Chi tiêu công hướng tới tăng trưởng xanh
Lưu Quốc Đạt, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Thị Phan Thu
Khoa Kinh tế Phát triển, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Tóm tắt
Biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, suy giảm hệ sinh thái tự
nhiên, và các hậu quả về môi trường khác đang là những vấn đề cấp
thiết ảnh hưởng tới sự ổn định môi trường sống của loài người. Trước
thực trạng đó, nhiều nước phát triển và đang phát triển, trong đó có
Việt Nam đã có những hành động cụ thể nhằm thúc đẩy sự hình
thành và chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng và phát triển mới
theo hướng thân thiện với môi trường. Mô hình phát triển bền vững,
nền kinh tế xanh và chính sách tăng trưởng xanh là một số trong
nhiều sáng kiến mới được triển khai những năm gần đây. Một trong
những yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh chính là
xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Vì vậy, nghiên
cứu này tập trung xem xét kinh nghiệm của một số nước trong quá
trình mua sắm công xanh nhằm hướng tới tăng trưởng xanh.
Từ khóa: Chi tiêu công xanh, tăng trưởng xanh, mua sắm xanh
Abstract
Climate change, depletion of resource and natural ecosystems,
and the other environmental consequences are the urgent issues
affecting the stability of the human habitat. Facing this situation,
many developed and developing countries, including Vietnam have
made concrete action to promote the formation and transition of the
new growth and development model towards environmentally
friendly. The sustainable development model, green economy and
green growth policies are some of the many new initiatives have
been implemented in recent years. One of the important factors to
promote
green
growth
is
greening
lifestyles
and
promoting
sustainable consumption. Therefore, this study focuses on the
experience of some countries in the process of green public
procurement towards green growth.
Keywords: Green public expenditure, green growth, green
procurement
1. Giới thiệu chung
Trong thời gian qua, các quốc gia trên thế giới đang phải đối
mặt với một tình hình chung, đó là các thách thức do hậu quả của
các cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội xảy ra liên tiếp tại nhiều quốc
gia. Đồng thời, bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng có nhiều diễn
biến phức tạp, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt. Đứng
trước những thách thức này, tăng trưởng xanh được coi là một
chương trình toàn diện, tạo ra hướng tiếp cận mới trong tăng trưởng
kinh tế, hướng tới phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, nuôi
dưỡng cuộc sống của con người và giảm thiểu tác động của biến đổi
khí hậu. Chính vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đang tiếp cận theo
xu hướng mới này nhằm hướng tới phát triển bền vững.
Đã có nhiều cách giải thích, định nghĩa khác nhau về nội hàm
tăng trưởng xanh của các tổ chức quốc tế như Chương trình Môi
trường Liên hợp quốc (UNEP)1, Ngân hàng Thế giới (WB)2, Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)3, Ủy ban Kinh tế - xã hội châu Á
- Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP) 4, và Liên minh châu
Âu (EU)5. Trong phạm vi hẹp, định nghĩa tăng trưởng xanh có thể
hiểu như đáp ứng một yêu cầu cụ thể như cải thiện môi trường đến
sự kết hợp giữa giảm phát thải với tăng trưởng, đến một kế hoạch
toàn diện nhằm cải thiện tính hiệu quả và tính bền vững về tài
nguyên môi trường. Hay một cách ngắn gọn, tăng trưởng xanh là
quá trình xanh hoá hệ thống kinh tế truyền thống và là chiến lược để
tiến tới một nền kinh tế xanh. Đây là một phần chứ không phải là sự
thay thế cho phát triển bền vững. Sau cuộc khủng hoảng tài chính
1
/>
2
/>
3
/>
4
/>
5
/>
2008 - 2009, tăng trưởng xanh đã được dư luận và các nhà phân tích
chính sách chú ý nhiều hơn bởi tăng trưởng xanh hứa hẹn giải quyết
đồng thời những vấn đề khí hậu và tăng trưởng.
Tăng trưởng “xanh” ở Việt Nam là mô hình tăng trưởng dựa vào
quá trình thay đổi các mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế,
nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế và
khả năng cạnh tranh thông qua nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
tiên tiến, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, nhằm sử
dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm khí thải nhà kính, đối
phó với biến đổi khí hậu, góp phần giảm đói nghèo, tạo động lực
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tại Việt Nam, tháng 9-2012,
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2612/QĐ-TTg ngày 30-122013 phê duyệt Chiến lược sử dụng công nghệ sạch giai đoạn đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát là sử
dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, tăng hiệu quả sử
dụng năng lượng, tài nguyên, phát thải thấp trong sản xuất công
nghiệp nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, hạn chế biến đổi khí hậu
và nâng cao đời sống cộng đồng. Theo đó, đến năm 2020, 100% các
dự án đầu tư mới thuộc các ngành sử dụng nhiều năng lượng, có khả
năng gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường phải đáp ứng các
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ sạch.
Cũng trong tháng 9 năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã phê
duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh. Chiến lược tăng
trưởng xanh của Việt Nam đã đề ra 3 nhiệm vụ quan trọng là: 1)
giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng
lượng sạch, năng lượng tái tạo. 2) xanh hóa sản xuất. Thực hiện một
chiến lược "công nghiệp hóa sạch" thông qua rà soát, điều chỉnh
những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài
nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp
xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên
tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích
cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm. 3) xanh hóa lối sống và thúc đẩy
tiêu dùng bền vững. Như vậy ta có thể dễ dàng thấy với chiến lược
này, Việt Nam đang đi theo xu hướng đúng đắn mà nhiều nước trên
thế giới đang đi theo.
Để thúc đẩy xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững, nghiên
cứu này tập trung xem xét kinh nghiệm của một số nước phát triển
trong quá trình mua sắm công xanh nhằm hướng tới tăng trưởng
xanh.
2. Tổng quan về mua sắm xanh và mua sắm công xanh tại
Việt Nam
Khái niệm mua sắm công xanh còn khá mới mẻ ở nước ta cho
dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến. Tại nhiều quốc gia trên thế
giới như Mỹ, các nước Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung
Quốc,..., mua sắm công xanh là một trong những công cụ chính sách
quan trọng nhằm thúc đẩy mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Những chính sách này đồng thời cũng góp phần hướng tới nền kinh
tế xanh, các-bon thấp. Mua sắm xanh xuất hiện với các tên gọi khác
nhau như "mua sắm xanh công cộng" (GPP), "mua với môi trường
thích hợp hơn" (EPP), "mua sắm công bền vững" (SPP, UNEP) và
"mua sắm xanh chính phủ" (GGP).
Mua sắm công xanh được hiểu là một quá trình các cơ quan
công quyền mua sắm hàng hóa, dịch vụ, trong đó có tính tới yếu tố
giảm thiểu tác động môi trường trong suốt vòng đời của các sản
phẩm, dịch vụ này để so sánh lựa chọn hàng hóa, dịch vụ. Như vậy,
giống như mua sắm xanh, mua sắm công xanh đòi hỏi đầu tiên là
xem xét sự cần thiết phải mua, và thứ hai, tác động môi trường của
sản phẩm và dịch vụ ở tất cả các giai đoạn của vòng đời sản phẩm
và dịch vụ - bao gồm cả việc các nhà cung cấp và phân phối thực
hiện như thế nào - trước khi thực hiện quyết định mua. Mua sắm
xanh hay mua sắm công xanh là việc mua sắm sản phẩm hoặc dịch
vụ có thể tái chế hoặc tái sử dụng sau khi đã tiêu dùng. Việc tiêu
dùng những sản phẩm, dịch vụ xanh tạo ra (nếu có) lượng chất thải
tối thiểu và các quá trình sản xuất sử dụng công nghệ thân thiện
môi trường, không gây ô nhiễm môi trường trong quy mô của công
nghệ thông thường. Ngoài ra, các công nghệ "xanh" nên sử dụng
một lượng năng lượng ít hơn và nên là năng lượng từ các nguồn thay
thế như sinh khối, khí sinh học, năng lượng mặt trời và gió. Công
nghệ xanh có thể định hình xu hướng sản xuất và tiêu dùng. Nhu
cầu đáng kể từ các cơ quan công quyền và công chúng đối với sản
phẩm "xanh" sẽ tạo ra, hoặc mở rộng thị trường cho các sản phẩm
và dịch vụ thân thiện môi trường. Nó cũng sẽ mang lại động lực để
các công ty phát triển công nghệ xanh sản xuất và cung cấp sản
phẩm xanh. Nhìn chung cho đến nay, chính phủ được coi là đối
tượng đi đầu, làm gương trong việc thực hiện mua sắm xanh. Mua
sắm công xanh của chính phủ được coi là động lực thúc đẩy việc
hình thành và phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ xanh, từ đó,
hướng tới việc mở rộng mua sắm xanh tới các đối tượng khác như
khối tư nhân và người tiêu dùng. Tuy nhiên, các chính sách cụ thể và
quy trình triển khai tại các nước có những điểm đặc thù, không giống
nhau.
Theo mạng lưới mua sắm xanh quốc tế (IPGN), quy trình mua
sắm xanh bao gồm 4 nguyên tắc chính bao gồm:
- Tính cần thiết là nguyên tắc liên quan tới tiêu chí tiết kiệm khi
mua sắm. Bước đầu tiên trước khi mua sắm là cân nhắc kỹ xem
sản phẩm hay dịch vụ có cần thiết hay không. Việc sửa chữa
hay thay đổi các sản phẩm đang được sử dụng cần được cân
nhắc kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, giải pháp thuê hoặc cho thuê cũng
nên được xem xét hoặc mua các sản phẩm mới với số lượng vừa
đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng.
- Vòng đời sản phẩm liên quan tới tác động tới môi trường của
các sản phẩm, vật liêu sử dụng trong toàn bộ vòng đời của
chúng từ giai đoạn thu mua nguyên liệu thô tới khi bị thải bỏ,
bao gồm các đặc tính: Giảm thiểu các chất độc hại; sử dụng
hiệu quả tài nguyên, năng lượng; sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên thiên nhiên; tăng độ bền; thiết kế để tái sử dụng; thiết
kế để tái chế; sản phẩm có chứa vật liệu tái chế; tính thải bỏ
(với những sản phẩm không thể sử dụng nhiều lần hoặc tái chế,
nên chọn sản phẩm cho phép dễ dàng xử lý và thải bỏ nhằm
giảm tối đa các tác động xấu đến môi trường).
- Nỗ lực của nhà cung ứng liên quan tới các hoạt động bảo vệ
môi trường của nhà cung ứng như doanh nghiệp có áp dụng
chính sách bảo vệ môi trường không? Có triển khai các biện
pháp quản lý môi trường phù hợp hay không? Hoặc, có tích cực
tham gia công tác bảo vệ môi trường không?
- Thu thập thông tin về môi trường liên quan tới các thông tin
về môi trường của sản phẩm mà người tiêu dùng cần được biết
như nhãn môi trường, thông tin về quá trình sản xuất của doanh
nghiệp.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “mua sắm xanh” mới chỉ xuất hiện
trong một số văn bản gần đây liên quan đến Chiến lược tăng trưởng
xanh và Kế hoạch hành động thực hiện chiến lược này. Hiện nay, Việt
Nam vẫn chưa ban hành Luật mua sắm xanh, do đó, vẫn chưa tạo được khung pháp lý
hiệu quả cho các hoạt động mua sắm hướng tới bảo vệ môi trường của toàn bộ khu
vực công. Mặc dù đã và đang có kế hoạch thực hiện các quy định của Chính phủ liên
quan đến mua sắm công hướng tới mua sắm công xanh như Quyết định số 179/QĐTTg, Quyết định số 68/2011/QĐ-TTg, tuy nhiên, c việc thực hiện các quy định này
mới chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm ở một vài Bộ và tỉnh thành, đồng thời chỉ tập
trung mua sắm một số sản phẩm như thiết bị chiếu sáng, thiết bị điện, điện tử, phương
tiện đi lại...
Thực tế cho thấy, việc triển khai thực hiện mua sắm công xanh trong giai đoạn
này còn gặp phải một số trở ngại lớn, trước hết là về vấn đề nhận thức bao gồm nhận
thức của cán bộ chịu trách nhiệm và quyết định hoạt động mua sắm và nhận thức của
nhà đầu tư, của doanh nghiệp. Hầu hết, các cán bộ chịu trách nhiệm mua sắm của các
cơ quan hiện nay là chưa được đào tạo, tập huấn hay được cung cấp thông tin sâu về
lĩnh vực mua sắm công xanh. Trong khi đó, chúng ta vẫn thiếu cơ sở pháp lý và cơ chế
tài chính để thúc đẩy triển khai hoạt động này. Do đó, nhằm tạo chuyển biến tích cực
trong mua sắm công xanh, chúng ta nên ưu tiên giải pháp mở các lớp đào tạo, tập
huấn, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế cho các cán bộ mua sắm đồng thời xây
dựng và hoàn thiện khung chính sách toàn diện và hiệu quả về mua sắm công xanh
cho Việt Nam.
Đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp, mặc dù Nhà nước đã ban hành một số
chính sách hỗ trợ, khuyến khích hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tuy nhiên, lại thiếu các ưu đãi cho các doanh nghiệp
này trong các quyết định mua sắm của khu vực Nhà nước. Thị trường tiêu thụ các sản
phẩm xanh mới chủ yếu dừng lại ở một số đối tượng trong khu vực tư, chưa thể tiếp
cận tới khu vực có tiềm năng rất lớn là khu vực công, do đó, chưa tạo động lực cho
doanh nghiệp tiếp cận sản xuất sản phẩm xanh. Dù vậy, các doanh nghiệp đã bước đầu
quan tâm đến việc giảm tác động tới môi trường trong quá trình sản xuất. Nhằm tạo
động lực cho doanh nghiệp, Chính phủ cần sớm ban hành những chính sách, cơ chế
nhằm hỗ trợ, khuyến khích và tạo động lực cho các doanh nghiệp tham gia vào ngành
công nghiệp sản xuất các sản phẩm xanh, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp tham gia cung ứng sản phẩm xanh cho khu vực công, đồng thời hỗ trợ đào tạo
các kiến thức liên quan đến mua sắm xanh.
3. Kinh nghiệm quốc tế về mua sắm công xanh
Nghiên cứu này tập trung xem xét kinh nghiệm chính sách của
một số nước phát triển, bao gồm Nhật Bản và Hàn Quốc, bởi các
quốc gia này có nhiều điểm tương đồng về văn hóa với Việt Nam.
3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong phong trào
bảo vệ môi trường nói chung và “mua sắm xanh” nói riêng. Những
quy định liên quan tới chương trình này đã được đưa ra từ những
năm 1990.
Năm 2000, chính phủ Nhật Bản đã xây dựng một khuôn khổ
pháp lý về “mua sắm xanh” yêu cầu tất cả các bộ và cơ quan chính
phủ phải thực hiện. Khung khổ pháp lý này được hỗ trợ bởi mạng
lưới mua hàng xanh6 (Green Purchasing Network) và các cơ chế
khác, bao gồm việc dán nhãn sinh thái (Eco Mark ecolabel 7). Các
chính sách cơ bản xác định và cung cấp hướng dẫn cơ bản về các
loại sản phẩm ưu tiên. Báo cáo hàng năm liên quan tới việc mua
sắm hàng hóa thân thiện với môi trường được trình lên Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên (UNEP, 2013). Theo nghiên cứu của Ho và các cộng sự
(2010), chi tiêu của chính phủ Nhật Bản năm 2005 là 14 ngàn tỷ yên
(khoảng 162 tỷ USD), của chính quyền cấp địa phương là 44 ngàn tỷ
yên (khoảng 510 tỷ USD), chiếm 17,6% GDP.
Tháng 5/2000, chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Luật khuyến
khích mua hàng và dịch vụ xanh”, và có hiệu lực vào tháng 5/2001.
Luật yêu cầu chính phủ phát triển chính sách và kế hoạch thực hiện
6 Năm 2015, tổng số thành viên của Nhật Bản trong mạng lưới này là 2374 (theo
).
7 Eco-Label là chính sách về chất lượng sản phẩm được cộng đồng Châu Âu xây dựng vào
năm 1992. Biểu tượng của Eco-Label là nhánh hoa màu xanh tượng trưng cho cây xanh.
Nhờ Eco-Lable, người sử dụng có thể yên tâm rằng các sản phẩm họ sử dụng là thực sự
“xanh”, tức là các sản phẩm hoàn toàn thân thiện với môi trường.
Eco Mark (Dấu Sinh thái): Hiệp hội Môi trường Nhật Bản phát triển các tiêu chuẩn môi
trường và cho phép các sản phẩm được có biểu tượng Dấu Sinh thái. Các tiêu chuẩn để
cấp giấy chứng nhận xem xét các ảnh hưởng đến môi trường trong suốt vòng đời của mỗi
sản phẩm
mua sắm xanh, và thiết lập một cơ quan có thẩm quyền để công bố
các hướng dẫn về mua sắm công xanh và các tiêu chuẩn sản phẩm.
Các mục tiêu của pháp luật bao gồm việc thúc đẩy mua sắm xanh
của các tổ chức công cộng (chính phủ, các tổ chức hành chính độc
lập, các trường đại học quốc gia, vv), cung cấp thông tin về hàng
hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường, nhằm giảm thiểu tác động
môi trường và khuyến khích một sự thay đổi trong nhu cầu tới các
hàng hóa này.
Từ năm 2001, chính phủ Nhật Bản đã xác định hơn 250 sản
phẩm mua sắm xanh trong 19 loại sản phẩm. Các loại sản phẩm này
bao gồm các loại sản phẩm giấy sao chép và in ấn, văn phòng phẩm
và vật tư văn phòng, nội thất văn phòng, thiết bị văn phòng tự động,
thiết bị chiếu sáng, ô tô, đồng phục và quần áo làm việc, vật liệu xây
dựng và dịch vụ,...
Trong năm 2007, các Bộ, chính quyền trung ương, chính quyền
47 tỉnh, 12 thành phố được lựa chọn, và 68% của 700 chính quyền
cơ sở đã tiến hành mua sắm xanh (con số này là 69% năm 2014 trong đó 82,9% phường, thành phố, 54,1% thị trấn và làng mạc đã
thực hiện mua sắm xanh nhiều hơn một mục trong mỗi loại 8), và
95% các sản phẩm đã mua trong các danh mục được chỉ định là sản
phẩm xanh, 80,3% các công ty đã thực hiện mua sắm xanh (2013) 9.
Để hướng dẫn việc mua hàng của chính phủ, chương trình mua sắn
công xanh của Nhật Bản đã thông qua các tiêu chí sản phẩm chủ
yếu là từ các chương trình “Ecomark ecolabeling” (94%), Energy
Star10 (37%) và các tiêu chuẩn và cơ sở dữ liệu khác (28%) đặc biệt
ban hành cho các chương trình mua sắm công xanh. Thêm vào đó,
cũng vào năm 2007 chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Luật Hợp
đồng Xanh” nhằm thúc đẩy ký kết các hợp đồng giảm thiểu phát thải
8 Nguồn: cuộc khảo sát được tiến hành bởi Bộ Môi trường trong năm 2014
9 Nguồn: cuộc khảo sát được tổ chức bởi Bộ Môi trường trong năm 2013
khí nhà kính. Luật này quy định các yêu cầu đối với các cơ quan
chính phủ và tổ chức công trong việc ký kết các hợp đồng mua bán
năng lượng điện, xe ô tô, các dự án của công ty dịch vụ năng lượng
và thiết kế xây dựng. Mặc dù Luật Hợp đồng Xanh tập trung vào việc
giảm khí thải nhà kính từ sản xuất và cung cấp sản phẩm và dịch vụ
cụ thể, Luật này bổ sung Luật Thúc đẩy mua hàng xanh trong việc
xây dựng khuôn khổ pháp lý của Nhật Bản trong mua sắm công
xanh. Và khi kết hợp với chương trình “eco-labeling” và mạng lưới
mua sắm xanh, hai luật này cung cấp ưu đãi và kích thích trong việc
mua sắm xanh ở Nhật Bản.
Trong năm 2008, với kế hoạch thành lập một xã hội theo định
hướng tái chế 2 (Recycling-oriented Society II), Bộ môi trường Nhật
Bản đã đặt ra một số mục tiêu cần đạt được vào năm 2015 bao gồm:
90% công chúng có nhận thức về giảm thải, tái chế và mua hàng
xanh, trong số này 50% sẽ có hành động để giảm thiểu chất thải, tái
chế, và thực hiện mua hàng xanh; tất cả chính quyền địa phương,
50% các công ty cổ phần niên yết trên sàn giao dịch chứng khoán
Tokyo, Osaka và Nagoya, hoặc 30% các công ty tư nhân hoặc cơ sở
kinh doanh với hơn 500 nhân viên, sẽ thực hiện một cách hệ thống
mua hàng xanh.
Sách trắng về môi trường năm 2009 của Nhật Bản cho thấy
trong khi nhận thức của người tiêu dùng về mua sắm xanh ở mức
cao 82%, hành động về mua sản phẩm tái chế hoặc mua sắm xanh
là thấp, chỉ trên 10%. Những phát hiện này cho thấy có một khoảng
cách lớn giữa nhận thức và hành vi của người tiêu dùng.
10 Chương trình Energy Star là một chương trình quốc tế của Chính phủ Hoa Kỳ khuyến
khích khách hàng sử dụng các sản phẩm tiêu dùng có tính năng tiết kiệm năng lượng.
Chương trình được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) thành lập năm 1992 như một
phần trong nỗ lực tiết kiệm năng lượng và cắt giảm bức xạ khí hiệu ứng nhà kính. Thông
thường, nhãn Energy Star được tìm thấy trên các mặt hàng như máy vi tính, ti vi, máy in,
máy photocopy và máy nghe đĩa DVD. Những sản phẩm nào được gắn nhãn này có nghĩa
nó tiết kiệm điện hơn những sản phẩm không có nhãn ít nhất là 20% điện năng tiêu thụ).
Năm 2009, chính phủ Nhật Bản đã giới thiệu hệ thống “Điểm
môi trường” (Ecopoints System), như một phần của các biện pháp
hỗ trợ phục hồi kinh tế và cung cấp các sản phẩm xanh. Hệ thống
này bao gồm các thiết bị gia dụng điện như: tủ lạnh, điều hòa không
khí và tivi. Người tiêu dùng mua thiết bị gia dụng điện tiết kiệm năng
lượng cao sẽ nhận được điểm môi trường. Các điểm này có thể được
sử dụng để mua các phiếu quà tặng, sản phẩm địa phương hoặc các
sản phẩm xanh. Trong năm 2010, hệ thống Điểm môi trường đã mở
rộng phạm vi bao gồm cả việc mua nhà ở có hiệu quả năng lượng
cao và trang bị thêm các cửa sổ cách nhiệt. Bởi vì những vụ mua
bán dẫn đến giảm chi phí trong giai đoạn sử dụng các sản phẩm, hệ
thống điểm môi trường đã được hoan nghênh rộng rãi bởi người tiêu
dùng Nhật Bản. Cũng trong năm 2009, việc khuyến khích kinh tế cho
việc mua sản phẩm sinh thái đã được mở rộng đến các loại xe. Tùy
thuộc vào hiệu quả nhiên liệu và hiệu suất khí thải, thuế môn bài và
thuế nghĩa vụ đặc biệt được giảm, điều này cung cấp các khoản trợ
cấp cho việc mua các loại xe. Tuy nhiên, hệ thống này đã kết thúc
vào cuối năm 2010.
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đã
đưa ra khái niệm “dấu ấn carbon 11” (carbon footprinting) năm 2009
và đã thu hút sự quan tâm trên toàn thế giới. Năm 2010, danh mục
sản phẩm có hiển thị biểu tượng dấu ấn carbon đã được đưa ra, bao
gồm 45 loại - với 94 sản phẩm.
Năm 2010, các doanh nghiệp xanh Nhật Bản đã thành lập
“Liên đoàn Doanh nghiệp Xanh Nhật Bản” như một nền tảng kinh
doanh xanh nhằm: Kích hoạt các cộng đồng địa phương thông qua
các doanh nghiệp xanh; Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ trong việc phát
triển các doanh nghiệp xanh; Tạo công ăn việc làm cho người già và
11 Dấu ấn cacbon: là lượng carbon thải ra bởi một cá nhân hoặc tổ chức trong một thời
gian nhất định, hoặc số lượng carbon thải ra trong quá trình sản xuất của một sản phẩm.
người tàn tật; Thúc đẩy sự đổi mới sinh thái; Tổ chức mạng lưới thúc
đẩy kinh doanh xanh; và Đề xuất các chính sách môi trường cho các
đảng chính trị cầm quyền để thúc đẩy các doanh nghiệp xanh (IGPN,
2010).
Các công ty Nhật Bản đã bắt đầu kết hợp các hoạt động về
“carbon bù đắp”12 vào các sản phẩm và dịch vụ của họ như một
phần của các hoạt động quan hệ công chúng của họ. Tại hội nghị
quốc tế tổ chức tại Nhật Bản, chẳng hạn như: tổ chức Hợp tác kinh
tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 10 và Hội nghị các Bên
tham gia Công ước Đa dạng sinh học (COP10), các hoạt động bù đắp
carbon đã được đưa vào xem xét.
12 Carbon bù đắp: là một cách bồi thường cho lượng khí thải CO2 bằng cách tham gia,
hoặc tài trợ cho các nỗ lực để lấy CO2 ra khỏi bầu khí quyển. Bù đắp thường liên quan
đến hoạt động phát thải khác (và/hoặc) ở một nơi khác, để tiết kiệm lượng khí thải tương
đương với những hoạt động sản xuất của bạn.
Bảng 1. Tổng quan chi tiêu công xanh của Nhật Bản
Mua sắm
công
xanh
Năm ban
hành
Năm thực
thi
Phạm vi
ứng dụng
Luật khuyến khích
mua sảm phẩm sinh
thái
2000
Các Luật liên quan đến
xúc tiến các hợp đồng
giảm phát thải khí nhà
kính của nhà nước và các
cơ quan khác (Luật Hợp
đồng xanh)
2007
2001
2007
Tất cả các bộ; 47 chính
quyền quận; 12 thành
phố được chỉ định và
68% của 700 chính
quyền địa phương/thành
phố.
Định
Phát triển chính sách
hướng
mua sắm xanh, kế hoạch
hoạt động thực hiện và thiết lập
một cơ quan có thẩm
quyền để công bố các
hướng dẫn về mua sắm
công xanh và các tiêu
chuẩn sản phẩm.
Các danh
mục sản
phẩm bao
gồm
(tháng 4,
2009)
17 danh mục (214 mặt
hàng):
Giấy (8 mặt hàng), Văn
phòng phẩm (79 mặt
hàng), Nội thất văn
phòng (10 mặt hàng),
Máy móc văn phòng tự
động hóa (13 mặt hàng),
Lãnh đạo của từng bộ hoặc
khu vực công, và lãnh đạo
của các cơ quan hành chính
độc lập
Sử dụng các vấn đề cơ bản
liên quan đến việc giảm
phát thải khí nhà kính và
những chất thải khác cho
danh mục được liệt kê dưới
các hợp đồng, với ưu tiên
hàng đầu vào việc giảm
phát thải khí nhà kính và
những chất thải khác.
Xuất bản một bản tóm tắt
của các hợp đồng mà đã
đưa ra các địa chỉ giảm
phát thải khí nhà kính và
những chất thải khác, và
thông báo cho Bộ môi
trường về việc công bố này.
Năng lượng điện
Ô tô
Dự án công ty dịch vụ năng
lượng
Thiết kế xây dựng
Thiết bị gia dụng điện tử
(4 mặt hàng), Máy điều
hòa không khí (3 mặt
hàng), máy nước nóng (4
mặt hàng), thiết bị chiếu
sáng (3 mặt hàng),
phương tiện đi lại (5 mặt
hàng), bình chữa cháy (1
mặt hàng), đồng phục và
quần áo làm việc (2 mặt
hàng), đèn chiếu sáng
nội thất /giường (9 mặt
hàng), găng tay làm việc
(1 mặt hàng), sản phẩm
sợi khác (3 mặt hàng),
thiết bị (4 bài), dự án
công trình (58 mặt
hàng), dịch vụ (7 mặt
hàng).
Các sản
Các nhãn môi trường
phẩm
được cung cấp bởi các tổ
mua sắm chức bên thứ ba, như
ưu đãi
Eco-Mark và Eco-Leaf,
94% từ Eco-Mark
Các kết
Trong năm 2007, 95%
quả
các sản phẩm đã mua
trong các danh mục được
chỉ định là các sản phẩm
đạt chất lượng xanh.
Nguồn: Ho và các cộng sự (2010)
3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là quốc gia thực hiện và áp
dụng các chính sách về mua sắm xanh từ rất sớm. Hệ thống chi tiêu
xanh của Hàn Quốc là hệ thống kép, bao gồm: hệ thống chi tiêu
xanh tập trung (centralized) và phi tập trung (decentralized). Trong
đó, hệ thống chi tiêu xanh tập trung được thực thi bởi cơ quan Dịch
vụ mua sắm công Hàn Quốc (Korea Public Procurement Service),
hoạt động thông qua hệ thống mua sắm trực tuyến (Online EProcurement System - KONEPS), và hiện chiếm 30% tổng lượng chi
tiêu xanh. Hệ thống chi tiêu xanh phi tập trung chịu quản lý của các
cơ quan Nhà nước riêng lẻ, hoạt động thông qua các hệ thống mua
sắm riêng tương ứng, và hiện chiếm 70% tổng số mua sắm công 13.
Mua sắm xanh kích thích nhu cầu về các sản phẩm xanh, do đó
tạo ra một vòng chu kỳ giữa sản xuất và tiêu dùng (như trong Hình
114).
Chính sách tiêu dùng xanh
Chính sách sản xuất xanh
Hình 1: Chu kỳ sản xuất và tiêu dùng xanh
13 Nguồn: Viện Công nghiệp và Công nghệ Môi trường Hàn Quốc (KEITI)
14 Trong đó: LOHAS: Lifestyle of Health and Sustainability - trang web về Lối sống khỏe
mạnh và bền vững: />
Chương trình dán nhãn môi trường bắt đầu được triển khai từ
năm 1992 và đây là điểm khởi đầu chính thức của chính sách về sản
phẩm xanh tại quốc gia này. Ngoài ra, Chính phủ đã có những
nghiên cứu nhằm liên kết hệ thống dán nhãn môi trường với hệ
thống mua sắm công và đã đạt được những kết quả rõ rệt. Không
những vậy, Hàn Quốc luôn coi những nhà sản xuất là nhà tiêu dùng
lớn. Thông qua những hợp đồng tự nguyện về mua sắm xanh sẽ gắn
kết việc mua các nguyên liệu tái sinh, góp phần thúc đẩy sản xuất
và bán ra sản phẩm thân thiện môi trường.
Luật mua sắn xanh đã được chính phủ Hàn Quốc thông qua
vào tháng 12 năm 2004 và được thi hành kể từ tháng 7 năm 2005.
Nội dung của Luật bao gồm một loạt các chính sách liên quan tới
mua sắm công xanh, hợp đồng kinh doanh tự nguyện về mua sắm
xanh, và chương trình hợp tác cửa hàng bán lẻ xanh. Luật này yêu
cầu Bộ Môi trường ban hành hướng dẫn mua sắm các sản phẩm sinh
thái hàng năm, và đảm bảo rằng các cơ quan chính phủ công bố kế
hoạch và thực tiễn về mua sắm công xanh của họ hàng năm. Khi
tiến hành mua sắm công xanh, các cơ quan chính phủ phải ưu tiên
mua sản phẩm xanh trong các danh mục sản phẩm được chỉ định.
Nhãn “Eco-labeling” và nhãn “Good Recycle” được sử dụng làm tiêu
chí để xác định các sản phẩm xanh. Hay nói rõ hơn, các sản phẩm
và dịch vụ được áp dụng cho việc mua sắm công xanh theo Luật
mua sắm xanh bao gồm: (i) có chứng nhận hoặc đáp ứng các tiêu
chí cơ bản của nhãn sinh thái Hàn Quốc (Eco-label) hoặc nhãn tái
chế (Good Recycled); (ii) đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường khác do
Bộ Tài nguyên đưa ra với sự tham khảo ý kiến của các Bộ có liên
quan. Năm 2013, các sản phẩm áp dụng cho mua sắm công xanh là
9,799 mặt hàng trong số 150 danh mục sản phẩm có nhãn sinh thái
Hàn Quốc (Eco-label) và 247 mặt hàng trong số 16 danh mục sản
phẩm có nhãn tái ché (Good recycled)15.
Theo Đạo luật năm 2005, các cơ quan nhà nước nên mua các
sản phẩm và dịch vụ xanh mà đã dán nhãn sinh thái. Trong năm
2012, có khoảng 870 tổ chức với khoảng 30.000 đơn vị trực thuộc
chịu sự chi phối điều luật này. Việc mua sắm xanh có thể được thực
hiện theo hai cách: a) từng tổ chức trực tiếp mua các sản phẩm và
dịch vụ xanh. Trong trường hợp tổng số tiền mua hàng vượt quá
ngưỡng nhất định, việc mua được thực hiện bởi cơ quan Dịch vụ Mua
sắm công Hàn Quốc (PPS), đây một cơ quan mua sắm công tập
trung; b) từng tổ chức yêu cầu các nhà thầu để mua sản phẩm xanh
trong việc cung cấp các dịch vụ (ví dụ như xây dựng, dịch vụ MRO)
thông qua việc bổ sung các điều kiện về mua sắm xanh trong hợp
đồng. Các nhóm sản phẩm là sự kết hợp các loại sản phẩm xanh
khác nhau, từ các thiết bị điện tử, đồ dùng văn phòng, đồ nội thất và
vật liệu xậy dựng,vv...
Viện Công nghiệp và Công nghệ Môi trường Hàn Quốc Viện
(KEITI) liên kết với Bộ Môi trường trong việc vận hành hệ thống mua
sắm công xanh và nhãn sinh thái Hàn Quốc (Ecolabel). Trong đó
KEITI chịu trách nhiệm đối chiếu kế hoạch thực hiện mua sắm xanh
từ các cơ quan nhà nước và theo dõi kết quả thực hiện. KEITI đã tiến
hành theo dõi tiến trình mua sắm công xanh thông qua 03 chỉ số,
bao gồm: (i) số lượng các tổ chức công đã nộp bản kế hoạch thực
hiện và bản ghi hiệu suất thực hiện; (ii) tổng số lượng và giá trị mua
sắm xanh hàng năm; (iii) tiêu chuẩn xanh và thông số kỹ thuật của
hợp đồng dịch vụ và xây dựng
Để theo dõi sự tiến bộ của mua sắm công xanh, ba chỉ số đang
được theo dõi bởi KEITI: a) số lượng các tổ chức công cộng mà nộp
15 Nguồn: Viện Công nghiệp và Công nghệ Môi trường Hàn Quốc (KEITI)
kế hoạch và hồ sơ thực hiện; b) tổng số tiền mua sắm xanh hàng
năm về giá trị kinh tế và các đơn vị; c) tiêu chuẩn xanh và thông số
kỹ thuật của hợp đồng dịch vụ và xây dựng.
Cũng trong năm 2005, KEITI đã thành lập một diễn đàn trực
tuyến với tên gọi “Hệ thống thông tin các sản phẩm xanh” (GPIS),
nhằm giúp cho quá trình giám sát và báo cáo dữ liệu từ các tổ chức
được dễ dàng và thuận tiện. Thông qua hệ thống này, các hồ sơ mua
sắm công xanh thông qua cơ quan Dịch vụ Mua sắm công Hàn Quốc
(PPS) được tự động chuyển đến GPIS. Theo báo cáo của KEITI năm
2015, có khoảng 60% dữ liệu mua sắm xanh của Hàn Quốc được tự
động thông báo qua GPIS.
Các dữ liệu mua sắm công xanh của các tổ chức được đăng tải
trên trang web của Bộ Môi trường và GPIS để công chúng dễ dàng
truy cập và so sánh kết quả. Thêm vào đó, các dữ liệu này thường
được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông lớn của
Hàn Quốc, như là để khuyến khích sự cạnh tranh giữa các tổ chức
công. Trong năm 2013, 96,4% các cơ quan nhà nước gửi bản kế
hoạch thực hiện và 97,7% các tổ chức báo cáo kết quả thực hiện.
Việc thực hiện Luật mua sắm xanh kể từ năm 2005, đã dẫn đến
một sự gia tăng lớn trong số tiền mua sắm công xanh của khu vực
công của Hàn Quốc, cụ thể con số này tăng nhanh từ 255 triệu USD
(năm 2004) tới 2,04 tỷ USD (năm 2013) (hình 2). Bảng 2 trình bày
tổng quan chính sách chi tiêu công của Hàn Quốc. Bộ máy quản
lý/thực thi mua sắm công xanh của Hàn Quốc được thể hiện trong
hình 3.
Hình 2: Chi tiêu công xanh của Hàn Quốc từnăm 2005 đến
2013
Bảng 2. Tổng quan chính sách chi tiêu công xanh của Hàn Quốc
Mua sắm công
xanh
Năm ban hành
Năm thực thi
Phạm vi ứng dụng
Định hướng hoạt
động
Các danh mục sản
phẩm bao gồm
(tháng 4, 2009)
Các sản phẩm mua
sắm ưu đãi
Luật khuyến khích mua sảm phẩm sinh
thái
2004
2005
Tất cả các cơ quan chính phủ
Ưu tiên mua các sản phẩm xanh trong các
danh mục sản phẩm được chỉ định
+ 85 mặt hàng đủ điều kiện theo ghi nhãn
sinh thái Chương trình Hàn Quốc, gồm: Các
thiết bị văn phòng, vật liệu xây dựng, hàng
tiêu dùng, hàng hóa công nghiệp, vv.
+ 224 mặt hàng đủ chất lượng theo nhãn
“Good Recycled”, gồm: giấy thải, sản phẩm
chất thải nhựa, sợi thải, sản phẩm cao su
phế thải,
+ 48 mặt hàng có nhãn tiết kiệm năng
lượng, bao gồm:
Thiết bị gia dụng và văn phòng tiết kiệm
điện (15)
Trang thiết bị và nguyên vật liệu có hiệu quả
năng lượng cao (23)
Các sản phẩm tiêu thụ năng lượng hiệu quả
có các nhãn bắt buộc (11)
Nhãn sinh thái (Ecolabelling mark):
- mua thích hợp hơn đối với các cơ quan
chính phủ
- các tổ chức công phải sử dụng bắt buộc
các hàng hóa liên quan đến nguồn nước
sạch (water-related goods).
Nhãn tái chế (Good recycle):
- bắt buộc mua đối với các cơ quan chính
phủ
- hệ thống giá phân biệt (10%).
Trợ cấp tài chính:
- Làm việc để hỗ trợ phát triển công nghệ
- Quỹ công nghiệp cơ bản, cấp vốn phát
triển công nghệ trên cơ sở công nghiệp
- Tái cơ cấu nguồn vốn cho các doanh
nghiệp cỡ vừa
- Sử dụng quỹ năng lượng hợp lý
- Kinh phí duy trì ngành công nghiệp tái chế
- Quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ
- Kinh doanh
Nhãn tiếp kiệm năng lượng (Energy Saving
Mark):
- Bắt buộc sử dụng đối với các cơ quan
chính phủ
- Bắt buộc sử dụng các thiết bị chiếu sáng
hiệu suất cao cho xây dựng
- Hỗ trợ tài chính
- Hỗ trợ kinh phí cho các công ty lắp đặt và
sản xuất
- Giảm thuế cho sự đầu tư vào các cơ sở tiết
kiệm năng lượng (10%)
- Hỗ trợ phí kiểm tra lấy chứng nhận cho các
doanh nghiệp vừa (hai lần mỗi năm)
Các kết quả
Tổng chi tiêu chính phủ xanh của Hàn Quốc
tăng từ 255 triệu USD (năm 2004) tới 2,04
tỷ USD (năm 2013).
Nguồn: Ho và các cộng sự (2010)
Bộ Tài Nguyên (MOE)
(Quản lý chung)
Báo cáo sự kiểm tra và kết quả đánh giá
Cung cấp định hướng và sự giám sát
Viện Công nghiệp và Công nghệ Môi trường Hàn Quốc (KEITI)
(Đối chiếu các kế hoạch/hồ sơ GPP và đánh giá)
Đệ trình kế hoạch thực hiện và hồ sơ thông qua hệ thống thông tin sản phẩm
Cung cấp thông tin về sản phẩm xanh
Cung cấp hồ sơ mua sắm công xanh thông qua hệ thống mua sắm trực tuyến (KONEPS)
Trợ giúp về chuyên môn
Thực hiện GPP (qua ngưỡng nhất định)
ua sắm công Hàn Quốc (Thực hiện và giám sát GPP tập trung)
Các cơ quan nhà nước
(Thực hiện GPP tập trung)
Ủy thác mua sắm (qua ngưỡng nhất định)
Hình 3: Bộ máy quản lý/thực thi mua sắm công xanh của Hàn
Quốc (Nguồn: KETITI)
Kết luận
Chi tiêu công xanh có vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy xanh
hóa lối sống và tiêu dùng bền vững hướng tới tăng trưởng xanh. Để
thúc đẩy quá trình này, nhà nước cần sớm xây dựng và ban hành
khung chính sách, hướng dẫn toàn diện, hiệu quả về mua sắm xanh,
trong đó ưu tiên thực hiện mua sắm xanh tại khu vực công. Kinh
nghiệm của các quốc gia cho thấy, việc thúc đẩy và triển khai mua
sắm xanh cần phải thực hiện song song với các chương trình dán
nhãn sinh thái, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về
mua sắm xanh, và khuyến khích tạo động lực cho các doanh nghiệp
tham gia vào ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm thân thiện
với môi trường.
Tài liệu tham khảo
1. Linda W.P. Ho, Nicholas M. Dickinson and Gilbert Y.S. Chan. Green
procurement in the Asian public sector and the Hong Kong
private sector. Natural Resources Forum 34 (2010) 24-38.
2. Ho, L. Dickinson, N. and Chan, G. (2010) Green procurement in
the Asian public sector and the Hong Kong private sector. Natural
Resources Forum 34.
3. Hyunju Lee (2014). Korea’s combined approach of Green Public
Procurement and Ecolabelling. Green Product Promotion Office
Korea Environmental Industry and Technology Institute (KEITI).
Republic of Korea. />4. United Nations Environment Programme (UNEP). Sustainable
public procurement: a global review, 2013. ISBN: 978-92-8073332-7.
5. International
Green
Purchasing
Network
(IGPN).
Green
purchasing: the new growth frontier – policies and programmes
to enhance green business growth in Asia, Europe and United
States, 2010.
6. Mạng lưới mua sắm xanh quốc tế (IGPN). />7. Bộ Môi trường Nhật Bản: />8. Viện Công nghiệp và Công nghệ Môi trường Hàn Quốc (KEITI):
/>9. Quyết định số 1393/QĐ-TTg. Phê duyệt chiến lược quốc gia về
tăng trưởng xanh. Thủ tướng Chính phủ, 09/2012.
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
(UNEP)
-
/>11. Ngân hàng Thế giới (WB) - />12. Tổ
chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
-
10.
/>13. Ủy ban Kinh tế - xã hội châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp
quốc (UNESCAP) - />14. Liên minh châu Âu (EU) - />