BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
------------------------LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU BẢN CHẤT NHUỘM MÀU
CỦA CHẤT MÀU TỰ NHIÊN TỪ HẠT LƯƠNG NHO
NGÀNH CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
MÃ SỐ:
VŨ MẠNH HẢI
Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ LĨNH
HÀ NỘI 2007
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
MỤC LỤC
Lêi cam ®oan
4
Lời cảm ơn
5
Danh sách các ký hiệu, các từ viết tắt
6
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
7
Danh mục các biểu bảng
8
Lời nói đầu
9
Chương I TỔNG QUAN VỀ CHẤT MÀU TỰ NHIÊN
10
1.1 Tình hình sử dụng chất màu tự nhiên trong lĩnh vực Dệt may trên thế giới
10
1.2. Tình hình sử dụng chất màu tự nhiên tại Việt Nam
11
1.3. Giới thiệu về hạt Lương nho.
23
1.4. Một số công trình nghiên cứu về hạt lương nho
25
1.4.1 Nghiên cứu ngoài nước
25
1.4.1.1 Nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của cây lương nho
25
1.4.1.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học của hạt lương nho
28
1.4.1.3 Nghiên cứu về các phương pháp chiết tách màu từ hạt lương nho
29
1.4.2 Nghiên cứu trong nước
32
Chương II ĐỐI TƯỢNG -NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
34
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
34
2.1.1.Hạt Lương nho
34
2.1.2 Vải lụa tơ tằm
34
2.1.3 Vải bông
34
2.1.4 Vải polyester pha bông
34
VŨ MẠNH HẢI
1
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
2.1.5 Vải Lyocell
35
2.1.6 Vải Polyester
35
2.2 Phưong pháp nghiên cứu.
35
2.1 Phương pháp nghiên cứu
35
2.2.1 Tách chiết chất màu sử dụng phương pháp hoá lý.
35
2.2.2 Phương pháp nhuộm tận trích.
37
2.2.3 Phương pháp đo màu quang phổ
37
2.2.4 Phương pháp phân tích phổ hồng ngoại
2.2.5 Phương pháp quy hoạch thực nghiệm.
38
40
2.2.6 Phương pháp xác định độ bền màu với giặt xà phòng, với hoá chất. 44
2.3 Nội dung nghiên cứu
44
2.3.1 Tách chiết chất màu
44
2.3.2 Nhuộm màu cho các loại vật liệu dệt.
45
2.3.3 Đánh giá khả năng lên màu của vải nhuộm
46
2.3.4 Đánh giá khả năng liên kết của chất màu lên vật liệu
46
2.3.5 Xác định độ bền màu
46
2.3.5.1 Phương pháp xác định độ bền màu với giặt giũ
46
2.3.5.2 Phương pháp xác định độ bền màu với hoá chất
46
2.3.6 Thiết lập quy trình công nghệ nhuộm vải PES/Co
47
Chương III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
49
3.1.Đánh giá dung dịch tách chiết.
49
3.1.1 Nhận xét trong quá trình tách chiết.
49
3.1.2 Đánh giá khả năng nhuộm màu của các dung dịch sau khi tách chiết 49
3.1.3 Đánh giá bằng phương pháp phổ hồng ngoại.
50
3.2 Đánh giá bản chất quá trình nhuộm cho các loại vật liệu khác nhau
51
3.2.1 Đánh giá bản chất quá trình nhuộm thông qua khả năng lên màu
51
3.2.2 Đánh giá bản chất quá trình nhuộm thông qua phân tích phổ.
VŨ MẠNH HẢI
2
56
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
3.3. Đánh giá chỉ tiêu độ bền màu
61
3.3.1 Độ bền với giặt xà phòng.
61
3.3.2 Độ bền màu với chất oxi hoá
62
3.4 Thiết lập quy trình công nghệ nhuộm cho vải PES/co.
63
Kết luận
69
Tài liệu tham khảo
70
Tóm tắt (tiếng Việt)
71
Tóm tắt (tiếng Anh)
72
VŨ MẠNH HẢI
3
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trng i hc Bỏch khoa H Ni
Khoa Cụng ngh Dt may v Thi trang
Lời cam đoan
Tác giả xin cam đoan toàn bộ các kết quả nghiên cứu đợc trình bày trong
luận văn là do tác giả cùng đồng nghiệp nghiên cứu, do tác giả tự trình bày,
không có sự sao chép từ các luận văn khác. Tác giả xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trớc pháp luật về những nội dung, hình ảnh cũng nh các kết quả nghiên
cứu đợc trình bày trong luận văn.
Ngời thực hiện
Vũ Mạnh Hải.
V MNH HI
4
LUN VN THC S
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
LỜI CẢM ƠN.
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Hoàng Thị
Lĩnh, người đã tận tâm chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thày cô giáo, bạn đồng nghiệp trong bộ
môn Vật liệu và Công nghệ Hoá Dệt, trong khoa Công nghệ Dệt may và Thời
trang đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ phòng thí nghiệm trọng điểm Hoá
dầu - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và phòng thí nghiệm của viện nghiên
cứu Hoá dệt - Đại học Innsbruck - Cộng hoà Áo đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá
trình thực hiện các thí nghiệm tại đây.
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã không ngừng học hỏi trau dồi
kiến thức, tích cực thu thập tài liệu, tổng hợp các kiến thức cả lý thuyết và thực
hành. Tuy nhiên trong một khoảng thời gian ngắn và bản thân còn có nhiều hạn
chế, em rất mong đựoc sự góp ý của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp.
VŨ MẠNH HẢI
5
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
Danh sách các ký hiệu, các từ viết tắt
PES: Polyester
PES/Co: Vải polyester pha bông
CIE: Tổ chức chiếu sáng quốc tế
VŨ MẠNH HẢI
6
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Hình 1.1: Cây lương nho, hay còn gọi là cây cà ri.
Hình 1.2: Cấu tạo hoá học của Bixin và Nobixin
Hình 2.1: Bộ tách chiết sochlet
Hình 2.2: Không gian màu CIE Lab
Hình 2.3: Sơ đồ chung của phổ kế hồng ngoại.
Hình 3.1: Kết quả đo phổ hồng ngoại với mẫu chất màu tách bằng cồn
Hình 3.2: Kết quả đo phổ hồng ngoại với mẫu chất màu tách bằng kiềm
Hình 3.3: Kết quả đo phổ hồng ngoại với mẫu chất màu tách bằng nước
Hình 3.4: Mẫu phổ vải bông sau khi nhuộm
Hình3.5 : Mẫu phổ vải bông trước khi nhuộm
Hình 3.6: Mẫu phổ vải Lyocell sau khi nhuộm
Hình 3.7: Mẫu phổ vải Lyocell truớc khi nhuộm
Hình 3.8: Mẫu phổ vải PES/Co sau khi nhuộm
Hình 3.9: Mẫu phổ PES/Co trước khi nhuộm
Hình 3.10: Mẫu phổ vải tơ tằm sau khi nhuộm
Hình 3.11: Mẫu phổ vải tơ tằm trước khi nhuộm
Hình 3.12: Kết quả tính toán chọn dạng mô hình toán học
Hình 3.13 : Phương trình thể hiện mối liên hệ toán học của các yếu tố
VŨ MẠNH HẢI
7
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
Danh mục các biểu bảng
Bảng1.1: Tổng hợp công dụng chữa bệnh của hạt lương nho
Bảng 3.1: Kết quả nhuộm với các quy trình tách chiết khác nhau cho vải bông và
tơ tằm
Bảng 3.2: Khả năng lên màu của các loại vật liệu khi nhuộm bằng hạt lương nho
Bảng 3.3 : Độ bền màu đối với giặt xà phòng
Bảng 3.4 : Độ bền màu đối với NaClO
Bảng 3.5: Độ bền màu đối với H2O2
Bảng 3.6 : Bố trí thí nghiệm theo các mức
Bảng 3.7: Kết quả thí nghiệm theo các mức
VŨ MẠNH HẢI
8
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trng i hc Bỏch khoa H Ni
Khoa Cụng ngh Dt may v Thi trang
Lời nói đầu
Ngành Dệt May Việt Nam là một trong những ngành đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đây cũng là ngành đóng góp tỷ trọng rất lớn
trong việc xuất khẩu sản phẩm. Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng
trởng vợt bậc của nền kinh tế, ngành Dệt may đang trên đà phát triển mạnh mẽ
theo xu hớng phát triển bền vững, thân thiện với môi trờng.
Từ lâu nay, các sản phẩm mang tính truyền thống nói chung và sản phẩm
dệt may truyền thống nói riêng luôn có giá trị rất cao. Các sản phẩm này mang
tính u việt là đợc làm từ những chất liệu tự nhiên, có tính tiện nghi cao trong
sử dụng và mang giá trị tinh thần rất lớn. Việc phát triển các sản phẩm này theo
xu hớng gia tăng chất lợng sản phẩm, thích ứng với những đòi hỏi ngày càng
cao của ngời sử dụng đã và đang là mối quan tâm của rất nhiều doanh nghiệp
cũng nh của các làng nghề thủ công truyền thống
Đề tài Nghiên cứu bản chất nhuộm màu của chất màu tự nhiên từ hạt
Lơng nho (hay còn gọi là hạt Điều nhuộm) đợc hình thành từ những yêu cầu
cấp thiết của quá trình nhuộm màu tự nhiên. Việc xác định bản chất của quá
trình nhuộm màu, sự liên kết của chất màu với vật liệu, xác định các đặc tính của
chất màu tự nhiên có vai trò quan trọng đối với việc sản xuất và sử dụng chất
màu tự nhiên từ hạt Lơng nho
V MNH HI
9
LUN VN THC S
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
Chương I
TỔNG QUAN VỀ CHẤT MÀU TỰ NHIÊN
1.1 Tình hình sử dụng chất màu tự nhiên trong lĩnh vực Dệt may trên thế
giới [1]
Chất màu tự nhiên được con người sử dụng từ lâu đời. Khi mà các sản
phẩm nhân tạo chưa hình thành, con người chủ yếu sử dụng các sản phẩm cũng
như các chế phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên. Vải và màu nhuộm cho vải cũng
không nằm ngoài quy luật đó.
Việc sử dụng chất liệu màu tự nhiên đã tồn tại từ lâu đời ở Trung Quốc, Ấn
Độ, Ai Cập và được phát triển ở nhiều nước khác trên thế giới. Ấn Độ vẫn sử
dụng “Lac”- một loại chất màu tự nhiên- để nhuộm vải sợi bông và tơ tằm từ
màu tím đến màu đỏ bằng cách cầm màu với các hóa chất khác nhau. Ở một số
nước ở Châu Phi vẫn còn sử dụng chất màu từ một số cây trộn với đất tạo thành
bột hóa trang và nhuộm quần áo, . Ở Thái Lan đã sử dụng rất nhiều loại vỏ cây,
hoa, lá, củ, hạt, để nhuộm len, bông và tơ tằm. Các chất màu trong tự nhiên có
màu sắc khá phong phú: Màu xanh chàm được sử dụng cho vải sợi bông từ
hàng nghìn năm trước công nguyên, màu đỏ alizarin từ dễ cây marena nhuộm
cho len, tơ tằm và các màu vàng, tím, đỏ, đen đều nhuộm cho các loại sợi tự
nhiên. Sau đây là những chất màu tự nhiên thường được sử dụng trên thế giới:
1. Xanh lam, là những chất màu từ cây chàm, cây tùng làm cho màu bền và
phong phú về sắc thái.
2. Màu đỏ tía lấy từ vẩy một loài cá cho màu bền không phai vẫn đang được
sử dụng và khai thác ở Mexico.
3. Màu đỏ lấy từ cánh kiến hoặc lấy từ gỗ vang và rễ cây thiên thảo hiện đang
được khai thác sử dụng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
4. Màu vàng có nguồn gốc từ nhiều loại cây, hoa, lá và củ.
VŨ MẠNH HẢI
10
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
5. Màu đen thường là hỗn hợp của hai hay nhiều thuốc nhuộm thành phần và
đặc biệt là khi tạo phức với ion kim loại. Một trong các chất màu nói trên
có trong gỗ campec và củ nâu. Tại khu vực Đông nam á còn sử dụng chất
màu từ cây mặc nưa cho màu đen óng, bóng đẹp.
1.2. Tình hình sử dụng chất màu tự nhiên tại Việt Nam [1,8]
Nghề Dệt nhuộm đã có từ lâu ở nước ta, từ thế kỷ thứ III vải dệt ra đã được
nhuộm màu đỏ bằng gỗ vang. Vào thế kỷ XIII vải dệt đã được nhuộm bằng
nhiều màu khác nhau, có những tấm gấm, lụa, vải… được dệt bằng 5 màu tự
nhiên khác nhau. Đến thế kỷ XV một số nơi nghề dệt nhuộm đã được chuyên
môn hóa tách khỏi nông nghiệp như ở vùng Kinh Bắc chuyên nhuộm đen bằng
chất màu từ củ nâu cho màu nâu và nhúng bùn trong một thời gian nhất định để
tạo thành màu đen, ở Thăng Long có phố Hàng Đào nhuộm điều nổi tiếng. Đặc
biệt là tại các vùng núi phía Bắc, người dân tộc đã biết sử dụng chất màu tự
nhiên một cách đa dạng và có ý nghĩa kinh tế cao. Người dân tộc Tày, Nùng tại
tỉnh Lạng Sơn dùng lá chàm để nhuộm màu từ xanh nhạt đến xanh đen, khi phói
với các hoạ tiết thêu cho sản phẩm rất đẹp. Tại Sơn La, Hoà Bình, Người dân
tộc Thái đã dùng các loại vỏ cây, hoa vàng, lá xanh, cánh kiến nhuộm màu cho
sản phẩm rất nổi tiếng của mình là chiếc khăn Piêu và các sản phẩm thủ công
khác. Người H’Mông, ngưòi Dao tại Lào cai trồng lanh lấy sợi dệt vải, nhuộm
chàm và thêu bằng các loại chỉ được nhuộm nhiều màu. Đến giữa thế kỷ XIX,
nhuộm vải bằng thuốc nhuộm tự nhiên vẫn được sử dụng với những kinh
nghiệm lâu đời của mỗi dân tộc, mỗi vùng.
Tuy nhiên, mỗi làng nghề, mỗi dân tộc thường chuyên sản xuất một số mặt
hàng mang tính độc đáo và có bí quyết giấu nghề. Mọi thao tác công nghệ đều
được thực hiện thủ công chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Một số vùng luôn giữ vị
VŨ MẠNH HẢI
11
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
trí độc tôn một vài loại sản phẩm nào đó như the, lụa – Vạn Phúc ở phía Bắc,
lãnh Mỹ Á, lụa Tân châu ở phía Nam. Chính vì thế nên việc sản xuất các sản
phẩm thủ công cổ truyền của nước ta khó phát triển mạnh mẽ để có thể vượt ra
khỏi khuôn khổ khép kín. Các sản phẩm của làng nghề thủ công muốn chiếm
lĩnh thị trường với các kỹ thuật cao phải được đầu tư để có thể trở thành một
ngành sản xuất. Việc phát triển làng nghề tại chỗ có những lợi thế đáng kể: sử
dụng được nguồn lực lao động khá lớn, phát huy khai thác triệt để nguồn
nguyên liệu và vốn tri thức trong dân gian ở các vùng miền. Vốn tri thức quý
giá này cần phải được nhanh chóng khai thác, nghiên cứu, trân trọng và phát
huy tác dụng, kết hợp với việc cải tiến, đầu tư kỹ thuật va coong nghe nhằm đưa
các làng nghể phát triển mạnh mẽ hơn. Những loại chất màu tự nhiên đã được
biết cũng rất phong phú và có gần đầy đủ các gam màu cơ bản và phần nhiều
chưa được nghiên cứu về bản chất. Có thể nói tới một số loại nguyên liệu tự
nhiên được nhân dân hay dùng nhuộm vải:
1. Củ nâu có tên khoa học là Dioscorea Cirrhosa Lour
thuộc họ
Dioscoreaceae.
Củ nâu rất quen thuộc với nhân dân ta. Cây mọc thành cành, thân tròn
nhẵn có nhiều gai ở gốc, lá đơn hình tim mọc so le ở phía dưới, cụm hoa gồm
nhiều bông, quả nang có cuống thẳng, hạt có cánh xung quanh; củ mọc ở gốc,
mỗi cây có thể có 1-2 củ màu nâu xám, thịt củ màu nâu đỏ, thường mọc hoang
ở các vùng rừng núi Việt nam hoặc được trồng ở vùng nông thôn. Lá cây được
dùng để thuộc da hoặc nhuộm lưới, đặc biệt củ nâu đã được dân gian dùng từ
rất lâu để nhuộm vải cho các màu từ nâu nhạt đến nâu sẫm và khi nhúng bùn
đen sẽ cho màu đen rất bền. Củ nâu có thể nhuộm cho vải bông, tơ tằm. Tuy
hai loại vật liệu có khả năng nhuộm màu tương đương nhưng tơ tằm bị cứng do
có nhiều tananh lẫn trong nước nhuộm
VŨ MẠNH HẢI
12
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
2. Cây Chàm
Ở các nước nhiệt đới có nhiều loại chàm, ở Việtnam cũng có tới 25 loại,
nhưng trong đó chỉ có một số được sử dụng cho nhuộm, đó là:
Chàm nhuộm hay cây thanh đại
Có tên khoa học là Indigofera tinctoria L. Cây trồng thành bụi cao
khoảng trên dưới một mét, nhánh thẳng dài 7-10cm, lá hình trứng ngược mọc so
le kép dài 1,5-2,5cm, rộng 0,6-1,5cm thon hẹp ở cuống. Cây có hoa quanh năm
mọc thành từng chùm ở kẽ lá, cánh hoa hình bướm màu đỏ vàng. Quả hình dải
dài 2,5-4cm, rộng 0,3cm, trong quả chứa 5-12 hạt nhỏ. Hạt được sử dụng để
gieo trồng vào tháng 2 đến tháng 5, thu hoạch cây vào tháng 8-10 (mùa thu ở
Việtnam). Nếu cắt cành để lại gốc thì sẽ tiếp tục nảy cành và sau vài tháng có
thể thu hái lần hai.
Cây chàm là loài liên nhiệt đới mọc trên các vùng đất miền núi Việtnam
từ Bắc tới Nam, Trung quốc, Thái lan, Malaixia, Cămpuchia, Lào, Philippin,
Mianma, Indonexia, Ấn độ, Pakixtan, Xri Lanca, châu Mỹ và châu Phi. Cành lá
tươi ngắt về được ngâm vào nước sạch sau vài ngày sẽ thu được dung dịch chất
màu để nhuộm vải. Trong quá trình trên, nước hòa tan Indican và dưới tác dụng
của men nó bị thủy phân tạo thành Indoxyl. Nếu không nhuộm ngay thì có thể
chế biến thành bột chàm, đóng bánh, phơi khô và cất giữ trong bóng râm.
Thường 100kg cây lá chàm sẽ chế biến được 3 kg bột chàm tương đương với
300-400g chất màu chàm Indigo.
Khi nhuộm vải, sau khi ngấm vải trong dung dịch chàm phải tiến hành
phơi trong không khí để Indoxyl sẽ oxihoa thành Indigo.Quá trình này phải lặp
đi lặp lại nhiều lần để đạt được màu đậm.
Chàm quả nhọn
Có tên khoa học là Indigofera galegoides DC. Cây mọc thành bụi cao 13m, có cành dài 10-15 cm mang 21-25 lá chét mọc đối; lá có hình trứng thuôn to
hơn loại trên, lá dài 2-3,5cm, rộng 0,5-1,5cm. Cây có hoa màu hồng, quả to chứa
VŨ MẠNH HẢI
13
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
nhiều hạt hình vuông cỡ 3 mm. Loại chàm này cũng được trồng ở những nơi
tương tự như loại trên. Quá trình thu hái và sử dụng để nhuộm gần giống như
các loại chàm khác.
Chàm mèo
Có tên khoa học là Strobilanthes Cusia. Đây là loại chàm lá to, cây cao
0,4-2m phân nhánh nhiều, lá hình bầu dục mọc đối, hoa màu lam tím, quả nang
dài. Cây ưa trồng ở các thung lũng ẩm ướt hoặc trên nương rẫy gần nguồn nước,
có thể trồng bằng cành vào mùa xuân và sau 6 tháng có thể thu hái lá. Cây lá
chàm được ngâm vào nước để tách chất màu cho nhuộm hoặc chế thánh bánh
chàm theo phương pháp tương tự như trên. Điểm khác biệt là loại này cho màu
chàm sẫm hơn và tỷ lệ chất Indigo trong bột chàm cũng cao hơn ( loại bột tốt có
thể chứa tới 60-70 % Indigo).
Chất màu từ cây chàm dùng để nhuộm cho màu xanh tím bền và đẹp.
Tuy cùng là họ Chàm nhưng còn có loại chàm đỏ khi nhuộm và cầm màu bằng
muối Cr3+ cho ra màu vàng nhạt (màu lông gà con), đặc biệt với chất liệu tơ
tằm, nó rất nhạy với ánh sáng mặt trời (khi phơi dưới nắng màu đậm hơn).
Ngoài ra còn có loại Chàm tím, khi nhuộm cho màu tím đậm. Khi xu ly voi cac
chat cầm màu se cho màu ghi hoac màu xám bền.
3. Cây bọ xít
Loại cây này được dùng làm thuốc sát trùng hoặc cầm máu vừa được
dùng để nhuộm. Khi nhuộm cho màu vàng và khi cầm màu bằng FeSO4 trong
môi trường axit yếu CH3COOH cho màu cỏ úa. Khi cầm màu xong, màu bền
với giặt.
4. Cây xà cừ
Có tên khoa học là Khaya senegalensis thuộc họ Meliaceae. Cây gỗ thân
tròn to cao trên dưới 30m và cành nhiều nhánh mang nhiều lá mọc so le. Cây có
VŨ MẠNH HẢI
14
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
hoa vào tháng 5 và kết quả vào tháng 10, quả nang hình cầu chứa hạt dẹt có cánh
mỏng bao xung quanh. Vỏ cây lúc còn non có màu xám nhẵn, long vẩy tròn như
khảm xà cừ, khi già vỏ sần sùi màu nâu sẫm. Gỗ màu hồng nhạt, thớ xoắn như
lim có độ bền rất cao dùng trong công nghiệp đóng tàu thuyền. Cây có nguồn
gốc từ châu Phi, được nhập vào Việt nam để trồng ven đường lấy bóng mát.
Hàng năm người ta đốn bớt cành lá thấp để đảm bảo an toàn khi có gió bão.
Những lá và vỏ cành được sử dụng nhuộm vải lụa cho màu vàng nhạt đến màu
nâu.Vỏ cây của có chất chát dùng làm thuốc chữa ghẻ, mụn nhọt. Đặc biệt vỏ và
lá của nó nhuộm vải tơ tằm và bông cho màu tím hồng. Khi cầm màu cho màu
nâu đậm hoặc tím nâu, màu rất bền. Cây xà cừ là nguồn nguyên liệu rất dễ kiếm
vì nó được trồng khá phổ biến trên khắp đất nước.
5. Cây Điệp
Có tên khoa học là Caesalpina Pulcherrima L. Cây to vừa phải có ít gai
hoặc không gai, lá có trục dài mọc đối, lá hình bầu dục có mũi nhọn ở đầu dài
10-20cm, rộng 6-10cm. Hoa có cuống mọc thành chùm ở ngọn, cánh hoa màu
vàng nhị màu đỏ. Quả dẹp hình ngọn giáo, hạt dẹp hình trái xoan màu nâu. Vỏ
cây sần xùi màu nâu, có thể tách khỏi cây. Cây được trồng ở nhiều nơi như
Mêhicô, Ấn độ, Xri Lanca, Trungquốc, Nhật bản, Thái lan, Mianma, Malaixia,
Philippin, Nêpan, Cămpuchia, Lào, quần đảo Mãlai và Việt nam. Cây thích hợp
với nhiều loại địa hình vùng đồng bằng và trung du nên ở Việtnam cây được
trồng nhiều nơi làm cảnh và cho bóng mát. Bên cạnh đó người ta sử dụng lá, vỏ,
hoa và hạt để chữa một số bệnh cũng như dùng vỏ cây nấu lấy nước nhuộm vải
cho màu vàng. Loại cây cho hoa vàng vào mùa hè, vỏ cây được dùng để nhuộm
cho vải tơ tằm và bông. Khi cầm màu cho ra màu vàng nâu.
6. Vỏ cây xoài, muỗm
Cây xoài, muỗm là cây gỗ lớn cao vài chục mét, lá đơn hình dải thuôn
mọc so le, có cuống, thường cong xuống; cụm hoa mọc ở ngọn hoặc ở bên; quả
VŨ MẠNH HẢI
15
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
có hình tròn, bầu dục hoặc trái xoan tùy theo từng loại. Xoài được trồng chủ
yếu để lấy quả ăn, cây cho gỗ, lá xoài có thể thu hái quanh năm để nấu lấy
nước chữa một số bệnh và nhuộm vải sợi tự nhiên cho màu nâu nhạt. Có
khoảng 50 loại xoài phân bố ở các nước Đông dương, Ấn độ, Xri Lanca,
Trungquốc, Thái lan, Mianma, Malaixia, Philippin, Iran, Cămpuchia và Việt
nam. Cây xoài có nhiều loại có khả năng sinh trưởng trên mọi loại đất tùy theo
từng giống.Vỏ cây được tước lớp vỏ ngoài cùng nhuộm vải bông và tơ tằm cho
màu vàng tươi, có thể cầm màu với muối kim loại tạo ra nhiều màu, tơ tằm có
khả năng nhuộm màu cao hơn hẳn.
7. Củ nghệ
Có tên khoa học là Curcuma Longa L. Cây nghệ là cây dạng thảo cao
0.6-1m , có thân rễ to mang những củ hình trụ phân nhánh, lá hình trái xoan thon
nhọn ở hai đầu dài tới 45cm, rộng 18cm; cuống lá có bẹ. Cây ra hoa vào tháng 8,
cán hoa nằm giữa các lá mang cụm hoa hình trụ. Củ nghệ thường được thu
hoạch vào mùa thu, sau đó có thể thái lát hoặc nghiền thành bột rồi phơi khô để
cất giữ. Sản lượng nghệ ở Việt nam rất lớn nếu có nhu cầu tiêu thụ. Loại nghệ
này được trồng rộng rãi hoặc mọc hoang ở các nước nhiệt đới như Trung quốc,
Ấn độ, Indonexia, Lào, Cămpuchia và Việt nam. Mục đích chính của việc trồng
nghệ là lấy củ để làm gia vị, thức ăn bổ máu và chữa một số bệnh, đặc biệt kem
nghệ có tác dụng làm lành vết sẹo. Bên cạnh đó củ nghệ còn được sử dụng để
nhuộm một số sản phẩm từ len, tơ tằm và da, tuy nhiên độ bền màu với ánh sáng
rất thấp. Chất màu chủ yếu trong nghệ là Curcumin- đó là các tinh thể màu nâu
đỏ ánh tím không tan trong nước, tan trong rượu, ete và chất béo. Trong dung
dịch axit chuyển thành màu đỏ tươi, trong dung dịch kiềm chuyển thành màu đỏ
máu rồi ngả ánh tím. Nếu có biện pháp nâng cao độ bền màu với ánh sáng thì
đây là chất màu tự nhiên nhuộm vải cho giá trị sinh thái cao. Củ nghệ là một vị
thuốc quý, ngoài ra còn dùng để nhuộm cho thức ăn. Đặc biệt khi có Na2CO3 thì
VŨ MẠNH HẢI
16
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
màu vàng đặc trưng của Nghệ biến đổi sang màu da cam và màu đỏ nhưng màu
kém bền, đặc biệt với ánh sáng.
8. Cánh kiến
Đây là một loài cây khá đặc biệt. Cây dùng để lấy gỗ, làm thuốc và loài
kiến có thể sống trên cây đó và bài tiết ra vỏ cây, mà khi dùng vỏ cây đó để
nhuộm cho màu đỏ. Nhân dân ta hay dùng để nhuộm cho tơ tằm hoặc dùng để
đánh vecni cho gỗ cho màu đỏ tươi đẹp. Đây là nguyên liệu quý hiếm nên khá
đắt.
9. Vỏ cây Me
Cây Me là loại cây khá phổ biến ở Việt nam. Vỏ cây khi nhuộm cho màu
tươi, nhuộm cho vải bông, tơ tằm, len, và cầm màu bằng phèn chua
K2SO4.Al2(SO4).24H2O.
10. Cây Bàng
Có tên khoa học là Terminalia catappa L. Cây thân gỗ lớn cao 10-25m,
cành mọc vòng, lá đơn mọc so le, phiến lá hình trái xoan ngược dài 20-30-cm,
rộng 10-13cm. Cây có lá non vào tháng 2, có hoa vào tháng 3-7, mùa quả vào
tháng 8- 9; lá rụng nhiều vào mùa đông, sang xuân lại tái sinh rất mạnh. Có thể
thu lượm lá khô rụng, lá vàng, lá xanh và sử dụng chúng cho nhuộm thay vì thải
rác vào môi trường. Đây là loại cây trồng ở nhiều nơi như: Cămpuchia, Lào, Ấn
độ, Trung quốc, Malaixia, Thái lan, Madagaxca và các đảo của Thái bình dương.
Ở Việt nam cây được trồng chủ yếu nhằm mục đích cho bóng mát nên có mặt ở
khắp mọi nơi trên cả nước từ miền núi, hải đảo xa xôi đến ngay trên mọi đường
phố ở các thành phố và Thủ đô.
Gỗ , quả, vỏ, hạt và lá bàng từ lâu đã được dùng cho một số mục đích dân
dụng và chữa bệnh. Riêng lá bàng ngày càng được quan tâm nhiều hơn vì dễ thu
VŨ MẠNH HẢI
17
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
hoạch và thực sự có ý nghĩa trong nhuộm vải sợi cho các sản phẩm có giá trị
sinh thái cao, màu đẹp và độ bền màu cao. Việc tách chiết chất màu từ lá bàng
cũng đơn giản, chỉ cần đun sôi trong nước rồi gạn lấy dung dịch màu đem
nhuộm bằng mọi phương pháp từ thủ công đến công nghiệp. Màu nhận được
thông thường là màu cỏ úa, nếu đem cầm màu với một số loaị muối sẽ cho các
gam màu khác nhau từ vàng nhạt đến vàng nâu. Lá bàng khô nhuộm vải tơ tằm
cho màu nâu tươi đậm hơn hẳn vải bông. Lá bàng tươi thường được dùng
nhuộm cho vải Bông, Tơ tằm cho màu tương đương.
11. Lá tre
Lá tre được dùng để nhuộm tơ tằm cho màu xanh lục. Chất màu không
tan trực tiếp trong nước. Nó tan trong rượu, sau đó pha loãng để nhuộm. Tro
của lá tre được ngâm trong nước sau một thời gian nhất định cho màu đen
tuyền dùng làm chất màu trong in tranh của làng tranh Đông hồ. Làng tranh
còn phối màu đen của tro lá tre với màu xanh chàm cho màu xanh đen bền, óng
đẹp.
12. Cây Ngải cứu
Cây Ngải cứu thường được dùng như một loại thuốc. Chất màu của cây
ngải cứu tan trong nước nhưng bị kết tủa khi để lâu hoặc đun nóng, nhuộm vải
bông và tơ tằm cho màu xanh nhạt.
13. Lá hồng xiêm
Cây hồng xiêm có tên khoa học là Manilkara zapota L hoặc Achras
Zapota. Cây gỗ lớn cao to, cành lá xum xuê mọc thành tầng, lá mọc gần nhau ở
chót nhánh, hoa đơn cuống dài 1-2cm, quả có vỏ màu nâu, khi chín màu vỏ nhạt
đi, thịt quả màu vàng nâu nhiều nước và có vị ngọt ăn ngon. Cây được trồng
VŨ MẠNH HẢI
18
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
bằng cách gieo hạt hoặc bằng cành chiết, sau 3-4 năm sẽ thu hoạch quả, còn lá
có thể thu hái tỉa quanh năm. Cây trồng với mục đích chính là cho quả, có thể
trích lấy nhựa phục vụ cho sản xuất kẹo cao su, có thể sử dụng vỏ, hạt để chữa
một số bệnh nhưng có thể sử dụng lá quanh năm để nhuộm vải cho màu nâu.
Cây có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Mehicô) và được nhập trồng vào Việt nam khắp
từ Bắc chí Nam. Cây ưa nóng nên thích hợp trồng ở những vùng có nhiệt độ cao,
nhiều ánh sáng, không có sưong muối, mưa đều trong năm, độ ẩm cao, nhưng
sau thời gian trưởng thành 3-4 năm cây có khả năng chịu hạn tốt. Cây có thể
trồng trên mọi loại đất. Trong vỏ cây chứa saponin, tananh và ancaloit. Dung
dịch chất màu từ lá hồng xiêm rất ổn định, khi nhuộm vải bông và tơ tằm cho
màu nâu sẫm.
14. Gỗ vang
Cây có tên khoa học là Caesalpinia sappan L. Gỗ lấy từ cây này cho màu
đỏ và đỏ tía rất đẹp, nó được sử dụng nhiều ở Châu Mỹ(đặc biệt ở Brazil). Chất
màu của gỗ vang tan trong nước tạo dung dịch màu rất bền, nhuộm cho vải
bông và tơ tằm cho màu khá bền.
15. Lá chè
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinsensis L Kuntze. Họ chè nói
chung có tới 82 loại, riêng ở Việt nam cũng có tới 56 loại với nhiều công dụng.
Loại chè mà con người sử dụng làm trà uống được trồng đại trà ở nhiều nơi là
loại trên. Cây mọc cao tới trên 10m nhưng thông thường bị cắt tỉa đến 2m để
phân thành nhiều cành và nhánh cho nhiều búp, lá. Lá chè có hình trái xoan,
nhọn ở đầu và gốc, phiến lá dày, mép lá răng cưa men theo cuống. Cây chè
thường ra hoa trắng vào tháng 10 đến tháng 2 và có qủa vào tháng tư. Lá chè có
thể thu hái quanh năm. Cây chè có xuất xứ từ Bắc Ấn độ và Nam Trung quốc,
sau đó được truyền sang Mianma, Thái lan và Việt nam. Cây ưa trồng trên đất
VŨ MẠNH HẢI
19
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
chua đồi núi và khí hậu ẩm. Bằng các cách chế biến khác nhau mà người ta tạo
ra nhiều loại chè đặc biệt (chè đen, chè mạn, chè nụ, chè tàu,). Tuy nhiên không
ít những lá chè chỉ được sử dụng ngay làm chè xanh hoặc loại bỏ khi thu hoạch.
Những lá chè này đã được sử dụng để nhuộm màu nâu nhạt hoặc cầm màu bằng
một số muối tạo ra từ màu vàng lục, nâu vàng, nâu xanh đến màu đen. Sản
lượng chè ở Việt nam là rất lớn vì được trồng ở nhiều nơi và là sản phẩm xuất
khẩu nên hoàn toàn có khả năng ứng dụng những loại lá phế thải cho nhuộm
màu tử thủ công đến công nghiệp
Thành phần chất màu trong lá chè bao gồm các chất polyphenolic,
flavonol. Khi nhuộm chỉ cần đun lá chè lấy nước chiết nhuộm vải tơ tằm và
bông cho màu khá bền với giặt giũ cũng như ánh sáng. Ngoài ra lá chè còn
được dùng cho một số mục đích chữa bệnh, khử mùi. Những lá chè già, chè
khô đun sôi cho dung dịch màu rất bền, nhuộm cho vải bông và tơ tằm cho màu
vàng nâu rất bền.
16. Lá trầu không
Cây trầu không có tên khoa học là Piper betle L. Lá trầu không chứa
nhiều tananh, chất màu tan trong nước, nhanh bị oxi hóa kết tủa. Nhuộm vải
bông và tơ tằm cho màu nâu trầm bền.
17. Quả mặc nưa
Cây mặc nưa có tên khoa học là Diospiros L mollis Griff thuộc họ
Ebenaceae. Cây gỗ cao từ 10-20m có cành, lá đơn mọc so le, phiến lá bầu dục
dài 5,5-13cm, rộng 2,5-7cm. Cây ra hoa màu vàng từ tháng 1-7, kết quả vào
tháng 9 đến tháng 4 năm sau. Quả hình cầu khi non có màu xanh bóng, sau ngả
sang vàng xanh hoặc vàng hồng, khi già chuyển sang màu đen. Mỗi cây có thể
cho thu hoạch mỗi năm hàng trăm kg quả. Cây mọc chậm, sống lâu có khả năng
tái sinh hạt.
VŨ MẠNH HẢI
20
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
Cây được trồng nhiều ở Lào, Cămpuchia, Thái lan, Mianma và Việtnam trên
các vùng đất nhiều ánh sáng nhằm phục vụ cho việc lấy gỗ quí làm đồ mỹ nghệ
và sử dụng lá, quả cho nhuộm đen vải sợi quý. Hiện nay ở Việt nam tại miền
Nam có cơ sở chuyên nhuộm vải lụa đen bằng loại quả này. Thành phần chất
màu trong quả là hydroquinone, ngoài ra còn chứa tannin cùng các chất khác.
Trong quả và hạt có chứa chất kháng sinh dùng để trị giun sán.
Có thể thấy rằng chất màu tự nhiên được sử dụng khá đa dạng và có nhiều
gam màu khác nhau. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, sự tăng dân số
và nhu cầu đa dạng về chất liệu, màu sắc, thời trang … đã làm cho màu tự nhiên
không còn đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu ngày càng đa dạng của con
người. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ khai thác, chế biến
dầu mỏ, ngành sản xuất thuốc nhuộm ra đời giúp cho cho con người có một thế
giới màu sắc vô cùng đa dạng, có chất lượng và phạm vi sử dụng cao. Thuốc
nhuộm tổng hợp có nhiều ưu việt so với chất màu tự nhiên như sự thuận tiện,
tiết kiệm thời gian trong công nghệ nhuộm, màu sắc đa dạng phong phú, độ bền
màu cao và giá cả phải chăng đã làm cho thuốc nhuộm tổng hợp có phạm vi sử
dụng rộng rãi, gần như trong công nghiệp người ta không sử dụng thuốc nhuộm
tự nhiên. Do đó phạm vi sử dụng chất màu tự nhiên dần bị thu hẹp lại. Nhưng
vấn đề về môi trường sinh thái là vấn đề không dễ giải quyết. Hàng năm, việc
tổng hợp và sử dụng thuốc nhuộm đã kéo theo hàng loạt sự ô nhiễm như ô
nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí. Để giải quyết những hạn chế đó, người
ta trở về với thiên nhiên để tìm những loại chất màu tự nhiên mới và làm phong
phú nguồn chất màu tự nhiên đã biết.
Nhìn chung việc sử dụng chất màu có sẵn vẫn là những bí quyết riêng của
từng dân tộc, từng vùng và từng nước. Với cùng một loại thảo mộc nhưng các
công thức nhuộm khác nhau sẽ cho các màu nhuộm rất khác nhau vì vậy sản
VŨ MẠNH HẢI
21
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
phẩm nhuộm tự nhiên luôn là duy nhất mang tính độc đáo. Song ngoài việc duy
trì sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, thì tại các quốc gia việc nghiên cứu để tìm ra bản
chất thực của màu sắc tự nhiên mỗi loại cũng như các tính chất sinh thái mà vải
nhuộm tự nhiên mang lại cho môi trường, cho con người thì vẫn chưa được tiến
hành nghiên cứu cụ thể.
Ngày nay, do yếu tố môi trường, sinh thái được đặt lên hàng đầu với mọi
loại sản phẩm, các nước phát triển cũng quan tâm nhiều hơn đến công nghệ
nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên. Các nước như Mỹ, Pháp, Úc, Áo, Nhật…
cũng có những dự án nhằm hiện đại hóa, công nghiệp hóa quá trình nhuộm vải
bằng chất màu tự nhiên, với mục đích vừa đảm bảo được tính sinh thái, vừa bảo
vệ môi trường đồng thời tăng năng suất, chất lượng, khối lượng sản phẩm. Đây
cũng là biện pháp đúng đắn để công nghệ nhuộm có thể phát triển bền vững
trong tương lai. Nhưng một vấn đề quan trọng là cần phải tìm được những chất
màu vừa đa dạng về màu sắc, vừa có độ bền màu chấp nhận được và có công
nghệ nhuộm nhanh chóng, đơn giản. Trong tự nhiên, các gam màu xanh, nâu,
đen là khá phổ biến và hầu hết là gam trầm. Muốn có những màu tươi, ánh như
màu vàng kim, màu cam thì chỉ có một vài loại thảo mộc cho màu này như củ
nghệ, cây becbery (không có ở Việt nam) nhưng cả hai loại này đều có độ bền
ánh sáng rất thấp. Chính vì thế mà hạt lương nho với những ứng dụng của nó
trong thực phẩm đã đuợc chú ý đến vì nó cho màu vàng cam tươi, ánh.
VŨ MẠNH HẢI
22
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
1.3. Giới thiệu về cây Lương nho.
Hình 1.1 : Cây lương nho, hay còn gọi là cây cà ri.
Cây lương nho, hay còn gọi là cây cà ri cao 5 - 10 m, mọc ở dạng bụi. Cây
có hoa màu trắng, ngoài ra còn có loại hoa hồng, hoa vàng. Nụ hoa hình tròn có
màu vàng nhạt. Phía sau hoa, có khá nhiều trái nhỏ có gai tua ra. Khi trái lớn và
chín sẽ có màu đỏ rực, với nhiều gai cứng phủ ngoài (trông hơi giống trái chôm
chôm vậy). Trái dạng chùm hình tim, có màu đỏ tươi đến nâu khô khi chín.
Thường có khoảng 30-50 hạt /trái. Cây có lớp vỏ màu sáng nhạt, một cây nhỏ có
thể cho được 5kg hạt, có thể tách trái làm đôi để lấy hạt. Hạt có màu gần giống
màu của đất, màu đỏ tối. Hạt tỏa mùi hương thơm của chanh, nhưng không quá
nồng.
VŨ MẠNH HẢI
23
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khoa Công nghệ Dệt may và Thời trang
Hạt Lương nho có tên khoa học là Orellana, lấy theo tên của ông
Francisco de Orellana, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha, thế kỷ 16 là người
tìm ra chúng. Cây lương nho là những cây bụi được trồng nhiều ở các nước
vùng Caribe, Nam và Trung Mỹ. Peru là nước trồng nhiều nhất thế giới, sau đó
là Guatemala và Ecuador. Ở các nước Châu phi Kenya là nước xuất khẩu lớn
nhất. Ấn Độ và Tây Ban Nha là những nước xuất khẩu quan trọng vào thị
trường Châu Âu. Người ta biết tới chúng vì chúng cho màu giống như màu môi
son, nó có lá bóng và hoa màu hồng. Cây cho quả có nhiều hạt bên trong. Hạt
lương nho thường được trồng dùng cho nấu ăn hay những việc bếp núc cần
nhuộm màu cho thức ăn vì chúng cho màu đỏ tía và không độc với con người.
Ở Venezuela, hạt còn được gọi với tên địa phương là onoto, được dùng
chuẩn bị cho món hallacas(một món ăn của người bản xứ), và trong một vài bữa
ăn truyền thống khác. Ở Brazil cả hạt và cây lương nho được gọi là Urucum và
sản phẩm của nó được gọi là Colorau. Ở Peru nó còn được gọi là achiote. Tên
achiote là tên theo tiếng Tây Ban Nha của hạt lương nho, cùng nói về món ăn của
các nước vùng Caribe, và Nam Mỹ. Hạt lương nho có thể thấy ở trong nước
chấm (nước xốt), trong các món hầm. Hiện nay hầu hết việc sử dụng lương nho
chủ yếu để lấy hương thơm và màu cho các món ăn ở các nước Trung và phía bắc
Nam Mỹ. Ở các nước vùng Caribe hạt Lương nho thường dùng trong các món
rán có chất béo (động vật hay thực vật). Theo cách làm truyền thống, hạt ép được
ngâm trong nước rồi cho bay hơi làm khô. Hỗn hợp nhão màu nhạt được làm ra
và rồi để cho thêm vào súp, pho mát, và vài món ăn khác làm cho chúng có màu
vàng tươi hay màu da cam. Màu của hạt lương nho được dùng để cho màu thay
thế màu của cây nghệ tây (rất đắt) trong các công thức nấu ăn và các món ăn trên
thế giới. Chất màu được tách ra từ hạt trong mỡ thực vật hoặc động vật và sau khi
loại bỏ hạt, thành dung dịch màu vàng kim được dùng để rán rau hoặc thịt.
VŨ MẠNH HẢI
24
LUẬN VĂN THẠC SỸ