Tải bản đầy đủ (.doc) (71 trang)

Tich hop mon van 6 chu de van hoc tieng noi cua cuoc song

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (14.69 MB, 71 trang )

Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

SỞ GIÁO DUC VÀ ĐÀO TẠO THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ THCS PHÚ LƯƠNG
--------

BÀI DỰ THI
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
DÀNH CHO GIÁO VIÊN THCS
MÔN: NGỮ VĂN LỚP 6
TIẾT 1-VĂN BẢN:

1. CON RỒNG CHÁU TIÊN
2. BÁNH CHƯNG BÁNH GIẦY
( CÁC MÔN TÍCH HỢP: NGỮ VĂN LỚP 6; LỊCH SỬ LỚP 6 ;
GDCD LỚP 9; MĨ THUẬT LỚP 6- LỚP 9; TÍCH HỢP TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH; GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG, TÍCH
HỢP DẠY HỌC QUA DI SẢN)

Họ và tên giáo viên: Trần Thị Xuân Lý
Trường PTDT Nội trú THCS Phú Lương
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

1



Dạy học theo chủ đề tích hợp

Mơn Ngữ văn lớp 6

PHỤ LỤC II

PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN DỰ THI
- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Ngun
- Trường PTDT Nội trú THCS Phú Lương
- Đòa chỉ: Tiểu khu Lê Hồng Phong - Thị trấn Đu - Huyện Phú Lương
- Tỉnh Thái Ngun
- Điện thoại:02803874101
- Email:
- Họ và tên giáo viên: Trần Thị Xn Lý- Sinh ngày
1/5/1983
- Điện thoại: 0946352285.
- Email:

Giáo viên: Trần Thị Xn Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

2


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

PHỤ LỤC 3


PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN
1.TÊN HỒ SƠ DẠY HỌC:
DỰ ÁN: TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG MÔN NGỮ VĂN LỚP 6

CHỦ ĐỀ: VĂN HỌC - TIẾNG NÓI CỦA CUỘC SỐNG
Dạy học tích hợp các môn học Ngữ văn: Địa lí; Lịch sử; GDCD; Mĩ thật; Âm
nhạc; tích hợp giáo dục kĩ năng sống và giáo dục học tập qua di sản.

Tiết 1- Văn bản : 1. CON RỒNG CHÁU TIÊN

2. BÁNH CHUNG BÁNH GIẦY
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Kiến thức, kĩ năng, thái độ của các môn học sẽ đạt được trong dự án này là:
Ngữ văn 6 phân môn Tiếng Việt; Tập làm văn; môn Lịch sử; Âm nhạc; Giáo dục
công dân; Mĩ thuật; kiến thức về các di sản văn hóa Việt Nam…
- Kĩ năng: Vận dụng những kiến thức liên môn: Lịch sử; Ngữ văn; Âm nhạc;
Giáo dục công dân; Mĩ thuật; Kĩ năng sử dụng, đánh giá vai trò của các di sản văn
hóa và di sản tự nhiên của Việt Nam…
1. Kiến thức bài học
- Khái niệm thể loại truyền thuyết.
- Nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong tác phẩm thuộc thể loại truyền thuyết giai
đoạn đầu
- Hiểu được niềm tự hào, quan niệm của người Việt cổ về nòi giống dân tộc
qua truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên".
- Hiểu được phong tục tâp quán thờ cúng tổ tiên, làm bánh chưng bánh giầy
ngày tết của dân tộc Việt Nam qua truyền thuyết "Bánh chưng bánh giầy"
- Cách giải thích của người Việt cổ về một phong tục và quan niệm đề cao lao
động, đề cao nghề nông – một nét đẹp văn hoá của người Việt,
- Bóng dáng lịch sử thời kỳ dựng nước của dân tộc ta trong một tác phẩm văn

học dân gian thời kỳ dựng nước.
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

3


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

- Hiểu được những nét chính về nghệ thuật của truyện.
2. Kỹ năng bài học:
- Đọc diễn cảm văn bản truyền thuyết
- Nhận ra những sự việc chính của truyện.
- Nhận ra một số chi tiết tưởng tượng kỳ ảo tiêu biểu trong truyện.
* CÁC KĨ NĂNG SỐNG CƠ BẢN ĐƯỢC GIÁO DỤC
- KN giao tiếp
- KN tư duy
- KN tự nhận thức
- KN trình bày, phản ánh thái độ tư tưởng
3.Thái độ :
- Bồi dưỡng học sinh lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, tinh thần đoàn
kết, nhớ ơn và thành kính với tổ tiên
- Giáo dục học sinh lòng tự hào về trí tuệ, văn hóa của dân tộc ta.
- Nhớ về Bác Hồ người luôn đề cao truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc anh
em và niềm tự hào về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên.
4. Định hướng phát triển năng lực:
. Năng lực chung: Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực tự học, Năng lực giao

tiếp, Năng lực ngôn ngữ, Năng lực tự quản lí...
. Năng lực đặc thù: Năng lực tiếp nhận văn bản

* TÍCH HỢP LIÊN MÔN
- Ngữ văn lớp 6:
*Tiết 11- 12 : Sự việc và nhân vật trong văn tự sự
1. Kiến thức:
- Học sinh nắm được thế nào là sự việc, nhân vật trong văn tự sự. Đặc điểm
cách thể hiện các sự việc trong văn tự sự.
2. Kĩ năng:
- Nhận diện nhân vật trong cấc văn bản, xâu chuỗi các sự việc, chi tiết trong
truyện.
- Xác định các sự việc chính trong văn bản.
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

4


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

3. Thái độ:
- Có ý thức tìm hiểu về đặc điểm văn tự sự.
*Tiết 52 : Kể chuyện tưởng tượng.
1. Kiến thức:
- Học sinh bước đầu nắm được nội dung yêu cầu của kể chuyện sáng tạo ở
mức độ đơn giản.

- Tích hợp với các văn bản đã học đặc biệt văn bản "Bánh chưng bánh giầy"
trong truyện: " Giấc mơ trò chuuyện với Lang Liêu"
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng nói vầ kể chuyện, phân biệt được kể chuyện đời thường và kêr
chuyện sấng tạo.
3. Thái độ:
- Yêu thích môn học, tích cực tái hiện kiến thức của các văn bản có liên quan.
- Giáo dục công dân lớp9:
Tiết 7-8- Bài 7: Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.Kiến thức:
-Học sinh hiểu được thế nào là kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của
dân tộcvà vì sao phải kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Xác định được những thái độ hành vi cần thiết để kế thừa và phát huy truyền
thống tốt đẹp của dân tộc.
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng trình bày những suy nghĩ của bản thân về các truyền thống tốt
đẹp của dân tộc.
- Xác định được giá trị của các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong sự phát
triển dất nước.
3. Thái độ:
- Tôn trọng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Lịch sử lớp 6:
Chương 1: Buổi đầu lịch sử nước ta- Bài 1: Thời nguyên thủy trên đất
nước ta.
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

5



Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

1. Kiến thức:
- Học sinh hiểu được nước ta có quá trình lịch sử lâu dài, là một trong những
quê hương của loài người.
- Điều kiện tự nhiên nước ta thuận lợi cho đời sống người nguyên thủy.
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng quan sát tranh ảnh rút ra nhận xét và so sánh.
3. Thái độ:
- Trân trọng những thành tựu của cha ông ta đã đạt được trong quá trình cải
tạo tự nhiên phát triển sản xuất xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
- Có ý thức tự hào về lịch sử phát triển của đất nước.
- Mĩ Thuật lớp 6:
* Tiết 2: Sơ lược Mĩ thuật Việt Nam thời kì cổ đại.
1. Kiến thức:
- Học sinh được củng cố thêm kiến thức về lịch sử Việt nam thời kì cổ đại
2. Kĩ năng:
- Học sinh hiểu thêm giá trị thẩm mĩ của Người Việt cổ thông qua các sản
phẩm mĩ thuật.
3. Thái độ: Học sinh trân trọng nghệ thuật đặc sắc của cha ông ta để lại.
* Tiết 23-24: Vẽ tranh đề tài ngày tết và mùa xuân.
1. Kiến thức:
- Học sinh hiểu về cách vẽ tranh về đề tài ngày Tết và mùa xuân.
- Học sinh vẽ được bức tranh đề tài quê hương.
2. Kĩ năng:
- Biết vẽ tranh về đề tài ngày tết và mùa xuân. Biết sử dụng màu sắc phù hợp
với đề tài ngày Tết - mùa xuân.

- Biết lựa chọn hình ảnh phù hợp ý tưởng, chủ đề bài vẽ.
- Dùng màu sắc hài hòa, làm nổi bật chủ đề.
3. Thái độ:
- Thể hiện tình yêu quê hương đất nước thông qua bài vẽ.
- Biết yêu quý, trân trọng thời gian trong gia đình.
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

6


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

- Tích hợp Giáo dục kĩ năng sống:
- Kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng trình bày suy nghĩ ý tưởng, kĩ năng hợp
tác, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng đảm nhận trách nhiệm, kĩ năng tìm kiếm và sử lí
thông tin.
- Tích hợp giáo dục học tập qua di sản:
- Bằng việc chuẩn bị bài học trước khi tiến hành nghiên cứu chủ đề bài tích
hợp, học sinh có cơ hội nghiên cứu tìm hiểu về giá trị vai trò của các di sản ở Việt
Nam từ đó hình thành thái độ ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hóa tinh thần trong di sản đó.

3. ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC CỦA BÀI HỌC:
- Đối tượng dạy học của dự án là học sinh.
+ Số lượng: 36 em.
+ Số lớp thực hiện: 1lớp

+ Khối lớp: 6. ( 6A)
- Một đặc điểm cần thiết khác của học sinh đã học theo dự án.
+ Dự án mà tôi thực hiện là tiết học đầu tiên của chương trình Ngữ văn lớp 6,
Đối tượng các em học sinh khối 6 đã trải qua năm năm học tập tìm hểu môn ngữ văn
ở bậc tiểu học, nên việc tiếp cận với kiến thức văn học không còn bỡ ngỡ, lạ lẫm
trước những đổi mới về phương pháp, đổi mới về kiểm tra đánh giá mà các thầy cô
giáo sẽ áp dụng trong quá trình giảng dạy.

4. Ý NGHĨA CỦA BÀI HỌC:
- Gắn kết kiến thức, kĩ năng, thái độ các môn học với nhau, với thực tiễn đời
sống xã hội, làm cho học sinh yêu thích môn học hơn, yêu quê hương đất nước và
con người Việt Nam, thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong việc kế thừa và phát
huy giá trị truyền thống của dân tộc, học tập cống hiến xây dựng đất nước trong thời
kì mới.
- Giúp học sinh buổi đầu tìm hiểu về thể loại truyền thuyết trong kho tàng
truyện dân gian Việt Nam, nắm vững khái niệm Truyền Thuyết và các đặc trưng
nghệ thuật của thể loại này. Hiểu đúng các thông tin mà giáo viên truyền tải.

Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

7


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

- Đối với giáo viên để dạy được một bài tích hợp kiến thức liên môn trong bài

đầu tiên về Truyền thuyết Việt Nam đòi hỏi mỗi giáo viên phải nỗ lực phấn đấu và
quan tâm nhiều hơn đến các kiến thức môn học khác từ đó dần hoàn thiện bản thân,
tạo niềm tin cho người học, góp phần vào thành công cho sự nghiệp giáo dục.
- Qua thực tế quá trình dạy học tôi thấy rằng việc kết hợp kiến thức liên
môn vào giải quyết một vấn đề nào đó trong một môn học là việc làm hết sức
cần thiết. Điều đó đòi hỏi người giáo viên bộ môn không chỉ nắm chắc nội dung
chương trình môn mình dạy mà còn phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi kiến
thức các môn học khác để tổ chức, hướng dẫn các em giải quyết các tình huống,
các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
- Học sinh được sử dụng kiến thức các môn học liên quan, tình yêu quê hương
đất nước, niềm đam mê mĩ thuật, âm nhạc để giải quyết các tình huống có vấn đề
trong bài học. Tự tin truyền đạt các nội dung kiến thức khoa học xã hội trước tập thể
từ đó phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp cho các em.

5. THIẾT BỊ BÀI HỌC, HỌC LIỆU:
- Thiết bị: Máy chiếu, loa, laptop, tài liệu liên quan đến bài dạy (Sách giáo
khoa, sách giáo viên các môn: Lịch sử 6: Ngữ văn Lớp 6; GDCD lớp 6 và lớp 7; Mĩ
thuật lớp 6 và lớp 9…
- Ứng dụng công nghệ thông tin: Video các đoạn phim liên quan bài học,
Phim tư liệu, bản ghi âm, phần mềm cắt chỉnh sửa phim ảnh studio pro, phần mềm
đổi đuôi total video conveter.
- Dạy học tích hợp – Giáo sư Tiến sĩ Trần Bá Hoành.
- Huớng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Địa lí THCS – Bộ giáo
dục và đào tạo.
- Bài giảng thư viện điện tử violet; bài giảng của giáo viên các đồng nghiệp.
- Tư liệu trên mạng Internet...

Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương


8


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

6. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
Mô tả cụ thể qua giáo án( phần sau) và bài giảng Powerpoint
- Do thời gian hạn chế sau đây tôi chỉ giới thiệu sản phẩm đã thiết kế đó là mô tả
hoạt động dạy và học qua bài giảng: Ngữ văn - Tiết 1: Văn bản :
1. CON RỒNG CHÁU TIÊN
2. BÁNH CHUNG BÁNH GIẦY
- Ðể dạy học theo chủ đề tích hợp các môn học, đối với chủ đề văn học, cụ thể
là đối với môn: Ngữ văn - Tiết 1: Văn bản : "Con rồng cháu tiên" và "Bánh

chưng bánh giầy" Tôi cần thêm một số nội dung của một số bài trong các môn:
Lịch sử 6; Mĩ Thuật lớp 6; Ngữ văn lớp 6; GDCD lớp 7; Các kiến thức về giáo dục
môi trường, Giáo dục kĩ năng sống;Giáo dục qua di sản....
- Ðể nắm được nội dung bài học theo yêu cầu đó học sinh cần nắm được các
kiến thức liên môn đã nói trong phần tích hợp liên môn ở trên.

7. KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP:
A. KẾT QUẢ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ HƯỚNG TỚI
* Nội dung:
1.Về kiến thức:
Ðánh giá ở 3 cấp độ :
- Nhận biết: Sau bài học, học sinh Nắm được:
+ khái niệm thể loại truyện truyền thuyết.

+ Nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong tác phẩm thuộc thể loại truyền thuyết
giai đoạn đầu
- Thông hiểu:
+ Hiểu được niềm tự hào, quan niệm của người Việt cổ về nòi giống dân tộc
qua truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên"
+Hiểu được phong tục tâp quán thờ cúng tổ tiên, làm bánh chưng bánh giầy
ngày tết của dân tộc Việt Nam qua truyền thuyết "Bánh chưng bánh giầy"
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

9


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

+ Cách giải thích của người Việt cổ về một phong tục và quan niệm đề cao lao
động, đề cao nghề nông – một nét đẹp văn hoá của người Việt,
+ Bóng dáng lịch sử thời kỳ dựng nước của dân tộc ta trong một tác phẩm văn
học dân gian thời kỳ dựng nước.
- Hiểu được những nét chính về nghệ thuật của truyện.
- Vận dụng: (Cấp độ thấp, cấp độ cao) Vận dụng kiến thức nội dung bài học
vào việc thực hành học tập một số bài liên quan thuộc lĩnh vực môn lịch sử, ngữ văn,
Mĩ thuật, Âm nhạc…
2. Về kĩ năng:
Ðánh giá khả năng:
- Đọc diễn cảm văn bản truyền thuyết
- Nhận ra những sự việc chính của truyện.

- Nhận ra một số chi tiết tưởng tượng kỳ ảo tiêu biểu trong truyện.
3. Về thái độ:
Ðánh giá thái độ học sinh :
- Ý thức, tinh thần tham gia học tập.
- Tình cảm của học sinh đối với môn học và các môn học khác có liên quan.
- Có ý thức, tinh thần tự hào dân tộc, thấy rõ vai trò trách nhiệm của mình đối
với việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa phong tục tập quán, truyền thống của quê
hương đất nước. Yêu mến hơn đất nước và con người Việt Nam, hứng thú với môn
Ngữ văn. Tiếp thu tích cực các kiến thức liên môn đã sử dụng để giải quyết các vấn
đề trong bài học.
* Cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. ( Phần sản phẩm của học sinh
trước khi tiến hành dự án).
- GV đánh giá kết quả, sản phẩm của học sinh. ( Đánh giá nội dung, hình thức
sản phẩm; ý thức tham gia của các thành viên trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị
cho dự án)
- HS tự đánh giá kết quả, sản phẩm lẫn nhau( các nhóm, tổ).
- Phiếu nhận xét và đánh giá kết quả, sản phẩm của HS.

B. CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG BÀI HỌC
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

10


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6


* KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH.
Ngoài việc kiểm tra đánh giá sản phẩm, quá trình tham gia chuẩn bị cho dự án
của học sinh trước khi tiến hành nghiên cứu dự án trên lớp giáo viên cần xác định rõ
các năng lực cần phát triển cho học sinh để nghiên cứu, tìm nguồn tài liệu tham khảo
, biên soạn hệ thống câu hỏi phù hợp để phát triển năng lực cho học sinh, phát huy
tính tự giác, hăng hái tham gia vào hoạt động dạy và học, phát huy vốn kiến thức
liên môn của học sinh trong việc giải quyết một số tình huống thực tế.
Ngoài các câu hỏi hướng tới hình thành các năng lực chung như: Năng lực
giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lí, năng lực hợp tác... giáo
viên cần chú ý đến hệ thống các câu hỏi hình thành các năng lực chuyên biệt của
môn Ngữ văn như: Năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản. Ví dụ:
Câu 1: Quan sát một số hình ảnh :

- Câu hỏi phát triển
năng lực tiếp nhận
văn bản.
Năng lực tiếp nhận văn
bản

bao

gồm



năng nghe và đọc.

Về


tiếp nhận văn bản, đây
là năng lực lĩnh hội các

50 người con theo cha xuống biển- 50 người con theo mẹ

thông tin và từ nền

lên non

móng đó để thấy được
cái hay, cái đẹp của văn
bản.
Muốn thế không có con
đường nào khác là phải
biết cách tiếp nhận.
Dựa vào các yếu tố từ
ngữ, câu đoạn, hình
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

11


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

ảnh… mới có được cách
hiểu đúng và cảm thụ

thấu đáo.

Lang Liêu dâng bánh trong lễ thờ cúng các Tiên Vương
?Cho biết: Những bức ảnh trên gợi nhắc em nhớ đến
những câu truyện nào đã được nghe kể.
Câu 2: Quan sát hình ảnh:

Hai câu thơ:
"Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh"
Đã gợi nhắc cho các em nhớ đến không khí của những
ngày đặc biệt nào trong năm?

Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

12


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

- Câu hỏi phát triển năng lực tạo lập văn bản.
Năng lực tạo lập văn bản là khả năng biết nói, biết viết, biết tổ chức, xây dựng
một văn bản có ý nghĩa. Muốn có năng lực tạo lập phải biết cách tạo lập. Tức là nắm
được cách viết một loại văn bản nào đó.
Năng lực tạo lập thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là nói và viết. Kĩ
năng nói gắn liền với nghe như đã nêu ở trên. Ngoài việc phản hồi nhanh và chính

xác lại các thông tin nghe được; nói phải rõ ràng, rành mạch, lưu loát; từ nói đúng,
nói hay đến nói hùng biện… Vì vậy việc sử dụng câu hỏi phát triển năng lực nói và
viết là vô cùng cần thiết trong các giờ học văn.
Ví dụ câu hỏi: Em hãy viết một đoạn văn ngắn ( 8 đến 10 câu) giới thiệu về không
khí gói bánh chưng ngày tết trong gia đình em.
Hay: Em có cảm nhận như thế nào về nguồn gốc của mình sau khi học xong tác
phẩm " Con rồng cháu tiên"? Hãy ghi lại những cảm nhận đó bằng một đoạn văn từ
8-10 câu.
Ngoài hệ thống câu hỏi phát triển năng lực trên, khi triền khai bài học giáo
viên đưa ra nhiều dạng câu hỏi và học sinh vận dụng kiến thức môn ngữ văn và các
môn học khác trả lời.

- Câu hỏi trắc nghiệm khách
Ví dụ: Trong câu hỏi phần luyện tập sử
quan.
dụng câu hỏi trắc nghiệm:
Trong quá trình kiểm tra đánh giá,

- Lựa chọn ý em cho là đúng nhất:

giáo viên phải kết hợp rất nhiều hình Ý nghĩa của truyện: "Con rồng cháu tiên"
thức như: Vấn đáp; Trắc nghiệm a. Thể hiện niềm tự hào dân tộc.
khách quan,...trong đó kiến thức liên b. Sự đoàn kết giữa hữu nghị giữa các dân tộc
môn được áp dụng ở mức độ nhất định c. Giải thích nguồn gốc của dân tộc Việt Nam
để học sinh vận dụng trả lời.

và niềm tự hào về nguồn gốc dân tộc:"con
rồng cháu tiên". Thể hiện tinh thần đoàn kết
giữa các dân tộc.


Học sinh thực hành trình bày
kết quả hoạt động nhóm giới
thiệu về Đất nước con người
Việt Nam.
Đây là hình thức kiểm tra đánh
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Ví dụ: Đại diện các nhóm lên giới thiệu trình
bày kết quả nghiên cứu thảo luận nhóm theo
kết quả đã tìm hiểu nghiên cứu trước khi tiến
hành bài học trên lớp:
Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

13


Dạy học theo chủ đề tích hợp

giá tương đối toàn diện góp phần
giáo dục các kĩ năng sống cho
học sinh như kĩ năng nói, đóng
kịch, giao tiếp... Học sinh được tự
trình bày kiến thức theo ý hiểu và
phong cách riêng của mình.

Môn Ngữ văn lớp 6

- Nhóm 1: "Nguồn gốc dân tộc Việt Nam"
qua các tác phẩm văn học.
- Nhóm 2: Sự tích "Bánh chưng bánh giầy" và

Phong tục tập quán, di sản văn hóa lịch sử
Việt Nam.
- Nhóm 3: Văn học - Tiếng nói của cuộc
sống! Tiếng nói đó được thể hiện như thế nào
trong truyện: " Con rồng cháu tiên" và "Sự
tích bánh chưng bánh giầy"?
Dù là những biểu hiện nhỏ trong việc vận

- Giáo viên động viên tinh thần
dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề
học sinh trong giờ học
bài học cũng rất cần sự động viên khích lệ

của giáo viên, vì vậy giáo viên cần có những
ngôn ngữ, cử chỉ khích lệ phù hợp để phát
huy vai trò của học sinh trong giờ học.
8. CÁC SẢN PHẨM CỦA HỌC SINH:
Hiểu được mục tiêu: Gắn kết kiến thức, kĩ năng, thái độ nhiều môn học để giải
quyết các tình huống thực tế trong bài học. Yêu cầu học sinh cần nắm rõ về thể loại
truyền thuyết, nội dung ý nghĩa của từng truyện cụ thể, gắn kết tác phẩm văn học với
thực tế sinh hoạt của nhân dân Việt Nam trên các lĩnh vực: Đời sống văn hóa tinh
thần, phong tục tập quán.....góp phần phát triển trí tuệ, hình thành tình yêu quê
hương đất nước, ý thức trách nhệm trong việc gìn giữ, bảo vệ giá trị văn hóa tinh
thần, thuần phong mĩ tục của dân tộc. Nêu lòng tự hào dân tộc, phát huy tính tự giác
sáng tạo của người học nên các sản phẩm của học sinh được hoàn thành đều dựa trên
tinh thần trách nhiệm tự giác, tìm tòi khám phá, vận dụng tối đa kiến thức liên môn
để giải quyết các vấn đề, yêu cầu định hướng hoạt động của giáo viên
Trong quá trình học sinh nghiên cứu thực hiện yêu cầu thảo luận nhóm chuẩn
bị trước khi nghiên cứu bài học, giáo viên luôn cần sát sao hướng dẫn, định hướng
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý


Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

14


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

hoạt động cho các em. Kịp thời giúp đỡ giải đáp thắc mắc và cùng các em tháo gỡ
khó khăn trong quá trình thực hiện góp phần giúp các em chủ động chuẩn bị chiếm
lĩnh kiến thức trước khi học trên lớp.
A. SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN NHÓM CỦA HỌC SINH
CHUẨN BỊ CHO DỰ ÁN.
Phiếu học tập số 1: * NHÓM I: (nhóm Lạc Việt)
Yêu cầu: "Nguồn gốc dân tộc Việt Nam" qua các tác phẩm văn học.
" Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân". Dân tộc Việt Nam đa số
thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và vô cùng tự hào về một nền
văn hiến rực rỡ lâu đời.
Việt Nam, một đất nước giàu bản sắc văn hóa dân tộc nhưng khi nói đến
nguồn gốc của mình mỗi công dân Việt Nam đều tự hào rằng:
- Người Việt Nam thuộc giống Lạc Việt, nhận Tiên Rồng là những hình ảnh
oai hùng cao đẹp cho nguồn gốc của mình. " Con cháu rồng tiên".

Trên thực tế, dân cư của bất cứ quốc gia nào đều được hợp thành bởi nhiều dân tộc
khác nhau, mỗi dân tộc đều có cách lí giải riêng về sự hình hành và nguồn gốc của
mình. Ở Việt Nam cũng vậy.
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý


Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

15


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Ngay từ thủa sơ khai, con người còn khiếp sợ trước thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ,
nhưng họ cũng đã nhận thức được mình là một bộ phận của thiên nhiên và hơn nữa còn
muốn khẳng định mình là bộ phận tinh tuý nhất của thiên nhiên. Nhưng câu hỏi:
- Con người có nguồn gốc từ đâu? Ai là người đã tạo ra loài người?
Đã in sâu ngay vào tiềm thức của họ. Trải qua thời gian, lao động và sáng tạo đời sống
tinh thần, văn hóa được phát triển hơn, những câu truyện kể về nguồn gốc hình thành con
người bắt đầu xuất hiện trong cộng đồng dân cư và phát triển trở thành nhóm truyện thần
thoại, truyền thuyết giải thích sự hình thành của con người như ngày nay.
Các dân tộc Việt Nam có rất nhiều thần thoại giải thích nguồn gốc của loài người,
giải thích nguồn gốc các dân tộc. Ở người Kinh (Việt) tiêu biểu nhất là câu chuyện về Lạc
Long Quân (giống Rồng) và Âu Cơ (giống Tiên) với bọc một trăm trứng nở ra một trăm
người con trai. Thần thoại này đã trở thành truyền thuyết bố Rồng mẹ Tiên phản ánh nội
dung về nguồn gốc sinh ra giống nòi và mang ý nghĩa phản ánh về việc phân chia địa vực.
chia nhau cai quản các phương.

Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

16



Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Con cháu Rồng Tiên chia nhau cai quản các phương
Những biểu tượng cổ xưa và thuần nhất của người Việt là con Rồng và chim
Lạc, truy nguồn về truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên", nguồn gốc của người Việt
từ thời nhà nước Văn Lang vào thế kỷ thứ 7 TCN. Hình ảnh của 2 con vật tổ này có
thể tìm thấy trên mặt những chiếc trống đồng của nền văn hóa cổ Đông Sơn (thuộc
miền Bắc và Bắc trung bộ Việt Nam hiện nay).

Trống đồng Đông Sơn (Khu vực Miền Bắc và Bắc Trung Bộ)
Cũng tương tự về cách giải thích nguồn gốc các dân tộc Việt Nam giống như
"Con rồng cháu tiên" dân tộc Khơ - mú có truyện: " Qủa bầu mẹ".
"Ngày xưa có hai anh em mồ côi, một trai - một gái khi bắt được con dúi. Dúi
xin tha mạng và đền ơn bằng cách chỉ cho hai người tránh khỏi nạn lụt. Thoát được
lũ, không còn ai, hai anh em mới chia nhau người cái nắp, người cái ống trầu làm tin
và chia nhau đi tìm vợ, tìm chồng. Tìm không được họ lại gặp nhau, lại chia nhau
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

17


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6


mỗi người một ngã nhưng vẫn không đạt được ý nguyện nên họ buồn lắm. Thấy vậy,
chim Tgoóc khuyên hai người lấy nhau. Ít lâu sau, người em có mang, đến 7 năm, 7
tháng, 7 ngày mới sinh ra được quả bầu. Khi người chồng dùi thủng quả bầu:
Người anh chui ra đầu tiên, vì dính phải bụi than( do đốt quả bầu ), nên rất
đen và là nguồn gốc người Khơ - mú.
Người em út chui ra sau cùng nên da dẻ trắng trẻo và là nguồn gốc của người
kinh.
Do thứ tự ra đời trước sau như vậy, nên địa bàn sinh sống của người Việt Nam cũng
khác nhau; từ miền núi cho đến miền đồng bằng. Người Khơ - mú ở trên núi cao có
nhiều rừng núi, sông suối thoả sức làm rẫy, làm nương. Người Kinh ( em út ) hết đất
phải đi xa xuống tận vùng đồng bằng đất đai màu mỡ, mở rộng nơi cư trú làm ăn,
sinh sống.
Gần gũi với đời sống và ít yếu tố huyền bí hơn đó là truyện: " Kinh và Ba- na là
anh em" của dân tộc Ban- na
Truyện kể rằng: Có hai anh em thấy người cha say rượu, trần truồng. Người em
nhìn cười và bị người cha đuổi đi. Vợ chồng người em dắt nhau lên tận miền rừng
núi sinh cơ lập nghiệp; đẻ con, đẻ cháu và là nguồn gốc người Ba- na. Người anh ở
lại miền đồng bằng lấy vợ sinh cơ lập nghiệp làm ăn ,sinh sống và là nguồn gốc của
người Kinh.
Thần thoại của người Mường thì có truyện "Trứng Điếng" kể chuyện đôi chim Tùng,
chim Tót (có nơi còn gọi là chim Ây cái Ứa hoặc chim Tráng, chim Trò v.v...) đẻ ra trứng
và từ trứng nở ra người. Hệ thần thoại này được kể trong sử thi Đẻ đất đẻ nước với cảnh
sinh ra các vị tổ tiên người Mường và các dân tộc láng giềng của họ như sau:
Thấy nở trứng Điếng
Nghe ồn ào tiếng Lào
Nghe lao nhao tiếng Kinh
Nghe ình ình tiếng Mọn (Mường)
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương


18


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Cảnh tượng này cũng giống như chuyện chim Ông Tôn của người Thái được kể trong
sử thi - thần thoại Ẳm ẹt luông v.v...
Người Tà Ôi kể trong truyện cổ của họ rằng: Dân tộc Tà Ôi được sinh ra từ một
quả bầu. “Ngày xưa khi trên trái đất chỉ có loài thú sống với nhau, con người chưa
xuất hiện thì bỗng xảy ra một tiếng nổ dữ dội. Sau tiếng nổ thì mặt đất bỗng dưng
thay đổi hẳn, các con thú vắng bóng. Chỉ may mắn còn sống sót mỗi hai con chó,
một đực, một cái.
Hai con chó sống chung với nhau. Bỗng một hôm trời hạn hán, nước sông suối
khô cạn, cây sim, cành móc đều chết cháy. Hai con chó tìm lên vùng cao để tìm thức
ăn và nước uống. Vượt qua nhiều núi đèo hiểm trở, cuối cùng hai con chó cũng tìm
được nguồn nước. Con chó cái lúc này đang bụng mang dạ chửa, nó cố lê mình đến
bên bờ suối. Lúc nó chui đầu xuống dòng nước, cũng là lúc nó chuyển dạ, đẻ ra một
quả bầu dài. Một nửa quả bầu nằm dưới nước, một nửa lại nằm vắt lên bờ.
Quả bầu cứ nằm như vậy suốt bao tháng liền. Nửa trên bờ của trái bầu bị nắng hạn
nung nóng nên ngày càng đen thẫm lại, còn nửa dưới được mát mẻ nên trắng bợt ra.
Mãi lúc khi mùa xuân đến, khi trời ấm áp dần lên thì quả bầu bỗng vỡ ra và con
người từ vòng quả bầu đó vươn dậy. Số người nằm nửa trên bờ của quả bầu có nước
da ngăm đen, còn số được bảo vệ nên có làn da trắng trẻo.
Số người có làn da trắng xuôi theo dòng sông, suối về đồng bằng sinh sống trở
thành người Kinh sau nầy. Những người có làn da ngăm đen lại đi ngược về ở phía
đầu nguồn tìm rừng phát rẫy trở thành người Tà Ôi bây giờ...”
Nhìn chung trong thần thoại của các dân tộc, con người đầu tiên xuất hiện, đều do một

đấng siêu nhiên sinh ra. Ở người Kinh (Việt) có câu chuyện kể Ông Trời sau khi tạo ra
muôn vật, đã dùng đất sét, thứ đất bùn nhão tinh tuý để nặn ra con người, nặn xong đem
phơi nắng cho khô, tượng đó hoá thành người có đủ mắt mũi, chân tay. Tương tự, ở người
H’mông, có truyện "Sáng tạo ra loài người", nói về nhân vật Chử Làu (tức Ông Trời) lấy
đất nặn thân hình con người đầu tiên, hà hơi vào miệng, cho hồn vào bụng, cho tiếng nói ở
cổ họng. Con người đàn ông đầu tiên có mắt mũi, có tiếng nói và đi lại trên mặt đất. Chử
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

19


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Làu lại nặn tiếp người đàn bà để cho họ lấy nhau, để sinh con đẻ cái đông đúc như ngày
nay.
Như vậy, thần thoại về nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dân tộc ở Việt Nam gặp
nhau và giống nhau ở điểm cơ bản (có cùng một gốc) và chỉ khác nhau ở cách kể chi tiết,
các tình tiết (cách quan niệm, suy đoán về nguyên nhân phân tán). Chủ đề lớn đó được thể
hiện qua hệ thống hình tượng có những mối quan hệ gần gũi, đồng thời lại có những nét
khác biệt: hoặc là quả bầu, hoặc là bọc trăm trứng, hoặc là bọc trăm con, hoặc là ông tổ
chung... Từ cái nền chung đó, thần thoại các dân tộc Việt Nam đã khắc hoạ được cốt lõi
đời sống cộng đồng các dân tộc Việt Nam thời xa xưa.
Từ những tác phẩm truyền thuyết, thần
thoại đã giới thiệu, giải thích về nguồn
gốc hình thành nên các dân tộc Việt ở
trên chúng ta có thể nhận thấy rằng tất

cả các dân tộc đang sống trên lãnh thổ
Việt Nam ta đều là anh em và mọi người
dân ta đều tự hào về điều đó.

Nhóm học sinh thực hiện
1. Hoàng Hoài Nam ( Nhóm trưởng)

7. Hoàng Hải Yến

2. Liêu Thị Khánh Phượng

8. Vũ Thị Huyền Trang

3. Lưu Thị Mĩ Lệ

9. Quách Đình Tài

4. Nguyễn Thành Dương

10. Hoàng Thị Hoài Linh

5. Nguyễn Trí Hưởng

11. Nguyễn Dương Xuân Tùng

6. Nguyễn Thị Việt Trinh

12. Ma Trung Nghĩa

Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý


Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

20


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Phiếu học tập số 2: * NHÓM II: (nhóm Cội Nguồn)
Yêu cầu: "Sự tích Bánh chưng bánh giầy" và "Phong tục tập quán, di sản văn
hóa lịch sử Việt Nam".
Ở nước ta đã và đang dung dưỡng một hệ thống tín ngưỡng dân gian rất phong
phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Hệ thống tín ngưỡng đó bao gồm các phong
tục tập quán, lễ hội dân gian, tín ngưỡng tôn giáo .... Mỗi vùng, mỗi tôn giáo đều có
phong tục tập quán riêng, lễ hội riêng. Đi suốt chiều dài đất nước có rất nhiều các lễ
hội, nhiều phong tục tập quán thể hiện thuần phong mĩ tục của nhân dân ta được tổ
chức như : Tục ăn trầu, tục cưới hỏi, giỗ tết ma chay, tục gói bánh chưng ngày tết...
Khi nhìn vào phong tục tập quán và lễ hội của một dân tộc, người ta dễ dàng nhận ra
văn hóa và sự phát triển lịch sử văn hóa của dân tộc đó.
Tiêu biểu hơn cả trong hệ thống tín ngưỡng ấy là tín ngưỡng "Thờ cúng Tổ
tiên". Tín ngưỡng này, tồn tại ở các thành phần dân tộc; ở nhiều giai tầng, xuyên suốt
các giai đoạn lịch sử phát triển xã hội, thu hút hầu như 100% dân cư”.
Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác
lập "mối liên hệ" giữa người sống với người chết, giữa người ở thế giới hiện tại với
thế giới tâm linh. Đây là loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của
người Việt Nam. Thờ cúng tổ tiên, cụ thể là thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá
cố là một hình thức tín ngưỡng, tín lý có từ thời rất xa xưa, khi con người còn giải
thích các hiện tượng tự nhiên bằng cảm tính tâm linh.

"Thờ cúng tổ tiên" một việc làm rất đỗi quan trọng với mỗi gia đình và toàn
xã hội. Hình thức thờ cúng tổ tiên là biểu hiện của lòng hiếu thảo và nhớ đến công
ơn sinh thành dưỡng dục của tiền nhân, nhớ đến cội nguồn của mình, đồng thời cũng
là nền tảng cơ sở cho quan hệ gia đình. Chẳng thế mà ngay từ những ngày đầu
dựng nước, tổ tiên ta- thế hệ các Vua hùng đã lấy việc dâng lễ thờ cúng Tiên Vương,
trời đất làm việc đại sự của quốc gia thông qua đó để quyết định nhiều việc việc lớn
của đất nước.
Trong tác phẩm: " Sự tích bánh chưng bánh giầy" Vua Hùng đời thứ 6 đã từng
lấy việc " Làm mâm giỗ cúng Tiên Vương" để chọn ra người thay mình cai trị đất
nước- một việc lớn của quốc gia.
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

21


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Việc làm ấy đã được Tiên Vương và thần linh ủng hộ? Chẳng thế mà Tiết Liêu
hay còn gọi Lang Liêu đã được thần linh mách bảo cách thức làm mâm giỗ Tiên
Vương?

Thứ bánh của Lang Liêu đã "làm đẹp lòng vua" và vừa lòng tiên vương cùng
thần linh chàng đã được chọn là người kế vị ngai vàng, cai quản đất nước. Vì ý
nghĩa đó nhân dân ta các thế hệ con cháu của Vua Hùng đã chọn hai thứ bánh này để
dâng lễ cúng tổ tiên ngày giỗ tết, trở thành một phong tục tập quán không thể thiếu
của người dân Việt Nam.


Dâng lễ "Bánh chưng bánh giầy" trong ngày giỗ tổ Hùng Vương
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

22


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Về tập tục thờ cúng tổ tiên, từ miền núi hay miền xuôi vạn chài sống trên sông
biển thì ở đâu cũng trang nghiêm như nhau cả. Không khó để thấy cảnh mặc dù cả
gia đình chỉ tập trung trên một chiếc thuyền nhỏ, nhưng trên thuyền người dân vạn
chài vẫn dành một nơi trang trọng nhất để lập một bàn thờ tổ tiên.
“Thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam là một tín ngưỡng có sức sống lâu bền, có gốc
rễ sâu xa trong cộng đồng người Việt. Từ chữ Hiếu đối với ông bà tổ tiên mình được
mở rộng, mang thêm những sắc thái ý nghĩa mới mang tính cộng đồng, trở thành tấm
lòng của người đi sau dành cho người đi trước, sự ngưỡng một đối với tiền nhân, các
công thần có công với nước được thờ trong đình làng cho đến một tinh thần Hiếu
đạo với ý thức thờ cúng “người cùng một cội, “cùng một bọc trứng mà sinh ra” qua
hình thức thờ Quốc tổ Hùng Vương. Hàng năm, ngày mùng 10 tháng 3, ngày giỗ tổ
cũng được nhân dân cả nước tổ chức hết sức trang trọng. Đặc biệt trên mảnh đất Phú
Thọ được chọn làm nơi tổ chức " Giỗ tổ Hùng Vương" chung cho cả nước. Đây
cũng là một quần thể di tích được công nhận là Di sản văn hóa quốc gia.

Quang cảnh ngày giỗ tổ Hùng Vương (Mùng Mười Tháng 3)


Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

23


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Sự tích "Bánh chưng bánh giầy" không chỉ gợi cho chúng ta nghĩ về tục lệ
thờ cúng tổ tiên mà còn gợi cho chúng ta nhớ đến những ngày đặc biệt trong năm.
Ngày tết Nguyên đán. Ngày mà nhân dân ta trên mọi miền tổ quốc, từ miền xuôi đến
miền ngược, từ hải đảo xa xôi hay vùng miền núi biên cương đều rộn ràng không khí
gói bánh chưng chuẩn bị cho tết cổ truyền.

"Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây Nêu tràng pháo bánh chưng xanh"
(Nét đẹp Tết cổ truyền Việt Nam).
Có thể nói: "Sự tích bánh chưng bánh giầy" không còn là một tác phẩm văn
học dân gian đơn thuần mà đó là một nét đẹp văn hóa của người Việt Nam ta bao đời
nay. Nét đẹp văn hóa đó đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mọi người dân Việt Nam,
trở thành nếp sống sinh hoạt gần gũi và bình dị. Để mỗi năm tết đến xuân về bên nồi
bánh chưng xanh các em nhỏ trên mọi miền tổ quốc lại được ông bà cha mẹ kể cho
câu chuyện " Sự tích bánh chưng bánh giầy". Cứ thế câu truyện đã được các bạn
thiếu nhi học thuộc và sáng tạo ra những vở kịch, những câu truyện lí thú dựa trên
cốt truyện truyền thuyết cổ này từ trước khi được học trên lớp. Các bạn thích thú khi
được hóa thân thành nhân vật, được sáng tạo với các vai quen thuộc như Lang Liêu,
Vua.... Thậm chí đến cả giấc mơ cũng có thể gặp và nói chuyện với Lang Liêu như

trong bài học: Tiết 52 Ngữ văn lớp 6: Giấc mơ trò truyện với Lang Liêu".......
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

24


Dạy học theo chủ đề tích hợp

Môn Ngữ văn lớp 6

Cũng từ niềm ham thích đó, các bạn trog nhóm II (Nhóm Cội nguồn) đã sáng
tác vở kịch thơ: "Lang Liêu nhận chiếu vua ban" Được sự hỗ trợ của các thầy cô dạy
môn ngữ văn trong trường các bạn đã dựng thành công vở kịch " Lang Liêu nhận
chiếu vua ban" đã được diễn nhiều lần trong các chuyên đề của trường và trong các
buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ KHXH trường PTDT Nội trú THCS Phú Lương.
Nội dung vở kịch:

" Lang Liêu nhận chiếu vua ban"
Vua:

Nghe Phú Lương, mảnh đất nhiều cảnh đẹp
Núi cùng sông hòa sắc một màu xanh
Và hôm nay ngày đẹp tháng lành
Ta thăm vãn thỏa lòng mong ước!
Cũng buổi nay có thêm việc nước
Trước tổ tiên dâng lễ chọn vua hiền.
Nối ngôi ta cai quản giang sơn
Giúp muôn dân nhà nhà phồn thịnh

Nay ngày đẹp tháng lành ta đã định
Các con ta mang lễ vật cúng dâng
Đẹp lòng ta đẹp cả lòng dân
Sẽ là người muôn phần xứng đáng
Với ngai vàng ta sẽ truyền ngôi
Nay ta tuyên tới khắp mọi nơi
Mời dân chúng, cùng về chọn kén.

Mõ:

Loa loa loa loa
Nay chiếu vua ban
Mời toàn dân trong thiên hạ
Không phân người quen kẻ lạ
Cùng tham gia lễ chọn vua hiền
Loa loa loa loa

2 HT anh:
1
- Đệ đệ! Đệ kiếm món gì dâng vua cha?
2
- Ta à? Nói ra huynh lại bảo ta tham vương vị!
Rồi lại gợi lòng đố kị nơi huynh!
1
- Ta và đệ từ trước vẫn thân tình
Sao lại nói ta tâm tà như thế.
Chả dấu đệ! Ta đã sai trăm nô, vạn mã ( Người ngồi ngựa + lính săn)
Tuốt lên tận núi thẳm, rừng thiêng
Sản vật thú, chỉ riêng mình ta có!
2

- Đối với đệ việc này chẳng khó ( Người ngồi thuyền + thợ lặn)
Bởi mẹ ta sai trăm họ săn lùng
Giáo viên: Trần Thị Xuân Lý

Trường: PT DT Nội trú THCS Phú Lương

25


×