Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

Đề cương ôn tập Mác 2 (Phần kinh tế, chính trị) Trường KHXHNV 2017

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (225.03 KB, 21 trang )

1.

Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của SXHH. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
vấn đề này.
1. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá
Xã hội đã trải qua 2 kiểu tổ chức kinh tế: sx tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá.
SX tự cấp tự túc: là sản phẩm do lao động tạo ra nhằm để thoả mãn trực tiếp
nhu cầu của người sản xuất.
Sản xuất hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra
để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.
Xh loài người phát triển, công cụ lao động ngày càng hiện đại đồ đồng thay
bằng đồ sắt… đã làm cho năng suất lao động tăng nhanh. Nhu cầu con người ngày
càng cao do đó sản phẩm con người làm ra không chỉ đáp ứng yêu cầu con người
mà còn đáp ứng yêu cầu của người khác-> trao đổi nhau-> xuất hiện hàng hoá.
SX hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong sự phát triển xh loài người, lực
lượng sản xuất phát triển nhanh chóng.
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự phân
chia ngành nghề, là sự chuyên môn hoá sản xuất. Mỗi người sẽ làm một công việc
cụ thể và chỉ tạo ra một sản phẩm nhất định. Mà nhu cầu của người đa dạng ->
thoả mãn nhu cầu ấy, đòi hỏi phải liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao đổi sản
phẩm cho nhau.

Phân công lao động xã hội càng phát triển thì sản xuất và trao đổi hàng
hoá càng mở rộng hơn, đa dạng hơn.
VD: Thợ mộc: làm bàn ghế
Thợ xây: xây nhà
Thợ may: quần áo

Trao đổi nhau
Chú ý: Phân công lao động chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ vì trong xã hội


Ấn Độ cổ đại người ta cũng phân công lao động nhưng TLSX là của chung ->
công xã phân phối trực tiếp cho từng thành viên để thoả mãn nhu cầu.
Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất.


Cần phải có điều kiện thứ hai, Mác cho rằng sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại
phải có lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau.
Do sự phát triển của LLSX, chế độ tư hữu về TLSX cũng phát triển và có những
hình thức tồn tại khác nhau -> quan hệ sở hữu khác nhau TLSX -> sản xuất độc
lập -> nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau
về sản xuất và tiêu dùng. Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm
của người khác phải thông qua sự mua bán hàng hoá, phải trao đổi dưới những
hình thái hàng hoá.
Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
Khác với sản xuất tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hoá đã làm cho xã hội sản xuất
được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng, xoá bỏ tính
bảo thủ, trì trệ đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất.
Thứ nhất, Do mục đích của sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu
cầu của bản thân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn nhu
cầu của người khác, của thị trường. Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị
trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ hai, cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá
phải năng động trong sản xuất kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hoá sản xuất tăng NSLĐ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ
được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh đã thúc
đẩy LLSX phát triển mạnh mẽ.
VD: Công ty Unilever sản xuất ra sản phẩm bột giặt Omo: cải tiến sản phẩm
của mình rất nhiều lần.
Hay sản phẩm nước xả vải Comfort cũng cải tiến rất nhiều lần.
Thứ ba, Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở” của các quan hệ

hàng hoá tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các địa phương trong nước
và quốc tế ngày càng phát triển. Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân.
2.


Sản xuất hàng hoá phát triển -> giao lưu trao đổi mua bán sản phẩm giữa các
vùng với nhau.
VD: quan hệ sản xuất các mặt hàng chẳng hạn quần áo, giày dép…
Nhưng sản xuất hàng hoá phát triển làm nảy sinh sự phân hoá giàu nghèo giữa
những người sản xuất hàng hoá, tiềm ẩn khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá hoại
môi trường.
Câu 2. Lượng GTHH. Các nhân tố ảnh hưởng đến Lượng GTHH. Ý nghĩa
của việc nghiên cứu vấn đề này.
a) Thước đo lượng giá trị của hàng hoá
Giá trị hàng hóa do số lượng lao động XH cần thiết để SX ra hàng hóa đó
quyết định.
Đơn vị đo: Thời gian lao động: ngày giờ, tháng, năm…
Lượng giá trị hàng hóa không đo bằng thời gian lao động cá biệt mà đo bằng
thời gian lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết, là thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa,
với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, trong những
điều kiện bình thường so với hoàn cảnh XH nhất định.
VD: may 1 cái áo theo quy định mất 1g và người ta quy ra giá trị của cái áo đó.
- Trên thực tế thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cá biệt
của những người cung cấp đại bộ phận lượng hàng hóa ấy trên thị trường.
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá
Thứ nhất, Năng suất lao động:
+ Khái niệm NSLĐ: Là năng lực SX của lao động.
+ Được tính bằng:

* Số lượng sản phẩm sx ra trong 1đơn vị thời gian
* Số lượng lao động hao phí để sx ra 1 đơn vị sản phẩm
- Tăng NSLĐ: Tăng hiệu quả, năng lực sx của lao động
Khi NSLĐ tăng:
* Số lượng sản phẩm sx ra trong 1 đơn vị thời gian tăng
* Số lượng lao động hao phí để sx ra 1 đơn vị sản phẩm giảm
- Các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ:


* Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người lao động.
* Mức độ phát triển của khoa học - kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng
dụng những thành tựu đó vào sản xuất.
* Trình độ tổ chức quản lý,
* Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
* Các điều kiện tự nhiên
- NSLĐ tăng lên , giá trị một đơn vị sản phẩm giảm xuống
Phân biệt năng suất lao động với cường độ lao động:
+ Khái niệm: Cường độ lao động, nói lên mức độ lao động khẩn trương nặng
nhọc của người lao động trong một đơn vị thời gian.
+ Cường độ lao động được đo bằng sự tiêu hao lao động trong 1 đơn vị thời
gian và thường được tính bắng số calo hao phí trong 1 đơn vị thời gian.
* Tăng cường độ lao động: là tăng sự hao phí lao động trong 1 thời gian lao
động nhất định.
* Cường độ lao động tăng giá trị một đơn vị sản phẩm không đổi.
Cường độ lao động cũng phụ thuộc:
+ Trình độ tổ chức quản lý
+ Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
+ Thể chất, tinh thần của người lao động.
PHÂN BIỆT TĂNG CƯỜNG ĐỘ LAO ĐỘNG VÀ TĂNG NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG

Tăng NSLĐ Tăng cường
độ lao động
Số
lượng Tăng
Tăng
sản phẩm sx
ra trong một
đơn vị thời
gian
số
lượng Không đổi Tăng
lao
động
hao
phí


trong 1 đơn
vị thời gian
Giá trị 1 Giảm
Không đổi
đơn vị sản
phẩm
Thứ hai, Mức độ phức tạp của lao động
Lao động giản đơn và lao động phức tạp
- Lao động giản đơn là LĐ không qua huấn luyện, đào tạo.
- Lao động phức tạp là LĐ phải qua huấn luyện đào tạo, là lao động thành thạo.
- Khi trao đổi trên thị trường, người ta lấy lao động giản đơn làm căn cứ và quy
tất cả lao động phức tạp về lao động giản đơn.
Lao đông phức tạp là bội số của lao động giản đơn

Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động
giản đơn.
Câu 3. Quy luật GT. Nội dung. Yêu cầu. Tác động. Ý nghĩa của việc nghiên
cứu vấn đề này.
- Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức trên cơ
sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:
+ Trong sản xuất:
*Khối lượng sản phẩm mà những người SX tạo ra phải phù hợp nhu cầu có
khả năng thanh toán của XH
* Hao phí lao động cá biệt phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết
+ Trong trao đổi: phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá.
Giá cả vận động lên xuống xoay quanh giá trị. Do tác động của quan hệ cung
cầu về hàng hóa trên thị trường làm cho giá cả ở từng nơi, từng lúc, từng mặt hàng
có thể( lớn hơn,nhỏ hơn, hoặc bằng), giá trị của nó.
Nhưng trong một thời gian nhất định ,xét trên góc độ cả toàn bộ nền kinh tế
thì:
Tổng giá cả = Tổng giá trị


+Tác động của cung và cầu: làm cho giá cả vận động xoay quanh giá trị hàng
hóa:
Khi cung = cầu, thì giá cả = giá trị
Khi cung > cầu, thì giá cả < giá trị
Khi cung < cầu, thì giá cả > giá trị
Đồng thời, giá cả cũng có tác động tới cung và cầu.
Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
* Điều tiết SX:
Phân phối TLSX và SLĐ vào các ngành, vùng khác nhau một cách tự phát
thông qua sự lên xuống của giá cả.
* Điều tiết lưu thông:

Phân phối nguồn hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao.
-> Điều tiết tự phát
-> Thông qua sự lên xuống của giá cả.
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao
động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
Người SX có: hao phí lao động cá biệt < hao phí LĐXHCT muốn vậy phải cải
tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức ,quản lý , để nâng cao năng xuất lao động hạ giá
thành sản phẩm .
Từng người vì lợi ích của mình mà cũng tìm cách cải tiến kỹ thuật sẽ thúc đẩy
LLSX của XH phát triển
Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá sản xuất hàng hoá thành
người giàu, người nghèo.
+ Người SX có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội có lợi trở lên giàu có.
+ Người SX có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội sẽ bất lợi thua lỗ và phá
sản.
Câu 4. Công thức chung của TB; HH; Sức lao động. Ý nghĩa của việc nghiên
cứu vấn đề này.
Công thức chung của tư bản
Lưu thông hàng hoá giản đơn: H – T – H
Lưu thông hàng hoá TBCN: T – H – T


*Giống nhau:
- Cả hai quá trình đều có 2 yếu tố tham gia là tiền và vàng.
- Có 2 quá trình mua bán đối lập nhau.
- Mỗi một quá trình đều có 3 người tham gia: mua, bán, môi giới.
*Khác nhau:
- Điểm môi giới:
H-T-H: là tiền đại diện giá trị.
T-H-T: là hàng đại diện GTSD.

- Quy trình mua bán:
H-T-H: bán -> mua
T-H-T: mua -> bán
- Điểm mở đầu và kết thúc
H-T-H: giá trị sử dụng
T-H-T: giá trị (tiền)
- Mục đích
H-T-H: GTSD (chất)
T-H-T: giá trị (lượng) T’>T
- Giới hạn của sự vận động
H-T-H: kết thúc
T-H-T: vận động không có giới hạn
-> Do đó: T-H-T’ là công thức chung của tư bản.
Công thức này là công thức chung của tư bản vì sự vận động của mọi tư bản
đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù đó là TB thương nghiệp,
TB công nghiệp hay cho TB cho vay.
TB thương nghiệp mua váo bán ra đắt hơn, Tb công nghiệp vận động phức tạp
hơn.
TB cho vay lấy lãi: T-T’
công thức T-H-T’ là công thức chung của TB đúng như nó xuất hiện trong lưu
thông.
2. Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản


Công thức T-H-T’ trong đó T’= T +T. T chính là giá trị thặng dư. Vậy giá trị
thặng dư do đâu mà có?
Trong lưu thông
+ Trường hợp trao đổi ngang giá: không có T.

T-H-T’ thì T=T’


+ Trường hợp trao đổi không ngang giá: 3 trường hợp.
• T= 0


T=0



T=0

Vd1: H=100 bán hơn 10% T=110, mua cao hơn 10% -> T= 0.
Vd2: Mua hàng <10% -> bán hàng hoá thu được 10%. Khi bán<10% ->T= 0.
Vd3: Mua rẻ được 5đồng, bán đắt được 5đồng thu được 10 đồng. Nhưng T=
0.Do mua rẻ bán đắt chứ không phải do lưu thong tạo ra giá trị thặng dư.
->Như vậy lưu thông không đẻ ra giá trị thặng dư.
Ngoài lưu thông:
Nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hoá của anh ta, giá trị của
hàng hoá ấy không tăng lên chút nào.
Nếu người sản xuất muốn tạo thêm giá trị mới cho hàng hoá phải bằng lao
động.
Vd: Sản xuất giầy, lấy da đề sản xuất. giá trị giầy > giá trị da. Vì đã thu hút
nhiều lao động. giá trị da không tăng lên.
->Giá trị hàng hoá tạo ra > giá trị ban đầu -> giá trị thặng dư.
Như vậy tư bản không thể ra đời ở bên trong lưu thông nó cũng không thể ra đời ở
bên ngoài lưu thông, nó phải ra đời ở bên trong lưu thông đồng thời không ở trong
lưu thông.
Hàng hoá sức lao động
a) Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Sức lao động: là toàn bộ thể lực, trí lực tồn tại trong mỗi người và được đưa

vào sản xuất.
*Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá:
-Người lao động được tư do về thân thể.
- Người lao động không có TLSX


Chú ý: không phải SLĐ nào cũng trở thành hàng hoá. Thời kỳ chiếm hữu nô
lệ, người nô lệ làm việc -> không là hàng hoá.
Người thợ bỏ công sức làm việc cho mình cũng không gọi là hàng hoá vì
TLSX là của anh ta.
b) Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Hàng hoá SLĐ có 2 thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị hàng hoá SLĐ
Do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động
quyết định.
Người công nhân để có thể tái sản xuất ra sức lao động phải có tư liệu sinh hoạt
thì mới có thể tái sản xuất ra sức lao động.
Thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra SLĐ sẽ được quy thành
thới gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy.
Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác hàng hoá thông
thường, nó mang yếu tố tinh thần, lịch sử.
Nó tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử hình thành và tương quan lực lượng trong
cuộc đấu tranh giữa 2 giai cấp công nhân và nhà TB.
Nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX.
Nó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh điều kiện kinh tế chính trị, văn hoá xã hội, phong
tục tập quán của từng quốc gia trong từng giai đoạn.
Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thời tiết khí hâậ và các yếu tố tự nhiên.
Giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau hợp thành
Một là, Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất SLĐ, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân.
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái
người công nhân.
Để biết được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định,
cần nghiên cứu hai loại nhân tố tác động đối lập nhau đến sự biến đổi của giá trị
sức lao động. Một mặt, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hoá và dịch


vụ, về học tập và nâng cao trình độ lành nghề, đã làm tăng giá trị SLĐ; mặt khác,
sự tăng NSLĐ xã hội sẽ làm giảm giá trị SLĐ.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
thể hiện quá trình tiêu dung SLĐ, tức là quá trình lao động của người công
nhân.
Hàng hoá thông thường sau quá trình tiêu dung hay sử dụng thì cả giá trị lẫn
giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến theo thời gian.
Quá trình tiêu dùng hàng hoá SLĐ tạo ra một háng hoá nào đó -> tạo một giá
trị > giá trị hàng hoá SLĐ -> Phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư. Đặc biệt giá trị
sử dụng hàng hoá SLĐ sinh ra giá trị. Đây là điều kiện cho ta thấy tiền chuyển hoá
thành tư bản.
Câu 5. Hai PP sản xuất GTTD; GTTD siêu ngạch. Ý nghĩa của việc nghiên
cứu vấn đề này.
a) Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư được tạo ra do kéo dài thời gian
lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động xã hội,
giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
VD: giả sử ngày lao động 8h, trong đó 4h là thời gian lao động tất yếu và 4h là
thời gian lao động thặng dư. m’= 4/4x100%= 100%
giả sử nhà Tb tăng thêm 2h lao động trong 1 ngày thì m’= 6/4x100%= 150%
phương pháp này dựa trên cơ sở tăng cường độ lao động kéo dài lao động ra.

Kéo dài lao động đến một lúc nào đó gặp 2 trở ngại: giới hạn sinh lý của con
người chỉ hoạt động trong 24h không thể vượt khỏi ngoài ra họ phải sinh hoạt cá
nhân; phong trào đấu tranh nổ ra đòi tăng lương, giảm giờ làm.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư được tạo ra do rút ngắn thời gian
lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời
gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ.
Vd: giả sử ngày lao động 8h, trong đó 4h là thời gian lao động tất yếu và 4h là
thời gian lao động thặng dư. m’= 4/4x100%= 100%


giả sử ngày lao động không đổi nhưng bây giờ công nhân chỉ 3giờ lao động đã
tạo ra một lượng giá trị mới bằng với giá trị SLĐ do đó tỷ lệ phân chia ngày lao
động là m’=5/3x100%= 166%
phương pháp này dựa trên cơ sở tăng NSLĐ nhưng trước hết là sản xuất tư liệu
sinh hoạt và những ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt.
b) Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất
lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường
của nó.
giá trị thặng dư siêu ngạch chính là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối vì
đều tăng NSLĐ một bên là dựa vào tăng NSLĐ cá biệt một bên là tăng NSLĐ xã
hội.
giá trị thặng dư tượng đối là do toàn giai cấp các nhà TB đều thực hiện còn giá
trị thặng dư siêu ngạch là do một số nhà TB cải tiến kỹ thuật SX.
Chính giá trị thặng dư siêu ngạch là điều kiện để các nhà TB luôn cải tiến khoa
học kỹ thuật vào quá trình phát triển tổ chức sx hàng hoá.
Câu 6. Tích lũy TB. Nhân tố ảnh hưởng đến Quy mô tích lũy, tích tụ. Ý nghĩa
của việc nghiên cứu vấn đề này.
1. Thực chất của tích luỹ tư bản và các nhân tố quyết định

quy mô tích luỹ tư bản
Để hiểu rõ thực chất tích luỹ tư bản phải phân tích quá trình tái sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
a) Giá trị thặng dư - nguồn gốc của tích luỹ tư bản
Tái sản xuất là tất yếu khách quan của xã hội loài người. Tái sản xuất có hai hình
thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Dưới chủ nghĩa tư bản, muốn tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản phải sử dụng một
phần giá trị thặng dư để tăng thêm tư bản ứng trước.
Sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản.


Như vậy nguồn gốc của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư - là lao động của công
nhân bị nhà tư bản chiếm không. Nói cách khác, toàn bộ của cải của giai cấp tư
sản đều do lao động của giai cấp công nhân tạo ra.
b) Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào
tỷ lệ phân chia giữa tích luỹ và tiêu dùng.
Nếu tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tích luỹ tư bản
phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Có bốn nhân tố ảnh hưởng đến khối
lượng giá trị thặng dư:
- Trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m')
Thông thường, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tăng thêm
máy móc, thiết bị và công nhân. Nhưng nhà tư bản có thể không tăng thêm công
nhân mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách
tăng thời gian lao động và cường độ lao động; đồng thời, tận dụng một cách triệt
để công suất của số máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng.
- Năng suất lao động
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
giảm. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ: một la, với khối lượng giá trị
thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong

khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn
trước; hai la, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng có thể
chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều
hơn trước.
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích luỹ
nhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật liệu hiện có như
những phế thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân của xã hội, những
vật vốn không có giá trị. Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị
của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
- Chênh lệch giữa tư bản sử dụng va tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô
hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm; còn tư bản


tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm
theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa tư
bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực
lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy
móc và công cụ lao động - nghĩa là sau khi trừ đi giá trị hao mòn của chúng đã
chuyển vào sản phẩm - nhà tư bản sử dụng những máy móc và công cụ lao động
đó mà không đòi hỏi một chi phí khác.
Kỹ thuật càng hiện đại, sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
càng lớn, thì sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn. Có thể minh
họa điều đó bằng số liệu sau:
Thế hệ máy
I
II
III
- Đại lượng tư bản ứng trước


Giá trị máy (triệu USD)
10
14
18

Trong công thức M = m'.V, nếu m' không thay đổi thì khối lượng giá trị thặng dư
chỉ có thể tăng khi tổng tư bản khả biến tăng. Và, tất nhiên tư bản bất biến cũng
phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định. Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị
thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước.
Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo
chiều rộng và theo chiều sâu.
Tóm lại, để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã
hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc,
thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.
2. Quy luật chung của tích luỹ tư bản chủ nghĩa
Những nội dung của quy luật chung của tích lũy tư bản chủ nghĩa như sau:
a) Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu
cơ của tư bản
Tư bản tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị. Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kỹ
thuật và cấu tạo giá trị.


Cấu tạo kỹ thuật của tư bản la tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản
xuất với số lượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản
xuất đó. Nó biểu hiện dưới các hình thức của số lượng máy móc, nguyên liệu,
năng lượng do một công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó. Cấu tạo kỹ
thuật phản ánh đặc điểm và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.
Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư bản bất biến
(hay giá trị của tư liệu sản xuất) và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động)
cần thiết để tiến hành sản xuất.

Cấu tạo kỹ thuật thay đổi sẽ làm cho cấu tạo giá trị thay đổi. C.Mác đã dùng phạm
trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để chỉ mối quan hệ đó.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản la cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu
tạo kỹ thuật quyết định va phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ
thuật của tư bản.
Do tác động thường xuyên của tiến bộ khoa học và công nghệ, cấu tạo hữu cơ của
tư bản cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng tăng lên. Điều đó biểu
hiện ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ phận tư bản khả biến, tư
bản bất biến tăng tuyệt đối và tăng tương đối, còn tư bản khả biến thì có thể tăng
tuyệt đối, nhưng lại giảm xuống một cách tương đối.
b) Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tích tụ và tập
trung tư bản ngày càng tăng
Tích tụ tư bản la việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích luỹ
của từng nha tư bản riêng rẽ. Tích tụ tư bản, một mặt, là yêu cầu của
việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; mặt khác, khối lượng giá trị
thặng dư tăng thêm lại tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản mạnh hơn.
Tập trung tư bản la sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thanh một tư
bản cá biệt lớn. Đây là sự tập trung những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu
tính độc lập riêng biệt của chúng, là việc biến nhiều tư bản nhỏ thành một số ít tư
bản lớn hơn.
Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt tăng lên, và tư bản xã hội cũng tăng theo.
Còn tập trung tư bản chỉ làm cho tư bản cá biệt tăng quy mô còn tư bản xã hội vẫn
như cũ.


c) Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình bần cùng hoá giai
cấp vô sản
Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng, làm cho cầu tương đối về sức lao động
có xu hướng ngày càng giảm. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra nạn nhân khẩu
thừa tương đối.

Có ba hình thái nhân khẩu thừa:
- Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này,
nhưng lại tìm được việc làm ở xí nghiệp khác. Nói chung, số này chỉ mất việc làm
từng lúc.
- Nhân khẩu thừa tiềm tang là nhân khẩu thừa trong nông nghiệp - đó là
những người nghèo ở nông thôn, thiếu việc làm và cũng không thể tìm được việc
làm trong công nghiệp, phải sống vất vưởng.
- Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất
nghiệp, thỉnh thoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, sống
lang thang, tạo thành tầng lớp dưới đáy của xã hội.
Nạn thất nghiệp đã dẫn giai cấp công nhân đến bần cùng hoá. Bần cùng hoá tồn tại
dưới hai dạng:
Sự bần cùng hoá tuyệt đối giai cấp công nhân biểu hiện ở mức sống bị
giảm sút. Sự giảm sút này xảy ra không chỉ trong trường hợp tiêu dùng cá nhân tụt
xuống một cách tuyệt đối, mà cả khi tiêu dùng cá nhân tăng lên, nhưng mức tăng
đó chậm hơn mức tăng nhu cầu do chi phí lao động nhiều hơn.
Mức sống của công nhân tụt xuống không chỉ do tiền lương thực tế giảm, mà còn
do sự giảm sút của toàn bộ những điều kiện có liên quan đến đời sống vật chất và
tinh thần của họ như nạn thất nghiệp - một mối đe dọa thường trực, sự lo lắng cho
ngày mai, sự bất an về mặt xã hội.
Sự bần cùng hoá tương đối giai câṕ cong
̂ nhan̂ biêu
̉ hiện ở tỷ lệ thu nhập
cuả giai câṕ cong
̂ nhan
̂ trong thu nhập quôć dan̂ ngaỳ cang
̀ giam,
̉ con
̀ tỷ lệ thu
nhập cuả giai câṕ tư san̉ ngaỳ cang

̀ tang.
̆ ở noi̛ nay,
̀ luć nay,
̀ bộ phận nay
̀ sự bân
̀
cung
̀ hoá biêu
̉ hiện ra một cach
́ rõ rệt; trong khi đo,́ ở noi̛ khac,
́ luć khac,
́ bộ phận


khac,
́ sự bân
̀ cung
̀ hoá laị khong
̂ rõ net́ lắm. Chinh
́ cuộc đâu
́ tranh cuả giai câp
́
cong
̂ nhan
̂ đã "đặt giới hạn cho sự tiếm đoạt bạo ngược của tư bản"
đã "đặt giới hạn cho sự tiếm đoạt bạo ngược của tư bản"1.
CÂU 7. Tuần hoàn chu chuyển TB; TB cố định; TB lưu động. Ý nghĩa của việc
nghiên cứu vấn đề này.
a) Tuần hoàn của tư bản
Trong quá trình tuần hoàn Tư bản công nghiệp vận động theo công thức

SLĐ
T-H
…SX… H’-T’
TLSX
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường với số tiền ứng trước dung tiền để mua 2
loại hàng hoá là Hàng TLSX và SLĐ.
Sự vận động trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản
xuất.
-giai đoạn thứ 1- giai đoạn lưu thông
SLĐ
T-H
TLSX
-giai đoạn thứ 2- giai đoạn sản xuất
SLĐ
T-H
…SX… H’
TLSX
-giai đoạn thứ 3- giai đoạn lưu thông
H’ – T’


Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn
này là mua các yếu tố của quá trình sản xuất, tức biến tiền tệ thành tư bản sản
xuất.
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất, chức năng kết hợp
TLSX và SLĐ để sản xuất ra hàng hoá mà giá trị của nó có giá trị thặng dư. Giai
đoạn này có ý nghĩa vì nó gắn trực tiếp đến mục đích của CNTB.
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hoá, chức năng thực
hiện giá trị của khối lượng hàng hoá đã sản xuất ra. Nhà TB trở lại thị trường với
tư cách là người bán hàng, hàng hoá của nhà tư bản được chuyển hoá thành tiền.

sự vận động của tư bản qua 3 giai đoạn là sự vận động có tính tuần hoàn. Tư
bản ứng ra là tiền và quay về cũng là tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình
đó được tiếp tục diễn ra không ngừng gọi là vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua 3 giai
đoạn, lần lượt mang 3 hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để
rồi nó quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư.
Điều kiện của tuần hoàn TB
-Các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục.
-Các hình thái tư bản cùng tồn tại và được chuyển hoá một cách đều đặn.
Cùng một lúc TB phải có mặt ở 3 giai đoạn
Trong mỗi giai đoạn TB vừa mang hình thái chức năng này đồng thời phải trút
bỏ để mang hình thái chức năng khác.
b) Chu chuyển tư bản
Khái niệm: sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó với tư cách qúa trình định kỳ
đổi mới và thường xuyên lặp đi, lặp lại thì gọi là chu chuyển TB.
Thời gian chu chuyển tư bản
+Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và
thời gian dự trữ sản xuất hàng hoá. thời gian sản xuất của TB là do sự tác động
của nhiều nhân tố: tính chất của ngành sx, quy mô hoặc chất lượng các sản phẩm,
sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất, năng suất lao động và tình
trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.


+Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực lưu thông.
Gồm có thời gian mua và bán không tạo ra giá trị thặng dư. thời gian lưu thông
phụ thuộc thị trường xa hay gần, tốt hay xấu, trình độ phát triển của vận tải giao
thông.
Thời gian chu chuyển của TB càng rút ngắn càng tạo ra nhiều giá trị thặng dư
Để đo tốc độ vận động của các tư bản khác nhau người ta tính số vòng chu

chuyển của các loại tư bản trong một thời gian nhất định.
n=

CH
ch

CH: thời gian trong năm
ch: thời gian chu chuyển 1 vòng
n: số vòng chu chuyển của tư bản
VD; nhà TB có thời gian chu chuyển 1 vòng là 6 tháng. Ta có n=12/6=2vòng
c) Tư bản cố định và tư bản lưu động
TB cố định: là bộ phận TBSX thể hiện máy móc thiết bị, TSCĐ… được
chuyển trong quá trình sản xuất một cách dần dần.
TB lưu động: thể hiện là nguyên nhiên vật liệu được chuyển hết một lần vào quá
trình sản xuất.
Nó là bước che dấu nguồn gốc của bản chất bóc lột của CNTB đối với lao động
làm thuê. Vì TB lưu động trong đó có v.
CÂU 8 CNTB độc quyền. Nguyên nhân hình thành. Đặc điểm Kinh tế TB. Ý
nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
1. Nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh tự do sang
độc quyền
Nghiên cứu CNTB cạnh tranh tự do, C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo cạnh tranh
tự do sẽ sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung đến một mức nào
đó sẽ dẫn đến độc quyền.
Lênin đã chứng minh CNTB đã bước sang giai đoạn mới là CNTB độc quyền.
Lênin đã nêu ra 5 đặc điểm kinh tế cơ bản của CNTB độc quyền:


Vào những năm 30 cuối thế kỷ XIX những thành tựu khoa học kỹ thuật mới
xuất hiện như các lò luyện kim, máy phát điện, máy tiện…máy bay, tàu thuỷ, xe

điện… làm tăng khả năng tích luỹ tư bản
- Sự phát triển của LLSX dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy
nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các xí nghiệp có quy mô
lớn.
- Sự tác động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản của CNTB như quy
luật giá trị thặng dư, quy luật tích luỹ…ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu
kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.
-Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà TB phải tích cực cải biến kỹ thuật, tăng quy
mô tích luỹ để thắng cạnh tranh. cạnh tranh gay gắt làm cho nhà tư bản nhỏ phá
sản, nhà Tb lớn ngày càng giàu và quy mô xí nghiệp ngày càng lớn.
-Cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho TBCN phá sản nhất là các xí nghiệp vừa
và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
-Sự phát triển của hệ thống tín dụng TBCN trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc
đẩy tập trung sản xuất nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho
sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
2. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
a) Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền.
Các xí nghiệp tích tụ và tập trung liên kết sẽ tạo ra xí nghiệp lớn dẫn đến độc
quyền sản xuất. các xí nghiệp có quy mô lớn sẽ cạnh tranh gay gắt khó đánh bại
do vậy thường là thoả hiệp để nắm độc quyền.
Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung
vào trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nào đó nhằm
mục đích thu được lợi nhuận độc quyền cao.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hoá, các liên minh độc quyền hình thành
theo liên kết ngang, nghĩa là chỉ mới liên kết những doanh nghiệp cùng ngành sau
đó mở rộng phát triển liên kết dọc, mở rộng nhiều khác nhau.
-Cácten là hình thức tổ chức độc quyền giữa các nhà tư bản ký hiệp nghị thỏa
thuận với nhau về giá cả, quy mô sản lượng, thị trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh



toán,..Các nhà tư bản tham gia cácten vẫn độc lập về sản xuất va thương nghiệp.
Họ chỉ cam kết làm đúng hiệp nghị, nếu làm sai sẽ bị phạt tiền theo quy định của
hiệp nghị. Vì vậy, cácten là liên minh độc quyền không vững chắc. Trong những
trường hợp, những thành viên thấy ở vào vị trí bất lợi đã rút ra khỏi cácten thường
tan vỡ trước kỳ hạn.
-Xanhđica là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, vẫn giữ độc lập về sản xuất
chỉ mất độc lập về lưu thông, mọi việc mua bán do một ban quản trị chung của
xanhđica đảm nhận. Mục đích của xanhđica là thống nhất đầu mối mua và bán để
mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc
quyền cao.
-Tờrớt thống nhất cả sản xuất, tiêu thụ, tài vụ đều do một ban quản trị quản lý.
Các nhà tư bản tham gia tờrớt trở thành những cổ đông thu lợi nhuận theo số
lượng cổ phần.
-Côngxoócxiom có quy mô lớn hơn hết. Tham gia côngxoócxiom không chỉ có
các nhà tư bản lớn mà còn cả các xanhđica, tờrớt, thuộc các ngành khác nhau
nhưng liên quan với nhau về kinh tế, kỹ thuật. Với kiểu liên kết dọc như vậy, một
côngxoócxiom có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hoàn toàn phụ
thuộc về tài chính vào một nhóm tư bản kếch sù.
b) Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
-Khi các tổ chức độc quyền trong ngân hàng xuất hiện thì ngân hàng bắt đầu
đóng vai trò mới. Từ chỗ đóng vai trò môi giới trung gian trong việc thanh toán
làm nhiệm vụ cho vay và nhận gởi bây giờ trở thành tổ chức độc quyền có thể lực
nắm hầu hết Tb tiền tệ khống chế được mọi hoạt động của TBCN.
TB tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít
ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà
công nghiệp.
Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc
quyền, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn xã hội tư bản gọi là
bọn đầu sỏ tài chính.

Về mặt kinh tế: Thông qua chế độ tham dự để thống trị các ngành kinh tế.


Về mặt chính trị: Đầu sỏ chi phối mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, biến
nhà nước tư bản thành nền chuyên chính của đầu sỏ tư bản.
c) Xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước
ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở
các nước nhập khẩu tư bản.
-Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: xuất khẩu tư bản
hoạt động (đầu tư trực tiếp) và xuất khẩu tư bản cho vay (đầu tư gián tiếp).
+Xuất khẩu TB sản xuất: thực chất là đầu tư nước ngoài.
+Xuất khẩu TB cho vay: cho vay thông qua tín dụng.
-Xét về chủ sở hữu phân tích thành xuất khẩu TB tư nhân và xuất khẩu tư bản
nhà nước.
+Xuất khẩu tư bản nhà nước là nhà nước tư bản độc quyền dùng nguồn vốn từ
ngân qũy của mình để đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản; hoặc viện trợ có hoàn
lại hay không hoàn lại, để thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân
sự.
*về kinh tế, hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng.
*về chính trị, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới.
*Về quân sự, đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ.
+Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân thực hiện.
Hình thức này có đặc điểm cơ bản là nó thường được đầu tư vào những ngành
kinh tế có vòng quay tư bản ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao, dưới hình
thức các hoạt động cắm nhanh của các công ty xuyên quốc gia.
d) Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền
Tích tụ TB sẽ dẫn đến việc hình thành xuất khẩu tư bản tạo sự cạnh tranh giữa
các tổ chức độc quyền và hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế.
e) Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc

Sự phát triển không đồng đều về kinh tế dẫn đến phát triển không đều về chính trị,
quân sự tạo xung đột về quân sự để phân chia lãnh thổ hình thành chiến tranh thế
giới.



×