Tải bản đầy đủ (.pdf) (67 trang)

Nghiên cứu đặc điểm chỉ số huyết học và hóa sinh bệnh nhân xơ gan tại bệnh viện trung ương quân đội 108 từ 01 01 31 03 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (986.29 KB, 67 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG

ĐOÀN THỊ THÙY NINH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM
CHỈ SỐ HUYẾT HỌC VÀ HÓA SINH BỆNH NHÂN XƠ GAN
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
TỪ 01/01-31/03/2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM Y HỌC

HẢI DƯƠNG, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG

ĐOÀN THỊ THÙY NINH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM
CHỈ SỐ HUYẾT HỌC VÀ SINH HÓA BỆNH NHÂN XƠ GAN
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
TỪ 01/01-31/03/2015


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM Y HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐINH THỊ DIỆU HẰNG

HẢI DƯƠNG, NĂM 2015


CHỮ VIẾT TẮT
Acetyl – CoA: Acetyl – CoenzymA
AlP: Alkaline phosphatase
ALT (GPT) : Alanine aminotransferase (Glutamic Pyruvic Transaminase)
AST (GOT): Aspartate aminotransferase (Glutamic Oxaloacetic
Transaminase)
ATP: Adenosin Triphosphate
CHE: Cholinesterase
CRP: C – reactive protein
DDT: Dichloro-diphenyl-trichloroethane
DIC: Disseminated Intravascular Coagulation (Đông máu rải rác trong lòng
mạch)
GLDH: Glutamate dehydrogenase
HCT: Hematocrit
HGB: Hemoglobine (Lượng huyết sắc tố)
INH: Isoniazid
INR: International normalised Ratio
LDH: Lactate dehydrogenase
MCV: Mean corpuscular volume (Thể tích trung bình hồng cầu)
PLT: Platelet (Số lượng tiểu cầu)
RBC: Red Blood Cell (Số lượng hồng cầu)
WBC: White Blood Cell (Số lượng bạch cầu)

γGT (GGT): Gamma glutamyl transferase


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện.
Các số liệu và kết quả của nghiên cứu trình bày trong khóa luận chưa
từng được công bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Sinh viên


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi
đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng
nghiệp, những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn giảng viên hướng
dẫn: TS. Đinh Thị Diệu Hằng, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải
Dương, người Thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo mọi điều kiện thuận
lợi và giúp đỡ tôi từ bước đầu lựa chọn đề tài và đóng góp những ý kiến quý
báu đối với tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong quá trình
hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Đào tạo Sau Đại học, Phòng Kế
hoạch tổng hợp, Khoa Nội tiêu hóa, Khoa Bệnh lây truyền qua đường máu
và các Khoa về chuyên ngành Xét nghiệm của Bệnh viện Trung Ương
Quân Đội 108 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu và tập thể các cán
bộ giảng viên, viên chức nói chung và các thầy cô giáo Khoa Xét nghiệm
Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương nói riêng đã giúp đỡ tôi trong quá

trình học tập và rèn luyện để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS.Nguyễn Gia Bình, Chủ nhiệm Khoa Sinh
hóa Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108. Thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và
đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu tại
Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 và quá trình thực hiện khóa luận này.
Tôi vô cùng biết ơn các nhà khoa học của Hội đồng chấm thi đề cương,
Hội đồng chấm luận văn cấp Trường và các nhà khoa học đã thầm lặng đã giúp
đỡ và cho tôi những ý kiến quý giá để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè gần xa, những người đã động viên,
khích lệ và giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.


Lời cảm ơn cuối cùng tôi xin gửi đến những người thân yêu trong gia
đình, bố mẹ, anh chị, em của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần và vật
chất để tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
ĐOÀN THỊ THÙY NINH


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 2
1.1. Sinh lý của gan ........................................................................................ 2
1.2. Một số xét nghiệm cận lâm sàng về bệnh gan ........................................ 6
1.2.1. Xét nghiệm hóa sinh ............................................................................ 6
1.2.2. Các xét nghiệm huyết học .................................................................. 11
1.3. Xơ gan ................................................................................................... 12
1.3.1. Định nghĩa xơ gan .............................................................................. 12
1.3.2. Dịch tễ học ......................................................................................... 13
1.3.3. Nguyên nhân gây xơ gan ................................................................... 14
1.3.4. Triệu chứng lâm sàng ......................................................................... 15

1.3.5. Cận lâm sàng ...................................................................................... 17
1.3.6. Biến chứng của xơ gan....................................................................... 19
1.4. Một số xơ gan thường gặp .................................................................... 20
1.4.1. Xơ gan do rượu .................................................................................. 20
1.4.1.1. Định nghĩa ....................................................................................... 20
1.4.1.2. Xét nghiệm cận lâm sàng ................................................................ 20
1.4.2. Xơ gan sau viêm gan .......................................................................... 21
1.4.2.1. Định nghĩa ....................................................................................... 21
1.4.2.2. Xét nghiệm cận lâm sàng ................................................................ 21
1.5. Một số nghiên cứu về xơ gan ................................................................ 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 23
2.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 23
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................... 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 24
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu............................................................................ 24
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu ......................................................................... 24


2.3.3. Định nghĩa về các chỉ số nghiên cứu ................................................. 24
2.3.4. Biến số................................................................................................ 26
2.3.5. Các kỹ thuật thu thập thông tin .......................................................... 27
2.3.6. Xử lý số liệu ....................................................................................... 28
2.3.7. Biện pháp hạn chế sai số .................................................................... 28
2.3.8. Đạo đức trong nghiên cứu .................................................................. 28
2.3.9. Tóm tắt nội dung và phương pháp nghiên cứu .................................. 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................... 30
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu ................................................. 30
3.2. Đặc điểm các chỉ số xét nghiệm của bệnh nhân xơ gan ....................... 33
3.3. Mối liên quan giữa một số yếu tố với các chỉ số xét nghiệm ............... 35
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN .............................................................................. 41

4.1. Các đặc điểm chung của bệnh nhân xơ gan .......................................... 41
4.2. Đặc điểm các chỉ số xét nghiệm của bệnh nhân xơ gan ....................... 44
4.3. Mối liên quan giữa một số yếu tố với các chỉ số xét nghiệm. .............. 46
4.3.1. Về mức độ xơ gan theo phân loại Child – Pugh ................................ 46
4.3.2. Về nguyên nhân xơ gan ..................................................................... 47
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 51
PHỤ LỤC ............................................................................................................


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Phân loại xơ gan theo Child – Pugh ............................................... 25
Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi ................................................................ 30
Bảng 3.2. Các nguyên nhân gây xơ gan ........................................................ 31
Bảng 3.3. Các biến chứng của xơ gan ............................................................. 32
Bảng 3.4. Đặc điểm về hóa sinh của bệnh nhân xơ gan ................................. 33
Bảng 3.5. Đặc điểm huyết học của bệnh nhân xơ gan .................................... 34
Bảng 3.6. Liên quan giữa mức độ xơ gan với các chỉ số xét nhiệm hóa sinh....... 35
Bảng 3.7. Liên quan giữa mức độ xơ gan với các chỉ số xét nhiệm huyết học .... 36
Bảng 3.8. Giá trị trung bình các chỉ số hóa sinh giữa xơ gan do rượu và không
do rượu ............................................................................................................ 37
Bảng 3.9. Giá trị trung bình các chỉ số huyết học giữa xơ gan do rượu và
không do rượu ................................................................................................. 38
Bảng 3.10. Giá trị trung bình các chỉ số sinh hóa của bệnh nhân xơ gan do
rượu và xơ gan do virus .................................................................................. 39
Bảng 3.11. Giá trị trung bình các chỉ số huyết học của bệnh nhân xơ gan do
rượu và xơ gan do virus .................................................................................. 40


DANH MỤC SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Đặc điểm về giới tính của nhóm nghiên cứu .............................. 30
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ các mức độ xơ gan theo Child - Pugh ............................... 31


ĐẶT VẤN ĐỀ
Xơ gan là một bệnh thường gặp ở Việt Nam và trên thế giới. Xơ gan là
một bệnh có tiên lượng rất xấu, tỷ lệ tử vong cao ngay cả ở các nước tiên tiến
mặc dù có nhiều biện pháp và kỹ thuật cao để điều trị bệnh. Xơ gan là nguyên
nhân gây tử vong đứng thứ 11 ở Mỹ với tỷ lệ tử vong theo tuổi là 9,2/100.000
dân/năm, trên 45% các trường hợp liên quan với rượu [26]. Số bệnh nhân xơ
gan do rượu sống được trên 5 năm chưa được 50%, số bệnh nhân xơ gan sau
hoại tử (hậu phát sau viêm gan virus) có đến 75% tử vong trong vòng 1 – 5
năm.
Theo thống kê (2001) tại bệnh viện E Hà Nội, trên 180 bệnh nhân xơ
gan vào điều trị tại khoa tiêu hóa trong đó 11,9% đã chết trong bệnh viện và
38,76% chết ở nhà ít lâu sau khi đưa về. Tại bệnh viện Bạch Mai có đến
27,3% xơ gan tử vong tại bệnh viện, nếu tính cả những bệnh nhân rất nặng đã
hấp hối, gia đình đưa về nhà thì tỉ lệ này còn cao hơn nữa [27].
Xơ gan nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì tiên lượng bệnh
tốt hơn và kéo dài được tuổi thọ của bệnh nhân. Tuy nhiên tất cả bệnh nhân
trên thường vào viện trong giai đoạn muộn [27]. Nghiên cứu về bệnh gan, đặc
biệt là nghiên cứu về biểu hiện cận lâm sàng ở bệnh nhân xơ gan có thể phát
hiện sớm các triệu chứng và từ đó có thể giúp cho điều trị có hiệu quả hơn.
Trong những năm gần đây, tại Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 đã
tiếp nhận nhiều bệnh nhân mắc bệnh gan đến điều trị. Tuy nhiên ít có nghiên
cứu về đặc điểm cận lâm sàng bệnh xơ gan. Chính vì vậy, tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm chỉ số huyết học và hóa sinh bệnh nhân xơ gan tại
Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 từ 01/01-31/03/2015” nhằm giải
quyết mục tiêu:
Đánh giá đặc điểm chỉ số huyết học và hóa sinh bệnh nhân xơ gan

tại Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 từ 01/01-31/03/2015.

1


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sinh lý của gan
Gan là một tạng lớn nhất trong cơ thể chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ
thể, gan lúc chết nặng 1200-1500g, khi sống chứa thêm 800-900g máu. Trọng
lượng và kích thước còn thay đổi theo tình trạng sinh lý và bệnh lý. Gan nằm
ở ô dưới hoành phải của ổ bụng, song lại được bảo vệ bởi khung xương của
lồng ngực và liên quan với ngực nhiều hơn với bụng [17],[18].
Gan là một trong những cơ quan quan trọng nhất của cơ thể và nó đảm
nhận rất nhiều các chức năng khác nhau giúp cân bằng nội mô và duy trì sự
sống [1],[9]. Những chức năng đó bao gồm:
- Chức năng chuyển hóa:
- Chuyển hóa glucid:
Vai trò của gan trong chuyển hóa glucid là chức phận Glycogen hóa.
Chức phận này thông qua hai mặt: sinh tổng hợp glycogen và phân ly
glycogen thành glucose cung cấp cho máu đưa đến các cơ quan khác sử dụng.
Chính vì vậy, gan có vai trò quan trọng trong điều hòa đường máu. Khi lượng
đường máu tăng cao, gan tăng tổng hợp glycogen để dự trữ và giảm giải
phóng glucose. Ngược lại khi đường máu hạ, gan sẽ tăng phân giải glycogen
và sinh đường mới, giải phóng glucose vào máu.
- Chuyển hóa protid: Trong 24 giờ cơ thể người có thể tổng hợp khoảng
80-100g protein, trong đó gần 50% do gan sản xuất. Gan tổng hợp protein cho
bản thân và tổng hợp protein cho máu. Gan sử dụng các acid amin do máu
mang từ ruột đến, tại gan acid amin được chuyển hóa theo hai dạng đồng hóa
và dị hóa.

+ Gan tổng hợp toàn bộ albumin, một phần globulin α và β cho huyết
tương, ferritin, prothrombin, các yếu tố đông máu II, VII, X, IX và một số
enzym như amylase, cholinesterase. Trong trường hợp gan bị tổn thương sẽ
2


làm giảm nồng độ protein toàn phần trong huyết thanh, đặc biệt là albumin và tỉ
lệ albumin/globulin giảm, rối loạn cơ chế đông máu tùy theo mức độ tổn
thương.
+ Gan chứa nhiều acid glutamic và các enzym trao đổi amin
(transaminase) như AST là men ở bào tương và ty thể, hiện diện ở tế bào gan,
tim, cơ vân, thận, não và tụy, ALT là men trong bào tương, hiện diện chủ yếu
ở tế bào gan, chỉ một số ít trong tế bào cơ vân và cơ tim. Vì vậy sự tăng ALT
đặc hiệu cho tổn thương tế bào gan hơn so với AST. Bình thường khi tế bào
gan chết đi do quá trình lão hóa, một lượng enzym gan sẽ giải phóng vào
trong máu ở nồng độ < 40 U/l. Khi gan tổn thương, các transaminase tăng cao
trong huyết thanh, có khi tăng gấp hàng trăm lần bình thường đặc biệt ALT
[9],[10],[17],[36].
+ Gan là nơi duy nhất tổng hợp ure hoàn chỉnh vì chứa đủ 5 enzym của
chu trình ure, khả năng tổng hợp ure của gan rất lớn, nếu ta cắt 3/4 gan thì 1/4
còn lại vẫn tổng hợp ure bình thường [9].
- Chuyển hóa lipid:
Trung tâm chuyển hóa của lipid ở tế bào gan là acid béo, nguồn acid
béo này do máu vận chuyển từ bộ máy tiêu hóa, từ các kho dự trữ, một phần
được tổng hợp ngay tại tế bào gan từ những sản phẩm chuyển hóa trung gian
của quá trình thoái hóa glucid.
+ Tổng hợp acid béo ở gan: quá trình này xảy ra ở hầu hết các tế bào
nhưng mạnh nhất là ở tế bào gan. Tổng hợp acid béo dẫn tới tổng hợp
triglycerid và phospholipid. Trong số các triglycerid và phospholipid được tạo
thành thì một số tham gia cấu tạo và hoạt động chức năng của tế bào gan, một

số được bài tiết vào máu trong thành phần của lipoprotein huyết tương. Tạo
cholin cần thiết cho việc bài tiết lipid ra khỏi tế bào gan, thiếu cholin sẽ dẫn
đến gan nhiễm mỡ.

3


+ Oxy hóa acid béo trong gan: Quá trình này được thực hiện nhờ chu
trình β – oxy hóa tạo acetyl – CoA. Phần lớn các acetyl – CoA vào chu trình
Krebs cung cấp năng lượng cho hoạt động của tế bào gan, tổng hợp các acid
béo, acid mật, cholesterol, steroid và tiền vitamin D. Một số ngưng tụ thành
thể ceton rồi được bài tiết vào máu hoặc bị đào thải qua thận.
+ Gan đóng vai trò tổng hợp cholesterol từ acetyl – CoA, quá trình este
hóa xảy ra trong gan và trong huyết thanh. Sự thủy phân cholesterol ở gan tạo
nên các sản phẩm chủ yếu là acid mật, muối mật, các dẫn chất steroid và tiền
vitamin D.
- Chức năng tạo mật
Tế bào gan bài tiết mật liên tục, túi mật là nơi dự trữ mật ở dạng cô đặc.
Mỗi ngày tiết khoảng 800-1000 ml dịch mật. Dịch mật có màu vàng hơi xanh.
Ngoài nước, dịch mật có chứa muối mật, sắc tố mật, cholesterol và các chất
điện giải. Muối mật tham gia vào hoạt động tiêu hóa bằng cách nhũ tương hóa
chất béo, tham gia vào sự hấp thu các acid béo, cholesterol và các vitamin tan
trong dầu. Sắc tố mật bao gồm bilirubin và biliverdin do hemoglobin của
hồng cầu vỡ tạo nên.
- Chức năng khử độc
Các chất độc nội sinh hay ngoại sinh khi mới xuất hiện trong cơ thể
phần lớn được đưa về gan. Chức năng khử độc của gan do cả tế bào Kupffer
và tế bào gan đảm nhận.
Tế bào Kupffer thực bào các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua đường
tiêu hóa, đồng thời thực bào cả các hồng cầu già và xác hồng cầu.

Tế bào gan chống độc bằng 2 cơ chế:
+ Giữ lại một số kim loại nặng như đồng, chì, thủy ngân,… và các chất
màu như Bromo-sulfo-phtalein (BSP), sau đó thải trừ ra ngoài qua đường mật
và phân.

4


+ Bằng các phản ứng hóa học để biến các chất độc đó thành những chất
không độc hay ít độc rồi đào thải ra ngoài. Có 3 phương pháp khử độc hóa
học:
Dựa vào phản ứng liên hợp: liên hợp acid glucuronic, acid sulfuric
thành những chất không độc cho cơ thể.
Phản ứng methyl hóa, acetyl hóa, oxy hóa: acetyl hóa sulfanilamide,
oxy hóa ethanol, thuốc ngủ.
Phản ứng đặc hiệu của từng chất: tạo ure từ NH3.
- Chức năng dự trữ: Gan dự trữ các chất cần thiết cho cơ thể:
+ Vitamin: các vitamin tan trong dầu ( A, D, K, E) và vitamin B12.
+ Sắt: được dự trữ dưới dạng liên kết với apoferritin là một protein của
gan để tạo ferritin. Từ gan, sắt được dẫn tới tủy xương tham gia quá trình tạo
hồng cầu.
+ Ngoài ra gan còn dự trữ đường dưới dạng glycogen và một số yếu tố
vi lượng khác như đồng... [9],[10],[17],[36].
- Chức năng tuần hoàn
Gan là cơ quan nhận được nhiều máu nhất trong cơ thể. Trong mỗi
phút, gan nhận khoảng 1500ml máu từ tĩnh mạch cửa và động mạch gan đưa
tới. Gan là một cơ quan có tính đàn hồi, do đó có một lượng lớn máu lưu giữ
trong các mạch máu của gan. Bình thường thể tích máu trong tĩnh mạch gan
và các xoang gan khoảng 450ml, lượng này tương ứng 10% thể tích máu toàn
bộ cơ thể. Trong những trường hợp có sự gia tăng áp lực của tâm nhĩ phải,

máu sẽ dồn ngược về gan, làm gan giãn ra chứa đầy máu, có thể lên đến 0,5-1
lít máu. Ngược lại trong những trường hợp bị mất máu...gan có thể đưa một
lượng máu bổ sung đáng kể cho hệ thống tuần hoàn [10],[17].
Từ tháng thứ 3 đến cuối thời kỳ thai nghén, gan là cơ quan chính sản
xuất hồng cầu của bào thai. Sau khi đứa trẻ ra đời, tủy xương đảm nhận chức
năng sản xuất hồng cầu cho cơ thể. Lúc này gan là nơi sản xuất các protein
5


cần thiết cho sự tổng hợp hồng cầu như globulin, lipoprotein... [10].
1.2. Một số xét nghiệm cận lâm sàng về bệnh gan
Gan là một cơ quan có nhiều chức năng quan trọng như chuyển hóa các
chất protid, glucid, lipid, là nơi sản xuất protein (albumin, globulin,
fibrinogen) cho máu, tạo bilirubin liên hợp có vai trò khử độc ở gan... Để
đánh giá chức năng gan, có thể làm nhiều xét nghiệm và nghiệm pháp. Hiện
nay, người ta thường làm một số xét nghiệm sau đây trong việc chẩn đoán,
theo dõi và điều trị bệnh về gan [22].
1.2.1. Xét nghiệm hóa sinh
1.2.1.1. Enzym GOT, GPT huyết thanh
GOT (AST), GPT (ALT) là 2 enzym trao đổi amin (transaminase) có
nhiều ở các tổ chức của cơ thể. Trong các enzym trao đổi amin, GOT và GPT
có hoạt độ cao hơn cả và có ứng dụng nhiều trong lâm sàng. GOT có nhiều ở tế
bào cơ tim, GPT có nhiều ở tế bào nhu mô gan. GOT và GPT xúc tác cho các
phản ứng trao đổi amin sau:
Aspartat + α-cetoglutarat

Glutamat + Oxaloacetat

Alanin + α-cetoglutarat


Glutamat + Pyruvat

Xác định hoạt độ enzym GOT, GPT cho phép đánh giá mức độ tổn
thương (hủy hoại) tế bào nhu mô gan.
Bình thường trị số trung bình của hai enzym đó trong huyết thanh đo ở
37°C là: GOT ở nam 10 – 50 U/L, ở nữ 10 – 35 U/L
GPT ở nam 10 – 50 U/l, ở nữ 10 – 35 U/L.
- Viêm gan virus cấp:
+ GOT, GPT đều tăng rất cao so với bình thường (có thể > 1000 U/l),
nhưng mức độ tăng của GPT cao hơn so với GOT, tăng sớm trước khi có
vàng da, ở tuần đầu vàng da (tăng kéo dài hơn trong viêm gan mạn tiến triển).

6


+ Hoạt độ GOT, GPT tăng hơn 10 lần, điều đó cho biết tế bào nhu mô
gan bị hủy hoại mạnh. GOT tăng > 10 lần bình thường cho biết tế bào nhu mô
gan bị tổn thương cấp tính. Nếu tăng ít hơn thì có thể xảy ra với các dạng
chấn thương gan khác.
GOT, GPT tăng cao nhất ở 2 tuần đầu rồi gảm dần sau 7-8 tuần.
- Viêm gan do nhiễm độc: GOP, GPT đều tăng nhưng chủ yếu tăng
GPT, có thể tăng gấp 100 lần so với bình thường. Đặc biệt tăng rất cao trong
nhiễm độc rượu cấp có mê sảng, nhiễm độc tetrachlorua carbon (CCl4),
morphin hoặc nhiễm độc chất độc hóa chất...
Tỷ lệ GOT/GPT >1, GOT tăng khoảng 7-8 lần so với bình thường,
thường gặp ở người bị bệnh gan và viêm gan do rượu.
- Viêm gan mạn, xơ gan do rượu và các nguyên nhân khác: GOT tăng
từ 2-5 lần, GPT tăng ít hơn, mức độ tăng GOT nhiều hơn so với GPT.
- Tắc mật cấp do sỏi gây tổn thương gan, GOT, GPT có thể tăng tới 10
lần, nếu có sỏi không gây tổn thương gan thì GOT, GPT không tăng.

- Vàng da tắc mật thì GOT, GPT tăng nhẹ, mức độ tăng không đáng kể
kết hợp với alkaline phosphatase tăng hơn 3 lần so với bình thường. GOT,
GPT tăng chậm đều đến rất cao (có thể hơn 2000 U/l), sau đó giảm đột ngột
trong vòng 12 – 72 giờ thì được coi là một tắc nghẽn đường dẫn mật cấp tính.
+ GOT còn tăng trong nhồi máu cơ tim cấp và trong các bệnh về cơ,
nhưng GPT bình thường.
+ GPT đặc hiệu hơn trong các bệnh về gan.
+ GOT tăng rất cao, có thể tới 1000 U/l, sau giảm dần đến 50% trong
vòng 3 ngày, giảm xuống dưới 1000 U/l trong vòng 1 tuần gợi ý sốc gan với
hoại tử tế bào nhu mô gan. Ví dụ: xơ gan, loạn nhịp, nhiễm khuẩn huyết.
- Ngoài ra GOT, GPT tăng nhẹ trong một số trường hợp có điều trị như
dùng thuốc tránh thai, thuốc chống đông máu.

7


Trong lâm sàng người ta sử dụng chỉ số De Ritis (GOT/GPT) để xem
xét sự thay đổi của GOT, GPT và chẩn đoán, tiên lượng các bệnh gan
[19],[22],[35],[38].
1.2.1.2. Xét nghiệm γGT/ GGT ( Gamma glutamyl transferase)
GGT là enzym màng tế bào, có nhiều ở thận, tụy, gan, lách, ruột non.
Hoạt độ của GGT ở tế bào ống thận lớn gấp 12 lần ở tụy, 25 lần ở gan và có ở
huyết tương.
-Vai trò:
+ GGT có giá trị đánh giá tình trạng ứ mật ở gan vì nó rất nhạy cảm với
tình trạng ứ mật.
+ Vận chuyển aminoacid qua màng tế bào.
Hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chứng minh GGT cùng với GOT, GPT
còn có tác dụng chẩn đoán sớm, theo dõi và điều trị bệnh gan-mật, đánh giá
mức độ tổn thương tế bào nhu mô gan.

GGT tăng cao trong bệnh gan-mật, mức độ tăng cao hơn so với GOT,
GPT. Trong viêm gan mạn tiến triển, GGT tăng cao, GOT và GPT cũng tăng
nhưng mức độ tăng của GGT cao hơn.
Trong viêm gan, xơ gan do nhiễm độc rượu, GGT cùng với alkaline
phosphatase tăng rất cao và là chỉ số xét nghiệm cho biết tình trạng tổn
thương tế bào nhu mô gan, tình trạng nhiễm độc do rượu [19],[22],[35].
1.2.1.3. Bilirubin toàn phần (TP), bilirubin trực tiếp huyết thanh
Bilirubin là sản phẩm thoái hóa của hemoglobin ở lưới nội mạc võng
mô như gan, lách, tủy xương.
Bilirubin toàn phần (TP) huyết thanh bao gồm bilirubin trực tiếp (TT)
và gián tiếp (GT).
Bình thường: Bilirubin TP < 17 µmol/l
Bilirubin TT < 5 µmol/l
Bilirubin GT < 12 µmol/l
8


Bilirubin gián tiếp độc, không tan trong nước, nó liên kết với albumin
hoặc α1-globulin là dạng vận chuyển của bilirubin trong máu. Bilirubin trực
tiếp còn gọi là bilirubin liên hợp (chức năng liên hợp với acid glucuronic của
gan), nó cho phản ứng Diazo nhanh, tan trong nước và qua được màng lọc cầu
thận. Bilirubin tăng cao trong máu sẽ xâm nhập vào tổ chức gây nên vàng da.
- Bệnh lý: Xét nghiệm bilirubin TP, bilirubin TT có ý nghĩa chẩn đoán
phân biệt một số bệnh vàng da. Bilirubin TP tăng hơn 2 lần so với bình
thường gây nên vàng da trên lâm sàng.
+ Vàng da do tắc mật:
Bilirubin TT tăng rất cao trong máu, bilirubin TP cũng tăng, có
bilirubin niệu.
+ Vàng da do tan máu (hủy huyết):
Bilirubin TP huyết tương hiếm khi tăng hơn 5 lần so với bình thường,

trừ khi có kết hợp với bệnh lý của gan.
Bilirubin GT tăng rất cao trong máu, bilirubin TP tăng có khi tới 30-40
lần, thậm chí có thể tới 80 lần so với bình thường. Bilirubin niệu âm tính.
- Vàng da do tổn thương gan:
+ Trong viêm gan virus cấp (viêm gan truyền nhiễm điển hình)
bilirubin tăng sớm và xuất hiện ở nước tiểu trước khi có vàng da; có
urobilinogen niệu.
+ Do gan tổn thương nên giảm chuyển hóa bilirubin thành bilirubin liên
hợp nên bilirubin TP tăng cao trong máu nhưng bilirubin TT giảm.
+ Trong suy gan, xơ gan nặng bilirubin LH giảm do chức năng gan
giảm, làm giảm quá trình liên hợp bilirubin với acid glucuronic tạo bilirubin
liên hợp ở gan.
+ Trong ung thư gan bilirubin TP huyết thanh tăng rất cao có thể từ 1020 lần so với bình thường.

9


Trong lâm sàng có thể sử dụng tỷ lệ bilirubin TT/ bilirubin TP để chẩn
đoán phân biệt:
< 20% gặp trong tình trạng huyết tán.
20 – 40% bệnh bên trong tế bào gan hơn là tắc nghẽn đường mật
ngoài gan.
40 – 60% xảy ra ở cả trong và ngoài tế bào gan.
> 50% tắc nghẽn ở bên ngoài gan hơn là bệnh ở trong tế bào gan
[19],[22],[35],.
1.2.1.4. Định lượng protein toàn phần, albumin huyết thanh
Xét nghiệm định lượng protein toàn phần, albumin huyết tương có ý
nghĩa để đánh giá chức năng tổng hợp của gan.
Bình thường: protein huyết tương = 65-80 g/l, trong đó albumin = 3550 g/l, globulin = 25-30 g/l. Người ta có thể dùng phương pháp điện di để
phân tích và định lượng các thành phần của protein huyết tương. Albumin

giảm dẫn đến tỷ lệ A/G cũng giảm.
Trong suy gan nặng, xơ gan làm giảm tổng hợp albumin, từ đó làm
giảm protein huyết tương, giảm áp lực thẩm thấu ảnh hưởng đến trao đổi
nước, muối giữa huyết tương và dịch gian bào.
Trong viêm gan cấp do virus, albumin giảm, α globulin tăng lúc khởi
phát rồi giảm dần, sau 3-4 tuần thì trở lại bình thường.
Trong vàng da do tắc mật, α globulin bắt đầu tăng dần theo tỷ lệ thuận
với thương tổn thứ phát (viêm ống mật) [19],[22],[35],[38].
1.2.1.5. Định lượng Glucose máu
Gan có chức năng điều hòa nồng độ đường máu nhờ khả năng tổng hợp
glucose thành glycogen dự trữ trong gan và phân ly glycogen thành glucose
để đưa vào máu khi cơ thể cần. Vì vậy, xét nghiệm glucose máu có ý nghĩa
thăm dò chức năng chuyển hóa glucid của gan.
Bình thường nồng độ glucose máu là 3,9 – 6,4 mmol/l.
10


Hạ đường huyết hay gặp trong các tổn thương gan cấp và nặng
[15],[30].
1.2.1.6. Định lượng ure máu
Gan có khả năng khử độc, tạo ure từ NH3 để đào thải qua nước tiểu.
Khả năng bù trừ của gan rất lớn nên khi cắt 3/4 gan thì 1/4 còn lại vẫn đảm
bảo khả năng tổng hợp ure bình thường.
Bình thường nồng độ ure máu là 3,3 – 8,3 mmol/l, lượng ure đào thải
mỗi ngày là 431 mmol ở nam, 365 mmol ở nữ.
Ở giai đoạn cuối của bệnh có tổn thương tế bào gan như xơ gan, viêm
gan, teo gan vàng da cấp tính, nhiễm độc... gan không tổng hợp được ure thì
nồng độ ure máu và cả ure niệu đào thải đều giảm [19],[22],[35].
1.2.1.7. Amoniac máu
Cũng như ure, amoniac (NH3) là một trong những sản phẩm cuối cùng

quan trọng của sự thoái hóa protein. NH3 sinh ra từ các chuyển hóa, cùng với CO2,
ATP tổng hợp nên ure ở gan, ure theo máu qua thận và đào thải qua nước tiểu.
Bình thường nồng độ NH3 máu = 12 – 60 µg/dl.
NH3 máu tăng cao gặp trong một số bệnh gan như: suy gan, xơ gan
nặng và hôn mê gan.
Xét nghiệm NH3 máu động mạch chính xác hơn máu tĩnh mạch, vì nó
phản ánh đúng nồng độ NH3 trong máu đưa tới các tổ chức, mô gây nhiễm
độc, đặc biệt gây nhiễm độc hệ thống thần kinh (não) [19],[35].
1.2.2. Các xét nghiệm huyết học
1.2.2.1. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi
Số lượng hồng cầu và huyết sắc tố phản ánh tình trạng có thiếu máu
hay không ở các bệnh nhân xơ gan. Giảm số lượng hồng cầu, huyết sắc tố
thường thấy nếu bệnh nhân bị xơ gan do rượu, thiếu acid folic, trong máu,
cường lách hoặc chảy máu tiêu hóa đột ngột cấp tính hay âm ỉ.

11


Số lượng bạch cầu tăng hay giảm phản ánh tình trạng nhiễm trùng hoặc
giảm sản sinh hay tăng tiêu thụ bạch cầu. Trong xơ gan bạch cầu có thể thấp
do cường lách hoặc tăng cao do có nhiễm khuẩn gian phát.
Tiểu cầu là một trong những yếu tố rất quan trọng tham gia vào quá
trình đông cầm máu. Tiểu cầu thường giảm do rượu, suy tủy, nhiễm khuẩn,
thiếu acid folic, giảm thrombopoietin của gan hay cường lách (sung huyết
lách). Tuy nhiên tiểu cầu giảm ít khi đến dưới 50.000ml [19],[33].
1.2.2.2. Thời gian Quick và tỷ lệ prothrombin
Thời gian Quick phản ánh phức hệ prothrombin, proconvertin,
proacclerin và suart đều do gan tổng hợp.
Ở người bình thường, tỷ lệ prothrombin thay đổi trong phạm vi 80 –
100%, mức thấp nhất có thể gặp là 70%.

Thời gian Quick kéo dài, tỷ lệ prothrombin giảm khi có giảm một trong
rất nhiều yếu tố trên đó hoặc khi giảm fibrinogen nghiêm trọng, khi có xuất
hiện heparin... hay gặp trong các bệnh về gan như xơ gan, viêm gan, khi thiếu
vitamin K, còn gặp trong nhiều bệnh khác như bệnh thận, bệnh máu, ung thư
nhất là khi có di căn, các hội chứng tiêu fibrin [19],[22],[35].
1.3. Xơ gan
1.3.1. Định nghĩa xơ gan
Xơ gan là bệnh thường gặp tại Việt Nam. Về mặt mô học xơ gan là tiến
trình cuối của các bệnh gan mạn tính như bệnh gan do uống rượu sau, nhiều
đợt viêm gan tái nhiễm.
Nhiều loại tổn thương của gan đưa đến tình trạng xơ hóa gan. Xơ hóa là
do tiến trình phát triển quá độ của mô nền ngoại bao (matrix) như collagen,
glycoprotein, proteoglycan trong gan. Hiện tượng xơ hóa là hiện tượng vĩnh
viễn.
Về mặt mô học, bệnh được định nghĩa là tình trạng xơ hóa mô gan
nặng, tổn thương giải phẫu bệnh gồm viêm, thoái hóa hoại tử tế bào gan và có
12


hiện tượng tạo nên các nhân gan tái sinh bất thường. Tiến trình từ lúc gan bị
tổn thương đến khi hình thành xơ gan có thể là vài tuần đến nhiều năm như
viêm gan do virus C gây ra viêm gan mạn tính và sau 40 năm sau xơ gan mới
xuất hiện.
Bệnh xơ gan (cirrhosis) được công bố lần đầu tiên vào năm 1819 do
nhà lâm sàng học người Pháp R.T.Laennec mô tả khi mổ tử thi ở người lính
nghiện rượu. Năm 1826 Banti đã mô tả xơ gan bắt đầu từ lách to [4],[24],[37].
1.3.2. Dịch tễ học
Dịch tễ học xơ gan là khá phổ biến. Tỉ lệ thay đổi nhiều giữa các nước
trên thế giới. Ở các nước phương Tây như Pháp, Đức, Anh, Mỹ, v.v.. có thói
quen uống rượu nhiều và kéo dài như Whisky hoặc Cognac thường trên 1/4

lít/ngày hoặc 3/4 lít rượu vang/ngày và kéo dài 5-10 năm thì có 10-15% gây
xơ gan. Uống rượu kèm suy dinh dưỡng cũng làm tăng tỉ lệ xơ gan.
Mỗi năm tại Mỹ có 26.000 đến 35.000 trường hợp tử vong do viêm gan
mạn tính và xơ gan. Tỷ lệ tử vong do xơ gan ở Mỹ năm 1981 là 12,3/100.000
dân. Xơ gan là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 8 ở nam giới và thứ 9 ở
phụ nữ. Trong đó 65% trường hợp xơ gan là do rượu. Xơ gan là nguyên nhân
gây tử vong chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thư trong nhóm tuổi từ 45
đến 65 tuổi. Nhiều bệnh nhân xơ gan chết ở tuổi 50 hay 60.
Ở các nước nhiệt đới chậm phát triển như Đông Nam Á, Nam châu Phi
tỉ lệ viêm gan virus cao, nhất là viêm gan B, C và phối hợp D là nguyên nhân
chủ yếu đưa đến xơ gan: 15% dân chúng nhiễm virus B và 1/4 người viêm
gan mạn, trong số này có thể đưa đến xơ gan. Tỉ lệ viêm gan C ở các khu vực
này cũng rất cao: 5-12% dân chúng bị nhiễm và cũng có 5-10% đưa đến xơ
gan. Trong 100.000 người bị nhiễm virus B có khoảng 10.000 đưa đến viêm
gan mạn và có 4.000 người bị xơ gan.
Ngoài ra các yếu tố như rét kéo dài cũng góp phần vào việc gây xơ gan
cũng như sau viêm gan virus do thuốc hoặc tự miễn [23],[30],[33].
13


1.3.3. Nguyên nhân gây xơ gan
Có rất nhiều nguyên nhân gây xơ gan
- Xơ gan do viêm gan virus: Người ta biết đến 7 loại virus gây viêm
gan A. B. C. D. E. G. TT [28],[42],[43],[45],[49],[51],[52]. Nhưng có hai loại
virus được xác định là virus viêm gan B và C có tỷ lệ người nhiễm đưa đến xơ
gan cao nhất.
- Xơ gan do viêm gan mạn tính: viêm gan tự miễn.
- Xơ gan do rượu.
- Xơ gan do ứ mật kéo dài.
+ Ứ mật thứ phát trong bệnh sỏi mật, viêm chít đường mật, giun chui

ống mật....
+ Ứ mật nguyên phát: Hội chứng Hannot, hay còn gọi là xơ gan ứ mật
tiên phát.
- Xơ gan do ứ đọng máu tại gan kéo dài.
+ Trong suy tim, viêm màng ngoài tim dày dính (hội chứng Pick)
+ Viêm tắc tĩnh mạch trên gan (hội chứng Budd chiari).
+ Bệnh hồng cầu hình liềm chỉ gặp ở châu Phi.
- Xơ gan do nhiễm độc hóa chất và do thuốc:
+ Hóa chất: thuốc DDT, methotrexat, urethan, phospho, tetracloruacarbon, ...
+ Do thuốc: clopromazin, INH, Rifampycin, sulfamid, aspirin,...
- Xơ gan do rối loạn chuyển hóa
+ Bệnh do nhiễm sắc tố sắt (Hemochromatosis).
+ Bệnh do rối loạn chuyển hóa đồng, thoái hóa gan nhân đậu (bệnh
Wilson).
+ Bệnh do rối loạn chuyển hóa porphyrin.
- Xơ gan do rối loạn di truyền:
+ Bệnh thiếu hụt alpha 1 – antitrypsin.
14


+ Bệnh thiếu hụt bẩm sinh enzym 1 phosphat – aldolase.
+ Bệnh tích glycogen trong các tổ chức.
- Xơ gan lách to kiểu Banti, được Banti mô tả năm 1891 cho rằng lách
to dẫn đến xơ gan, vấn đề này chưa được chứng minh rõ. Ở Việt Nam có
nhiều trường hợp lách to do sốt rét hoặc lách to không rõ nguyên nhân sau
nhiều năm xuất hiện xơ gan.
- Xơ gan do suy dinh dưỡng.
- Xơ gan do ký sinh vật: sán máng (Schistosomia mansonia), sán lá gan [2].
1.3.4. Triệu chứng lâm sàng
Bệnh cảnh lâm sàng của xơ gan rất đa dạng, phụ thuộc vào bệnh căn

gây xơ gan, các giai đoạn xơ gan, giai đoạn tiềm tàng hay giai đoạn tiến triển.
Diễn biến của bệnh còn phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, vào bệnh lý
khác phối hợp tạo nên tính chất phức tạp trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh.
Về lâm sàng có thể phân biệt thành hai thể:
- Xơ gan tiềm tàng (giai đoạn còn bù hay gọi là giai đoạn sớm) ở giai
đoạn này gan có khả năng bù trừ và sinh sản lớn (trong thực nghiệm người ta
cắt gan chó chỉ để lại 25% gan sau 8 tuần gan phát triển bù lại hoàn toàn).
- Xơ gan mất bù (giai đoạn muộn) [2],[4],[33].
1.3.4.1. Xơ gan tiềm tàng
Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, người bệnh vẫn làm việc bình
thường, chỉ có một số triệu chứng gợi ý:
- Người mệt mỏi chán ăn, khó tiêu.
- Rối loạn tiêu hóa, trướng hơi ở bụng, phân lúc lỏng, lúc táo bón
nhưng lỏng là chủ yếu.
- Đau nhẹ vùng hạ sườn phải.
- Có các sao mạch ở da mặt cổ, ngực, bàn tay son.
- Có thể có gan to mật độ chắc, mặt nhẵn.
- Có thể có lách to.
15


×