng ười khác và
không phải trả lại đồ sính lễ.
Ngoài ra, Bộ luật còn quy định 2 trường hợp ch ấm dứt hiệu lực đính
hôn. Trường hợp thứ nhất, một trong hai người đã hứa hôn mà lại đi
gian dâm với người khác thì người còn lại được quy ền đổi ý. Điều 94 quy
định: “Chưa thành vợ chồng trai gái gian dâm với người khác n ếu con trai
phạm gian thì con gái lấy chồng khác, con gái ph ạm gian thì con trai l ấy
vợ khác” [6-tr.315]. Trường hợp thứ 2 là một trong hai người hứa hôn đã
chết. Điều 94 lệ 2 quy định: “Nếu đã định cưới nhau, nhưng ch ưa thành
thân, mà nam nữ hoặc có người gặp tai nạn qua đời thì không đòi l ại
tiền nạp cưới” [6-tr.319]. Cả 2 trường hợp trên, sự đổi ý của người còn

lại là được phép.
Như vậy, các quy định về sự hứa hôn được Hoàng Việt luật lệ quy
định khá chi tiết và chặt chẽ. Trong Quốc triều hình luật, các quy đ ịnh v ề
cưỡng ép và trì hoãn cưới không được quy định; các chế tài về s ự bãi hôn
có phần nặng hơn so với Hoàng Việt luật lệ. Điều 315 Quốc triều hình
luật quy định nếu nhà gái đổi ý không cưới nữa thì ph ạt 80 tr ượng còn
trong Hoàng Việt luật lệ là 50 roi; nếu đã thành hôn v ới ng ười khác r ồi
thì xử tội đồ làm khao đinh, trong Hoàng Việt luật l ệ là 80 tr ượng; nhà
trai đổi ý thì phạt 80 trượng và mất sính lễ, trong Hoàng Vi ệt lu ật l ệ là
50 roi. Sự khác nhau này không nhằm nhấn mạnh pháp luật thời đại nào
coi trọng hiệu lực của sự hứa hôn hơn mà để thấy đ ược s ự khác nhau

19


trong tư tưởng, nhận thức của các nhà lập pháp đối với việc quy đ ịnh
chế tài hình sự trong lĩnh vực hôn nhân.
1.1.2.2.
Lễ thành hôn.
Lễ thành hôn (hay lễ cưới) là giai đoạn tiếp theo và là b ước cuối
cùng của nghi lễ hôn thú. Sau lễ thành hôn, quan hệ giữa nam n ữ chính
thức là quan hệ vợ chồng. Từ đó phát sinh những quy ền và nghĩa vụ giữa
vợ và chồng cũng như quyền và nghĩa vụ đối với gia đình hai bên. So v ới
lễ đính hôn, lễ thành hôn không được quy định cụ thể bằng. Cho nên, hai
bên gia đình thường dựa vào phong tục tập quán của đ ịa ph ương đ ể ti ến
hành lễ cưới. Pháp luật chỉ can thiệp nếu có sự lạm dụng tục lệ địa
phương hay những đòi hỏi không phù hợp với gia c ảnh của hai gia đình.
Việc đòi hỏi đồ cưới hoặc việc làng nhà gái hạch sách lễ “n ộp cheo” đối
với người đi hỏi vợ sẽ bị cấm. Điều 164 quy định: “Phàm giá thú, sính l ễ
mỗi nhà nhiều ít là tùy nghi, chớ khiến người ta viết tờ cầm ru ộng, bắt

nộp tiền cheo, như người cùng làng thì nộp tại làng, giàu thì 1 tiền 2 quan, kế
đến 6 quan nghèo 3 quan, riêng người trong xã khác giàu thì 2 tiền 4 quan, kế
đến 1 tiền 2 quan, nghèo 6 quan. Không được đòi hỏi nhiều. Lại như chàng rể
đi hỏi vợ làng khác, sau khi làm sính lễ rồi, ở làng của người vợ ấy không
được lưu niêm đòi hỏi ca hát nộp tiền. Nếu ai trái mà cho phép thì ông chủ sự
báo cáo cho xã trưởng, bị phạt 50 roi” [6-tr.453]. “Như vậy, pháp luật thừa
nhận và tôn trọng tục lệ, nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với gia cảnh của
từng hạng người, nhằm đảm bảo trật tự ổn định và sự tiến bộ xã hội” [10tr.51].
1.2.

Sự chấm dứt hôn nhân.
Căn cứ vào tình trạng của vợ chồng khi hôn nhân chấm dứt, ta có

thể chia thành 2 trường hợp chấm dứt hôn nhân: Ly hôn và ch ấm d ứt
hôn nhân do một người chết trước.
1.2.1. Ly hôn.

20


Ly hôn là sự chấm dứt hôn nhân khi vợ chồng còn sống. Nguyên
nhân dẫn đến ly hôn có thể xuất phát từ phía người v ợ ho ặc ng ười
chồng hoặc cả hai. Căn cứ vào nguyên nhân ly hôn có thể chia làm 4 hình
thức: ly hôn do lỗi của người vợ, ly hôn do l ỗi của ng ười ch ồng, thu ận
tình ly hôn và ly hôn do vi phạm điều cấm của pháp luật.
 Ly hôn do lỗi của người vợ
• Lỗi “thất xuất”
Thất xuất là bảy trường hợp lỗi, khi vợ phạm vào thì ch ồng có
quyền đơn phương chấm dứt hôn nhân, được quy định tại Điều 108. Đó
là các lỗi: “… không có con, dâm dật, không th ờ cha mẹ ch ồng, nói nhi ều,

ghen tuông, ác tật” [6-tr.342-343].
 Không sinh đẻ
Một trong những mục đích quan trọng của hôn nhân là sinh con đ ể
duy trì nòi giống, thờ phụng tổ tiên. Một gia đình đông con th ường đ ược
xem là hạnh phúc và may mắn. Nên khi vợ chồng không th ể sinh con thì
mục đích của hôn nhân không trọn vẹn, người chồng lúc này có quy ền
được bỏ người vợ đã ăn ở với mình bấy lâu nay. Luật không gi ới h ạn
thời gian bao lâu người vợ về nhà chồng mà không có con thì ch ồng có
quyền bỏ, nhưng theo ý kiến của tác giả Ái Lan trong bài vi ết “Lu ật Gia
Long có bảy điều cho phép đàn ông ly d ị v ợ” thì: “Theo th ế th ường, thì
đàn bà lấy chồng năm năm mà không có con cái gì, thì ph ải c ưới v ợ bé
cho chồng. Vợ bé vừa là con hầu vừa là người để sinh đẻ thay cho ng ười
vợ chánh. Chồng không thể lấy riêng một tội không mà bỏ v ợ đ ược, ch ỉ
khi nào vợ phạm nhiều tội khác nữa, thì chồng có th ể viện lẽ đó mà đ ể
vợ ra” [15-tr.8].
 Dâm dật
Nguyên cớ này bao gồm các hành vi có tính dâm đãng, lẳng l ơ trái
với phẩm hạnh của người phụ nữ. Nhưng trừ hành vi ngoại tình vì ngo ại

21


tình là một trong các trường hợp thuộc vào lỗi nghĩa tuy ệt (sẽ đ ề cập ở
mục sau).
 Không thờ cha mẹ chồng
Theo quan niệm của Nho giáo, người phụ n ữ khi đã về làm dâu thì
phải phục tùng chồng và gia đình chồng. Người vợ phải tôn trọng, đ ối x ử
hiếu đễ với cha mẹ chồng cũng như các bậc bề trên trong gia đình
chồng. Ngược lại, sự vô lễ của người vợ đối với gia đình chồng sẽ là một
lý do để người chồng có quyền bỏ.

 Nói nhiều
Ý chỉ người đàn bà có tính tình chua ngoa, hay ngồi lê đôi mách, nói
lời quá lẽ. Những lời nói hành động này thường xuyên tiếp diễn thì
người chồng có lý do để bỏ vợ.
 Ăn cắp, ăn trộm
Ăn trộm tài sản của người ngoài hay của gia đình chồng mà không
bỏ thì sẽ bị vạ lây, ảnh hưởng đến thanh danh của dòng họ bên ch ồng.
Để bảo vệ quyền lợi của gia đình chồng, nhà làm luật đã quy đ ịnh là m ột
trong bảy nguyên cớ mà người chồng có quyền bỏ vợ.
 Ghen tuông
Việc cho phép duy trì chế độ đa thê là một nguyên cớ của quy định
này. Bởi lẽ khi người chồng có nhiều vợ thì không th ể tránh đ ược s ự
ghen tuông giữa các người vợ. Người chồng có thể dựa vào nguyên cớ
này để răn đe vợ nhằm duy trì sự ổn định trong gia đình.
 Ác tật
Đó là các tật bệnh hiểm nghèo như phong cùi, điên loạn. Bị các t ật
bệnh này, người vợ không thể hoàn thành được tốt đạo làm dâu “khi có
việc tế tự không làm được xôi hay cỗ” [26-tr.58] cũng nh ư vai trò làm v ợ
của mình, nên là một lý do để người chồng có thể bỏ.
Trong số 7 nguyên có nói trên thì có 5 nguyên cớ thuộc v ề l ỗi ch ủ
quan của người vợ, đó là: dâm dật, không th ờ cha mẹ ch ồng, nói nhi ều,
trộm cắp, ghen tuông. Hai duyên cớ còn lại (không có con, ác t ật) không

22


hoàn toàn do lỗi của người vợ mà xuất phát từ yếu tố khách quan đem
đến nhưng nhà lập pháp vẫn xem đó là duyên cớ để chồng có th ể bỏ v ợ.
Điều này cũng dễ hiểu khi mà mục đích chính của hôn nhân là sinh con
nối dõi thì quyền lợi của gia đình được đặt trên quan hệ hôn nhân.

Một điều đặc biệt trong Bộ luật là nếu người vợ phạm phải thất
xuất thì người chồng không bắt buộc phải bỏ vợ: “Phàm dù v ợ ở trong 7
điều nên bỏ, cũng không nên bỏ” [ 6-tr.342]. Nhà lập pháp dự liệu 7
trường hợp người chồng có quyền bỏ vợ nhưng đã không xem nh ẹ l ợi
ích cá nhân, không xem nhẹ tình nghĩa vợ chồng nên để việc quy ết đ ịnh
bỏ hay không là quyền của người chồng, nếu người ch ồng không bỏ thì
cũng không phải chịu chế tài. Thời Lê sơ thì “khi người v ợ phạm vào m ột
trong bảy điều thất xuất thì người chồng bắt buộc phải bỏ v ợ. Nếu
người chồng không bỏ vợ thì pháp luật cũng buộc họ phải bỏ” [ 21-tr.395]
và sẽ bị chế tài. Điều 310 Quốc triều hình luật quy định: “Vợ cả, vợ lẽ
phạm phải điều nghĩa tuyệt (như thất xuất) mà người chồng ch ịu gi ấu
không bỏ thì xử tội biếm, tùy theo việc nặng nhẹ” [3-tr.127]. V ới s ự khác
biệt này thì so với nhà Lê, pháp luật nhà Nguyễn đã bảo vệ ng ười ph ụ
nữ hơn đồng thời đã chú ý đặt lợi ích cá nhân bên cạnh lợi ích chung của
gia đình.
Mặc khác, người chồng không có quyền bỏ vợ nếu người vợ ở trong
3 trường hợp gọi là tam bất khứ, dù vợ có phạm vào thất xuất. Điều 108
quy định: “Dù phạm 7 điều là không có con, dâm dật, không th ờ cha m ẹ
chồng, nói nhiều, trộm cắp, ghen tuông, ác tật. Nh ưng có 3 đi ều không
bỏ để tang 3 năm, trước nghèo sau giàu, có người cưới cũng không ưng”
[6-tr.343]. Nếu người chồng bỏ vợ trong trường hợp này thì sẽ bị ch ế tài:
“Tuy phạm 7 điều bỏ, mà trong tam bất khứ, có 1 rồi thì cũng không có lý
để bỏ được; nhưng cứ thẳng tình bỏ thì giảm hai bực, ph ạt 60 tr ượng,

23


cho về đoàn tụ” [6-tr.344]. Các quy định này “Chủ yếu nhằm hạn chế
quyền “rẫy vợ” của người chồng và bảo vệ ân nghĩa v ợ ch ồng” [ 13tr.449].
Vợ đã để tang nhà chồng 3 năm

Quy định này bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ khi chuyên


tâm thờ cúng cha mẹ chồng đã khuất. Trong 3 năm người v ợ đã chăm lo
việc thờ cúng, tế tự, không vui chơi ca hát, không đeo n ữ trang… đ ể t ỏ
lòng hiếu thảo với cha mẹ chồng. Người chồng không được quên s ự ăn ở
hiếu thảo đó mà bỏ vợ, dẫu người vợ có phạm phải lỗi thất xuất.
 Khi lấy nhau nghèo về sau giàu có
Quy định này đã thừa nhận công lao, sự đóng góp của ng ười v ợ
trong việc làm nên sự nghiệp công danh cũng nh ư kinh tế trong gia đình
chồng. Lúc cơ cực, nghèo khổ luôn có vợ sẻ chia đỡ đần bên cạnh, đến
lúc giàu sang phú quý người chồng không được quên ân tình mà bỏ v ợ.
 Khi lấy nhau, vợ còn người thân nhưng giờ không còn ai đ ể tr ở
về
Người vợ không còn bà con thân thuộc thì không còn ai đ ể mà
nương tựa ngoài chồng, nên người chồng không được bỏ v ợ trong hoàn
cảnh này. Quy định điều này nhà làm luật đã suy xét đến phong t ục, đ ạo
đức mà cảm thương đến thân phận của người phụ nữ phải ch ịu cảnh cô
đơn nếu chồng bỏ.
Ba trường hợp trên xuất phát từ đời sống trọng tình nghĩa của
người Việt Nam, đồng thời thể hiện tính nhân văn của cổ luật tri ều
Nguyễn thông qua việc quan tâm đến thân phận của người ph ụ n ữ trong
xã hội.
• Lỗi “nghĩa tuyệt”:
Bộ luật không liệt kê các trường hợp nghĩa tuy ệt nh ư đối v ới th ất
xuất, nhưng đã giải thích: “Nghĩa tuyệt là ân tình v ợ ch ồng đi trái ng ược
nhau làm cho mất đứt nghĩa. Trong luật ch ưa nói rõ điều này, ch ỉ th ấy
nằm rải rác trong đôi điều” [6-tr.344]. Các lỗi nghĩa tuyệt có thể xuất

24



phát từ vợ hoặc chồng nhưng trong phạm vi của tiểu mục này ch ỉ xin đề
cập đến lỗi xuất phát từ phía người vợ. Khi người vợ phạm vào nghĩa
tuyệt, người chồng có quyền bỏ hoặc không: “Có người cho rằng đối v ới
luật thì nên li dị không cho hợp lại, như nói li dị về tông, đó là lo ại l ưỡng
li tức điều này là nên li dị mà không li d ị cũng đ ược. Có ng ười cho r ằng
việc có thể li dị mà còn làm dáng hòa hợp, nh ư bảo đó là ý muốn ở l ại,
cho phép theo ý, còn li dị, cũng cho phép, thì điều lu ật này b ảo ph ải theo
sự gả bán của chồng cũng vậy” [6-tr.344]. Tuy nhiên, so với thất xuất thì
nghĩa tuyệt mang tính chất nặng hơn vì nếu rơi vào trường hợp đáng bỏ
vợ mà người chồng không bỏ thì sẽ chịu chế tài. Điều 108 quy định:
“Nếu phạm nghĩa tuyệt nên li dị mà không li dị thì ph ạt 80 tr ượng” [ 6tr.343]. Một số trường hợp nghĩa tuyệt:
 Người vợ tự ý bỏ đi
Theo quan niệm Nho giáo người vợ có nghĩa vụ theo chồng nên việc
tự ý bỏ đi khỏi nhà chồng là không được phép. Ph ần gi ải thích c ủa Đi ều
108 có nói rõ thêm: “Người đàn bà đáng nghĩa là phải theo ch ồng. Ch ồng
có thể bỏ vợ, vợ không được tự mình tuyệt giao v ới ch ồng. Nếu b ỏ
chồng mà trốn đi, thì phạt 100 trượng. Nếu theo chồng gả bán, nhân đó
trốn đi và tự cải giá thì xử thắt cổ” [ 6-tr.345]. Hoặc khi người chồng bỏ đi
không có tin tức gì chưa đến 3 năm hoặc đã quá 3 năm mà ng ười v ợ
không báo cho quan địa phương lại tự ý bỏ đi và cải giá cũng không đ ược
phép (Điều 108). Giải thích cho điều này, nhà làm luật đã nói nh ư sau:
“Việc chồng đi không về và việc phản bội chồng hoàn toàn khác nhau.
Nhưng nếu còn trốn thì còn có thể trở về, chứ còn cải giá thì ch ấm d ứt
rồi” [6-tr.345]. Cả 2 trường hợp tự tiện trốn đi trên được coi là đã làm
cho tình nghĩa vợ chồng đoạn tuyệt, người chồng có quy ền bỏ v ợ và
thậm chí gả bán cho người khác.
 Vợ đánh chồng


25


×