TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****
NGUYỄN THỊ THU THẢO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ
SỰ CỐ TRÀN DẦU DO HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI TẠI
HẢI PHÒNG
HÀ NỘI, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ
SỰ CỐ TRÀN DẦU DO HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI TẠI
HẢI PHÒNG
Chuyên ngành
Mã ngành
Sinh viên thực hiện
Giảng viên hướng dẫn
: Quản lý biển
: 52850199
: Nguyễn Thị Thu Thảo
: TS.Trần Thị Minh Hằng
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Thị Minh Hằng. Các số liệu, kết quả nghiên cứu
được là trung thực .
Trong quá trình làm tôi có tham khảo các tài liệu liên quan tới đề tài nghiên cứu
nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và tính cấp thiết của đề tài. Các số liệu trích dẫn rõ
nguồn gốc và các tài liệu tham khảo được thống kê chi tiết. Nếu không đúng như đã
nêu trên, tôi xin hoàn thành chịu trách nhiệm về đề tài của mình.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thu Thảo
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy,
cô giáo trong khoa Khoa Học Biển và Hải Đảo, cũng như các thầy cô giáo đang công
tác tại các phòng ban của trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội đã trang
bị cho tôi những kiến thức, kỹ năng cần thiết cũng như tạo cơ hội cho tôi được trải
nghiệm môi trường làm việc thực tế , tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành
khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Tiến Sĩ Trần Thị
Minh Hằng người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo cho tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn các học viên lớp DH3QB2 đã chia sẻ những khó khăn,
trao đổi những kiến thức giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này. Cùng với tình cảm
của bạn bè, người thân và gia đình đã luôn ở bên hết lòng động viên và giúp đỡ tôi
trong quá trình hình thành khóa luận.
Trong quá trình làm khóa luận, dù cố gắng hết mình trong việc nghiên cứu và
đưa ra giải pháp nhưng vẫn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi xin trân trọng cảm ơn và
mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thu Thảo
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG............................................................................................................v
v
DANH MỤC HÌNH............................................................................................................vi
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.........................................................................2
3. Nội dung nghiên cứu của đề tài........................................................................2
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCHPCTT và TKCN
Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
BĐBP
Bộ đội biên phòng
Công ty 128
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 128 trực
thuộc quân chủng Hải quân
CV
Công suất của động cơ
KHCN
Khoa học công nghệ
NNTPNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
SCTD
Sự cố tràn dầu
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TNMT
Tài nguyên và Môi trường
TP
Thành phố
UBND
Ủy ban nhân dân
ƯPSCTD
Ứng phó sự cố tràn dầu
iv
DANH MỤC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG........................................................................................................v
v
DANH MỤC HÌNH........................................................................................................vi
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí và thông tin về các bến cảng xăng dầu.........Error: Reference source
not found
Hình 1.2 Loài khỉ vàng tại vườn Quốc gia Cát bà..........Error: Reference source not
found
Hình 1.3 Rừng ngập mặn tại Hải Phòng..............Error: Reference source not found
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Hải Phòng........Error: Reference source not
found
Hình 3.1 Sơ đồ nhạy cảm đường bờ TP. Hải Phòng.......Error: Reference source not
found
Hình 3.2 Sơ đồ nhạy cảm tài nguyên sinh vật thành phố Hải Phòng...............Error:
Reference source not found
Hình 3.3 Sơ đồ nhạy cảm tài nguyên do con người sử dụng TP. Hải Phòng
Error: Reference source not found
Hình 3.4. Diễn tập sử dụng phao quây khắc phục sự cố tràn dầu....................Error:
Reference source not found
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải phòng là thành phố cảng biển quốc tế, đô thị loại 1 cấp Quốc Gia có diện
tích đất tự nhiên 1.519,2 km2, 125 km chiều dài bờ biển và 7/15 quận, huyện tiếp
giáp với biển, trong đó có hai huyện đảo (Cát bà và Bạch Long Vĩ). Hải phòng với
vị thế là cửa ngõ chính ra biển của miền Bắc nước ta, nằm trong 2 tuyến hành lang
và một vành đai hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, là một trong những
đầu mối giao thông biển quan trọng của cả nước, có hệ thống cảng sông phát triển,
vì vậy nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu trên địa bàn thành phố Hải Phòng rất cao.
Sự gia tăng của các hoạt động giao thông trên biển, các hoạt động tàng trữ,
vận chuyển và phân phối xăng dầu trên biển và trên sông. Hải phòng có hơn 45
cảng biển (theo quyết định số 1943/QĐ-BGTVT ngày 22/6/2016 của Bộ giao thông
vận tải: và 230 cảng biển thủy nội địa, bến tàu có khả năng tiếp nhận tới
40.000DWT với số lượng tàu thuyền cập cảng cũng như khối lượng hàng hóa thông
qua cảng Hải phòng không ngừng gia tăng. Đến năm 2020, sản lượng hàng hóa
thông qua cảng Hải Phòng dự kiến lên đến 100 triệu tấn , trong đó dầu thô và sản
phẩm dầu được nhập xuất qua cảng, phục vụ cho toàn bộ khu vực các tỉnh phía Bắc.
Khu vực biển ngoài khơi của thành phố là nơi có nhiều tuyến hàng hải đi qua,
bao gồm hàng hải quốc tế vận chuyển dầu, hàng nối với các nước, lãnh thổ Đông
Bắc Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Triều Tiên..) với
các nước khu vực Trung Đông, Châu Âu . Tuyến này được đánh giá là một trong
những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới, riêng lượng dầu được vận chuyển đã
lên đến nhiều trăm triệu tấn mỗi năm. Là tuyến hàng hải quốc tế nối các cảng biển
Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam với các cảng nước ngoài và tuyến hàng hải nối
giữa các cảng biển của Việt Nam với nhau.
Ngành hàng hải là một trong những ngành đóng vai trò to lớn trong quá trình
phát triển kinh tế Hải Phòng nói riêng và nước ta nói chung, đóng góp cho sự phát
triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Khu vực cảng biển
Hải Phòng là cửa ngõ thông ra biển của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Hoạt
1
động hàng hải tại vùng nước cảng biển Hải Phòng diễn ra khá nhộn nhịp, sản lượng
hàng hóa thông qua cảng tăng cao qua các năm.
Trong quá trình vận tải hàng hóa trên biển, nhiều sự cố kỹ thuật, va chạm đã
xảy ra và dầu, nhiên liệu hóa chất tràn ra biển,bờ biển gây nhiều tác hại nghiêm
trọng tới môi trường biển, tới hệ sinh thái, động, thực vật trên biển, rừng ngập mặn
ven biển, san hô, nghề đánh…
Là một trong những thành phố có nhiều cảng nhất khu vực miền Bắc nước ta,
hoạt động giao thông vận tải hàng hải rất đa dạng và phát triển đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng. Vì vậy, việc lựa chọn đề
tài " Đánh giá hiện trạng và khả năng ứng phó sự cố tràn dầu do hoạt động hàng
hải tại Hải Phòng" là rất cần thiết, nhằm góp phần vào cơ sở nâng cao khả năng
ứng phó tràn dầu cho Hải Phòng.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung của đề tài .
Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng sự cố tràn dầu xảy ra tại Hải Phòng và
khả năng ứng phó sự cố
2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài
Đánh giá các nguồn tiềm ẩn tràn dầu trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đánh giá
khả năng xảy ra sự cố tràn dầu .
Xác định các vùng nhạy cảm đối với sự cố tràn dầu
Khả năng ứng phó kịp thời , hiệu quả sự cố tràn dầu tới mức thiệt hại thấp nhất
đối với môi trường, thông qua :
+ Văn bản pháp luật….
+ Thực trạng ứng phó….
+ Thực trạng quản lý….
+
Cơ sở vật chất (trang thiết bị, nhân lực)….
3. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Những nội dung chính của đề tài bao gồm:
• Hiện trạng sự cố tràn dầu trên địa bàn thành phố Hải Phòng
• Các vùng nhạy cảm đối với sự cố tràn dầu trên địa bàn Hải Phòng
2
• Hiện trạng quản lý trong ứng phó sự cố tràn dầu của Hải Phòng
• Đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng ứng phó sự cố tràn dầu từ hoạt
động hàng hải cho Hải Phòng
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.1.1
Điều kiện tự nhiên
Vị trí , địa lý
Hải phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình
thuộc đồng bằng sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 120 km, có vị trí nằm trong
khoảng từ 20030’39’’ đến 21001’15’’ vĩ độ Bắc và từ 106023’29’’ đến 107008’39’’
kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh
Hải Dương, phia Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Đông là biển Đông với đường
bờ biển dài 125 km với 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc,
và Thái Bình.
1.1.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Bờ biển Hải Phòng có địa hình chủ yếu là đồng bằng tích tụ, bằng phẳng, cấu
tạo là đất đá bờ rời từ nguồn gốc sông biển- đầm lầy hỗn hợp. Phân cách giữa đồng
bằng bồn trũng Hải Phòng với đồng bằng Thái Bình là bán đảo Đồ Sơn, cấu tạo bờ
bằng đá cứng thuộc hệ tầng Đồ Sơn.
Đường bờ biển và cửa sông khúc khuỷu, phức tạp, bị phân cách bởi hệ thống
sông ngòi khá dày đặc. Các cửa sông ở vùng biển Hải Phòng rộng lớn có nhiều bãi
triều, thuộc dạng cửa sông đồng bằng. Cửa sông dạng hình phễu như: cửa Lạch
Huyên, cửa Nam Triệu- Bạch Đằng và cửa sông dạng châu thổ như: cửa Văn úc,
cửa Thái Bình.
Đoạn bờ thuộc huyện Tiên Lãng, Kiến Thụy và phía Nam Đồ Sơn Đây là
đoạn bờ đang phát triển theo xu thế bồi tụ châu thổ và chuyển sang giai đoạn ngừng
xới lở. Quy trình bồi tụ mở rộng bãi đang được diễn ra mạnh mẽ. Đường bờ ở đây
tương đối thẳng. Mái bờ rộng và có độ dốc thoải. Thành phần Trầm tích bãi chủ yếu
là cát bùn và bột cát. Ven bờ cửa sông phát triển rừng ngập mặn và thuận lợi cho
khai thác nuôi trồng thủy sản. Tuy vậy, loại hình đường bờ này tạo điều kiện tích tụ
và lưu giữ dầu rất lâu.
4
Ở đoạn bờ thuộc bán đảo Đồ Sơn, các bãi cát được hình thành do động lực
biển. Các bãi này thường có đường bờ dạng lõm hoặc hơi cong vào phía lục địa. Hai
đầu bãi thường được khống chế bởi các đoạn bờ mài mòn đá gốc. Mặc bờ bãi thoải,
cát có độ chọn lọc tốt. Thành phần hạt cát có cấp hạt trung bình đến thô. Các bãi cát
này thường được khai thác, sử dụng làm các bãi tắm du lịch. Bờ tích tụ dạng bãi này
rất thuận lợi cho điều kiện tích tụ khi có sự cố tràn dầu lan tới. Đặc biệt với các bãi
cát lượng dầu có thể bị hấp thụ cao khi có mực thủy triều rút.
Đoạn bờ từ bán đảo Đồ Sơn đến cửa Lạch tray phát triển nhiều rừng ngập
mặn, các bãi triều thoải phù hợp với nuôi trồng thủy sản.
Đoạn bờ từ cửa Lạch Tray đến cực Nam đảo Cát Bà là kiểu bờ được đặc
trưng bởi tương quan bổi tụ và xói lở phức tạp, tác động của con người đã làm thay
đổi cơ bản cấu trúc địa tầng, thủy văn do đảo đắp đầm nuôi trông thủy sản, đập ngăn
dòng nước, xây dựng dự án khu công nghiệp …. Kiểu bờ được đặc trưng bởi quá
trình lầy hóa mạnh mẽ, các bãi triều hình lưới trên các khối sụt hạ (Cát Hải) và hình
thành cây ở ven rìa khối nâng Cát Bà. Tại đoạn bờ này quá trình xâm thực chiếm ưu
thế, bao gồm cả xâm thực ngang và xâm thực sâu.
Bờ ở đảo Cát Bà và các đảo nhỏ xung quanh này chủ yếu là bờ mài mòn đá
gốc. Chúng có thể đặc trưng cho một kiểu bờ biển riêng biệt và cũng có thể phát
triển xen kẽ giữa các bờ tích tụ và mài mòn. Đối với các bờ biển, bờ đảo là đá vôi,
thường hình thành các ngấn nước hốc sóng vỗ mài mòn và đôi chỗ quan sát được
các tảng đá đổ, đá lở nằm dưới chân bờ. Một số bờ đá gốc (đá vôi) phát triển các
hang động. Các hốc đá sóng vỗ có khả năng tích tụ cao khi có sự cố dầu tràn, đặc
biệt là các đoạn bờ khuất so với hướng song.
Tóm lại, địa hình thấp trũng, sông ngòi của Hải Phòng dầy đặc rất thuận lợi
cho việc lan truyền dầu vào sâu trong lục địa khi có sự cố tràn dầu trong thời điểm
triều lên, vào mùa khô kiệt.
1.1.1.2 Đặc điểm khí tượng, khí hậu
Thời tiết Hải Phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm thấp đặc trưng của thời
tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều ; mùa đông khô và lạnh. Có 4
mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông . Nhiệt độ trung bình vào mùa hè vào tháng 7 là
5
28,30C, tháng lạnh nhất là tháng 1 (16,30C). Số giờ nắng trong năm cao nhất là các
tháng mùa hè và thấp nhất vào tháng 2, độ ẩm trung bình trên 80%, lượng mưa
1600-1800 mm/năm. Tuy nhiên, thành phố cũng phải hứng chịu những đợt nắng
nóng và đợt lạnh bất thường , năm 2011 nhiệt độ trung bình tháng 1 của thành phố
xuống tới 12,10C, gần đây nhất năm 2016 thành phố trải qua
1.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
1.1.2.1 Dân số và phân bố dân cư
Theo số liệu từ Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng 2015, dân số các
huyện ven biển là 926,376 người, chiếm 48% dân số toàn thành phố. Mật độ dân số
của Hải Phòng là 1.260 người/km2, mật độ dân số vùng ven biển đạt 815 người/km 2,
nơi thưa dân nhất là huyện đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ, đông dân nhất là các
huyện Thủy Nguyên, An Lão và Kiến Thụy.
Dân cư sống ở các phường/xã ven biển có nguy cơ bị ảnh hưởng cao nhất từ
các sự cố tràn dầu. Hầu hết người dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt, nuôi
trồng và chế biến thủy sản cũng như các dịch vụ đi kèm (cung cấp ngư cụ, xăng
dầu, nước, đá..). Khi có sự cố tràn dầu xảy ra sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu nhập
của người dân do không thể ra khơi đánh bắt hoặc nguồn lợi cá/tôm bị chết.
1.1.2.2 Đặc điểm về kinh tế
Các số liệu thống kê giai đoạn 2015- 2016 của thành phố Hải Phòng cho thấy,
cơ cấu kinh tế của thành phố nhìn chung đang dần chuyển dịch theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, giảm dần tỷ trọng sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp,
tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ trong đó có dịch vụ du lịch. Chỉ số phát triển kinh
tế hàng năm (GDP) của Hải Phòng tăng mạnh, trung bình tăng khoảng 20%/năm.
1.1.2.3 Hoạt động hàng hải
-
Tuyến hàng hải quốc tế
Khu vực cảng Hải Phòng có các tuyến hàng hải quốc tế xuất phát từ Việt Nam đi
các quốc gia khác như: Hải Phòng-Hồng Kông, Hải Phòng- Tokyo. Ngoài ra,
ngoài khơi có các tuyến đường hàng hải quốc tế vận chuyển dầu từ Trung Đông
đến Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc với lượng dầu được vận chuyển qua các
tuyến hàng hải này lên đến hàng triệu tấn/năm.
6
- Tuyến hàng hải nội địa
Hải phòng tập trung các cảng biển lớn của cả nước, hiện có rất nhiều tuyến vận tải
đường biển nội địa từ Hải Phòng đi các tỉnh/thành phố khác nhằm chuyên chở
hành khách, hải sản, thương phẩm và nhiên liệu, bao gồm: tuyến Hải Phòng- Cửa
Lò, tuyến Hải Phòng- Đà Nẵng và tuyến Hải Phòng- thành phố Hồ Chí Minh.
- Luồng tàu và hoạt động giao thông đường thủy tại Hải phòng
Hệ thống giao thông đường thủy Hải Phòng được đánh giá là đa dạng, phức tạp
nhất miền Bắc. Toàn thành phố có 26 tuyến giao thông đường thủy, với tổng chiều
dài hơn 506 km, trong đó có 17 tuyến quốc gia và 9 tuyến địa phương, đặc biệt có
tuyến ven đảo Cát Bà dài 20,6 km. Nhiều tuyến sông như Lạch Tray, Phi Liệt,
sông Đào, Bạch Đằng.. tập trung nhiều phương tiện tham gia hoạt động. Tính đến
năm 2015, tổng số phương tiện thủy nội địa đang hoạt động của thành phố là 7463
phương tiện, khoảng 4000 tàu cá và hơn 2000 phương tiện cơ giới nhỏ trọng tải
dưới 5 tần. Đường thủy nội địa hiện đang tiềm ẩn hàng loạt nguy cơ mất an toàn
giao thông, nhất là trong mùa du lịch và mưa bão, nguy cơ xảy ra các sự cố tràn
dầu là rất cao.
1.1.2.4 Hoạt động dầu khí trong khu vực
Hoạt động dầu khí tại khu vực vịnh Bắc Bộ mới được triển khai từ năm 2006
trở lại đây, một số nhà thầu đang quản lý và khai thác ở khu vực ngoài khơi như: Lô
101- 100/04 do Salamander quản lý; Lô 102 và 106/04 do PETRONAS quản lý.
Ngoài ra, các Lô 103&107, 104-109/05 cũng đang được Bạch Đằng POC, Premier
Oil tiến hành hoạt động thăm dò và phát hiện dầu khí. Khu vực các Lô MVHN01KT và MVHN- 02KT trên đất liền thuộc địa phận các tỉnh Hà Nam, Hưng
Yên, Nam Định và Thái Bình do hai công ty Quad Energy và Arrow Energy quản
lý.
Hiện nay, các hoạt động dầu khí trong khu vực biển Miền Bắc cũng chỉ dừng lại
ở mức thăm dò và phát hiện tiềm năng, mà chưa có mỏ nào được đưa vào khai thác.
1.1.2.5 Hoạt động tàng trữ, vận chuyển và phân phối xăng dầu
Theo Quyết định số 1433/QĐ-BGTVT ngày 21/4/2014 của Bộ Giao thông
Vận tải về Công bố danh mục bến cảng thuộc cảng biển Việt Nam, trong số 66
7
bến cảng và cầu cảng hiện có tại Hải Phòng thì có khoảng 12 bến cảng liên
quan đến xuất nhập khẩu xăng dầu và 1 bến cảng xuất nhập khẩu hóa chất (DAP VINACHEM Đình Vũ)
Nơi đây thường có các tàu chở xăng dầu trọng tải lớn cập cảng để bơm hút
xăng dầu tạo nên nguy cơ cao xảy ra các vụ tràn dầu trên 500 tấn.
1.1.2.6 Hoạt động ngư nghiệp
Theo thống kê năm 2015 NGTK TP Hải phòng các loại tàu thuyền sử dụng cho
khai thác thủy sản của thành phố gồm 2.706 chiếc với tổng công suất 105.069 cv.
Trong đó thuyền khai thác gần bờ công suất dưới 20 cv có 1.4776 chiếc; loại từ
20cv đến dưới 45 cv có 593 chiếc; loại từ 45 cv đến dưới 90 cv có 249 chiếc va
tàu trên 90 cv có 388 chiếc.
Vùng biển Hải Phòng là một trong những khu vực có mật độ phân bố của
các loại hải sản khá cao so với các khu vực khác ở vùng Vịnh Bắc Bộ. Các ngư
trường khai thác chính ở vùng biển Hải Phòng và các vùng lân cận là : Ngư trường
Bạch Long Vĩ, Ngư trường Cát Bà- Bắc Long Châu, Ngư trường Nam Long Châu
Hình 1.1 Vị trí và thông tin về các bến cảng xăng dầu
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hải Phòng)
Hải phòng là địa phương có truyền thống và kinh nghiệm về nuôi trồng
thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Theo báo cáo của ngành thủy sản Hải
Phòng được cập nhật, Hải Phòng có 12 nghìn ha nuôi trồng thủy sản , trong đó
diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt là 5.697 ha; nước lợ-mặn là 6.620,46ha
8
Nếu có sự cố tràn dầu, nguy cơ thiệt hại về kinh tế cho ngành thủy sản và
bà con Ngư dân là rất lớn, đòi hỏi phải có các biện pháp hiệu quả ứng phó với sự
cố tràn dầu.
1.1.3 Đặc điểm môi trường sinh thái
1.1.3.1 Hệ sinh thái trên cạn
Khu vực biển Hải Phòng có rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ tạo thành dày quần
đảo độc đáo về cảnh quan, đa dạng sinh học cao và phong phú gồm các kiểu loại hệ
sinh thái như rừng tự nhiên, vũng, vịnh, tùng áng, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm
cỏ biển... Tại đây hội tụ nhiều địa điểm có giá trị quốc gia và quốc tế về bảo tồn
thiên nhiên mà tiêu biêu là vườn quốc gia Cát Bà. Hệ sinh thái còn có những chức
năng dịch vụ quan trọng như bảo vệ bờ, chống xói lở (rừng ngập mặn, rạn san hô,
thảm cỏ biên); cung cấp nơi sinh sản và ươm giống thùy sinh vật (rừng ngập mặn,
rạn san hô, thảm cỏ biên, cửa sông), tạo cảnh quan phục vụ phát triền du lịch biển.
• Hệ sinh thái rừng tự nhiên
Rừng tự nhiên cùa Hải Phòng phân bố chú yếu trên quần đảo Cát Bà, tồn tại
các hệ sinh thái điển hình liền kề nhau tại một khu di sàn và tập trung cao về đa
dạng sinh học với nhiều loài quý hiếm, đặc hữu, loài bị đe dọa có giá trị toàn cầu.
Vùng lõi vườn Quốc gia Cát Bà với 15.067 ha trong đó rừng nguyên sinh còn sót lại
với diện tích là 1.045,2 ha nằm ớ trung tâm đảo, phần còn lại là rừng tái sinh và
rừng trồng. Khu này có mức độ da đạng sinh học cao với 1561 loài thuộc 5 ngành
thực vật dó là: hạt kín (1462 loài), thông (29 loài), dương xi (63 loài), tháp bút (1
Loài), thạch tùng (6 loài). Sống trong khu rừng này có trẽn 200 loài dộng vật trên
cạn trong dó có thú (20 loài), chim (69 loài), bò sát (15 loài), lường cư (11 loài,
trong đó có những loại đặc hừu và quý hiếm như: voọc đầu trắng, sơn dương, nhạn
trắng, tắc kè, kỳ đà, khỉ vàng.
9
Hình 1.2 Loài khỉ vàng tại vườn Quốc gia Cát bà
(Nguồn: Vườn quốc gia Cát Bà)
• Hệ sinh thải rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn phân bổ ớ vùng cửa sông ven biển, tập trung tại các
quận/huyện ven biên là Thúy Nguyên, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Cát Hải, Đồ Sơn,
Dương Kinh và Hải An. Rừng ngập mặn phát triển nhờ các đảo che chán ở phía
ngoài, có các loài cây chủ yếu là dước, vẹt, vẹt dìa, sú mắm. Đen cuối năm 2015,
Thành phổ Hài Phòng nâng quỳ rừng ngập mặn ven biến lên hơn 6.800 ha, chiếm
27,7% diện tích bãi triều.
Hình 1.3 Rừng ngập mặn tại Hải Phòng
(Nguồn: Vườn quốc gia Cát Bà)
• Hệ sinh thái vùng triều
Hệ sinh thái này bao gồm các bãi cát, bài rạn đá và vùng triều hồn hợp. HST
này chiếm một vùng diện tích tương đối rộng từ triều cao tới triều thấp. Quần đảo
Cát Bà có tới hàng trăm hòn nhỏ ở các khu vực xa bờ. Ở đây, sự phân bố của động
vật đáy phụ thuộc vào cấu tạo đáy hồn hợp của triều cát - đá vụn, san hô với các
động vật rạn san hô, đặc biệt ở các tằng rạn san hô đã chết. Vì vậy nó có tính pha
trộn của hệ dộng vật ở đáy và đặc biệt có giun nhiều tơ, cua, tôm gõ mõ, đuôi rắn,
các loại thân mềm.
• Hệ sinh thái hãi triêu lảy vùng cửa sông
Các bãi triều thấp đáy mềm phân bố chù yếu ờ khu vực cửa sông Bạch Đằng
quanh các đảo Phù Long, Cát Bà. Phần lớn diện tích đất ngập nước triều đáy mềm
đã bị sử dụng, khai thác làm đầm nuôi thúy sản. Tuy thành phần loài cùa quần xà
sinh vật trên vùng thấp triều dáy mềm nghèo hơn vùng đảo xa bờ nhưng trên vùng
này lại hình thành nhiều bãi hải đặc sản quan trọng và trữ lượng cao, sản lượng khai
thác lớn.
• Hệ sinh thái các hồ nước mặn
10
Là các hồ nằm trong các hòn dào đá vôi dược gọi là ho Karst, chứa nước
mặn với những sinh cảnh đặc biệt. Cho tới nay đã biết được 26 hồ (áng) tại quần
đảo Cát Bà - Long Châu. Thủy vực này thường không lớn, còn giữ được tính
nguyên thủy cùa sinh vật, nhiều loài cô xưa khác với ngoài biên xung quanh, mang
tính quý hiếm gặp ở nhóm sứa, hải miên, thân mềm, giáp xác và cá.
• Hệ sinh thái các hang đá
Chủ yếu là các hang động trên cạn và dưới nước ở quần đảo Cát Bà. Hang
động chứa nhiều sinh cảnh đủ cấu thành quần xà sinh vật đặc biệt trong môi trường
được coi là các hệ sinh thái nhỏ, một cấu thành của các hệ sinh thái quần đảo Cát
Bà.
1.1.3.2 Hệ sinh thái dưới nước
• Hệ sinh thái rạn san hô
Phân bố chủ yếu ở phía Đông Nam quần dảo Cát Bà - Long Châu với diện
tích 1.500 ha. Hệ sinh thái này lớn nhất vịnh Bẳc Bộ, có tới 193 loài với hai nhóm
san hô là san hô cứng và san hô mềm. Trong đó san hô cứng chiếm đa số đặc biệt
san hô dạng khối rất phong phú, tạo thành rừng ở độ sâu từ 3 - 1 lm và là nơi lưu
giữ và phát tán nguồn gen chú yếu cho vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, các rạn san hô hiện
nay chủ yếu đang ở tình trạng xấu. Các kết quả diều tra từ năm 2004 đến 2007 tại 7
vùng rạn san hô trọng diêm cùa Việt Nam (trong dó có vùng Quảng Ninh-Hải
Phòng) cho thấy chi có 2,9 % diện tích rạn san hô dược đánh giá là trong điều kiện
phát triển rất tốt, 11,6 % ở trong tình trạng tốt, 44,9 % ở tình trạng xấu và rất xấu.
• Hệ sinh thái thảm cỏ biển
Khu vực biến Hái Phòng có thảm cỏ biển phân bố ở khu vực Cát Bà. Phù
Long. Toàn bộ khu vực từ Quang Ninh dến Hài Phòng đã xác dịnh dược 6 loài c ỏ
biển..
Trong hệ sinh thái cỏ biến, các nhóm sinh vật khác sống trên thám cỏ biển dã
được nghiên cứu hai nhóm là rong biển và dộng vật đáy cỡ lớn. Tại vùng biên Hạ
Long - Cát Bà dã phát hiện 138 loài rong biển. Những khu vực có nhiều loài rong
biển phân bố như: cồ Ngựa (32 loài). Vụng Gia (27 loài), Hòn Mặt Quý (25 loài),
Hang Trinh Nữ (23 loài), Hòn Mây Đèn (22), Hòn vều (20), Tùng Gió (17 Loài),
11
Ang Thàm (27 loài). Có 8 loài quý hiếm dã dược đưa vào sách đỏ Việt Nam. Đã
phát hiện 41 loài thuộc 37 giống, 25 họ thuộc 4 nhóm dộng vật đáy (thân mềm, giáp
xác, da gai. và giun nhiều tơ) sống trong tham cỏ biên ớ vùng Quáng Hả và vịnh Hạ
Long, số loài động vật đáy sống trong tham cỏ biến cao hơn bên ngoài từ 1,5 dến 2
lần; sinh lượng cao hơn từ 2,8 dến 6,1 lẩn. Trong thám cò biến còn có nhiều loài
động vật kinh tế như ngao, ngó dò, ngó den. hến, cua. tôm, cá, hái sâm, ...
Cùng như đối với rạn san hô, thảm cỏ biển cũng đang bị mất dần diện tích do
tai biến thiên nhiên, lấn biến dề xây dựng các ao nuôi thủy sàn và các công trình ven
biến. Độ phủ cò biên ờ những khu vực này chi còn bằng một nửa so với 5 năm
trước.
1.2 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
1.2.1 Một số khái niệm và phân loại sự cố tràn dầu
1.2.1.1 Các khái niệm
Sự cố tràn dầu là hiện tượng dầu từ các phương tiện chứa, vận chuyển khác
nhau, từ các công trình và các mỏ dầu thoát ra ngoài môi trường tự nhiên do sự cố
kỹ thuật, thiên tai hoặc do con người gây ra (theo quyết định số 1-3/2005/QĐ-TTg).
Trong đó, dầu thô và các sản phẩm dầu được hiểu như sau:
- Dầu thô: là dầu từ các mỏ khai thác chưa qua chế biến.
- Dầu thành phần: là các loại dầu đã qua chế biến như xăng, dầu hỏa, dầu máy
bay, dầu diesel (DO) , dầu mazut (FO) và các loại dầu bôi trơn, bảo quản dầu thủy lực.
- Các loại khác: là dầu thải, nước thải dầu từ các hoạt động súc rửa, sửa chữa
tàu biển, tàu sông và các phương tiện chứa dầu.
Sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng là sự cố xảy ra với khối lượng lớn dầu
tràn ra trên diện rộng, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố đe dọa nghiêm trọng đến
tính mạng, tài sản, môi trường và đời sống, sức khỏe của nhân dân.
Ứng phó sự cố tràn dầu bao gồm các hoạt động sử dụng lực lượng, phương
tiện, thiết bị, vật tư nhằm xử lý kịp thời, loại trừ hoặc hạn chế tối đa nguồn dầu tràn
ra môi trường.
Hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu là tất cả các hoạt động từ việc chuẩn bị,
ứng phó, khắc phục, giải quyết hậu quả sau sự cố tràn dầu.
12
Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu là dự kiến các nguy cơ, tình huống sự cố có
khả năng xảy ra tràn dầu cùng các phương án ứng phó trong tình huống dự kiến đó,
các chương trình huấn luyện, diễn tập để đảm bảo sự sẵn sàng các nguồn lực kịp
thời ứng phó khi sự cố tràn dầu xảy ra trên thực tế.
Diễn biến (của tràn dầu) mô tả tổng hợp sự trôi dạt của vệt dầu và sự thay đổi
tính chất của dầu (phong hóa) trong quá trình trôi dạt đó.
1.2.1.2 Phân loại sự cố tràn dầu
Phân loại SCTD theo nơi tiếp nhận dầu tràn
- Tràn dầu trên đất liền:
• Rạn nứt các thể tích các ống dẫn dầu: có thế do động đất, các mối hàn
không đảm bảo chất lượng nên xảy ra trường hợp rạn nứt mối hàn…
khiến dầu bị tràn ra môi trường.
• Do phụt bể chứa: Các bể chứa chỉ có một thể tích nhất định, khi lượng
dầu được xả vào bể quá mức sẽ gây ra hiện tượng tràn hoặc do sự thay
đổi thời tiết làm cho thể tích dầu tăng lên cũng là nguyên nhân làm
dầu từ các bể chứ trào ra.
• Rò rỉ từ quá trình tinh chế, lọc dầu.
• Rò rỉ từ quá trình khai thác, thăm dò trên đất liền.
- Tràn dầu trên biển
•
Rò rỉ từ các tàu thuyền hoạt động ngoài biển và trong các vịnh: Các
tàu thuyền đều sử dụng nguồn nhiên liệu là dầu do đó khi các bình
chứ dầu của thuyền không đảm bảo chất lượng khiến dầu bị rò rỉ ra
biển.
•
Rò rỉ từ các giếng khoan dầu trên vùng biển thềm lục địa: Công tác
xây dựng không đảm bảo làm cho dầu từ các giếng này đi ra môi
trường.
• Các SCTD do tàu và sà lan trở dầu bị đắm hoặc va đâm: Đây là
nguyên nhân rất nguy hiển không những tổn thất về mặt kinh tế, môi
trường mà còn đe dọa tới tính mạng con người.
- Tràn dầu trên sông:
13
•
Dầu rò rỉ từ các bình chứa nhiên liệu của các tàu thuyền hoạt động
trên sông.
•
Các SCTD do tàu và sà lan trở dầu bị đắm hoặc va đâm.
Phân loại SCTD theo nguồn gốc dầu tràn
− Từ các hoạt động tàu thuyền:
− Do chất thải công nghiệp và dân dụng đổ ra biển .
− Dầu từ các tai nạn, sự cố giao thông đường thủy .
− Dầu từ khí quyển.
− Dầu rò rỉ khâu dự trữ.
− Dầu từ các hoạt động dầu khí (thăm dò - khai thác).
Phân loại SCTD theo chủng loại dầu tràn để ứng phó
− Dầu nhẹ, dễ bay hơi (light volatile oils) như: nhiên liệu chưng cất và
dầu thô nhẹ nhất.
−
Dầu không nhớt (dính) như: Dầu thô và dầu tinh chế (có hàm lượng
parafin từ trung bình tới nặng) .
−
Dầu nhớt (dính) nặng như: Dầu nhiên liệu dư (có hàm lượng asphal
từ trung bình tới nặng).
− Dầu không bay hơi (non fluid oils) như: Dầu thô nặng.
− Dầu nặng (sinking oils) như; Dầu thô, dầu nhiên liệu nặng.
Phân loại dầu tràn theo độc tố trong thành phần hóa học của dầu.
Dầu mỏ là những hidrocacbon, có thành phần cơ bản là C và H. Từ thành
phần dầu đến thành phần khí, hàm lượng H tăng dần. Tỷ lệ C/H được xem là một
chỉ tiêu đặc trưng về thành phần dầu thô, vì tỷ lệ này tăng theo tỷ trọng dầu. Ngoài
hidrocacbon, trong dầu thô còn thường xuyên có các nguyên tố N, O, S và một số
kim loại khác ở dạng vi lượng. Bốn tổ phần hidrocacbon cơ bản trong thành phần
dầu thô là: parafin, naften, hợp chất thơm (aromatic) và acetylen, ngoài ra còn có
resin.
1.2.2
Tác động của dầu tràn
14
Kể từ khi nhân loại biết khai thác và sử dụng dầu mỏ đến nay thì những sự
cố trong việc khai thác, vận chuyển dầu mỏ trên thế giới đã trở thành mối đe dọa
lớn đối với môi trường nói chung và các hệ sinh thái nói riêng.
SCTD làm ảnh hưởng đến môi trường đất, khí và đặc biệt gây nguy hại
nghiêm trọng môi trường nước do hầu hết các vụ tràn dầu xảy ra trên biển hay các
kênh rạch nơi có tàu thuyền qua lại. Khi SCTD xảy ra trên đất hoặc trên nước,
không chỉ làm ô nhiễm môi trường hiện tại mà còn để lại những hậu quả nghiêm
trọng và lâu dài về sau. Khi dầu tràn trên đất và trên nước xâm nhập vào bờ biển và
bờ sông nếu không được xử lý thì để càng lâu dầu càng ngấm sâu. Một thời gian sau
có thể trên mặt đất không còn dấu hiệu của dầu do bị nước thủy triều rửa trôi hay bị
các lớp đất khác lấp lên, nhưng thực chất phần lớn lượng dầu tràn đã ngấm sâu
xuống dưới, không thể tự phân hủy, làm nhiễm độc lâu dài môi trường đất và nước
ngầm. Dầu nhiễm vào đất thì sẽ và tác động lên cây trồng làm chậm và giảm tỷ lệ
nảy mầm của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các loại thực vật.
Tràn dầu hay xảy ra nhất trên lớp nước mặt của biển và người ta thấy rằng nó
không chỉ ảnh hưởng lập tức đến khu vực xảy ra tai nạn tràn dầu mà nó còn ảnh
hưởng lâu dài và rộng khắp trên cả các khu vực thường xuyên có tàu bè qua lại. Một
khi xảy ra sự cố tràn dầu, các loài phiêu sinh vật như ấu trùng, trứng cá, các loài
thủy sản, hải sải, các loài thực vật như rong biển, tảo… ở nơi xảy ra sự cố và nơi
dầu loang đến đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngay cả đối với loài động vật như
chim, động vật có vú, chủ yếu sống trên cạn và chỉ tiếp xúc với môi trường biển
cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi dầu loang trôi dạt vào bờ.
Ô nhiễm dầu gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đặc biệt là hệ
sinh thái như hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều bãi cát, đầm phá và
các rạn san hô. Ô nhiễm dầu làm giảm khả năng sức chống đỡ, tính linh hoạt và khả
năng khôi phục của các hệ sinh thái. Ngoài ra, dầu tràn chứa độc tố làm tổn thương
hệ sinh thái, có thể gây suy vong hệ sinh thái.
Dầu tràn gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và ảnh hưởng đến
sức khỏe của con người. Dầu lan trên biển và dạt vào bờ trong thời gian dài không
được thu gom sẽ làm suy giảm lượng cá thể sinh vật, gây thiệt hại cho ngành khai
15
thác và nuôi trồng thủy, hải sản. Dầu gây ô nhiễm môi trường nước làm cá chết
hàng loạt do thiếu ôxy hòa tan. Dầu bám vào đất, kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ
quan, gây mùi khó chịu đẫn đến doanh thu của ngành du lịch cũng bị thiệt hại nặng
nề. Nạn tràn dầu còn làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cảng cá, cơ sở đóng mới
và sửa chữa tàu biển. Do dầu trôi nổi làm hỏng máy móc, thiết bị khai thác tài
nguyên và vận chuyển đường thủy.
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, hàng hải là ngành giao thông chủ chốt trong vận tải hàng hóa.
Tất cả mọi hàng hóa cần thiết cho phát triển kinh tế, quân sự đều được vận chuyển
bằng đường thủy. Dầu thô, xăng dầu, .. các loại hóa chất công nghiệp, chất phóng
xạ, rác thải độc hại là những mặt hàng thường được chuyên chở bằng đường thủy.
Trong các loại mặt hàng này, dầu thô, nhiên liệu có số lượng vận chuyển nhiều nhất.
Nguyên nhân do dầu thô là nhiên liệu có vai trò quan trọng hàng đầu trong phát
triển kinh tế, được chế biến và vận chuyển tại mọi vùng biển trên thế giới. Chỉ tính
riêng Mỹ, hàng năm nhu cầu về dầu là 270 tỷ gallon nhiên liệu, phải nhập từ nước
ngoài 145 tỷ gallon dầu thô và sản phẩm chế biển từ dầu.
Trên thế giới cũng đã có những sự cố tràn dầu lớn đặc biệt như : vụ nổ giàn
khoan Deepwater Horizon. Giàn khoan Deepwater Horizon bốc cháy dữ dội suốt 36
giờ trước khi chìm. Trước khi vụ nổ xảy ra, có khoảng 2,6 triệu lít dầu trên giàn
khoan Deepwater Horizon với công suất 8.000 thùng dầu/ngày. Lực lượng Bảo vệ
bờ biển Mỹ ước tính, sau khi sự cố này xảy ra, mỗi ngày có tới 5.000 thùng dầu
tràn ra biển, cao gấp 5 lần so với dự báo trước đây. Tuy nhiên, Giám đốc điều hành
phụ trách thăm dò và khai thác của BP, ông Doug Suttles cho rằng dự báo của Lực
lượng Bảo vệ bờ biển Mỹ có thể không chính xác và không tin rằng lượng dầu tràn
ra biển sẽ cao hơn so với dự đoán trước đó là 1.000 thùng dầu/ngày. Thảm họa tràn
dầu của Mỹ chưa ước tính bằng con số cụ thể. Nhưng, khoảng hai, ba thập kỷ trở lại
đây, thế giới đã trải qua những vụ tràn dầu lịch sử, với hàng chục tấn dầu loang.
Các thống kê cho thấy từ năm 1900 đến nay, trung bình mỗi năm trên thế giới
có từ 2 đến 4 vụ tràn dầu lớn trên biển. Những sự cố nổi bật có thể kể tới là: Năm
16
1978, tàu Amoco Cadiz làm tràn 231 ngàn tấn dầu thô xuống vùng Brittany, tây bắc
nước Pháp; Năm 1989, tàu Exxon Valdez làm tràn 40 ngàn tấn dầu ngoài khơi
Alaska (Hoa Kỳ); Năm 2002, tàu Prestige làm tràn 77 ngàn tấn dầu ngoài khơi phía
tây bắc Tây Ban Nha; Năm 2007, tàu Hebei Spirit làm tràn 2,7 triệu galong dầu ra
biển tây nam Hàn Quốc... Hầu hết các vụ tràn dầu đều biến thành thảm họa với
những tổn thất nghiêm trọng về sinh thái, kinh tế và xã hội.
1.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Thời gian gần đây, khi lượng phương tiện đường thủy nội địa ngày càng tăng
và vận tải đường thủy nội địa ngày càng trở nên quan trọng, chiếm tỷ trọng cao
trong ngành vận tải thì số lượng tai nạn đường thủy cũng như các sự cố tràn dầu
lớn, nghiêm trọng cũng đang ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối. Hiện tượng rò
rỉ hay tràn xăng dầu trên sông ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái nước, đến cuộc
sống của người dân sống hai bên bờ sông.
Các sự cố tràn dầu thường để lại hậu quả rất nghiêm trọng làm ô nhiễm môi
trường, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, tài nguyên thủy sinh, tài nguyên nước,
tài nguyên đất trên một khu vực khá rộng, gây thiệt hại đến các hoạt động kinh tế,
đặc biệt là các hoạt động có liên quan đến khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên
thủy sản.
Thông thường, tàu thuyền khi cập cảng để bốc xếp hàng hoá lên bờ xong sẽ
vệ sinh tàu để chuẩn bị cho đợt hàng mới. Công việc này thường phát sinh nhiều
chất thải ở dạng dầu cặn. Tùy theo tải trọng và tình trạng kỹ thuật tàu mà lượng dầu
cặn phát sinh nhiều hay ít. Đặc biệt, một số tàu sông Việt Nam do thiết bị cũ, lạc
hậu nguy cơ gây ô nhiễm dầu còn xảy ra với tỷ lệ lớn hơn. Các tàu sông cũng
thường gây ô nhiễm cục bộ do súc rửa vệ sinh ở đâu thì đổ ngay tại đó.
Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu an toàn dầu khí, từ năm 1987 đến
2001 tại Việt Nam đã xảy ra hơn 90 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ:
Riêng TP Hồ Chí Minh, tính từ năm 1993 đến nay đã xảy ra trên 8 vụ tràn
dầu với lượng dầu ước tính là 2.520 tấn, gây thiệt hại hơn 7 triệu USD. Đặc biệt
trong 2 năm 2006,2007 tại khu vực bờ biển Việt Nam thường xuyên xuất hiện sự cố
tràn dầu.
17