SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT TĨNH GIA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
" ĐỒ DÙNG DẠY HỌC VÀ KĨ NĂNG SỬ DỤNG ĐỒ
DÙNG DẠY HỌC MÔN MỸ THUẬT TIỂU HỌC”
Người thực hiện : Nguyễn Hữu Dương
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường TH Định Hải
SKKN thuộc lĩnh vực : Môn Mĩ thuật
THANH HOÁ NĂM 2014
1
- ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay việc giảng dạy môn Mĩ thuật ở trường tiểu học cũng như những
môn học khác, đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng trong giờ giảng.
Bởi vì đồ dùng trực quan khi sử dụng có hiệu quả trong tiết giảng sẽ giúp học
sinh tìm hiểu, so sánh, nhận xét, phán đoán và ghi nhận sự vật dể dàng hiểu sự
vật qua con mắt quan sát bằng nét vẽ, hình vẽ, màu sắc một cách nhanh chóng,
nhớ sự vật lâu hơn.
Chúng ta đã biết việc sử dụng đồ dùng trực quan tốt ở tiết giảng sẽ phát
huy được sự tham gia của nhiều giác quan. Hơn nữa, lứa tuổi học sinh tiểu học
lại la lứa tuổi tư duy còn đang ở độ thấp tư duy cụ thể, cho nên khi sử dụng đồ
dùng trực quan thì đồ dùng phải sinh động, phải cụ thể để học sinh có được khả
năng tự giác tư duy trừu tượng qua tay sờ, mắt thấy, tai nghe và có được hứng
thú học tập, hiểu vấn đề nhanh, nhớ đồ dùng trực quan lâu trong khi vân dụng
làm bài thực hành.
Chính vì thế khi nói đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong
môn Mĩ thuật là ta phải nghĩ ngay đến một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vấn đề
đưa lên hàng đầu trong các phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học. Như
chúng ta đã biết. Một tiết dạy Mĩ thuật có đồ dùng trực quan được khai thác triệt
để sẽ bồi dưỡng và phát triển cho các em lòng ham thích, say mê học tập và đáp
ứng yêu cầu, mục đích của bài. Khi các em biết khai thác đồ dùng trực quan độc
lập các em sẽ nắm được các yếu tố tạo nên vẻ đẹp trong môn Mĩ thuật, ngoài ra
còn phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo tốt hơn. Cho nên việc đổi mới
phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là một nhu cầu tất yếu của quá trình
dạy học và cũng là để hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trên bục
giảng.
Hiện nay ở các trường tiểu học, nhìn chung đã có đủ giáo viên dạy chuyên
môn Mĩ thuật. Do vậy trong mỗi bài giảng việc nghiên cứu áo dụng sử dụng đồ
dùng trực quan luôn là vấn đề mà các giáo viên chuyên Mĩ thuật quan tâm để
cho chất lượng của môn mĩ thuật ngày một được nâng cao.
Qua nhiều năm thực tế giảng dạy, kết hợp với dự giờ thăm lớp của đồng
nghiệp, cùng với nghiên cứu các tài liệu nói về phương pháp sử dụng đồ dùng
2
trực quan và việc học tập các chuyên đề của phòng, của sở. Tôi nhận thấy chất
lượng giảng dạy môn Mĩ thuật nhìn mặt bằng chung các trường là chưa cao. Đặc
biệt là vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan còn chưa nhiều hoặc có sử dụng đồ
dùng trực quan nhưng học sinh lại không khai thác kiến thức cơ bản từ đồ dùng
trực quan mà vẫn thụ động quan sát đồ dùng. Tại một số lớp ở một số trường lân
cận tôi có dịp được tiếp xúc với các em học sinh và được biết các em rất thích
học có đồ dùng trực quan. Nhưng qua thí điểm dạy cụ thể bằng các phương pháp
các kỹ năng sử dụng đồ dùng khác nhau tôi đã nhận thấy việc sử dụng đồ dùng
trong một tiết dạy, mà giáo viên sử lý dữ kiện của bài soạn với đồ dùng không
đúng thì đồ dùng đó cũng vô tác dụng. Hay sử dụng đồ dùng để minh hoạ cũng
vậy. Nếu không để học sinh khai thác một cách tự nhiên thì cũng không có hiệu
quả. Vì thế mà tôi muốn đề cập đến những kỹ năng khi sử dụng đồ dùng trực
quan trong giảng dạy môn Mĩ thuật ở tiểu học sao cho bài giảng đạt kết quả cao
nhất từ đồ dùng trực quan.
I. Lời mở đầu
Chương trình môn Mĩ thuật ở Tiểu học từ lớp 1 cho đến lớp 5 nội dung đã
được chia thành 5 phân môn rõ rệt với những mục đích yêu cầu khác nhau, sản
phẩm khác nhau cách thức và phương pháp cũng khác nhau. Bởi vậy trong mỗi
giờ dạy của mõi phân môn thì đồ dùng trực quan và cách sử dụng, phương pháp
sử dụng, hình thức khai khác nó cũng khác nhau hoàn toàn. Đồ dùng của phân
môn này không thể sử dụng vào bài của phân môn khác được, có đồ dùng trực
quan chỉ được sử dụng một lần cho một giờ dạy, hoặc có những đồ dùng không
thể làm ra được mà chỉ có thể lấy từ tự nhiên và lấy từ cuộc sống mà thôi. Như
vậy ở các giờ dạy Mĩ thuật đòi hỏi người giáo viên không những vững về kiến
thức mà còn phải chuẩn bị chu đáo về đồ dùng, phải khoa học trong cách sử
dụng, cách khai thác đồ dùng trực quan, để bài học đạt được kết quả cao nhất.
Nói như vậy thì đồ dùng trực quan đó phải đạt được các yêu cầu tối thiểu về mặt
nội nung khai thác và đặc biệt phải đạt được về các yêu cầu thẩm mĩ, bởi vì dò
dùng dược dùng để giảng dạy môn Mĩ thuật.
3
II. Thực trạng
Trong thực tế ở các trường Tiểu học đã được cấp một lượng lớn đồ dùng
trực quan cho môn học Mĩ thuật. Các đồ dùng với đầy đủ cho các phân môn, đa
số là đồ dùng là tranh in trên giấy (tranh vẽ về các đề tài của học sinh, tranh của
hoạ sĩ, các tranh dân gian và các bài trang trí, tranh vế các bài tập nặn, tranh
tượng. Nói chung các đồ dùng này là tranh, ảnh). Đa số các tranh này đều đẹp.
Thực tế các đồ dùng này được làm ra bởi những người không trực tiếp giảng dạy
trẻ (học sinh tiểu học). Như vậy khi học Mĩ thuật thì học sinh chỉ được xem
tranh và ảnh chứ không có gì khác. Xong trong thực tế môn Mĩ thuật và Mĩ
thuật nói chung thì các sản phẩm Mĩ thuật lại rất đa dạng, phong phú và có thể
nói là nhiều, rất nhiều. Ví dụ ở mỗi phân môn thường có các đồ dùng tương ứng
với nó như: phân môn Thường thức Mĩ thuật thì đồ dùng của phân môn này nhất
thiết phải là các sản phẩm Mĩ thuật (thì mới thường thức tối thiểu được), nó là
phiên bản, là mô hình, là giai thoại, là các câu chuyện, là các vật dụng, đồ dùng,
chất liệu làm ra sản phẩm; phân môn Vẽ theo mẫu thì đồ dùng trực quan cụ thể
nhất, phổ biến nhất đó là các dồ dùng vật dụng trong cuộc sống thường ngày, đó
là viên gạch, cái ấm, cái bát, hoa lá, trái cây, con vật, con người thật ; ở phân
môn trang trí thì ứng dụng làm đồ dùng trực quan càng đa dạng và phong phú
hơn, ngoài các bài , các trang trí mang tính chất cơ bản thì trong cuộc sống sinh
hoạt hằng ngày có vô vàn các đồ vật được ứng dụng trang trí, đó là nguồn trực
quan vô cùng, vô tận; ở phân môn vẽ tranh trực quan lại càng phong phú hơn,
nhưng điều quan trọng hơn cả là “tranh của giáo viên” và “tranh của học sinh”.
Đặc biệt tranh của giáo viên vẽ ra gây ấn tượng và gây hững thú cao nhất đối với
học sinh của mình (điều này rất ít ngưồi quan tâm tới)...rất đa dạng và rất phong
phú. Ngoài ra chưa kể đến các hình thức biểu hiện của các sản phẩm Mĩ thuật
đó. Nhưng trong thực tế dạy học thì lại không như vậy.
Như ở phần trên đã đề cập đến, học sinh thích học Mĩ thuật, giáo viên
được đào tạo sư phạm bài bản, môi trường học tập được cải thiện khá tốt, đồ
dùng trực quan sinh động từ cuộc sống vậy tao sao rất ít giờ dạy Mĩ thuật thành
công, thậm trí còn nhàm chán, căng thẳng hoặc ồn ào...Vậy nguyên nhân này
xuất phát từ đâu, cách khác phục như thế nào?
4
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Tình hình:
Theo mục đích, yêu cầu mỗi bài giảng thì phương pháp sử dụng đồ dùng
trực quan luôn được vận dụng trong việc giảng dạy Mĩ thuật ở tiểu học vì nó phù
hợp với đặc điểm của môn học và phù hợp với đặc điểm tri giác của học sinh.
Phương pháp trực quan đối với môn Mĩ thuật có những yêu cầu cụ thể
như: Yêu cầu về chuẩn bị đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan. Vậy
khi nói đến việc chuẩn bị đồ dùng trực quan ta phải nghĩ đến nhiệm vụ của môn
Mĩ thuật, ngoài việc cung cấp những tri thức bộ môn và rèn kỹ năng nó còn
nhiệm vụ giáo dục thẩm Mĩ cho học sinh. Do đó đồ dùng giảng dạy đưa ra cho
học sinh học tập ngoài yêu cầu là đối tượng cho học sinh quan sát, phù hợp với
nội dung bài giảng còn có yêu cầu là phải đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh,
tạo nên không khí nghệ thuật trong giờ học. Làm cho các em học sinh yêu thích
vật mẫu bởi vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc của mẫu làm phấn chấn tinh thần học
tập của các em. Điều đó góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thẩm Mĩ cho học
sinh. Vì thế đồ dùng học tập môn Mĩ thuật không thể tuỳ tiện phải cần có sự
chuẩn bị chu đáo trước theo yêu cầu của bài giảng. Mẫu vẽ to rõ ràng để học
sinh nhìn rõ màu sắc, đường nét phải tươi vui, sáng sủa. Khi đồ dùng trực quan
đã được chuẩn bị đầy đủ, thì tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi hình thức Mĩ thuật
mà có những yêu cầu về trình bày trực quan, để làm sao phát huy được khả năng
tư duy khai thách kiến thức triểt để ở mỗi học sinh.
Từ những tình hình chung đó và kết hợp với tình hình thực tế tôi nhận
thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan mỗi giáo viên vẫn còn sự hạn chế khác
nhau. Mà cụ thể được thể hiện ở chất lượng bài tập của các em chưa cao. Khả
năng tư duy hiểu bài, nhớ bài thông qua đồ dùng trực quan là rất thấp. Thậm chí
có em chỉ quan sát đồ dùng trực quan như một vật không tác dụng, các em hoàn
toàn không nắm được, thâu tóm được nội dung chính của bài qua đồ dùng. Để
khắc phục tình trạng này tôi đưa ra một số vấn đề từ thực tế cần giải quyết,
nhằm mục đích giúp giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả để cho
các em học sinh biết tự khai thác nội dung bài giảng từ trực quan.
5
II - Những vấn đề cần giải quyết
1 – Kiểm tra chất lượng:
Để xác định điều này trong tình hình chung hiện nay ở các trường tiểu
học, tôi đã tiến hành kiểm tra chất lượng bằng việc dự giờ thăm lớp và trực tiếp
giảng dạy. Nhìn chung tôi thấy học sinh tiểu học học môn Mĩ thuật với một thái
độ chưa tích cực, vẫn còn phân biệt giữa các môn học cho nên việc dành thời
gian cho môn mĩ thuật còn thiếu dẫn đến kết quả bài học không cao. Bên cạnh
thái độ phân biệt vị trí môn học là khả năng tự giác tư duy còn yếu. Vậy lý do
của việc học sinh không năm vững bài học là do đâu. Cụ thể tôi đã dự giờ thăm
lớp để đánh giá điều này.
Bài 17 (lớp 5) bài Thường thức Mĩ thuật - Xem tranh hoạ sĩ : Tranh “Du
kích tập bắn” của Nguyễn Đỗ Cung. Tôi đã dạy đơn thuần, khai thác bài như
trong sách giáo viên, sách giáo khoa với cách khai thác trực quan theo phương
pháp truyền thống. Sử dụng đồ trực quan và thực hiện đầy đủ tiến trình lên lớp
của một giờ giảng. Nhưng đồ dùng trực quan mà tôi đưa ra là đồ dùng hiện có
của thư viện. Đồ dùng còn nhỏ quá, khai thác bài học dựa vào và bám sát sách
giáo viên và sách giáo khoa. Dẫn đến việc học của học sinh không phát huy
được khả năng tư duy, quan sát của đồ dùng mà học sinh quan sát thụ động,
không khai thác được nội dung bài từ đồ dùng. Giáo viên còn phải làm việc
nhiều, giờ học trầm không sôi nổi, lượng thông tin cần được khắc sâu thì khô
cứng, thiếu thốn, đặc biệt là tri thức học sinh lĩnh hội được là na ná giống nhau
(đó là điều cấm kị của học môn Mĩ thuật) nó ngược lại với mục tiêu của chương
trình.
Kết quả thu được qua bài thực hành sau bài dạy :
Lớp
5
Tổng
30
Thích
6
Không thích
20
Không ý kiến
4
Như vậy kết quả cho thấy số lượng học sinh không thích còn nhiều. Qua
đó chứng tỏ rằng phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan không kết quả là do
thái độ tuỳ tiện, đồ dùng không chuẩn mực, không hay, giáo viên khai thác
không sáng tạo, không mới.
6
Bài 25. Vẽ trang trí : Vẽ tiếp hoạ tiết và vẽ màu vào hình chữ nhật (lớp 3)
Tôi vào bài rất thuyết phục, tiến trình của một giờ dạy được thực hiện
tuần tự đầy đủ, nhưng việc sử dụng đồ dùng trực quan của tôi chỉ là tính chất
minh hoạ, mô phỏng, học sinh chỉ được làm quen mà không được nhận xét, mổ
xẻ vấn đề từ đồ dùng trực quan. Học sinh không tự khai thác được nội dụng của
bài qua đồ dùng trực quan mà thụ động nhìn đồ dùng trực quan. Vì vậy, bày thực
hành vẽ màu của học sinh cả lớp giống thầy gần như là hoàn toàn.
Bài 27. Vẽ theo mẫu: Vẽ cây (lớp 4)
Tôi trực tiếp lựa chọn phương pháp để chuẩn bị cho đối chứng.
Ở bài này tôi cũng xây dựng một giáo án chi tiết với đầy đủ các bước lên
lớp cũng kết hợp nhiều phương pháp trong khi giảng.
Trong phần giới thiệu tô cho học sinh xem tranh vẽ cây của hoạ sĩ (tranh
vẽ màu, kể cả tranh có xu hướng lập thể và trừu tượng). Học sinh ngạc nhiên và
thích thú bởi hình dáng, màu sắc và cả cách sắp xếp.
ở hoạt động quan sát nhận xét thì trực quan không phải là tranh vẽ nữa.
Trực quan chính là những cây mà học sinh chuân bị mang theo. Cho các em kể
về đặc điểm hình, màu của cây mà mình chuẩn bị, cho các em so sánh với cây
của các bạn khác.(điều này làm cho các em cảm nhận được sự phong phú về
hình dáng màu sắc của cây) và đồng thời hình thành ý tưởng trong đầu trước khi
các emn thực hành.
Trong hoạt động cách vẽ (tuỳ từng bài mà có sử dụng trực quan hay
không) trong bài này tôi vẫn sử dụng cây thật đã chuẩn bị mà gợi ý các em suy
luận về cách vẽ.
VD: - Nhìn cây này nếu vẽ nó em sẻ vẽ phần nào trước?
- Nó rất nhiều lá, chúng ta có nên vẽ từng chiếc lá không?
- Có nhất thiết phải vẽ màu giống như thật không?...
Trước khi vào phần thực hành, điều đặc biệt là tôi cho các em xem tranh do
chính tôi vẽ để các em tham khảo (tranh “chợ đông”) và nói cho các em biết vẽ
nó là một công việc rễ ràng, không khó khăn gì, chỉ cần muốn vẽ, thích vẽ, tập
trung vào vẽ, vẽ đúng cách là làm được thôi.
7
Khi thực hành các em đều hăng say, vui vẻ, thoái mái. Kết quả các bài vẽ
đa dạng và phong phú, không em nào giống bài của em nào, các bức tranh đều
có của các em đều có cảm nhận riêng, tư duy riêng, tình cảm riêng và sự biểu
hiện cũng rất phong phú. Đó là kết quả củamột người dạy mĩ thuật mong đợi.
Qua khảo sát giờ dạy tôi thu được kết quả sở thích học một giờ như vậy:
Lớp 4
Thích
Không thích
Sĩ số 32
32
0
Tỉ lệ
100%
0%
Nhìn chung qua ba tiết dạy với cùng trình tự lên lớp như nhau cũng có
đầy đủ đồ dùng trực quan khi giảng dạy nhưng cách sử dụng đồ dùng và cách
mà giáo viên vận dụng khai thác khác nhau ở mỗi tiết dạy thì cho kết quả khác
nhau. Nói tóm lại khi sử dụng đồ dùng trực quan, đúng lúc đúng chỗ, đúng đối
tượng và đúng mục tiêu của bài học đều đem lại không khí nghệ thuật trong giờ
học mà còn có tác dụng tích cực đến khả năng quan sát, phân tích đồ dùng của
học sinh, đáp ứng được giáo dục thẩm mĩ, đồng thời phát triển được tư duy Mĩ
thuật cho học sinh năng khiếu.
2. Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân đầu tiên của những hạn chế đó là sự hạn chế của giáo viên.
Tôi cho rằng học môn Mĩ thuật, trò muốn hiểu và nắm bắt nội dung bài nhanh,
hiệu quả thì người giáo viên phải có một tâm huyết thực sự với môn học của
mình khi đứng trên bục giảng. Giáo viên phải là một hình tượng trong mắt học
sinh, là người đóng vai trờ chủ đạo trong mọi phương pháp đặc biệt là phương
pháp sử dụng đồ dùng trực quan, vì nó là nhịp càu chuyển tải nhanh nhất mục
tiêu của bài học đến với học sinh. Thầy phải là người chủ động dẫn dắt để trò tự
giác khám phá tìm hiểu và tự lĩnh hội kiến thức,thầy phải luôn luôn làm cho học
sinh thấy mới, thấy lạ, thấy hay trong mỗi đồ dùng và luôn hứng thú khi được
học. Nhưng trong thực tế giảng dạy thì vẫn còn một số giáo viên sử dụng đồ
dùng trong bài giảng không đạt. Cụ thể vẫn còn một số giáo viên cho rằng đồ
dùng trực quan là mẫu đẻ cho học sinh làm theo, cho nên nhiều khi giáo viên
minh hoạ xong lại để nguyên cho học sinh quan sát để thực hành. Vì thế mà học
sinh không nắm vững kiến thức bài hiểu bài không lâu, thụ động khi thực hành,
8
bài làm giống cô, giống thầy, không tư duy sáng tạo. Bài tập ở nhà không làm
được bỏ trống nhiều. Một số giáo viên khác thì sử dụng đồ dùng trực quan quá
sơ sài, nghèo nàn, đồ dùng trực quan đưa ra cho học sinh lại không phù hợp với
các bước nội dung cần truyền đạt, thiếu thông tin, thiếu thẩm Mĩ, không phù hợp
với các phương pháp giảng bài cũng dẫn đến tình trạng học sinh không thích
giáo viên đưa ra đồ dùng hoặc đưa ra đồ dùng mà học sinh không hiểu cô giáo
đưa ra để làm gì? nhằm mục đích gì? Bên cạnh việc sử dụng đồ dùng trực quan
không hợp lý như vậy là tiết giảng có đồ dùng trực quan được giáo viên mô
phỏng, minh hoạ bằng lời giảng. Một loại trực quan ảo ở phương pháp cũ (học
như không học) không đem lại kết quả cao, học sinh tư duy mơ hồ, tưởng tượng
viển vông và kiến thức thu nạp được cũng không sâu.
Ngoài những yếu tố còn hạn chế từ phía giáo viên đã nêu ở trên vẫn còn
rất nhiều yếu tố khác dẫn đến việc sử dụng đồ dùng trực quan không đạt kết quả
cao trong giờ giảng. Một trong những nguyên nhân nữa phải kể đến nguyên
nhân còn tồn tại ở học sinh. Không phải cứ thầy tốt là học sinh phải tốt mà còn ở
học sinh có được ý thức tích cực tự giác học hay không? Đã thực sự coi đồ dùng
là nơi khai thác kiến thức chính hay chưa hay vẫn phải phụ thuộc vào sự trả lời
dẫn dắt của thầy. Đây là khả năng tự phân tích khai thác bài giảng thông qua vai
trò người thầy của học sinh.
Từ những khó khăn, hạn chế của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong
thực tế giảng dạy. Tôi đã tìm hiểu nghiên cứu và thấy có một số vấn đề cần giải
quyết.
3. Vấn đề cần giải quyết
Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ giảng mĩ thuật là việc làm ban
đầu, việc làm không thể thiếu đối với người giáo viên chuyên Mĩ thuật khi đứng
trên bục giảng. Nó là đặc thù của bộ môn vì thế giáo viên cần phải hết sức quan
tâm chú trọng đến sự chuẩn bị đồ dùng trước giờ lên lớp sao cho thật chu đáo,
thật đầy đủ và sát với yêu cầu, mục đích bài soạn. Ngoài ra, đồ dùng được chuẩn
bị phải có thẩm Mĩ.
Từ những vật tĩnh, những vật vô chi, vô giác giáo viên phải thổi vào đó
cái hồn của sự vật, tiếng nói của sự vạt và phải là người chuyển cái hồn của sự
9
vật, tiếng nói của sự vật đến từng học sinh có như vậy thì đồ dùng trực quan khi
được đưa ra mới phát huy tác dụng và có sức thuyết phục.
Phải tạo cho lớp học một không khí nghệ thuật bằng kiến thức có ở đồ
dùng trực quan, bằng kiến thức của thầy về trực quan để học sinh thực hành tốt.
Trực quan không phải chỉ là các đồ vật, các phương tiện cụ thể mà trực
quan còn là chính hình tượng, bản lĩnh của thầy, sự hiểu biết của thầy (đó là vốn
hiểu biết về mĩ thuật, là những câu chuyện về Mĩ thuật, những bày hát, những
câu thơ…)
III - Phương pháp tiến hành
1 - Phương pháp nghiên cứu
Để tìm ra được nguyên nhân sử dụng đồ dùng trực quan không có hiệu
quả, từ đó khắc phục được những điểm cần giải quyết trong việc sử dụng đồ
dùng trực quan thì người nghiên cứu sáng kiến phải tìm ra được thứ tự của từng
bước đi, bởi đây là một vấn đề rất cần thiết để người viết ra những suy nghĩ có
sức thuyết phục. Tôi nghĩ rằng mỗi phương pháp tôi đưa ra đã đều đem lại kết
quả tốt có quá trình nghiên cứu sáng kiến.
- Phương pháp quan sát:
Tôi đã sử dụng phương pháp quan sát để tiến hành quan sát thực tế trực
tiếp, gián tiếp, bằng cách dự giờ, nghiên cứu tài liệu, quan sát học sinh khi nghe
giảng, khi học sinh thực hành bài tập và quan sát cách soạn giảng của giáo viên
chuyên khác.
- Đàm thoại:
Đàm thoại với giáo viên và đàm thoại với chính những học sinh học Mĩ
thuật.
- Phương pháp điều tra:
Để biết được thái độ học tập Mĩ thuật của học sinh và xem các em có hứng
thú quan sát đồ dùng trực quan để khai thác nội dung bài giảng hay không?
- Thực hành đối chứng:
Dạy thực hành để đối chứng
- Phương pháp thống kê toán học:
10
Sử dụng các bảng biểu để thống kê kết quả bài học.
2. Biện pháp tiến hành:
Bước 1: Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài giảng, phải có giáo án chi
tiết trước khi lên lớp, phải tìm phương pháp truyền đạt nhanh nhất, ngắn nhất từ
trực quan. Bởi đồ dùng trực quan nó phù hợp với đặc điểm môn học, phù hợp
với đặc điểm tri giác của học sinh (tri giác bằng trực quan cụ thể?)
Bước 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan phù hợp với các tiến trình giảng trong mục
đích yêu cầu bài soạn. Đồ dùng gồm mẫu vẽ như đồ vật, dụng cụ sinh hoạt, hoa
quả, hình khối...Tranh, ảnh như các phiên bản tranh, ảnh, minh hoạ của giáo
viên. Tất cả phải đáp ứng yêu cầu thẩm mĩ, sáng sủa.
Bước 3: Sử dụng trực quan để có hiệu quả tôi đi vào trực tiếp giảng dạy. Tôi dạy
mỗi lớp trong một khối, một phương pháp khác nhau để đối chứng với phương
pháp tiêu cực, tích cực.
Qua thực tế giảng dạy, qua học hỏi đồng nghiệp và qua nghiên cứu các tài kiệu
tôi mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình về đồ dùng trực quan, về cách thức sử
dụng, khai thác đồ dùng trực quan trong các phân môn Mĩ thuật để học hỏi, để
trao đổi kinh nghiệm, để dạy môn Mĩ thuật đạt kết quả cao hơn trong nhà trường
Tiểu học.
Do điều kiện, hoàn cảnh khách quan cũng như chủ quan, tôi không thể
tránh khỏi những hạn chế trong quá trình thực hiện. Đối với từng phân môn điển
hình của môn Mĩ thuật tôi vẫn chưa đưa ra được biện pháp cụ thể, mới chỉ dừng
lại ở mức độ, mới nêu ra được các bước sử dụng trực quan và hướng sử dụng,
khai thác trực quan ở các phân môn chứ chưa đi trực tiếp hết các bài của các
khối lớp.
IV - Kết luận sau khi tiến hành nghiên cứu
Sau khi tiến hành thực nghiệm tôi nhận thấy rằng:
a ) Đối với phân môn Thường thức Mĩ thuật
Các bài Thường thức luôn là những bài mà đa số giáo viên cảm thấy ngại
dạy bởi phân môn này đồi hỏi lượng kiến thức hiểu biết khái quát của giáo viên
về Mĩ thuật, đặc biệt về lịch sử Mĩ thuật và Mĩ thuật học. Đòi hỏi khi lên lớp
11
giáo viên phải luôn sẵn sàng về nội dung bài học, sẵn sàng giải quyết những thác
mắc của học sinh về: tác giả, tác phẩm, thể loại, chát liệu, cách thức, ý nghĩa, vì
sao đẹp, vì sao không, các câu hỏi liên quan đến lịch sử, các câu hỏi liên quan
đến tác giả (sở thích, tính cách, cuộc sống, những mẫu chuyện về tác giả)…cuối
cùng còn lại là sự linh hoạt của giáo viên, cái duyên của giáo viên khi truyển tải
đến học sinh.
b) Đối với phân môn vẽ theo mẫu
Vẽ theo mẫu (tức là hình hoạ - là căn bản của mĩ thuật). Vì vậy đổi hỏi sự
chính sác về vật mẫu, mẫu phải mang tính chất điển hình (chính sác với yêu cầu
của bài), chính sác với nhận thức của học sinh và chính sác trong quá trình
truyền tải tới học sinh. Đồi hỏi giáo viên phải linh động khi chuẩn bị mẫu, đặt
mẫu, phân tích mẫu và minh hoạ mẫu, làm sao cho học sinh hiểu được mẫu và
biết cách thể hiện mẫu.
c) Đối với phân môn trang trí.
Trang trí là phân môn mang tính chất ứng dụng cao trong cuộc sống, vì
vậy ngoài việc đồ dùng trực quan là các bài trang trí cơ bản ra thì các sản phẩm,
đồ dùng, vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày là vô cùng quan trọng. Nó gần gũi
nhất với học sinh và chính điều này giúp cho học sinh cảm nhận về cái đẹp và
tác dụng của trang trí nhanh chóng nhất. (các đồ dùng phổ biến trong dạy bài
trang trí thường là: khăn, áo, thảm, mũ, bát, đĩa, lọ hoa viên gạch hoa, cách trang
trí nơi công cộng hoặc trang trí trong gia đình, ảnh chụp hoặc thực tế ở các cung
đình, đình chùa…).
d) Đối với tập nặn tạo dáng
Cuộc sống tự nhiên là đối tượng phong phú nhất giúp học sinh trực quan.
Giáo viên vận dụng, liên hệ linh hoạt trong quan sát, trong tập nặn và trong thực
hành nặn. Đa số học sinh thích học nặn hơn cả trong các phân môn của Mĩ thuật.
Đồ đùng trực quan trong phân môn này là cụ thể như: hình dáng các đồ dùng,
vật dụng, hình dáng các con vật trong thiên nhiên, đặc biệt hình dáng hoạt động
của con người là sinh động nhất.
e) Đối với phân môn vẽ tranh
12
Đồ dùng trực quan hữu hiệu nhất là tranh (tranh của học sinh, tranh của
hoạ sĩ, đặc biệt là tranh của giáo viên trực tiếp dạy) học sinh sẽ rất thích học khi
người thấy là hình tượng của học sinh (tin cây, tôn trọng và cảm phục) vậy đòi
hổi đồ dùng trực quan trong phân môn này phải thực sự phong phú, chọn lọc
mang đậm yếu tố Mĩ thuật.
Tóm lại
- Để giúp học sinh làm tốt một bài vẽ trước tiên giáo viên phải trang bị cho học
sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản của bài học như hình mảng, màu sắc, bố
cục, đường nét ...
- Nắm chắc các phân môn trong môn mĩ thuật về cách quan sát, cách vẽ cũng
như cách thực hiện.
- Đối với giáo viên phải chuẩn bị tốt về giáo án, đồ dùng trực quan.
- Khi sử dụng trực quan phải có ngôn ngữ giảng giải thuyết trình phù hợp với
trực quan.
- Đồ dùng sử dụng không nên dễ dãi, không có chọn lọc hoặc nhiều quá làm cho
đảo lộn nhận thức của học sinh.
Phương pháp dạy học là phạm trù rộng trong việc nghiên cứu giáo dục.
Mỗi giáo viên có những ưu thế riêng của mình trong cách dạy và thực hiện
phương pháp. Với bản thân trải qua những năm giảng dạy, tôi đã rút ra kinh
nghiệm và áp dụng trong giảng dạy của mình và của đồng nghiệp. Song tôi luôn
suy nghĩ đảm bảo chất lượng cho học sinh ngoài kinh nghiệm của mình, tôi
không ngừng học hỏi những đồng chí đồng nghiệp để nâng cao tay nghề đáp
ứng với sự nghiệp giáo dục trong xã hội hiện nay.
C . KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
Từ kết quả nghiên cứu trên, để góp phần nâng cao hiệu quả trong dạy học
Mĩ thuật ở trường tiểu học, tôi xin đưa ra một số ý kiến đề xuất sau :
1. Đối với Phòng GD&ĐT:
Hằng năm tổ chức các đợt thao giảng giao lưu môn Mĩ thuật giữa các đơn
vị trường để học tập, chia sẽ kinh nghiệm để nâng cao năng lực chuyên môn.
13
2. Đối với nhà trường:
Tạo điều kiện mua sắm đồ dùng dạy học chất lượng tốt và thiết thực. Như
các phụ bản tranh và đặc biệt là tượng.
3. Đối với phụ huynh học sinh:
Quan tâm, mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho con em mình.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 4 năm 2014
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của người
khác
Người viết
Nguyễn Hữu Dương
14