Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

Đường lối kháng chiến chống thực dân pháp (1945 1954)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1010.16 KB, 64 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐƢỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)

Thuộc nhóm ngành khoa học: Lịch sử Việt Nam hiện đại

Sơn La, tháng 05 năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐƢỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)

Thuộc nhóm ngành khoa học: Lịch sử Việt Nam hiện đại

Sinh viên thực hiện: Bùi Văn Toàn

Nam, Nữ: Nam

Dân tộc: Kinh

Hoàng Văn Quỳnh Nam, Nữ: Nam



Dân tộc: Nùng

Đỗ Việt Hà

Nam, Nữ: Nam

Dân tộc: Kinh

Nguyễn Tuấn Anh Nam, Nữ: Nam

Dân tộc: Kinh

Lớp: K55 ĐHSP Lịch Sử

Khoa: Sử - Địa

Năm thứ : 3/ Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Sư phạm Lịch sử
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Bùi Văn Toàn
Người hướng dẫn: PGS. TS Phạm Văn Lực

Sơn La, tháng 5 năm 2017


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đã hoàn thành đề tài này. Đề tài đã được
hoàn thành với sự giúp đỡ thầy cô, bạn bè và Thư viện nhà trường.
Trước tiên cho chúng tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Phó giáo sư,
Tiến sĩ Phạm Văn Lực, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo chúng tôi trong suốt quá

trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn
bè đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu một cách nghiêm túc,
khoa học, song không tránh khỏi những thiếu sót.Rất mong quý thầy cô và các bạn
góp ý để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................1
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của đề tài ............3
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu: ................................................................3
5. Đóng góp của đề tài ......................................................................................................3
6. Cấu trúc của đề tài ........................................................................................................4
CHƢƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH ĐƢỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN ..........................5
1.1. Cơ sở Đảng ta hình thành đường lối kháng chiến .....................................................5
1.1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................................5
1.1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................5
1.2. Cơ sở hình thành đường lối thông qua các thông qua các văn kiện của Đảng, Chính
phủ ...................................................................................................................................10
1.2.1. Tuyên ngôn Độc lập (02/09/1945) .......................................................................10
1.2.3. Chỉ thị toàn dân kháng chiến (12/12/1946) ..........................................................15
1.2.4. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) ................................................17
1.2.5. Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” ......................................................19
Tiểu kết............................................................................................................................23
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ TÍNH KHOA HỌC CỦA ĐƢỜNG LỐI KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954) ........................................................................24
2.1.1. Kháng chiến toàn dân ...........................................................................................24

2.1.2. Kháng chiến toàn diện ..........................................................................................27
2.1.3. Kháng chiến trường kỳ .........................................................................................29
2.1.4. Kháng chiến dựa vào sức mình là chính ..............................................................31
2.2. Tính khoa học của đường lối kháng chiến ..............................................................32
Tiểu kết............................................................................................................................33
CHƢƠNG 3: SƢ̣ TRIỂN KHAI ĐƢ ỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẢNG
(1945 - 1954)...................................................................................................................34
3.1. Giai đọa 1945 - 1946 ...............................................................................................34
3.2. Giai đoạn 1946 - 1948 .............................................................................................37
3.3. Giai đoạn 1948 - 1950 .............................................................................................40


3.4. Giai đoạn 1951 - 1954 .............................................................................................44
3.5. Đường lối kháng chiến của Đảng -nhân tố quyế t đinh
̣ thắ ng lơ ̣i của cuô ̣c kháng
chiế n chố ng Pháp (1945 - 1954) .....................................................................................51
Tiểu kết............................................................................................................................53
KẾT LUẬN ....................................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................55
PHỤ LỤC .......................................................................................................................57


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đầy khó khăn
gian khổ kết thúc thắng lợi vào năm 1954. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
(1945 - 1954) của nhân dân ta bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách
quan, trong đó một trong những nhân tố có tính chất quyết định nhất là nhờ có đường lối
kháng chiến đúng đắn, khoa học, phù hợp của Đảng, với nội dung: “Toàn dân, toàn diện,
trường kỳ và dựa vào sức mình là chính”.

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về quá trình hình thành, nội dung, sự vận dụng đường lối
kháng chiến của Đảng trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945 - 1954) không chỉ để lại cho Đảng và dân tộc ta nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn góp phần bổ sung và hoàn thiện
lý luận về chiến tranh và cách mạng của Đảng. Vì thế việc đi sâu vào nghiên cứu, tìm
hiểu đường lối của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn:
Về khoa học
Làm rõ điều kiện chủ quan và khách quan dẫn tới sự hình thành đường lối kháng
chiến của Đảng với nội dung: “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là
chính”.
Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh.
Làm rõ thêm quá trình chuẩn bị đầy đủ chu đáo về mọi mặt: Kinh tế, tài chính,
chính trị, quân sự… cho cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) của nhân dân ta.
Về thực tiễn
Bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về thời kì kháng chiến chống thực dân
Pháp trong giai đoạn (1945 - 1954).
Làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy, học tập và biên soạn lịch sử địa phương trong
các trường cao đẳng, đại học và các trường phổ thông ở Tây Bắc.
Góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và lòng thành kính
với Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đường lối kháng chiến của Đảng với nội dung: “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, và
dựa vào sức mình là chính”, đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,


nhiều nhà hoạt động chính trị, nhà khoa học, giáo viên, sinh viên và được đề cập trong
một số công trình tiêu biểu:
+ Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh (1947).
Tác phẩm đã xác định kẻ thù, mục đích của cuộc kháng chiến, phương châm và lý do vì

sao Đảng và nhân dân ta lại đề ra nội dung cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện,
trường kì, tự lực cánh sinh, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế”.
+ Kiều Xuân Bá, (1995) Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục.
Giáo trình đã nghiên cứu và làm sáng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trong
thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954). Giáo trình đã khẳng định được
đường lối kháng chiến của Đảng, với nội dung: “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực
cánh sinh”, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời điểm đó.
+ Lê Mậu Hán, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư (1995), Đại cương lịch sử Việt Nam,
tập 3, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Giáo trình đã đề cập đến hoàn cảnh lịch sử,
nội dung đường lối kháng chiến của Đảng ta trong giai đoạn (1945 – 1954).
+ Cuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học
(1996)”, Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh (trực thuộc Bộ chính trị), nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội. Tác phẩm đã phân tích và làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng
khi vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
+ Trần Bá Đệ, Nguyễn Xuân Minh, Lê Cung (2004) Lịch sử Việt Nam (1945 –
1975), Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội. Công trình đã nêu những nét sơ lược về
toàn bộ quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.
+ Cuốn “Một số chuyên đề Lịch Sử Việt Nam, Lịch sử thế giới và phương pháp dạy
học lịch sử” của PGS. TS Phạm Văn Lực (chủ biên) (2011), nhà xuất bản Đại học sư
phạm Hà Nội. Trong cuốn sách có chuyên đề “Kết hợp hai nhiệm vụ kháng chiến với
kiến quốc (1945 – 1954)”. Chuyên đề này đã làm rõ được cơ sở của Đảng ta đề ra đường
lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, phân tích tình hình trong nước và quốc
tế, những yêu cầu cấp thiết đặt ra cho lịch sử Việt Nam thời điểm đó là phải thực hiện hai
nhiệm vụ: Kháng chiến và kiến quốc.
Ngoài ra, những vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình như: “Lịch sử
Việt Nam từ nguồn gốc đến nay” của UBKHXH Việt Nam; “Tiến trình lịch sử Việt
Nam” của Trường đại học quốc gia Hà Nội (2001); hoặc trong các khóa luận tốt nghiệp,
bài tham luận trong các hội thảo trong nước và Quốc tế về cuộc kháng chiến chống thực



dân Pháp của nhân dân Việt Nam; hoặc một số hồi kí của các đồng chí lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu Lịch sử…
Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề này một cách
hoàn chỉnh, hệ thống; nhiều vấn đề khoa học vẫn chưa được làm rõ…Mặc dù vậy, tất cả
các công trình trên cũng đã định hướng và là nguồn tài liệu tham khảo quý báu để chúng
tôi đi vào nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề khoa học mà các công trình trước chưa
có điều kiện làm rõ.
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của đề tài
3.1. Đối tƣợng
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đường lối kháng chiến của Đảng (1945 – 1954)
với tất cả các mặt biểu hiện của nó.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài góp phần làm rõ quá trình hình thành, nội dung đường lối kháng chiến
(1945 – 1954); ý nghĩa và bài học kinh nghiệm đối với công cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc của nhân dân ta.
3.3. Nhiệm vụ
- Bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về thời kì kháng chiến chống thực dân
Pháp trong giai đoạn (1945 - 1954).
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu:
- Nguồn tài liệu: Đề tài chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu đã được công bố
trong các công trình nghiên cứu như: Giáo trình, Chuyên khảo, Tạp chí cả trong nước
và thế giới, một số hồi kí của các đồng chí trong Ban lãnh đạo Đảng, hồi kí của các tác
giả người Pháp…
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cở sở phương pháp luận sử học Mác – xít và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đề tài chủ yếu thực hiện bằng các phương pháp sau: Phương pháp
lịch sử, phân tích, logic, tổng hợp, so sánh đối chiếu…
5. Đóng góp của đề tài
- Đề tài được thực hiện sẽ góp phần:
+ Làm phong phú thêm lý luận về chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng dân
tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta.

+ Bổ sung thêm tài liệu nghiên cứu về thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 1954) của nhân dân ta.


+ Làm tài liệu tham khảo để giảng dạy và biên soạn lịch sử địa phương trong các
trường cao đẳng, đại học và các trường phổ thông ở Tây Bắc.
+ Góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và lòng thành kính
với Đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ hiện nay.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu thành
ba chương:
Chƣơng 1: Sự hình thành đƣờng lối kháng chiến
Chƣơng 2: Phân tích nội dung đƣờng lối kháng chiến, làm rõ tính khoa học của
đƣờng lối kháng chiến
Chƣơng 3: Sự triển khai đƣờng lối kháng chiến của Đảng (1945- 1954)


CHƢƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH ĐƢỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN
1.1. Cơ sở Đảng ta hình thành đƣờng lối kháng chiến
1.1.1. Cơ sở lí luận
Chủ nghĩa Mác - Lênin nói về vấn đề chiến tranh và hòa bình một cách rất chung
chung, Mác nói: “Cách mạng vô sản nổ ra ở các nước tư bản”.
Đến thời đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin phát triển chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh
mới “Cách mạng vô sản sẽ bùng nổ ở khâu yếu nhất trong sợi dây truyền đế quốc chủ
nghĩa” hoặc “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”.
Hoặc khi nói về mối quan hệ giữa hai cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
và cách mạng xã hội chủ nghĩa, Lênin cũng nói “Giữa hai cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không có bức tường thành ngăn
cách” [14; 371].
1.1.2. Cơ sở thực tiễn

a. Thế giới
Cách mạng tháng Mười thành công, nước Nga Xô Viết phải đối mặt với muôn vàn
khó khăn thử thách, bị 14 nước đế quốc bao vây, bọn phản cách mạng hoạt động ở khắp
mọi nơi… Trong hoàn cảnh lịch sử đó, Đảng cộng sản Liên Xô đã đề ra “Chính sách
cộng sản thời chiến” và cứu nguy được cho cách mạng.
Trong cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức (1939-1945), Stalin có
nói đến mối quan hệ giữa quốc phòng, tiền tuyến với hậu phương “Ai có quốc phòng
vững mạnh, người đó chiến thắng”.
Hoặc như: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh phải có một tổ
chức lãnh đạo vững mạnh… Một đội quân dù có hùng hậu nhất thế giới nhưng nếu nó
không được sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Chính phủ thì sẽ tan rã sau một tuần
lễ” [14; 371].
Stalin cũng đề cập đến sự thử thách của chiến tranh: “Lịch sử chiến tranh dạy rằng:
Chỉ có nước nào mạnh hơn đối phương của mình về mặt phát triển, tổ chức kinh tế, về
kinh nghiệm, tài nghệ và tinh thần, kiên cường đoàn kết của nhân dân trong suốt quá
trình chiến tranh thì mới chịu đựng được những thử thách đó” [14; 371].
Những nhà quân sự lỗi lạc như: Na-pô-lê-ông đều coi trọng việc xây dựng đường
lối lãnh đạo đấu tranh và phải chuẩn bị thật chu đáo việc đảm bảo hậu cần.


Ở Trung Quốc, xưa nay trong các cuộc chiến tranh, đường lối đấu tranh là một
trong những nhân tố thường xuyên quyết định kết quả được hay thua của hai bên. Không
ít nhà quân sự lỗi lạc, nhà tư tưởng vĩ đại đã nêu rõ tầm quan trọng của đường lối lãnh
đạo trong chiến tranh: Tôn Tử coi chiến thuật là chỗ dựa chủ yếu của hành động quân sự,
là cơ sở để tiến hành chiến tranh, qua đó nhấn mạnh: Chiến tranh phải có đường lối lãnh
đạo nhanh nhạy, đúng đắn và sáng tạo; quân đội nào không có đường lối lãnh đạo đúng
đắn, thì không thể nào giành được thắng lợi, trong chiến tranh không thể tồn tại được.
Nhìn chung, vai trò của cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của đất nước đều
được các nhà chiến lược, các nhà quân sự đánh giá cao và yêu cầu những nhà lãnh đạo,
những người cầm quân phải quan tâm thường xuyên trong thời chiến cũng như thời bình.

Bởi lẽ, chiến tranh là sự đối mặt toàn diện của các bên tham chiến; bên nào cũng phải huy
động đến mức cao nhất sức người sức của, mọi cơ sở vật chất đều bị thử thách tiêu hao.
Do đó, cần phải được bổ sung và phát triển. Trong chiến tranh, đường lối lãnh đạo phải
kịp thời, chính xác, động viên tinh thần chiến đấu cho quân đội; đảm bảo giữ vững và
tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Sức mạnh của Đảng là sức mạnh của tất cả
yếu tố chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội. Những yếu tố đó có liên quan chặt chẽ
với nhau tạo thành một thể hoàn chỉnh. Vì vậy, Đảng trở thành nhân tố quyết định đến
thắng lợi của cuộc chiến tranh.
b. Việt Nam
* Kế thừa kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Trong lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc, do nước ta là một nước nhỏ yếu, nước
nghèo lại tồn tại bên cạnh đế chế Trung Quốc rộng lớn, đầy tham vọng đồng hóa và thôn
tính đối với dân tộc ta; có thể nói, tất cả các triều đại phong kiến Trung Quốc đều tiến
hành xâm lược Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó, để đánh thắng được giặc ngoại xâm, giữ
vững độc lập dân tộc, cha ông ta phải có nghệ thuật giữ nước. Một trong những nghệ
thuật đó, là kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng mà tiêu biểu nhất là chính sách “ngụ
binh ư nông”. Tư tưởng đó có nghĩa là gửi quân đội trong nông nghiệp, thời bình làm
kinh tế, lúc chiến tranh các chiến binh này có thể xung trận…
Với tư tưởng lấy dân làm gốc “đẩy thuyền đi cũng là dân, lật thuyền cũng là
dân”…Nhờ vậy, ông cha ta đã đánh thắng được ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc. Bài
học này được Đảng ta vận dụng, đề ra Đường lối kháng chiến (1945 – 1954). [17; 373]


* Điều kiện hoàn cảnh của nhân dân ta khi bƣớc vào cuộc kháng chiến toàn quốc
Sau cách mạng tháng Tám, bên cạnh những thuận lợi, cách mạng Việt Nam vừa
trong tình thế bao vây cô lập lại vừa phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách do
thù trong giặc ngoài gây ra.
Về thuận lợi:
Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng cộng sản Đông Dương đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh trở thành Đảng cầm quyền trong cả nước, đúc rút được kinh nghiệm

trong 15 năm tổ chức và lãnh đạo cách mạng. Từ năm 1950, cách mạng Việt Nam đón
nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và
các nước tiến bộ trên toàn thế giới.
Nhân dân Việt Nam, sau hơn một thế kỷ sống kiếp đời nô lệ dưới ách thống trị của
thực dân Pháp. Đến nay được sống trong độc lập, tự do nên quyết tâm bằng bất cứ giá
nào cũng phải bảo vệ quyền độc lập tự do đã giành được.
Về khó khăn:
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với
nhiều khó khăn, thử thách do thù trong và giặc ngoài gây ra.
+ Về kinh tế, nền kinh tế nước ta vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị kiệt quệ do chính
sách thống trị bóc lột tàn bạo của thực dân phong kiến, nhất là trong chiến tranh thế giới
II (1939-1945). Hậu quả trầm trọng đó làm cho nạn đói cuối năm (1944) đầu năm (1945),
đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người ở miền Bắc.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung
Bộ vỡ đê, tình trạng lụt lội, thất bát diễn ra nghiêm trọng. Vụ mùa năm 1945 thu hoạch
chỉ bằng một nửa vụ mùa năm 1944 mà lại phải cung cấp lương thực cho hơn 6 vạn quân
Nhật và 20 vạn quân Tưởng; do đó, ở miền Bắc nạn đói có nguy cơ tái diễn trên diện
rộng. Công nghiệp lạc hậu, đình đốn, phần lớn xí nghiệp bị tàn phá, sản xuất chưa được
phục hồi. Thương nghiệp thì ngưng trệ, bế tắc, hàng hóa khan hiếm, đắt đỏ, sự giao lưu
buôn bán với nước ngoài chưa được khôi phục.
+ Về tài chính, ngân sách Trung ương lúc này chỉ có 1.230.000 đồng, trong đó gần
một nửa là rách nát, không thể lưu hành được. Nhà nước chưa kiểm soát được ngân hàng
Đông Dương. Thêm vào đó, quân Tưởng khi vào Việt Nam đã tung giấy bạc “Quan kim”
và “Quốc tệ” đã hết hạn sử dụng ra thị trường Việt Nam làm lũng đoạn nặng nề hơn nền
tài chính của ta. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát động “Tuần lễ vàng”


và gây “Quỹ Độc lập”, nhân dân ta với truyền thống yêu nước, tin tưởng vào chế độ mới
đã quyên góp tiền vàng ủng hộ Chính phủ được gần 400 kg vàng và 20 triệu đồng trong
Quỹ Độc lập; nhưng vẫn khó khăn đến gay gắt.

+ Về xã hội, do chính sách cai trị theo kiểu “ngu dân” của thực dân Pháp đã để
lại cho dân tộc ta một “di sản” văn hóa hết sức lạc hậu; hơn 90% dân số không biết
chữ, các tệ nạn xã hội như nghiện rượu, hút thuốc phiện, mê tín dị đoan… rất trầm
trọng và phổ biến.
+ Về chính trị, chính quyền dân chủ nhân dân mới ra đời, chưa có kinh nghiệm
quản lí. Ở trong nước, bộ máy chính quyền được xác lập từ Trung ương tới địa
phương, tuy nhiên ở một số nơi chính quyền vẫn chưa thực sự nằm trong tay những
người cách mạng.
+ Về quân sự
Quân đội thường trực đang trong quá trình xây dựng, chưa được huấn luyện,
phần lớn cán bộ chỉ huy chưa hiểu biết về quân sự và kinh nghiện chiến đấu. Hơn nữa,
trang bị vũ khí thô sơ, thiếu thốn, chủ yếu là giáo mác, mã tấu, một số ít là súng
trường và súng máy.
Mặt trận dân tộc thống nhất tuy phát triển rộng rãi nhưng chưa được củng cố
vững chắc. Trong khi đó, kẻ thù lại đang ra sức thực hiện âm mưu chia rẽ và lôi kéo do đó vấn đề đại đoàn kết, đoàn kết tôn giáo là những vấn đề lớn được đặt ra bức thiết
lúc đó [4; 374].
Ở miền Bắc: Khoảng 20 vạn quân Trung hoa Dân quốc do tướng Lư Hán và Tham
mưu trưởng Hà Ứng Khâm chỉ huy đã lũ lượt kéo vào miền Bắc nước ta đóng ở Hà Nội
và hầu hết các thành phố, thị xã ở miền Bắc. Quân Trung hoa Dân quốc vào Việt Nam
với ý đồ tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dương, phá tan mặt trận Việt minh, giúp bọn phản
cách mạng Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, lập chính phủ phản động làm tay sai
cho chúng; chúng đã đưa ra khẩu hiệu “cầm Hồ, diệt cộng” (Cầm chân chủ tịch Hồ Chí
Minh, tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dương) và điên cuồng chống phá cách mạng.
Dựa vào quân đội Trung hoa Dân quốc, các đảng phái phản động như Việt quốc,
Việt cách, bọn Tờ rốt-kít theo gót quân đội Trung hoa Dân quốc trở về nước hoạt động.
Chúng chiếm giữ một số nơi ở Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái. Chúng quấy nhiễu, cướp
phá, giết người, rải truyền đơn, ra báo Việt Nam thiết thực, đồng tâm, nhằm vu cáo, nói
xấu Việt minh, chống chính quyền cách mạng và đòi gạt các bộ trưởng là Đảng viên



Đảng cộng sản ra khỏi Chính phủ, chúng gây ra nhiều vụ bạo loạn, bắt cóc, tống tiền, ám
sát các cán bộ cách mạng của Đảng. Quân Trung hoa Dân quốc và bọn tay sai phản động
là kẻ thù nguy hiểm đang đe dọa hàng ngày, hàng giờ đối với chính quyền cách mạng và
nhân dân ta.
Ở miền Nam: Tình hình còn nghiêm trọng hơn. Ngoài việc lấy danh nghĩa quân
Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, ngày 6/9/1945, quân Anh
(với khoảng 1,5 vạn) kéo vào Sài Gòn, chúng đã thả tù binh của Pháp bị quân đội Nhật
giam giữ dịp 9/3/1945 và trang bị vũ khí cho lực lượng này. Được sự giúp đỡ của thực
dân Anh, quân Pháp đang tìm mọi cách trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Từ ngày
2/9/1945, giữa lúc nhân dân Sài Gòn đang mít tinh mừng ngày tuyên bố độc lập của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một số phần tử thực dân phản động người Pháp đã núp
trong những khu nhà bắn vào đoàn mít tinh làm 47 người chết và nhiều người bị thương.
Đến 23/9/1945, quân Pháp nổ súng chiếm đóng Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt
Nam lần thứ hai.
Ngoài ra, trên đất nước ta lúc đó còn khoảng 6 vạn quân Nhật đã nổi dậy theo chân
quân Anh đánh vào lực lượng vũ trang của ta, dọn đường cho quân Pháp đánh chiếm Sài
Gòn và nhiều nơi khác. Đúng như Pignon (Léon Pignon) - Cố vấn chính trị của Cao ủy
Pháp viết trong thư gửi Đácgiăngđiơ (D’arjeanlier) ngày (28/10/1945): “Chính quyền ra
đời không đồng minh, không tiền, không vũ khí”.
Một số thành tựu mà nhân dân ta đạt được trong công cuộc chống “giặc đói”, “giặc
dốt”, giải quyết khó khăn về tài chính… chỉ làm dịu đi những khó khăn chồng chất mà
nhân dân ta đang phải đối mặt chứ chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi đó thực dân
Pháp lại quyết tâm cướp nước ta thêm một lần nữa.
Trong khi đó , về phía thực dân Pháp, chúng mạnh hơn ta gấp nhiều lần, có tiềm lực
kinh tế hùng mạnh “là một trong số những nước đứng hàng đầu thế giới tư bản chủ
nghĩa”. Riêng về quân sự, quân đội Pháp được trang bị vũ khí hiện đại của một đội quân
“nhà nghề”, dày dặn kinh nghiệm thực dân; lại được các nước đế quốc ủng hộ giúp đỡ,
nhất là thực dân Anh, đế quốc Mỹ và quân Trung Hoa Quốc dân Đảng...
Vấ n đề đă ̣t ra làm thế nào để kháng chiế n đươ ̣c và đưa cuô ̣c kháng chiế n đi đế n
thắ ng lơ ̣i ? Đòi hỏi Đảng - Chính phủ phải có nhiều giải pháp , trong đó quan tro ̣ng và

quyế t đinh
̣ nhấ t: Phải có đường lối kháng chiến đúng đắn phù hơ ̣p và khoa ho ̣c.


1.2. Cơ sở hình thành đƣờng lối thông qua các thông qua các văn kiện của Đảng,
Chính phủ
1.2.1. Tuyên ngôn Độc lập (02/09/1945)
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và
độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự
do, độc lập ấy”.
Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
của nhân dân ta phải là cuộc kháng chiến “toàn dân”, “toàn diện”, phát huy sức
mạnh của toàn dân tộc Việt Nam để đánh đổ kẻ thù, bảo vệ nền độc lập thiêng
liêng của Tổ quốc.
1.2.2. Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc (25/11/1945)
Chỉ thị đã xác định tình hình và đề ra nhiệm vụ:
Trên thế giới ngày nay có nhiều mâu thuẫn: Cuộc chiến tranh giành độc lập
của dân tộc Đông Nam châu Á chống bọn thực dân, cuộc Quốc – Cộng xung đột ở
Tàu, cuộc xích mích Nga-Mỹ về vấn đề kiểm soát nước Nhật, phong trào đòi cải
thiện đời sống của thợ Anh, sinh sản thiếu hụt, nạm thất nghiệp gia tăng, v.v..
Nhân loại đang qua một cơn khủng hoảng sau chiến tranh; nhưng cuộc khủng
hoảng này không dẫn thẳng tới cuộc đại chiến lần thứ 3, trong đó Liên Xô và MỸ
đương đầu với nhau. Trái lại sau cơn khủng hoảng này thế giới có thể qua một thời
kỳ tạm thời phát triển hòa bình và dân chủ, rồi mới tiến tới một thời kỳ chiến tranh
và cách mạng mới. Nói một cách khác, sau cuộc chiến tranh chống phát xít xâm
lược này Liên Xô và Anh, Mỹ không đánh nhau ngay; mặc dầy quyền lợi xung đột
giữa Nga và Anh, Mỹ mặc dầu có sự phát minh bom nguyên tử của Mỹ, v.v.. cũng
không thể có cuộc chiến tranh thế giới tư bản và thế giới vô sản Xô viết được. Vì
sao? – Vì hiện thời trên thế giới, lực lượng hòa bình mạnh hơn lực lượng chiến

tranh (chú ý: cuộc vận động duy trì hòa bình, chống Chính phủ Truman gây xích
mích với Nga và can thiệp vào nội chính nước Tàu do Đảng Cộng sản Mỹ lãnh đạo,
phong trào phản đối Chính phủ Attlee giúp thực dân Pháp và Hà Lan, phong trào
đòi thừa nhận quyền độc lập của Ấn Độ, Inđônêxia và Đông Dương bành trướng ở
Anh, Mỹ và Pháp, những phát minh khoa học mới của Liên Xô, v.v).


Bốn mâu thuẫn lớn của thế giới hiện thời (mẫu thuẫn giữa Liên Xô và các
nước đế quốc; mâu thuẫn giữa vô sản và tư bản; mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức
và chủ nghĩa thực dân; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau) vẫn còn. Trong
bốn mâu thuẫn ấy, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân
gay go hơn hết ở Đông Nam châu Á và đã gây ra các cuộc chiến tranh dân tộc giải
phóng của dân Đông Dương và dân Nam Dương, những cuộc biểu tình đổ máu ở
Ấn Độ hiện nay. Sau đến cuộc xích mích giữa Nga và Mỹ, Mỹ chưa dám tiến công
Liên Xô nhưng đã xúi và giúp quân Trùng Khánh bắn vào quân Cộng sản Tàu để
đe dọa Liên Xô. Tuy nhiên cuộc chiến tranh giành độc lập của các dân tộc ở Đông
Dương và Nam Dương cũng như cuộc Quốc – Cộng xung đột ở Tàu không phải là
màn đầu cho cuộc đại chiến lần thứ 3 như người ta tưởng; đó chỉ là một bộ phận
của phong trào đấu tranh xây dựng hòa bình và giữ vững hòa bình trên thế giới
hiện nay mà thôi.
Cuộc xích mích giữa Liên Xô và Anh, Mỹ gần đây đã có vẻ gay go: Liên Xô
im lặng kiến thiết lại nước mình và phát minh gấp rút những máy móc và chiến cụ
tinh xảo để cải thiện đời sống cho ngót 200 triệu người và để tự vệ. Còn Anh – Mỹ
- Canađa định lập khối Anglo-saxon, định dùng khối ấy để chống lại Liên Xô.
Nhưng thái độ bình tĩnh và kiên quyết của Liên Xô đã làm cho Anh – Mỹ phải
kiêng nể.
Ở Đông Dương, tháng Tám vừa rồi, nhờ được điều kiện đặc biệt thuận lợi nên
cuộc Cách mạng Tháng Tám vừa rồi tương đối dễ thắng lợi. Nhưng việc giành
chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu. Chính
Phủ dân chủ Cộng hòa mới thành lập đã phải đối phó với một tình thế vô cùng

phức tạp không phải chỉ đối phó với Pháp mà thôi, lại còn Anh, Tàu can thiệp vào
nội chính của ta nữa. Chính quyền mới giành phải đối phó với ba việc khó khăn: 1.
Chống thực dân Pháp xâm lược, 2. Trừ nạn đói, 3. Xử trí với bọn Đại Việt, Việt
Nam Quốc dân Đảng, Ngyễn Hải Thuần đã dựa vào thế lực Tàu, nhập cục thành
một khối..., đối lập với Chính Phủ, tham dự chính quyền.
Ở Đông Dương hiện nay, về quân sự, cuộc kháng chiến đã lan ra nhiều tỉnh
Nam Bộ và vài tỉnh ở miền Nam Trung Bộ, vài tỉnh ở Ai Lao và biên giới Nam Bộ
- Cao Miên. Mặt trận thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược của các dân tộc
bị áp bức Ở Đông Dương đã thành lập. Tuy quân ta phải bỏ mười thành phố hay


tỉnh lỵ ở Nam Bộ nhưng nói chung, tinh thần kháng chiến vẫn cao. Toàn dân đoàn
kết, quân sĩ nhất trí, đánh du kích và bất hợp tác, khiến cho giặc Pháp lắm phen
nguy khốn. Về chính trị, chính quyền nhân dân đã thành lập khắp cả nước một cách
mau lẹ, nhưng bọn thực dân Pháp đang gắng lập chính quyền bù nhìn hay chính
quyền quân nhân ở những nơi chúng chiếm đóng. Bọn Đại Việt, Việt Nam Quốc
dân Đảng, Nguyễn Hải Thuần thành lập “chính quyền” phân biệt ở Vĩnh Yên, Yên
Bái, Móng Cái (Bắc Bộ). Về kinh tế và tài chính giặc Pháp để lại cho ta một cái gia
tài hầu như đã khác biệt; 50% ruộng đất trong Nam và 25% ruộng đất ngoại Bắc bị
bỏ hoang. Riêng ở Bắc Bộ, sáu tỉnh bị lụt, v.v..
Về thái độ đối với ta, báo Nga đã lên tiếng nhận cuộc chiến đấu của Đông
Dương và Nam Dương là chính đáng.
Tuy Mỹ vẫn nói dối với Đông Dương giữ thái độ trung lập, song Mỹ đã ngầm giúp
Pháp bằng cách cho Pháp mượn tàu cho quân sang Đông Dương. Một mặt Mỹ muốn
tranh giành quyền lợi với Anh, Pháp ở Đông Dương và Đông Nam châu Á thực, nhưng
một mặt nữa, Mỹ có thể hy sinh quyền lợi bộ phận ở Đông Nam châu Á.
Anh giúp Pháp ở Đông Dương thành bán thuộc địa của Anh và muốn giập tắt
phong trào đòi độc lập ở Đông Dương, vì sợ rằng phong trào ấy lên sẽ “làm
gương” cho các thuộc địa của Anh ở Đông Nam châu Á. Nhưng mới đầu Anh
tưởng giúp Pháp là Pháp có thể giành lại Đông Dương một cách nhanh chóng, ngờ

đâu bị quân Việt Nam và Lào đánh rát không tiến được mấy, khiến cho Anh phải
chán. Việc Anh giúp Pháp chưa mang lại cho Anh những điều lợi thực tế gì, nhưng
đã làm cho Anh mất tín nhiệm nhiều trên trường quốc tế và ở bên Anh, Ấn rút khỏi
Đông Dương lại làm cho Anh thêm khó chịu,v.v..
Căn cứ vào những nhận xét trên đây, ta chủ trương rằng:
- Cuộc đấu tranh của nhân loại cần lao và tiến bộ trên thế giới hiện nay là đấu
tranh cho hòa bình, tự do, hạnh phúc.
- Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải
phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được
hoàn toàn độc lập.
- Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong. Giai cấp vô sản vẫn phải
hăng hái, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là “Dân
tộc là trên hết. Tổ quốc là trên hết”.


- Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn
lửa đấu tranh vào chúng.
- Chiến thuật của ta lúc này là lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực
dân Pháp xâm lược. Mở rộng Việt Minh cho nó bao gồm mọi tầng lớp nhân dân
(chú trọng: kéo địa chủ, phong kiến và đồng bào Công giáo, v.v..).
- Thống nhất mặt trận Việt – Miên – Lào chống Pháp xâm lược. Kiên quyết
giành độc lập – tự do – hạnh phúc dân tộc. Độc lập về chính trị, thực hiện chế độ
dân chủ cộng hòa; cải thiện đời sống cho nhân dân.
Nhiệm vụ chung của vô sản thế giới là phải đấu tranh để thực hiện triệt để
hiến chương cấc nước liên hiêp, ủng hộ Liên Xô, xây dựng hòa bình thế giới, mở
rộng chế độ dân chủ ra các nước, giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Nhiệm vụ riêng trong nước là phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp
xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Bởi vậy, về nội chính, một mặt xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định hiến
pháp, bầu Chính phủ chính thức.

Về quân sự, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến tổ chức và
lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài; phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp
bất hợp tác đến triệt để.
Về ngoại giao, kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc
“bình đẳng và tương trợ”. Phải đặc biệt chú ý những điều này: một là thuật ngoại
giao là làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết; hai là muốn
ngoại giao được thắng lợi biểu dương thực lực.
Đối với Tàu vẫn chủ trương Hoa – Việt thân thiện, coi Hòa kiều như dân tối
hệu quốc. Đối với Pháp, độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế.
Về tuyên truyền, kêu gọi đoàn kết, chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược.
Phản đối chia rẽ nhưng chống sự thống nhất vô nguyên tắc với bọ phản quốc, phản
đối chủ nghĩa thất bại (défaitisme) đặc biệt chống mọi mưu mô phá hoại chia rẽ
của bọn Tờrốtxki, v.v..
Về kinh tế tài chính, mở các nhà máy do Nhật bỏ, khai thác các mỏ, cho tư
nhân được góp vốn vào việc kinh doanh các nhà máy và mỏ ấy, khuyến khích các
công thương mở hợp tác xã, v.v..


Về Mặt trận Việt Minh, hết sức phát triển các tổ chức cứu quốc. Thống nhất
các tổ chức ấy lên toàn kỳ, toàn quốc; sửa chữa lại điều lệ cho các đoàn thể cứu
quốc cho thích hợp với hoàn cảnh mới. Tổ chức thêm những đoàn thể cứu quốc
mới vào Mặt trận V.M (ví dụ: “Việt Nam Công giáo cứu quốc hội” và “Việt Nam
hướng đạo cứu quốc đoàn”, v.v..). Giúp cho “Việt Nam dân chủ Đảng” thống nhất
và phát triển để thu hút vào mặt trận những tầng lớp tư sản, địa chủ yêu nước và
tiến bộ. v.v..
Về chính quyền, chấn chỉnh lại cán bộ và nếu vì lý do cần thiết thống nhất dân
tộc và xúc tiến ngoại giao thì có thể cải tổ Chính phủ trước ngày họp Quốc hội.
Chính phủ cải tổ ấy vẫn là Chính phủ lâm thời. Chiểu theo tinh thần bản sự thảo
hiến pháp mới và nhu cầu của tình thế mà ban hành những sắc lệnh để mang lại
ngay những tự do và hạnh phúc thực tế cho nhân dân, trong phạm vi điều kiện cụ

thể của hoàn cảnh cho phép. Xem xét lại các nghị định của các U.B.N.D xứ và địa
phương để sửa chữa hay thủ tiêu nếu cần. Giải quyết một cách hợp lý vấn đề ruộng
đất và thuế khóa.
Về việc kháng chiến hiện nay ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, giặc Pháp
chiếm được nhiều tỉnh lỵ, nhưng ta vẫn làm chủ ở thôn quê. Trái lại ở Lào, mấy
thành phố lớn như Takhek, Savan, Xiêng Khuổng, Sầm Nưa, Sêpon, v.v.. vẫn do
quân Lào, có quân Việt Nam giúp sức làm chủ [34; 22-31].
Chỉ thị nhận định những thay đổi căn bản tình hình thế giới và trong nước sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, nêu rõ những thuận lợi cơ bản và những thử thách lớn
của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà nhân dân ta đang tiến hành. Chỉ thị
đánh giá các kẻ thù, chỉ rõ kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược. Về cuộc kháng
chiến ở Nam Bộ, Chỉ thị chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp, huy
động sức mạnh tại chỗ và sức mạnh của cả nước, vừa kháng chiến vừa kiến quốc
để giữ vững nền độc lập và thống nhất.
Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc nêu ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là củng cố
chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống
của nhân dân. Chỉ thị đề ra công tác trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hóa, ngoại giao, xây dựng Đảng, mở rộng Mặt trận Việt Minh và Mặt trận thống
nhất Viêt Nam – Lào – Campuchia chống Pháp xâm lược.


Để sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc giành được thắng lợi, nhiệm vụ trung
tâm là củng cố chính quyền nhân dân, v.v.. [2; 124-125].
1.2.3. Chỉ thị toàn dân kháng chiến (12/12/1946)
Trong hoàn cảnh đất nước đang lâm nguy, cuối tháng (12/1946), Ban thường vụ
Trung ương Đảng đã công bố rộng rãi “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” và nêu một
cách tóm tắt nội dung đường lối và chính sách kháng chiến bao gồm: Mục đích, tính
chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến, cơ quan lãnh đạo kháng chiến,
khẩu hiệu tuyên truyền để hướng dẫn các Đảng bộ và cơ quan chỉ đạo kháng chiến các
cấp thi hành.

Bản Chỉ thi ̣ “toàn dân kháng chiến (12/12/1946)” của Ban chấp hành Trung ương
Đảng nêu rõ:

Về chính trị: Đảng vạch rõ kẻ thù chính là bọn thực dân Pháp phản động đang cướp
nước ta. Toàn dân đoàn kết, nhất trí, động viên tinh thần và lực lượng cho kháng chiến;
đoàn kết với các dân tộc Lào và Campuchia, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và
các dân tộc bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hoà bình và dân chủ trên thế giới để cô lập
cao độ kẻ thù; củng cố chế độ cộng hoà dân chủ, đánh đổ chính quyền bù nhìn; lập uỷ
ban kháng chiến các cấp để chỉ đạo kháng chiến.

Về quân sự: Xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch, ta phải đánh lâu dài.
Đây là tư tưởng chiến lược và phương châm chỉ đạo của cuộc kháng chiến. Kháng chiến
lâu dài là nhằm mục đích vừa đánh vừa giữ gìn lực lượng, phát triển và bồi dưỡng sức
dân, phát huy chỗ mạnh, khắc phục chỗ yếu; đồng thời làm cho địch tiêu hao, mỏi mệt,
chỗ yếu bị khoét sâu. Tuy vậy, đánh lâu dài không phải là vô hạn, mà phải tích cực, tranh
thủ thời gian giành thắng lợi ngày càng lớn.
Triệt để dùng du kích vận động chiến, đây là cách đánh phổ biến nhất, dần dần vận
động chiến được áp dụng và đẩy mạnh với việc thực hiện kết hợp giữa du kích chiến với
vận động chiến. Muốn kháng chiến lâu dài và giành thắng lợi phải ra sức xây dựng lực
lượng vũ trang hùng mạnh.

Về kinh tế: Tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc; tự sản xuất vũ khí, lấy súng giặc đánh
giặc; tiếp tế cho bộ đội; vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

Về văn hoá: Chống nạn mù chữ; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; động viên văn
nghệ sĩ ủng hộ kháng chiến”.


Về mục đích của cuộc chiến tranh: Đánh đuổi chủ nghĩa thực dân xâm lược đế quốc
Pháp, giành độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc.

Về tính chất cuộc kháng chiến:
Trong lịch sử có hai loại chiến tranh: Chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi
nghĩa. Chiến tranh chính nghĩa là những cuộc chiến tranh chống bọn áp bức, bọn xâm lược
giành tự do, độc lập; Còn chiến tranh phi nghĩa là những cuộc chiến tranh xâm lược hoặc
“bình định” cốt chiếm nước người hoặc cướp tự do hạnh phúc của một dân tộc.
Nhân dân ta đã đánh thực dân Pháp để giành tự do, độc lập, để tự vệ, để tự giải
phóng, vì vậy cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân
dân, chiến tranh tự vệ của dân tộc, là chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh tiến bộ. Trái
lại, thực dân Pháp đang chiếm lại nước ta hòng trở lại áp bức, bóc lột dân ta, cho nên
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp là cuộc chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh
phản động. Chiến tranh chính nghĩa bao giờ cũng được nhân dân tiến bộ trên thế giới
nhiệt liệt ủng hộ. Chiến tranh phi nghĩa bao giờ cũng bị dư luận tiến bộ của nhân dân
yêu chuộng hòa bình trên giới nguyền rủa, chê cười.
Nhân dân các nước Ấn Độ, Miến Điện, Inđônêxia, Mã Lai khen ngợi, cổ vũ nhân
dân ta.
Đó là một trong nhiều nguyên nhân làm cho tinh thần binh sĩ Pháp bạc nhược, tinh
thần quân đội ta kiên quyết.
Xét về mặt khác, cuộc cách mạng tháng Tám tuy đã giành chính quyền cho nhân
dân Việt Nam, nhưng chưa làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Cuộc
kháng chiến này sẽ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Cuộc kháng chiến của Việt Nam không những có tính chất dân tộc giải phóng, mà
có tính chất dân chủ mới. Nó là một bộ phận của trào lưu dân chủ rộng rãi đang cuồn
cuộn trên thế giới.
Kế tục sự nghiệp của cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến này chính là một
cuộc chiến tranh cách mạng có tính chất dân tộc dộc lập và dân chủ tự do. Trong lò lửa
kháng chiến, một nước Việt Nam mới đang được rèn đúc; nước Việt Nam độc lập, thống
nhất, dân chủ và giàu mạnh - một nước Việt Nam dân chủ mới.
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là một cuộc chiến tranh nhân dân. Đại đa số nhân
dân nước ta là nông dân. Hầu hết các chiến sĩ quân đội chủ lực và dân quân, du kích của ta
cũng là nông dân. Vì vậy mặc dù theo lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin coi giai cấp công nhân



mới là lực lượng nòng cốt của cách mạng thì trong thực tiện hoàn cảnh xã hội nông nghiệp
tiểu nông Việt Nam, vai trò của nông dân là vô cùng quan trọng.
Trong cuộc chiến tranh này, nhân dân Việt Nam không đấu tranh cho riêng mình.
Nhân dân Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứu mình, vừa đấu tranh cho hòa bình thế giới.
Bọn phản động Pháp đánh chiếm Việt Nam ngày nay là một bộ phận khăng khít của phản
động thế giới. Trong hàng ngũ của chúng, có bọn tài phiệt phát xít Pháp đã cộng tác với
Đức quốc xã. Trong quân đội chúng, có rất nhiều lính Đức trước đây đã có chân trong các
tổ chức phát xít của Hítle, hợp tác với bọn tài phiệt phát xít Pháp và làm tay sai cho
chúng đánh chiếm Việt Nam.
Vì thế, nhân dân Việt Nam đánh thực dân phản động Pháp tức là đánh những lực
lượng phát xít còn sót lại, tức là đánh bọn phá hoại hòa bình thế giới, đánh bọn đã ngang
nhiên phản bội Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương Đại Tây Dương.
Nhân dân Việt Nam nhận rõ rằng chỉ khi nào quét sạch được bọn thực dân phản
động Pháp ra khỏi Việt Nam thì nhân dân hai nước Việt- Pháp vốn yêu chuộng tự do, độc
lập mới có thể hòa bình hợp tác trong khối Liên hiệp Pháp và trong đại gia đình dân chủ
thế giới.
Như vậy, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh “tiến bộ vì
tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình”.
1.2.4. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946)
Ngày 18,19/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp
mở rộng do Hồ Chí Minh chủ trì, đã quyết định chủ trương phát động cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước và đề ra chủ trương đường lối của Đảng.
Trong bối cảnh đó, Ban Thường vụ Trung ương đã điện cho các chiến khu, các tỉnh
ủy và chỉ thị “hãy sẵn sàng”.
Chiều ngày (19/12/1946), Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp đã quyết định
chuyển đến các đơn vị lực lượng vũ trang mệnh lệnh về thời gian bùng nổ cuộc giao
chiến trong toàn quốc.
Theo chỉ thị của Trung ương, 20h ngày (19/12/1946), tín hiệu bắt đầu cuộc kháng

chiến trong toàn quốc được phát ra. Bộ trưởng Bộ quốc phòng đã công bố mệnh lệnh
chiến đấu, hạ lệnh cho toàn thể lực lượng vũ trang phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới
mặt trận giết giặc cứu nước.


Ngay giữa lúc tiếng súng kháng chiến toàn quốc rền vang ở Hà Nội và trên toàn
quốc, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi
khắp cả nước. Người kêu gọi:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân
nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu
làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân
tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có
súng thì dùng súng, ai có gươm thì dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng,
gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân!
Giờ cứu nước đã đến, ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi
nhất định thuộc về dân tộc ta.
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”
Tiếp đến, ngày (21/12/1946), Người đã gửi thư đến nhân dân Việt Nam, nhân dân
Pháp và nhân dân các nước Đồng minh nói rõ mục tiêu và ý chí đấu tranh vì độc lập tự do
của Việt Nam và khẳng định: “cuộc kháng chiến lâu dài và rất gian khổ. Dù phải hy sinh
bao nhiêu, thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định phải chiến đấu
đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất” [2; 173].

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non
sông đất nước, động thấu trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dậy
mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất, làm cho cả nước đứng lên
chiến đấu bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ người Việt Nam
với mọi vũ khí sẵn có, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ
chính trị dứt khoát và kiên định: “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ”.


Lời kêu gọi kháng chiến là một bản cương lĩnh kháng chiến mang tính khái quát
cao, chứa đựng tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc,
lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi.
Đảng quyết tâm phát động kháng chiến toàn quốc theo quan điểm chiến tranh nhân
dân là một quyết định đúng, kịp thời và là điểm xuất phát cơ bản cho mọi thắng lợi về sau
của cuộc kháng chiến.
1.2.5. Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”
Để giải thích và phát triển quan điểm, đường lối kháng chiến của Đảng và Hồ Chí
Minh, Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương đã viết một loạt bài đăng trên báo Sự thật từ số 70 đến số 81 và nhân dịp kỉ niệm
lần thứ 2, ngày Nam Bộ kháng chiến, tác giả đã sửa chữa, bổ sung và in thành tác phẩm
“Kháng chiến nhất định thắng lợi”.
Tác phẩm khẳng định rõ:
- Kẻ thù dân tộc Việt Nam cần phải đánh đổ:
“Dân tộc Việt Nam đang làm một cuộc chiến tranh thần thánh, giành độc lập tự do,
giữ gìn lãnh thổ của Tổ tiên để lại”. Cả nước đang vùng dậy đánh giặc-bọn thực dân
phản động Pháp.
“Thực dân phản động Pháp, đó là kẻ thù không đội trời chung của ta. Đó là kẻ thù
chính. Đó là kẻ thù đáng muôn đời nguyền rủa. Đó là kẻ thù chúng ta phải xông lên mà
chặn đánh, mà bắn giết, băm vằm”.
Tác phẩm khẳng định, chúng ta không đánh nước Pháp vì nước Pháp là một nước

dân chủ trong bản Hiến Pháp mới: “Không làm một cuộc chiến tranh xâm lược nào và
không bao giờ dùng sức mạnh xâm phạm đến tự do của một dân tộc” [6; 363]. Chúng ta
không phải đánh nhân dân Pháp vì nhân dân Pháp vốn yêu chuộng “tự do, bình đẳng, bác
ái”, họ không muốn xâm chiếm nước ta vì con trai họ chết trận mà lợi thì chỉ ít một số
nước tư bản được hưởng. Ta càng đánh thì nhân dân Pháp càng oán ghét bọn thực dân
Pháp; Họ sẽ đòi chính phủ Pháp phải đình chiến và triệt hồi bọn phản động Pháp ở Đông
Dương đang đi ngược lại ý nguyện của họ và bôi nhọ thanh danh của nước Pháp mới.
Chúng ta cũng không đánh tất cả các hạng thực dân Pháp. Hồ chủ tịch nói:
“Có những nhài tài chính và kinh tế Pháp muốn kinh doanh ở nước ta. Họ hiểu
rằng muốn kinh doanh sinh lợi thì phải thật thà cộng tác với ta. Muốn cộng tác thì
phải để ta độc lập thông nhất, đó là hạng thực dân không phản động. Còn những bọn


cứ muốn dùng âm mưu hoặc vũ lực để dìm Việt Nam xuống, đó là thực dân phản
động” [14; 372].
Chúng ta chỉ đánh bọn thực dân phản động Pháp, bọn dùng “Âm mưu hoặc dùng vũ
lực để dìm Việt Nam xuống”, không chịu thừa nhận quyền độc lập và thống nhất của ta.
Ta càng đánh thì những phần tử thực dân tương đối ngoan cố càng nhận rõ chiến tranh
xâm chiếm Việt Nam là một việc chỉ có hại. Họ sẽ phản đối bọn thực dân ngoan cố, cực
đoan và chủ trương giảng hoà với Việt Nam.
Chúng ta càng không bài Pháp, không bài ngoại. Chúng ta chỉ bài trừ thực dân
phản động Pháp. Vì vậy, ta đánh Pháp nhưng không bỏ lỡ cơ hội nào để tuyên truyền
lính Pháp, lính lê dương, lính thuộc Pháp và luôn luôn đối đãi tử tế với họ khi họ bị
bắt làm tù binh.
Về phần lính ngụy, là người nước ta, phần đông xuất phát từ nông dân. Họ bị thực
dân lợi dụng để đánh lại Tổ quốc. Ta càng cần phải ra sức tuyên truyền vận động làm cho
họ giác ngộ để họ vác súng chạy sang hàng ngũ kháng chiến, chúng ta tiêu diệt bọn thực
dân xâm lược, lập công chuộc tội với đồng bào.
Ta làm được như thế thì hàng ngũ của địch sẽ bị tan rã, bọn thực dân phản động
Pháp sẽ bị cô lập. “Cô lập kẻ thù để đánh đổ nó” đó là một sách lược thông thường của

một giai cấp, một dân tộc quyết chiến và quyết thắng [6; 366].
- Tác phẩm xác định lí do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến:
Trong lời kêu gọi đồng bào kháng chiến, ra ngày (22/12/1946), Hồ chủ tịch nói:
“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng! Chúng ta càng
nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần
nữa”. Pháp là tên đế quốc thực dân, chúng tham lam, tàn nhẫn, giày xéo lên chính nghĩa.
Chúng đánh ta thì ta phải đánh lại để tự vệ, bảo vệ non sông đất nước.
Đồng chí Trường Chinh cũng đã lấy những dẫn chứng rất cụ thể vạch trần bộ mặt gian ác
của thực dân Pháp và khẳng định lí do vì sao chúng ta phải chiến đấu đến cùng.
- Tháng Tám năm 1945, Nhật thất bại, nhân dân ta khởi nghĩa giành chính quyền.
+ Ngày (23/9/1945), thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh
xâm lược nước ta một lần nữa.
Chúng không thi hành hiệp định Sơ Bộ, không những không đình chiến trong Nam
Bộ, lại lập chính phủ bù nhìn của cái gọi là “Nước Nam Kỳ tự trị” và đánh chiếm miền tây
Nam Trung Bộ, định lập “nước Tây Kỳ”, đồng thời đánh ta ở Sơn La và Lai Châu thuộc


×