TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH
-----------
MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH
Nội dung nghiên cứu:
CHƯƠNG 23
LÝ THUYẾT CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Giảng viên: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
Nhóm thuyết trình: Nhóm 8
Lớp: Tài Chính 02
Khoá học: 26
TP.Hồ Chí Minh, năm 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH
-----------
MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH
Nội dung nghiên cứu:
CHƯƠNG 23
LÝ THUYẾT CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Giảng viên: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
Nhóm thuyết trình: Nhóm 8
Lớp: FN02_K26
Danh sách các thành viên:
1. Trần Tuấn Anh
2. Thanh Trúc Khâm Uốn
3. Hoàng Thị Ngọc Dung
Chương 23
Lý thuyết chính sách tiền tệ
Tổng quan
Giữa tháng 9 năm 2007 và tháng 12 năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang đã hạ lãi suất mục tiêu từ
5,25% xuống không và tiếp tục giữ trong nhiều năm sau đó. Tại sao Fed giảm lãi suất mạnh mẽ
và tiếp tục giữ chúng quá thấp?
Chính sách tiền tệ nới lỏng này có thể châm ngòi cho lạm phát không mong muốn? Nhiều
nhà bình luận trên các phương tiện truyền thông cũng nghĩ vậy. Bắt đầu từ những năm 1960,
khi tỷ lệ lạm phát dao động từ 1% đến 2%, nền kinh tế đã chịu tỷ lệ lạm phát cao hơn và biến
động nhiều hơn. Vào cuối năm 1960, tỷ lệ lạm phát đã tăng vượt quá 5%, và đến năm 1974, nó
đạt mức hai con số. Sau khi giảm bớt phần nào trong giai đoạn 1975-1978, nó tăng vọt lên trên
10% vào năm 1979 và năm 1980 giảm xuống còn khoảng 5%. Lạm phát đã trở thành mối quan
tâm lớn của các chính trị gia và công chúng, và làm thế nào để kiểm soát nó một cách thường
xuyên đã chi phối các cuộc thảo luận về chính sách kinh tế.
Trong chương này, tác giả sử dụng mô hình tổng cung – tổng cầu (AD/AS) trong chương 22
để phát triển lý thuyết chính sách tiền tệ. Cụ thể, chúng tôi sẽ xem xét vai trò của chính sách
tiền tệ trong việc tạo ra lạm phát và ổn định nền kinh tế. Chúng tôi áp dụng lý thuyết này để trả
lời 3câu hỏi lớn lớn: Gốc rễ của lạm phát là gì? Liệu lạm phát ổn định có định ổn định sản
lượng không? Chính sách nên chủ động ứng phó tích cực với những biến động của hoạt động
kinh tế hay là thụ động ?
Ứng phó của chính sách tiền tệ với những cú sốc
Như chúng ta đã thấy trong Chương 16, mục tiêu trọng tâm của các ngân hàng trung ương
là ổn định giá cả: Đó là cố gắng duy trì lạm phát, π, gần với mức mục tiêu (πT). Hầu hết các
ngân hàng trung ương thiết lập πT giữa 1% và 3%. Các ngân hàng trung ương theo đuổi sự ổn
định giá cả là chính sách tiền tệ cần phải cố gắng giảm thiểu sự khác biệt giữa lạm phát và lạm
phát mục tiêu (π - πT), mà tác giả gọi là chênh lệch lạm phát.
Trong chương 16, chúng ta được biết rằng các ngân hàng trung ương cũng quan tâm đến
ổn định kinh tế. Bởi vì hoạt động kinh tế chỉ có thể được duy trì ở sản lượng tiềm năng, mục
tiêu này của chính sách tiền tệ có thể được mô tả khi nói rằng các nhà hoạch định chính sách
tiền tệ muốn có tổng sản lượng gần với mức tiềm năng, Y P. Nói một cách khác các ngân hàng
trung ương muốn giảm thiểu chênh lệch giữa tổng sản lượng và sản lượng tiềm năng (Y - Y P),
tức là khoảng cách sản lượng. Trong phân tích tổng cầu và tổng cung trong Chương 22, tác giả
đã kiểm tra ba loại cú sốc kinh tế – cú sốc cầu, cú sốc cung tạm thời, và cú sốc cung vĩnh viễn
và các hậu quả của mỗi loại cú sốc đối với lạm phát và sản lượng. Trong phần này, tác giả mô
tả phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương đối với từng loại cú sốc, căn cứ vào mục tiêu
của mình. Trong trường hợp cả hai cú sốc cầu và các cú sốc cung dài hạn, nhà hoạch định chính
sách đồng thời có thể theo đuổi sự ổn định giá cả và ổn định hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, sau
cú sốc cung tạm thời, các nhà hoạch định chính sách có thể đạt được một trong hai ổn định giá
cả hoặc sự ổn định hoạt động kinh tế. Sự đánh đổi này đặt ra một tình thế khó xử hóc búa cho
các ngân hàng trung ương có nhiệm vụ kép.
Phản ứng đối với cú sốc tổng cầu
Tác giả bắt đầu bằng cách xem xét các tác động của cú sốc tổng cầu, chẳng hạn như sự sụp đổ
thị trường tài chính bắt đầu từ tháng 8 năm 2007 làm tăng mâu thuẫn tài chính và khiến cho chi
tiêu của cả người tiêu dùng và doanh nghiệp đều giảm. Các nền kinh tế ban đầu tại điểm 1,
trong đó đầu ra là tại YP và lạm phát là πT. Cú sốc cầu tiêu cực làm suy giảm tổng cầu, chuyển
AD1 trong hình 1 sang trái đển AD 2. Các nhà hoạch định chính sách có thể ứng phó với cú sốc
này có thể theo hai cách.
Không có chính sách phản ứng
Bởi vì ngân hàng trung ương không phản ứng thay đổi chính sách tiền tệ, đường tổng cầu vẫn ở
AD2 và do đó nền kinh tế dịch chuyển đến giao điểm của AS1 và AD2. Ở đây, tổng sản lượng
giảm xuống Y2, dưới sản lượng tiềm năng Y P và lạm phát giảm xuống π2, bên dưới lạm phát
mục tiêu πT. Với sản lượng dưới mức tiềm năng, thị trường lao động và thị trường sản phẩm bắt
đầu chùng xuống, giảm phát. Đường cung ngắn hạn dịch chuyển xuống và sang bên phải đến
AS3, và nền kinh tế sẽ dịch chuyển đến điểm 3. Sản lượng trở lại mức tiềm năng, trong khi lạm
phát giảm xuống mức thấp hơn π3. Thoạt nhìn, kết quả này có vẻ thuận lợi, lạm phát thấp và
sản lượng trở lại tiềm năng. Nhưng tổng sản lượng sẽ vẫn dưới mức tiềm năng trong một thời
gian, Và nếu lạm phát ở mức mục tiêu, sự sụt giảm lạm phát là không mong muốn vì những lý
do được nêu trong cả hai Chương 9 và Chương 16.
Hình 1 Cú sốc cầu: Không có chính sách phản ứng
Cú sốc tổng cầu làm dịch chuyển đường tổng cầu về bên trái từ AD 1 đến AD2 và di chuyển nền kinh tế từ điểm 1
đến điểm 2, trong đó tổng sản lượng giảm xuống Y 2 trong khi lạm phát giảm xuống π2. Với sản lượng dưới mức
tiềm năng, các đường tổng cung ngắn hạn chuyển xuống AS 3, và nền kinh tế chuyển đến điểm 3, nơi mà sản
lượng trở lại YP, nhưng lạm phát đã giảm xuống π3.
Chính sách ổn định hoạt động kinh tế và lạm phát trong ngắn hạn
Các nhà hoạch định chính sách có thể loại bỏ cả hai chênh lệch sản lượng và chênh lệch lạm
phát trong ngắn hạn bằng cách theo đuổi các chính sách để tăng tổng cầu về mức độ ban đầu
của nó và trả về kinh tế trở lại tình trạng trước cú sốc. Các ngân hàng trung ương thực hiện
điều này bằng cách chủ động nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách cắt giảm tỷ lệ lãi suất thực
tế. Hành động này kích thích chi tiêu đầu tư và tăng tổng sản lượng, do đó dịch chuyển đường
cong AD về bên phải. Kết quả là, đường tổng cầu dịch chuyển từ AD 2 trở lại AD1 trong hình 2,
và nền kinh tế trở lại điểm 1. (Fed đã thực hiện chính xác từng bước hạ lãi suất liên bang từ
5,25% xuống không sau hơn mười lăm tháng bắt đầu từ tháng Chín năm 2007.)
Phân tích của tác giả về phản ứng chính sách tiền tệ này cho thấy rằng trong trường hợp cú sốc
tổng cầu, không có sự đánh đổi giữa việc theo đuổi sự ổn định giá cả và ổn định hoạt động
kinh tế. Tập trung vào ổn định lạm phát dẫn đến những phản ứng chính sách tiền tệ phải để ổn
định hoạt động kinh tế. Không có mâu thuẫn tồn tại giữa các mục tiêu kép ổn định lạm phát và
hoạt động kinh tế, mà Olivier Blanchard (trước đây là thuộc MIT, nhưng bây giờ là Quỹ Tiền tệ
Quốc tế) gọi là sự trùng hợp ngẫu nhiên tuyệt vời.
Hình 2 Cú sốc tổng cấu: chính sách ổn định sản lượng và lạm phát trong thời gian ngắn
Cú sốc tổng cầu làm dịch chuyển đường tổng cầu về bên trái từ AD 1 đến AD2 và di chuyển nền kinh tế từ điểm 1
đến điểm 2, trong đó tổng sản lượng giảm xuống Y 2 trong khi lạm phát giảm xuống π2. Nới lỏng chính sách tiền
tệ làm giảm tỷ lệ lãi suất thực tế và dịch chuyển đường cong AD trở lại AD 1. Tổng sản lượng trở về sản lượng
tiềm năng tại điểm 1 và lạm phát trở về mức mục tiêu.
ỨNG DỤNG
◆ Nới lỏng định lượng (Tín dụng) phản ứng đối với khủng
hoảng tài chính toàn cầu
Chúng ta đã thấy rằng chính sách tiền tệ có thể chống lại những cú sốc tổng cầu và ổn định sản
lượng và lạm phát bằng cách hạ lãi suất thực. Tuy nhiên, đôi khi cú sốc tổng cầu tiêu cực là lớn
đến nỗi mà đôi khi ngân hàng trung ương không thể hạ lãi suất thực tế hơn nữa vì lãi suất danh
nghĩa chạm sàn bằng không, như đã xảy ra sau khi Lehman Brothers phá sản vào cuối năm
2008. Trong tình huống này khi vấn đề giới hạn dưới không xuất hiện, ngân hàng trung ương
phải chuyển sang chính sách tiền tệ trái lệ đã được thảo luận trong Chương 15. Mặc dù các biện
pháp chính sách tiền tệ trái lệ liên quan đến việc cung cấp thanh khoản và mua lại tài sản, mà
kết quả của sự mở rộng bảng cân đối của ngân hàng trung ương và do đó thường được gọi là
nới lỏng định lượng, được mô tả chính xác hơn là nới lỏng tín dụng. Nới lỏng định lượng (tín
dụng) làm thế nào để ổn định sản lượng và lạm phát trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu?
Như chúng ta đã thấy trong Chương 9, sau sự sụp đổ của Lehman Brothers, chi phí đi vay thực
cho cả các hộ gia đình và các doanh nghiệp đều tăng mạnh do xáo trộn tài chính tăng đáng kể.
Các chi phí đi vay thực tế cao hơn dẫn đến một sự suy giảm trong chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu
đầu tư dự kiến, do đó làm cho tổng cầu suy giảm mạnh và dịch chuyển đường cong tổng cầu về
phía trái đến AD2, như trong Hình 2. Mặc dù Cục Dự trữ liên bang độc lập giảm lãi suất liên
bang đến giới hạn dưới không, điều này không đủ để dịch chuyển đường tổng cầu trở lại AD 1.
Bằng cách tham gia vào các thương vụ mua tài sản và cung cấp thanh khoản, Fed có thể giảm
những rào cản tài chính và hạ thấp chi phí đi vay thực tế cho hộ gia đình và doanh nghiệp. Kết
quả là đường tổng cầu đã dịch chuyển sang bên phải như trong hình 2, do đó tránh được tình
trạng giảm phát và thúc đẩy hoạt động kinh tế để nền kinh tế không bước vào suy thoái, như
trong những năm 1930. Tuy nhiên, cú sốc tổng cầu tiêu cực đối với nền kinh tế từ cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu đã quá lớn đến nỗi việc nới lỏng định lượng (tín dụng) của Fed không
đủ để vượt qua, và Fed không thể dịch chuyển đường tổng cầu hợp trở lại AD 1. Do đó, bất chấp
những nỗ lực của Cục dự trữ liên bang, nền kinh tế vẫn phải trải qua một cuộc suy thoái
nghiêm trọng, với lạm phát giảm xuống dưới mức 2%.
Phản ứng đối với cú sốc cung dài hạn
Chúng tôi minh họa cú sốc cung cấp dài hạn trong hình 3. Một lần nữa nền kinh tế bắt đầu ở
điểm 1, trong đó tổng sản lượng ở tỷ lệ tự nhiên Y 1P và lạm phát là πT. Giả sử nền kinh tế bị cú
sốc cung tiêu cực dài hạn vì sự gia tăng các quy định làm giảm dài hạn mức sản lượng tiềm
năng. Sản lượng tiềm năng rơi từ Y1P đến Y3P, và đường cong tổng cung dài hạn dịch chuyển về
bên trái từ LRAS1 đến LRAS3. Cú sốc cung dài hạn gây nên một cú sốc giá làm dịch chuyển
đường tổng cung ngắn hạn đi lên từ AS 1 đến AS2. Hai phản ứng chính sách có thể đối với cú
sốc cung dài hạn này là có thể.
Không có chính sách phản ứng
Nếu các nhà hoạch định chính sách không thay đổi chính
sách tiền tệ độc lập, nền kinh tế sẽ di chuyển đến điểm 2, với lạm phát tăng lên π2 và sản lượng
giảm xuống Y2. Bởi vì mức sản lượng này vẫn cao hơn sản lượng tiềm năng, Y 3P, đường tổng
cung ngắn hạn tiếp tục dịch chuyển lên trên và về bên trái cho đến khi nó đạt đến AS 3. Nền
kinh tế chuyển sang điểm 3, loại bỏ chênh lệch sản lượng nhưng để lại lạm phát cao hơn π3 và
sản lượng thấp hơn Y3P.
Hình 3 Cú sốc cung dài hạn: Không có chính sách phản ứng
Cú sốc cung dài hạn tiêu cực làm giảm sản lượng tiềm năng từ YP1 để YP3, và đường tổng cung dài hạn dịch
chuyển sang trái từ LRAS1 đến LRAS3, trong khi đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển lên từ AS1 đến AS2. Nền
kinh tế chuyển đến điểm 2, với lạm phát tăng lên π2 và sản lượng giảm xuống Y2. Bởi vì tổng sản lượng vẫn còn
trên tiềm năng, đường tổng cung ngắn hạn sẽ tiếp tục dịch chuyển cho đến khi chênh lệch sản lượng bằng không
khi nó đạt đến AS3. Nền kinh tế dịch chuyển đến điểm 3, lạm phát tăng lên đến π3 trong khi sản lượng giảm
xuống YP3.
Chính sách ổn định lạm phát Theo hình 4, cơ quan tiền tệ có thể giữ lạm phát ở mức
lạm phát mục tiêu và ổn định lạm phát bằng cách giảm tổng cầu. Mục đích là để dịch chuyển
đường tổng cầu về bên trái đến AD3, giao điểm với đường tổng cung dài hạn LRAS3 ở mức lạm
phát mục tiêu πT. Để dịch chuyển tổng cầu đến AD3, các cơ quan tiền tệ sẽ tự chủ thắt chặt
chính sách tiền tệ bằng cách tăng lãi suất thực, do đó làm cho chi tiêu đầu tư giảm và giảm tổng
cầu. Nền kinh tế như vậy, đi đến điểm 3, nơi mà chênh lệch sản lượng bằng không và lạm phát
ở mức mục tiêu πT.
Ở đây một lần nữa, giữ cho chênh lệch lạm phát bằng không dẫn đến chênh lệch sản lượng
bằng không, do đó lạm phát đã ổn định hoạt động kinh tế. Điều này vẫn đúng khi cú sốc cung
dài hạn xảy ra: Không có sự đánh đổi giữa các mục tiêu kép ổn định lạm phát và ổn định
hoạt động kinh tế.
Hình 4 Cú sốc cung dài hạn: Chính sách ổn định lạm phát
Cú sốc cung tiêu cực dài hạn làm giảm sản lượng tiềm năng từ YP1 đến YP3, và đường tổng cung dài hạn dịch
chuyển sang trái từ LRAS1 đến LRAS3, trong khi đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển lên từ AS1 đến AS2.
Chính sách tiền tệ độc lập thắt chặt làm dịch chuyển đường tổng cầu về bên trái đến AD3, do đó việc giữ tỷ lệ
lạm phát ở mức πT tại điểm 3.
Phản ứng đối với cú sốc cung tạm thời
Khi cú sốc cung là tạm thời, chẳng hạn như khi giá dầu tăng vọt do bất ổn chính trị ở Trung
Đông hay vì thiên tai, chẳng hạn như cơn bão tàn phá ở Florida. Các nhà hoạch định chính sách
phải đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa ổn định lạm phát và hoạt động kinh tế. Để minh
họa, tác giả bắt đầu từ điểm 1 trong hình 5, trong đó tổng sản lượng là ở YP và lạm phát là πT.
Cú sốc cung tiêu cực, nói rằng, sự tăng giá dầu làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn chạy
lên trên và sang trái từ AS1 đến AS2 nhưng đường cong tổng cung dài hạn không thay đổi vì cú
sốc là tạm thời. Nền kinh tế chuyển đến điểm 2, với lạm phát tăng lên π2 và sản lượng giảm
xuống Y2. Các nhà hoạch định chính sách có thể phản ứng đối với cú sốc cung tạm thời theo ba
cách.
Không có chính sách phản ứng Một khi lựa chọn chủ trương không thay đổi chính sách
tiền tệ thì đường tổng cầu không thay đổi. Khi tổng sản lượng ít hơn sản lượng tiềm năng YP,
đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển xuống về bên phải, quay trở lại AS1. Nền kinh tế sẽ
trở lại điểm 1 trong hình 5 và khép lại chênh lệch sản lượng và chênh lệch lạm phát, khi đó sản
lượng và lạm phát trở lại mức ban đầu YP và πT. Về lâu dài, không có sự đánh đổi giữa hai
mục tiêu ổn định lạm phát và ổn định hoạt động kinh tế.
Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, nền kinh tế sẽ trải qua một giai đoạn đau đớn của việc giảm sản
lượng và tỷ lệ lạm phát cao hơn. Điều này mở ra cánh cửa cho chính sách tiền tệ cố gắng ổn
định hoạt động kinh tế hay lạm phát trong ngắn hạn.
Hình 5 Phản ứng đối với cú sốc cung tạm thời: Không có chính sách phản ứng
Cú sốc cung tạm thời tiêu cực làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn đi lên từ AS1 đến AS2, chuyển nền
kinh tế đến điểm 2, với lạm phát tăng lên π2 và sản lượng giảm xuống Y2. Nếu chính sách tiền tệ vẫn không thay
đổi, đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển xuống và sang phải trong thời gian dài, cuối cùng quay trở lại
AS1, và nền kinh tế dịch chuyển trở lại điểm 1.
Chính sách ổn định lạm phát trong ngắn hạn Sự lựa chọn chính sách thứ hai dành
cho cơ quan quản lý tiền tệ là giữ lạm phát ở mức mục tiêu πT trong ngắn hạn bằng chính sách
tiền tệ thắt chặt và nâng lãi suất thực. Làm như vậy sẽ làm cho chi tiêu đầu tư và tổng cầu giảm,
dịch chuyển đường tổng cầu về bên trái đến AD3 trong Hình 6. Nền kinh tế di chuyển đến điểm
3, nơi mà đường tổng cầu, AD3, cắt đường tổng cung ngắn hạn AS2 tại tỷ lệ lạm phát πT. Bởi vì
sản lượng là dưới mức tiềm năng tại điểm 3, Nền kinh tế sụt giảm làm dịch chuyển đường tổng
cung ngắn hạn xuống trở lại AS1. Để giữ tỷ lệ lạm phát ở mức πT, các cơ quan quản lý tiền tệ
cần dịch chuyển đường tổng cầu ngắn hạn trở lại AD1 bằng cách đảo ngược việc thắt chặt và
cuối cùng, nền kinh tế sẽ trở về điểm 1.
Như hình minh họa 6, ổn định lạm phát làm giảm tổng sản lượng đến Y3 trong ngắn hạn, và chỉ
qua thời gian sản lượng sẽ ra trở lại sản lượng tiềm năng tại YP. Ổn định lạm phát để phản
ứng với cú sốc cung tạm thời đã dẫn đến chênh lệch lớn hơn của tổng sản lượng so với
tiềm năng, vì vậy hành động này đã không ổn định hoạt động kinh tế.
Chính sách ổn định hoạt động kinh tế trong ngắn hạn Chính sách thứ ba dành cho
các nhà hoạch định chính sách tiền tệ để ổn định hoạt động kinh tế chứ không phải là lạm phát
trong ngắn hạn bằng cách tăng tổng cầu. Theo hình 7, bây giờ họ sẽ dịch chuyển đường tổng
cầu sang bên phải đến AD3, giao nhau với đường tổng cung ngắn hạn AS2 và tổng cung dài hạn
tại điểm 3. Để làm điều này, họ sẽ phải độc lập nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách hạ lãi suất
thực. Tại điểm 3, chênh lệch sản lượng trở về không, vì vậy chính sách tiền tệ đã ổn định hoạt
động kinh tế. Tuy nhiên, lạm phát đã tăng lên π3, lớn hơn πT, vì vậy lạm phát đã không được ổn
định. Ổn định hoạt động kinh tế để phản ứng đối với cú sốc cung tạm thời dẫn đến gia tăng
lạm phát, vì vậy lạm phát đã không được ổn định.
Hình 6 Phản ứng đối với cú sốc cung tạm thời: Ổn định lạm phát trong ngắn hạn
Cú sốc cung tạm thời tiêu cực làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn từ AS1 đến AS2, chuyển nền kinh tế đến
điểm 2, với lạm phát tăng lên π2 và sản lượng giảm xuống Y2. Thắt chặt chính sách tiền tệ làm dịch chuyển đường tổng
cầu về bên trái đến AD3, và nền kinh tế chuyển đến điểm 3, nơi mà lạm phát đang ở πT. Với sản lượng dưới mức tiềm
năng tại điểm 3, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển trở lại AS1, và để giữ tỉ lệ lạm phát ở mức πT, việc thắt chặt
chính sách tiền tệ được đảo ngược, dịch chuyển đường tổng cầu trở lại AD1 và nền kinh tế trở lại điểm 1.
Mối quan hệ giữa ổn định lạm phát và ổn định hoạt động kinh tế
Tác giả có thể rút ra những kết luận sau đây từ phân tích này:
1. Nếu hầu hết những cú sốc đối với nền kinh tế là những cú sốc tổng cầu hoặc các cú sốc
tổng cung dài hạn, thì chính sách ổn định lạm phát cũng sẽ ổn định hoạt động kinh tế, ngay
cả trong ngắn hạn.
2. Nếu các cú sốc cung tạm thời là phổ biến hơn, thì ngân hàng trung ương phải lựa chọn
giữa hai mục tiêu ổn định trong ngắn hạn.
3. Trong dài hạn không có xung đột giữa ổn định lạm phát và hoạt động kinh tế để phản
ứng với những cú sốc.
Hình 7 Phản ứng với cú sốc cung tạm thời: Ổn định sản lượng trong ngắn hạn
Cú sốc cung tiêu cực tạm thời dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn từ AS1 đến AS2, chuyển nền kinh tế đến
điểm 2, với lạm phát tăng lên π2 và sản lượng giảm xuống Y2. Để ổn định sản lượng, nới lỏng chính sách tiền tệ
làm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải đến AD3. Tại điểm 3, hành động chính sách tiền tệ đã ổn định hoạt
động kinh tế, nhưng tại π3 lạm phát lớn hơn πT.
Các nhà hoạch định chính sách nên chủ động ổn định hoạt động
kinh tế như thế nào?
Tất cả các nhà kinh tế đều có những mục tiêu chính sách tương tự nhau (để thúc đẩy việc làm
cao và ổn định giá cả), nhưng họ thường bất đồng về cách tiếp cận tốt nhất để đạt được những
mục tiêu đó. Giả sử các nhà hoạch định chính sách đối đầu với một nền kinh tế có tỷ lệ thất
nghiệp cao, hệ quả từ cú sốc cầu hoặc cung tiêu cực đã làm giảm tổng sản lượng. Trường phái
thụ động tin rằng tiền lương và giá cả rất linh hoạt, do cơ chế tự điều chỉnh rất nhanh chóng.
Họ lập luận rằng đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển xuống, trở lại nền kinh tế toàn dụng
lao động rất nhanh chóng. do đó họ tin rằng hành động của chính phủ là không cần thiết để loại
bỏ tình trạng thất nghiệp. Trường phái chủ động, nhiều người trong số họ là những tín đồ của
Keynes và do đó được gọi là trường phái Keynes, coi cơ chế tự điều chỉnh thông qua tiền
lương và điều chỉnh giá là rất chậm vì tiền lương và giá cả là không linh hoạt. Kết quả là, họ tin
rằng phải mất một thời gian rất dài để đạt tới dài hạn, đồng ý với câu ngạn ngữ nổi tiếng của
Keynes rằng "Trong dài hạn, chúng ta đều chết." Do đó, họ nhìn thấy sự cần thiết của việc
chính phủ theo đuổi chính sách chủ động để loại bỏ tình trạng thất nghiệp cao khi nó phát triển.
Độ trễ và việc thực hiện chính sách
Nếu các nhà hoạch định chính sách có thể dịch chuyển đường tổng cầu ngay lập tức, các chính
sách của trường phái chủ động có thể được sử dụng để dịch chuyển ngay lập tức nền kinh tế về
mức toàn dụng lao động, như chúng ta đã thấy trong phần trước. Tuy nhiên, nhiều loại độ trễ
ngăn chặn sự thay đổi này ngay lập tức, và có sự khác biệt trong độ dài của các độ trễ của chính
sách tiền tệ so với chính sách tài khóa.
1. Độ trễ dữ liệu là thời gian cần cho các nhà hoạch định chính sách để có được dữ liệu
cho thấy những gì đang xảy ra trong nền kinh tế. Ví dụ, dữ liệu chính xác về GDP không
có sẵn cho đến vài tháng sau khi hết quý 1.
2. Độ trễ thừa nhận là thời gian cần thiết để các nhà hoạch định chính sách chắc chắn về
những gì dữ liệu truyền tín hiệu về tương lai của nền kinh tế. Ví dụ, để giảm thiểu các
lỗi, Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia (Tổ chức tư nhân chính thức xác nhận chu kỳ kinh
doanh) sẽ không tuyên bố nền kinh tế bị suy thoái cho đến khi ít nhất là sáu tháng sau
khi suy thoái bắt đầu.
3. Độ trễ lập pháp là thời gian cần để vượt qua việc lập pháp để thực hiện một chính sách
cụ thể. Độ trễ lập pháp không tồn tại đối với hầu hết các chính sách tiền tệ, như giảm lãi
suất. Tuy nhiên, điều quan trọng đối với việc thực hiện chính sách tài khóa là đôi khi
phải mất sáu tháng đến một năm để thông qua luật thay đổi thuế hoặc mua sắm của
chính phủ.
4. Độ trễ thực hiện là thời gian cần thiết để các nhà hoạch định chính sách thay đổi công
cụ chính sách một khi họ đã quyết định về chính sách mới. Một lần nữa, sự chậm trễ này
là ít quan trọng cho việc thực hiện chính sách tiền tệ hơn chính sách tài khóa vì Cục Dự
trữ Liên bang ngay lập tức có thể thay đổi chính sách lãi suất của nó. Trên thực tế việc
thực hiện chính sách tài khóa có thể mất thời gian đáng kể, tuy nhiên; ví dụ, việc các cơ
quan chính phủ thay đổi thói quen chi tiêu của họ cần có thời gian, cũng như làm thay
đổi bảng thuế suất.
5. Độ trễ hiệu quả là thời gian cần thiết cho chính sách thực sự có tác động đến nền kinh
tế. Độ trễ hiệu quả là vừa lâu (thường là một năm hoặc lâu hơn) vừa biến đổi (nghĩa là,
có sự không chắc chắn về thời gian trễ này là bao lâu).
Sự tồn tại của tất cả các độ trễ làm cho công việc của các nhà hoạch định chính sách khó
khăn hơn nhiều và do đó làm suy yếu trường phái hủ động. Khi tỷ lệ thất nghiệp cao, chính
sách chủ động để dịch chuyển đường tổng cầu sang phải để khôi phục lại nền kinh tế để toàn
dụng lao động có thể không mang lại kết quả mong muốn. Thật vậy, nếu độ trễ chính sách được
mô tả ở trên là rất lâu, sau đó vào thời điểm đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải, cơ chế
tự điều chỉnh có thể làm cho nền kinh tế quay trở lại toàn dụng lao động, vì vậy khi chính sách
chủ động làm cho sản lượng tăng cao hơn tiềm năng, dẫn đến sự gia tăng lạm phát. Trong tình
huống mà độ trễ chính sách là lâu hơn thời gian cần cho cơ chế tự điều chỉnh làm việc, chính
sách của trường phái thụ động có thể tạo ra kết quả tốt hơn.
Cuộc tranh luận của trường phái chủ động và thụ động đã trở nên nổi bật khi chính quyền
Obama ủng hộ gói kích thích tài chính vào đầu năm 2009 (xem hộp thoại FYI, "Cuộc tranh
luận của trường phái chủ động và thụ động đối với Gói kích cầu tài chính của Obama"). Trong
Chương 24, chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề chính sách chủ động nên như thế nào, khi chúng ta
nhìn vào vai trò của những kỳ vọng trong chính sách tiền tệ.
Lạm phát: Hiện tượng tiền tệ luôn luôn tồn tại và ở khắp mọi
nơi
Milton Friedman nổi tiếng với câu nói của ông rằng về lâu dài "Lạm phát là hiện tượng tiền
tệ luôn luôn tồn tại và ở khắp mọi nơi." Ở đây chúng ta thấy rằng câu châm ngôn này được hỗ
trợ bởi việc phân tích tổng cung và cầu vì điều đó cho thấy rằng các nhà hoạch định chính sách
tiền tệ có thể nhắm vào mục tiêu lạm phát trong dài hạn bằng cách dịch chuyển đường tổng cầu
với chính sách tiền tệ độc lập. Để minh họa, nhìn vào hình 8, nơi nền kinh tế đang ở điểm 1,
với tổng sản lượng tại sản lượng tiềm năng YP và lạm phát ở mức lạm phát mục tiêu ban đầu
của πT 1.
Tranh luận giữa trường phái chủ động và thụ động đối với gói kích cầu tài chính
của Obama
Khi Tổng thống Obama nhận chức vào tháng
Giêng năm 2009, ông phải đối mặt với một
cuộc suy thoái nghiêm trọng, với tỷ lệ thất
nghiệp trên 7% và tăng nhanh. Mặc dù các
nhà hoạch định chính sách đã sử dụng chính
sách tiền tệ chủ động để ổn định nền kinh tế
(xem Chương 9 và 15), trường phái chủ động
cho rằng chính phủ cần phải hành động nhiều
hơn bằng cách thực hiện gói kích thích tài
chính lớn. Họ lập luận rằng chính sách tiền tệ
đã hạ lãi suất liên bang gàn bằng không và
như vậy không thể hạ lãi suất danh nghĩa thấp
hơn nữa, sẽ không thể tăng tổng cầu đến mức
toàn dụng lao động. Mặt khác, trường phái
thụ động phản đối gói kích thích tài chính,
cho rằng gói kích thích tài chính mất thời
gian quá lâu vì độ trễ thực hiện dài. Họ cảnh
báo rằng nếu các gói kích thích tài chính thực
hiện sau khi nền kinh tế đã phục hồi, điều đó
có thể dẫn đến biến động tăng về lạm phát và
hoạt động kinh tế.
Ngành kinh tế học chia rẽ về mong muốn
kích thích tài chính. Khoảng 200 nhà kinh tế
học ủng hộ kích thích tài chính đã ký một
thỉnh nguyện thư được công bố trên tờ Wall
Street Journal và New York Times vào ngày
28 tháng 1 năm 2009. Một bản kiến nghị đối
lập, cũng có chữ ký của khoảng 200 nhà kinh
tế, xuất hiện vào ngày 8 tháng 2. Chính quyền
Obama đã đứng về phía trường phái chủ động
và đề nghị Luật khôi phục và tái đầu tư của
Mỹ năm 2009, gói kích thích tài chính $787
tỷ mà Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 2
năm 2009. Trong Hạ viện, phiếu bầu là 246
đến 183, với 176 đảng viên đảng Cộng hòa và
7 đảng viên Dân chủ phản đối dự luật, trong
khi ở Thượng viện phiếu bầu là 60 đến 38,
với tất cả các đảng viên Dân chủ ủng hộ dự
luật, cùng với 3 đảng viên Cộng hòa. Ngay
sau sự kiện đó, mức độ cần thiết của gói kích
thích kinh tế năm 2009 được tranh luận sôi
nổi, một số người chỉ ra rằng điều đó giúp ổn
định nền kinh tế trong khi những người khác
tin rằng điều đó là không hiệu quả.
Giả sử ngân hàng trung ương tin rằng lạm phát mục tiêu này là quá thấp và lựa chọn nâng
cao đến πT3. Họ nới lỏng chính sách tiền tệ độc lập bằng cách hạ lãi suất thực, do đó làm tăng
chi tiêu đầu tư và tổng cầu. Trong hình 8, đường tổng cầu dịch chuyển đến AD3. Nền kinh tế
sau đó sẽ di chuyển đến điểm 2 tại giao điểm của AD3 và AS1, với lạm phát tăng lên π2. Bởi vì
tổng sản lượng bê trên sản lượng tiềm năng Y2 > YP, đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển
lên và về bên trái, cuối cùng dừng lại ở AS3, với nền kinh tế chuyển đến điểm 3, tại đó lạm phát
cao hơn mức mục tiêu πT3 và chênh lệch sản lượng trở lại bằng không.
Hình 8 minh hoạ những điểm chính sau:
1. Các cơ quan tiền tệ có thể nhắm mục tiêu tỷ lệ lạm phát trong dài hạn với những điều
chỉnh chính sách tiền tệ độc lập.
2. Sản lượng tiềm năng - tổng sản lượng được sản xuất trong dài hạn - chính sách tiền
tệ độc lập.
Nguyên nhân của chính sách tiền tệ lạm phát
Nếu tất cả mọi người đồng ý rằng lạm phát cao là không tốt cho nền kinh tế, tại sao chúng ta
thấy nó rất nhiều? Các chính phủ có theo đuổi chính sách tiền tệ lạm phát một cách cố ý?
Chúng ta đã thấy rằng cơ quan quản lý tiền tệ có thể thiết lập tỷ lệ lạm phát trong dài hạn, vì họ
phải cố gắng để đạt được các mục tiêu khác, các chính phủ kết thúc với chính sách tiền tệ quá
nới lỏng và lạm phát cao. Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét các chính sách là nguồn gốc gây
ra lạm phát phổ biến nhất.
Hình 8 tăng lạm phát mục tiêu
Để tăng lạm phát mục tiêu πT3, ngân hàng trung ương cam kết nới lỏng chính sách tiền tệ độc lập, hạ lãi suất
thực, do đó dịch chuyển đường tổng cầu sang phải đến AD3. Nền kinh tế sau đó sẽ dịch chuyển đến điểm 2 và
đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển lên và về bên trái, cuối cùng dừng lại ở AS3, dịch chuyển nền kinh tế
đến điểm 3, với chênh lệch sản lượng bằng không và lạm phát ở mức πT3 .
Mục tiêu tạo nhiều việc làm và lạm phát
Mục tiêu chính của hầu hết các chính phủ là tạo nhiều việc làm, và việc theo đuổi mục tiêu này
có thể đưa đến hậu quả lạm phát cao. Chính phủ Hoa Kỳ cam kết bằng pháp luật (Luật Việc
làm năm 1946 và Luật Humphrey-Hawkins năm 1978) tham gia vào chính sách chủ động nhằm
thúc đẩy tạo ra nhiều việc làm. Cả hai luật đều đòi hỏi cam kết tạo ra thật nhiều việc làm cùng
với lạm phát ổn định, nhưng trong thực tế, chính phủ Hoa Kỳ và Fed đã thường theo đuổi mục
tiêu tạo ra nhiều việc làm với chút lo ngại về những hậu quả lạm phát của chính sách. Xu
hướng này là sự thật, đặc biệt là vào giữa những năm 1960 và 1970, khi chính phủ và FED bắt
đầu chủ động tham gia vào việc ổn định tình trạng thất nghiệp.
Hai loại lạm phát có thể là hậu quả từ chính sách ổn định để thúc đẩy tạo ra nhiều việc làm:
1. Lạm phát chi phí đẩy hậu quả đến từ hoặc là cú sốc cung tạm thời tiêu cực hoặc người
lao động đòi tăng lương vượt quá tăng năng suất.
2. Lạm phát cầu kéo hậu quả đến từ các nhà hoạch định chính sách theo đuổi chính sách
làm tăng tổng cầu.
Bây giờ tác giả sẽ sử dụng phân tích tổng cầu và cung để kiểm tra tác động của mục tiêu tạo ra
nhiều việc làm đối với cả hai loại lạm phát.
Lạm phát chi phí đẩy Hình 9 xem xét nền kinh tế bước đầu tại điểm 1, điểm giao nhau của
đường tổng cầu AD1 và đường tổng cung ngắn hạn AS1. Giả sử người lao động thành công
trong việc thúc đẩy mức lương cao hơn, hoặc vì họ muốn tăng tiền lương thực tế của họ (tiền
lương dưới dạng hàng hoá và dịch vụ mà họ có thể mua) cao hơn việc tăng năng suất, hoặc bởi
vì họ hy vọng lạm phát sẽ ở mức cao và mong muốn tiền lương theo kịp với lạm phát. Cú sốc
chi phí phí đẩy này hoạt động giống như cú sốc cung tạm thời tiêu cực, làm tăng tỷ lệ lạm phát
và làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển lên và sang trái đến AS2. Nếu ngân
hàng trung ương không có hành động để thay đổi lãi suất cân bằng và đường chính sách tiền tệ
vẫn không thay đổi, nền kinh tế dịch chuyển đến điểm 2' tại giao điểm của đường tổng cung
ngắn hạn mới AS2 và đường tổng cầu AD1. Sản lượng sẽ giảm đến Y' bên dưới sản lượng tiềm
năng và tỷ lệ lạm phát sẽ tăng lên p2, dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Ngược lại, các nhà hoạch định chính sách chủ động với mục tiêu tạo nhiều việc làm sẽ thực
hiện những chính sách, chẳng hạn như cắt giảm thuế, tăng mua sắm chính phủ, hoặc nới lỏng
chính sách tiền tệ, để tăng tổng cầu. Những chính sách này sẽ dịch chuyển đường tổng cầu
trong hình 9 đến AD2' nhanh chóng chuyển nền kinh tế về sản lượng tiềm năng tại điểm 2 và
tăng tỷ lệ lạm phát đến π2. Người lao động làm ăn, sinh sống khá tốt, vừa có lương cao hơn vừa
có sự bảo vệ của chính phủ chống thất nghiệp quá mức.
Hình 9 Lạm phát chi phí đẩy
Cú sốc chi phí đẩy (hoạt động như một cú sốc cung cấp tiêu cực tạm thời) làm dịch chuyển đường tổng cung
ngắn hạn lên trên và sang trái đến AS2, và nền kinh tế dịch chuyển sang điểm 2'. Để duy trì tổng sản lượng ở YP
và giảm tỷ lệ thất nghiệp, các nhà hoạch định chính sách dịch chuyển đường tổng cầu tổng sang AD2 để nền kinh
tế nhanh chóng quay trở lại sản lượng tiềm năng ở điểm 2 và tỷ lệ lạm phát π2. Việc dịch chyển lên trên và sang
trái của đường tổng cung ngắn ngắn hạn đến AS3 vv. làm cho các nhà hoạch định chính sách tiếp tục gia tăng
tổng cầu, dẫn đến sự gia tăng lạm phát - lạm phát chi phí đẩy.
Sự thành công của người lao động có thể khuyến khích họ tìm kiếm mức lương cao hơn.
Ngoài ra, người lao động bây giờ có thể nhận ra rằng tiền lương của họ đã giảm tương đối so
với đồng nghiệp của họ, khiến họ phải tìm kiếm lương tăng. Kết quả là, cú sốc cung tạm thời
tiêu cực xảy ra có thể làm đường tổng cung ngắn hạn trong hình 9 dịch chuyển lên và sang bên
trái một lần nữa, đến AS3. Thất nghiệp tăng lại khi dịch chuyển đến điểm 3', khiến cho các
chính sách chủ động một lần nữa dịch chuyển đường cầu tổng sang phải đến AD3 và nền kinh
tế toàn dụng lao động tại tỷ lệ lạm phát cao hơn p3. Nếu quá trình này tiếp tục, kết quả là lạm
phát lạm phát gia tăng liên tục – lạm phát chi phí đẩy.
Lạm Phát Cầu Kéo Mục tiêu tạo ra nhiều việc làm có thể dẫn đến chính sách tài khóa và
tiền tệ lạm phát. Ngay cả khi toàn dụng lao động (tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên), thất nghiệp là
luôn luôn hiện diện vì sự cọ sát trong thị trường lao động làm phức tạp sự kết hợp của người
lao động thất nghiệp với nhà tuyển dụng. Do đó, tỷ lệ thất nghiệp khi toàn dụng lao động sẽ lớn
hơn không. Khi các nhà hoạch định chính sách nhầm lẫn đánh giá thấp tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên và vì vậy thiết lập tỷ lệ thất nghiệp mục tiêu là quá thấp (tức là, ít hơn so với tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên), họ đặt nền tảng cho chính sách tiền tệ mở rộng tạo ra lạm phát.
Hình 10 cho thấy kịch bản lạm phát cầu kéo, sử dụng phân tích tổng cung và cầu. Nếu các
nhà hoạch định chính sách đề ra tỷ lệ thất nghiệp mục tiêu 4% dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên 5%, họ sẽ cố gắng đạt được sản lượng mục tiêu lớn hơn sản lượng tiềm năng. Chúng tôi
ký hiệu mức sản lượng mục tiêu này trong hình 10 là YT. Giả sử chúng ta bắt đầu tại điểm 1:
Nền kinh tế ở sản lượng tiềm năng nhưng dưới mức sản lượng mục tiêu YT. Để đạt được tỷ lệ
thất nghiệp mục tiêu là 4%, các nhà hoạch định chính sách phải ban hành các chính sách như
chính sách tài khóa mở rộng hoặc chính sách tiền tệ nới lỏng để tăng tổng cầu. Đường tổng cầu
trong hình 10 dịch chuyển sang bên phải cho đến khi nó đến AD2 và nền kinh tế chuyển đến
điểm 29, sản lượng là tại YT và các nhà hoạch định chính sách đạt được tỷ lệ thất nghiệp mục
tiêu 4%. Tại YT , tỷ lệ thất nghiệp 4% dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, và sản lượng là trên
tiềm năng, khiến lương tăng. Đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển lên và sang bên trái,
cuối cùng đến AS2, chuyển nền kinh tế từ điểm 29 đến điểm 2, quay lại sản lượng tiềm năng
nhưng với tỉ lệ lạm phát cao hơn π2. Tác giả có thể dừng lại ở đó, nhưng vì thất nghiệp cao hơn
so với mức mục tiêu, các nhà hoạch định chính sách sẽ một lần nữa dịch chuyển đường tổng
cầu sang phải đến AD3 để đạt sản lượng mục tiêu tại điểm 3' - và toàn bộ quá trình sẽ tiếp tục
thúc đẩy nền kinh tế đến điểm 3 và xa hơn nữa. Kết quả tổng thể là tỷ lệ lạm phát tăng đều đặn.
Theo đuổi tỷ lệ thất nghiệp mục tiêu quá thấp hoặc tương ứng là sản lượng mục tiêu quá
cao, do đó dẫn đến chính sách tiền tệ hay tài khóa lạm phát. Các nhà hoạch định chính sách thất
bại: Họ đã không đạt được tỷ lệ thất nghiệp mục tiêu và gây ra lạm phát cao hơn.
Lạm Phát Chi Phí Đẩy Trái Ngược Với Lạm Phát Cầu Kéo. Khi lạm phát xảy ra, làm thế
nào để chúng ta biết đó là lạm phát cầu kéo hay lạm phát chi phí đẩy? Lạm phát cầu kéo khi tỷ
lệ thất nghiệp dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, và lạm phát chi phí đẩy khi tỷ lệ thất nghiệp
cao hơn mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Thật không may, các nhà kinh tế và hoạch định chính
sách vẫn phải vật lộn với việc đo tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Làm phức tạp vấn đề thêm nữa, lạm
phát chi phí đẩy có thể được khởi xướng bởi lạm phát cầu kéo, làm mờ đi sự phân biệt. Khi lạm
phát cầu kéo làm cho tỷ lệ lạm phát cao hơn, lạm phát kỳ vọng cuối cùng sẽ tăng lên và làm
cho người lao động yêu cầu mức lương cao hơn (lạm phát chi phí đẩy) để tiền lương thực tế
của họ không giảm. Cuối cùng, chính sách tiền tệ và tài khóa mở rộng đều tạo ra cả hai loại lạm
phát, vì vậy tác giả không thể phân biệt giữa chúng.
Hình 10 lạm phát cầu kéo
Thất nghiệp mục tiêu quá thấp (sản lượng mục tiêu quá cao YT) chính phủ làm tăng tổng cầu, dịch chuyển đường
AD sang phải từ AD1 đến AD2 đến AD3 vv. Bởi vì tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tiền
lương sẽ tăng lên và đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển lên và về trái từ AS1 đến AS2 đến AS3 vv. Kết quả
là lạm phát tăng liên tục được gọi là lạm phát cầu kéo.
ỨNG DỤNG ◆ Đại Lạm phát
Tác giả đã kiểm tra nguồn gốc của chính sách tiền tệ lạm phát, điều tra nguyên nhân gia tăng
lạm phát của Hoa Kỳ giai đoạn 1965-1982, một thời được mệnh danh là "Đại lạm phát."
Bảng (a) của hình 11 dẫn chứng sự gia tăng lạm phát trong những năm qua. Ngay trước khi
Đại Lạm phát bắt đầu, tỷ lệ lạm phát dưới 2% hàng năm; cuối thập niên 1970, trung bình
khoảng 8% và đạt đỉnh ở mức gần 14% trong năm 1980 sau cú sốc giá dầu trong năm 1979.
Bảng (b) của hình 11 so sánh tỷ lệ thất nghiệp thực tế với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên ước tính.
Chú ý rằng nền kinh tế đã trải qua thất nghiệp dưới mức tự nhiên trong giai đoạn 1960-1973,
được thể hiện ở các khu vực được tô màu. Trong giai đoạn 1965-1973, nền kinh tế Mỹ trải qua
lạm phát cầu kéo tác giả mô tả trong Hình 10. Các nhà hoạch định chính sách theo đuổi chính
sách tiền tệ nới lỏng, dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải lên quá cao với cố gắng đạt
được sản lượng mục tiêu, vì vậy làm tăng lạm phát. Các nhà hoạch định chính sách, các nhà
kinh tế, và các chính trị gia đã cam kết vào giữa những năm 1960 với tỷ lệ thất nghiệp mục tiêu
4%, mức thất nghiệp mà họ tin là phù hợp ổn định giá cả. Nhìn lại, ngày nay hầu hết các nhà
kinh tế đồng ý rằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là cao hơn đáng kể trong những năm thập niên
1960 và 1970, thể hiện trong bảng (b) của hình 11.
Hình 11 lạm phát và thất nghiệp, 1965-1982
Như thể hiện trong bảng (a), tỷ lệ lạm phát CPI hàng năm dưới 2% trong đầu thập niên 1960, nhưng đến thập
niên 1970, trung bình khoảng 8% và đạt đỉnh ở mức trên 14% vào năm 1980 sau cú sốc giá dầu vào năm 1979.
Như thể hiện trong bảng (b), nền kinh tế trải qua giai đoạn tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên,
từ năm 1960 đến năm 1973, lạm phát cầu kéo được mô tả trong Hình 10. Sau năm 1975, tỷ lệ thất nghiệp thường
xuyên cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, lạm phát chi phí đẩy như mô tả trong hình 9.
Nguồn: Báo cáo kinh tế của tổng thống.
Sau năm 1975, bảng (b) của Hình 11 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn bên trên tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên (xem khu vực bóng mờ), nhưng lạm phát vẫn tiếp tục, theo bảng (a), cho thấy
hiện tượng lạm phát chi phí đẩy mà tác giả mô tả trong hình 9 (động lực cho lạm phát cầu kéo).
Sự hiểu biết của công chúng rằng chính sách của chính phủ nhắm tạo ra nhiều việc làm giải
thích cho sự tồn tại của lạm phát. Tỷ lệ lạm phát cầu kéo cao hơn lạm phát kỳ vọng đã dịch
chuyển đường tổng cung ngắn hạn trong hình 9 lên trên và sang bên trái, làm tăng tỷ lệ thất
nghiệp, các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng để loại bỏ bằng chính sách tiền tệ nới lỏng,
làm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải. Kết quả là lạm phát tăng liên tục.
Chỉ khi Cục Dự trữ Liên bang cam kết chính sách tiền tệ chống lạm phát dưới thời Chủ
tịch Paul Volcker, liên quan đến việc leo thang lãi suất liên bang đến 20%, lạm phát đi xuống,
kết thúc Đại Lạm phát.
TÓM LƯỢC
1.
Đối với các cú sốc tổng cầu và các
cho rằng chính phủ ko nên thực hiện
cú sốc cung dài hạn, mục tiêu ổn định giá
chính sách chủ động để loại bỏ tình trạng
cả và các ổn định hoạt động kinh tế đều
thất nghiệp.
nhất quán: Ổn định lạm phát và ổn định
2.
3.
Quan điểm của Milton Friedman cho
hoạt động kinh tế ngay cả trong ngắn
rằng: “lạm phát là một hiện tượng tiền tệ
hạn. Tuy nhiên, đối với cú sốc cung tạm
luôn luôn tồn tại và ở mọi nơi”. Qua các
thời, có một sự cân bằng giữa ổn định
phân tích từ tổng cầu và cung ta thấy
lạm phát và ổn định hoạt động kinh tế
được: các nhà hoạch định chính sách tiền
trong ngắn hạn. Về lâu dài, không có
tệ có thể nhắm đến bất kỳ mục tiêu tỷ lệ
xung đột giữa ổn định lạm phát và hoạt
lạm phát nào trong dài hạn, họ muốn
động kinh tế.
thông qua chính sách tiền tệ tự trị, Điều
Các nhà kinh tế thuộc trường phái
chỉnh lãi suất thực cân bằng, bằng cách
chủ động coi cơ chế tự điều chỉnh thông
sử dụng công cụ chính sách lãi suất của
qua mức lương và điều chỉnh giá là rất
liên bang để thay đổi mức cầu tổng hợp.
chậm và do đó thấy cần thiết chính phủ
4.
Hai loại lạm phát là kết quả của chính
phải theo đuổi chính sách chủ động, chủ
sách ổn định kinh tế từ các nhà hoạt động
động để giải quyết vấn đề thất nghiệp cao
kinh tế nhằm thúc đẩy việc làm cao: lạm
khi nó phát triển. Ngược lại, những người
phát chi phí đẩy, xảy ra do những cú sốc
thuộc trường phái thụ động cho rằng cơ
tiêu cực hoặc sự thúc đẩy của người lao
chế tự điều chỉnh nhanh chóng và do đó
động để có mức lương cao hơn mức bình
thường; Và lạm phát cầu kéo, kết quả là
cầu. Cả lạm phát cầu kéo và lạm phát chi
khi các nhà hoạch định chính sách theo
phí đẩy đã dẫn tới đại lạm phát từ năm
đuổi mục tiêu sản lượng cao và việc làm
1965 đến năm 1982.
thông qua các chính sách làm tăng tổng
Từ Khoá
Nhà hoạch định CS, p. 578
Độ trễ hiệu quả,
p. 579
Độ trễ lập pháp,
p. 579
Lạm phát chi phí đẩy, p. 581
Độ trễ thực hiện,
p. 579
Không hoạt động,
p. 578
Độ trễ dữ liệu,
p. 579
Khoảng cách LP,
p. 570
Độ trễ thừa nhận,
p. 579
Lạm phát cầu kéo,
p. 581
Mục tiêu lạm phát,
p. 570
Sự trùng hợp thần kì, p. 573
Trường phái Keynes, p. 578
CÁC CÂU HỎI
Tất cả các câu hỏi có sẵn trong MyEconLab tại www.myeconlab.com.
1. Khoảng cách lạm phát tiêu cực có ý nghĩa gì ?
2. Nếu chi tiêu tự động giảm, ngân hàng trung ương sẽ hạ thấp mục tiêu lạm phát để ổn
định lạm phát ". Tuyên bố này là đúng hay sai, hoặc không chắc chắn? Giải thich câu trả
lời của bạn ?
3. Đối với từng cú sốc sau đây, hãy mô tả cách thức các nhà hoạch định chính sách tiền tệ
sẽ phản ứng lại (nếu có) để ổn định hoạt động kinh tế. Giả sử nền kinh tế bắt đầu ở trạng
thái cân bằng dài hạn.
a. Người tiêu dùng giảm tiêu dùng tự định
b. Giảm ma sát tài chính
c. Chi tiêu chính phủ tăng
d. Tăng thuế
e. Đồng nội tệ tăng giá.
4. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Fed có thể giúp bù đắp cho sự gia tăng
mạnh mẽ của tình trạng xáo trộn về tài chính, mà không thể giảm mức lãi suất hơn nữa?
Chính sách này có thực sự hiệu quả?
5. Tại sao sự trùng hợp lại đơn giản hóa công việc hoạch định chính sách?
6. Tại sao các cú sốc tiêu cực tạo ra tình trạng tiến thoái lưỡng nan cho các nhà hoạch định
chính sách?
7. Trong một trường hợp nào, cú sốc tổng cung tiêu cực dài hạn tệ hơn cú sốc tổng cung
tiêu cực tạm thời?
8. Giả sử ba nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi cú sốc tiêu cực. Ở nước A, lạm phát ban đầu tăng
và sản lượng giảm; sau đó lạm phát gia tăng và sản lượng tăng lên. Ở nước B, lạm phát
ban đầu tăng và sản lượng giảm; sau đó cả lạm phát và sản lượng giảm. Ở nước C, lạm
phát ban đầu tăng và sản lượng giảm; sau đó lạm phát giảm và sản lượng cuối cùng tăng
lên. Mỗi quốc gia áp dụng cách tiếp cận bình ổn nào?
9. "Các nhà hoạch định chính sách sẽ không bao giờ chấp nhận bằng cách ổn định cú sốc
tổng cung tạm thời.". Tuyên bố này là đúng, sai hay không chắc chắn? Giải thich câu trả
lời của bạn.
10. Thực tế là phải mất một thời gian dài để các doanh nghiệp đưa các nhà máy và thiết bị
mới lên mạng là một minh hoạ cho khái niệm liên quan đến vấn đề chính sách nào?
11. Nếu ai đó nói với bạn, "Quốc hội và Thượng viện không thể tự bỏ phiếu trong một cuộc
gọi điện thoại", họ đang đề cập đến loại tụt hậu nào?
12. Chính sách ổn định có thể được thực hiện với chính sách tiền tệ hoặc chính sách tài
khóa? Tại sao?
13. "Nếu độ trễ dữ liệu và độ trễ thừa nhận có thể được cắt giảm, chính sách của nhà hoạt
động sẽ có lợi cho nền kinh tế". Tuyên bố này là đúng hay sai, hoặc không chắc chắn?
Giải thich câu trả lơi của bạn.
14. Tại sao các nhà hoạt động tin rằng cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế là chậm?
15. Nếu cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hoạt động chậm chạp thì chính phủ có cần phải
theo đuổi chính sách tùy ý để loại bỏ thất nghiệp? Tại sao có hoặc không?
16. Giả sử người ta có thể đo được lợi ích của phúc lợi bắt nguồn từ việc loại bỏ các biến
động về sản lượng (và thất nghiệp) trong nền kinh tế. Giả sử lợi ích này tương đối nhỏ
đối với một cá nhân bình thường, bạn nghĩ kết luận này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến
cuộc tranh luận giữa trường phái thụ động và chủ động?
17. Với đường cong tương đối dốc và đường tổng cung ngắn hạn tương đối bằng phẳng,
điều này có hỗ trợ trường hợp cho chính sách thụ động không? Tại sao?
18. "Bởi vì các nhà hoạch định chính sách của chính phủ không coi lạm phát là mong muốn,
chính sách của họ không thể là nguồn gốc của lạm phát". Tuyên bố này là đúng, sai,
hoặc không chắc chắn? Giải thich câu trả lơi của bạn.
19. Làm thế nào để các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể nhắm đến bất kỳ tỷ lệ lạm
phát nào mà họ muốn?
20. Điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà hoạch định chính sách sai lầm trong việc cho rằng tỷ lệ
thất nghiệp tự nhiên là 7%, khi nó thực sự là 5% và theo đuổi chính sách ổn định?
21. Làm thế nào lạm phát cầu kéo sẽ kéo theo lạm phát chi phí đẩy?
22. Giả sử chính quyền hiện hành quyết định giảm chi tiêu của chính phủ như một công cụ
cắt giảm thâm hụt ngân sách hiện tại của chính phủ
a. Sử dụng biểu đồ tổng cung và cầu, cho thấy hiệu quả của nó sẽ là ngắn hạn. Mô tả các
ảnh hưởng đối với lạm phát và đầu ra.
b. Điều gì sẽ ảnh hưởng đến lãi suất thực, tỷ lệ lạm phát và mức sản lượng nếu FED
quyết định ổn định tỷ lệ lạm phát?
23. Sử dụng biểu đồ tổng cầu và cung để chứng minh: sự chậm trễ trong quá trình thực hiện
chính sách có thể dẫn đến những biến động không mong muốn về sản lượng và lạm
phát.
24. Khi các nhà hoạch định chính sách tiền tệ quan tâm nhiều hơn về ổn định lạm phát, độ
dốc của đường tổng cầu nên bất ổn hơn. Làm thế nào để thay đổi kết quả trong độ dốc
của đường tổng cầu giúp ổn định lạm phát khi nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi cú sốc cung
tạm thời? Điều này ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng đầu ra? Sử dụng biểu đồ tổng
cầu và cung để chứng minh.