Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

CAU HOI VA DAP AN CUOC THI TIM HIEU VE MOI TRUONG2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (409.52 KB, 17 trang )

CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TRƯỜNG THCS QUẢNG YÊN

BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU VỀ MÔI TRƯỜNG

Họ và tên:

Lê Thế Anh

Chức vụ:

Giáo viên

Đơn vị: CĐ Trường THCS Quảng Yên

Quảng xương, tháng 8 năm 2016


BÀI DỰ THI
“Tìm hiểu về môi trường”

Câu 1: Anh (chị) hãy nêu khái niệm về môi trường và những chức năng cơ
bản của môi trường?
Trả lời:
1. Khái niệm về môi trường
Theo Điều 3 ý 1, Luật bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005 “Môi
trường bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật
thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:


- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu sự
tác động của con người. Đó là ánh sang mặt trời, núi song, biển cả, không khí,
động thực vật, nước, đất… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để
xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài
nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các
chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người
thêm phong phú.
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhau như:
Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã
hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên
sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người
khác với các sinh vật khác.
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao
gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
cuộc sống như: ôtô, xe máy, máy bay, nhà ở, công sở…
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,
không khí, đất nước, ánh sang, cảnh quan, quan hệ xã hội…
2


Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ
bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng đời
sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo,
bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường,
tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với
những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận,

thi hành với các cơ quan hành chính các cấp với pháp luật, nghị định, thông tư,
quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để
sống và phát triển.

2. Những chức năng cơ bản của môi trường.
Môi trường có những chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt
động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con
người và sinh vật trên trái đất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
- Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất
lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần
thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các
loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước
3


mới. Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên có thể làm cho
chất lượng không gian sống mất đi khả năng phục hồi.

Câu 2: Anh (chị) hãy cho biết những nhiệm vụ nào về bảo vệ môi trường đã
được đề ra trong Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị
về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước?
Trả lời:

Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ
môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Thực hiện Luật Bảo vệ môi
trường, Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường công
tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
công tác bảo việ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển
biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn
thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. Nhận
thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng
lên; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những
tiến bộ rõ rệt. Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt cho công tác bảo vệ môi
trường trong thời gian tới.
Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có
lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng;
khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên
thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch;
đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung
cấp nước sạch ở nhiều nơi không đảm bảo. Việc đẩy mạnh phát triển công
nghiệp, du lịch, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số
4


đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông
thôn, miền núi, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn
cầu đang gia tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường, đặt công tác bảo
vệ môi trường trước những thách thức gay gắt.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 được Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển
đất nước là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi
với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.

Những nhiệm vụ về bảo vệ môi trường đã được đề ra trong Nghị quyết 41NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:

1. Các nhiệm vụ chung
a. Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường
Bảo đảm yêu cầu về môi trường ngay từ khâu xây dựng và phê duyệt các
quy hoạch, dự án đầu tư; không cho đưa vào xây dựng, vận hành, khai thác các
cơ sở chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
5


Kiểm soát chặt chẽ việc gia tăng dân số cơ học, hình thành hệ thống các
đô thị vệ tinh nhằm giảm các áp lực về dân số, giao thông, môi trường lên các
thành phố lớn. Tập trung bảo vệ môi trường các khu vực trọng điểm; chủ động
phòng tránh thiên tai; hạn chế và khắc phục xói lở ven biển và dọc các sông phù
hợp với quy luật của tự nhiên; quan tâm bảo vệ môi trường biển
Tăng cường kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất
là chất thải nguy hại trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ y tế, nghiên cứu khoa
học. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, hóa
chất bảo quản nông sản, thức ăn và thuốc phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng
thủy sản.
Chú trọng bảo vệ môi trường không khí, đặc biệt là ở các khu đô thị, khu
dân cư tập trung. Tích cực góp phần hạn chế tác động của sự biến đổi khí hậu
toàn cầu.
Khuyến khích sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng; sản xuất và sử
dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì sản phẩm
không gây hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm
tái chế. Từng bước áp dụng các biện pháp buộc các cơ sở sản xuất, nhập khẩu
phải thu hồi và xử lý sản phẩm đã qua sử dụng do mình sản xuất, nhập khẩu.


b. Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái
Ưu tiên phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, các
hệ sinh thái đã bị suy thoái nặng.
Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng trong các khu dân cư do chất thải trong sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp.

6


Từng bước khắc phục các khu vực bị nhiễm độc do hậu quả chất độc hóa
học của Mỹ sử dụng trong chiến tranh.
c. Điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kế hoạch bảo vệ,
khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học
Chủ động tổ chức điều tra cơ bản sớm để có đánh giá toàn diện và cụ thể
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và về tính đa dạng sinh học ở nước ta.
Tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh việc giao đất,
giao rừng và thực hiện các hình thức khoán thích hợp cho cá nhân, hộ gia đình,
tập thể bảo vệ và phát triển rừng.
Bảo vệ các loài động vật hoang dã, các giống loài có nguy cơ bị tuyệt
chủng; ngăn chặn sự xâm hại của các sinh vật ngoại lai, sinh vật biến đổi gen
gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người. Bảo vệ và chống thất thoát các
nguồn gen bản địa quý hiếm.
Việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải đảm bảo
tính hiệu quả, bền vững và phải gắn với bảo vệ môi trường trước mắt và lâu dài.
d. Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường
Hình thành cho được ý thức giữ gìn vệ sinh chung, xóa bỏ các phong tục,
tập quán lạc hậu, các thói quen, nếp sống không văn minh, không hợp vệ sinh,
các hủ tục trong mai táng.
Xây dựng công sở, xí nghiệp, gia đình, làng bản, khu phố sạch, đẹp đáp

ứng các yêu cầu về vệ sinh môi trường.
Đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho
nhân dân.
Quan tâm bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo cảnh quan môi trường. Thực hiện các
biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường các khu di tích lịch sử, danh lam
thắng cảnh, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái.
e. Đáp ứng yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế
Xây dựng và hoàn thiện chính sách và tiêu chuẩn môi trường phù hợp với
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngăn chặn việc lợi dụng rào cản môi trường
trong xuất khẩu hàng hóa làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh. Hình
thành các cơ chế công nhận, chứng nhận phù hợp với điều kiện trong nước và
tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.

7


Tăng cường năng lực kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm
mọi hành vi chuyển chất thải, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường vào
nước ta.

2. Nhiệm vụ cụ thể
a. Đối với vùng đô thị và vùng ven đô thị
- Chấm dứt nạn đổ rác và xả nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi
trường vào các sông, kênh, rạch, ao, hồ; xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường các
lưu vực song, trước hết là đối với song Nhuệ, sông Đáy, sông Sài Gòn, sông
Đồng Nai, sông Cầu, sông Hương, sông Hàn.
- Thu gom và xử lý toàn bộ rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp bằng
phương pháp thích hợp, trong đó ưu tiên cho việc tái sử dụng, tái chế chất thải.
hạn chế tối đa khối lượng rác chôn lấp, nhất là đối với đô thị thiếu mặt bằng làm
bãi chôn lấp;

- Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; kiên
quyết đình chỉ hoạt động hoặc buộc di dời đối với những cơ sở gây ô nhiễm
nghiêm trọng trong khu dân cư nhưng không có giải pháp khắc phục có hiệu
quả;
- Hạn chế hợp lý mức độ gia tăng các phương tiện giao thông cá nhân, quy
định và thực hiện các biện pháp giảm khí độc, khói, bụi thải từ các phương tiện
giao thông và trong thi công xây dựng công trình;
- Khắc phục tình trạng mất vệ sinh nơi công cộng bằng cách bảo đảm các
điều kiện về nơi vệ sinh, phương tiện đựng rác ở những nơi đông người qua lại
và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm;

8


- Tăng lượng cây xanh dọc các tuyến phố và các công viên, hình thành các
thảm cây xanh trong đô thị và vành đai xung quanh đô thị;
- Trong công tác quy hoạch, xây dựng các khu đô thị mới hoặc chỉnh trang
đô thị với quy mô lớn, cần chú ý bố trí diện tích đất hợp lý cho các nhu cầu về
cảnh quan môi trường và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ cho công
tác bảo vệ môi trường.
b. Đối với vùng nông thôn
- Hạn chế sử dụng hóa chất trong canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy
sản; thu gom và xử lý hợp vệ sinh đối với các loại bao bì chứa đựng hóa chất sau
khi sử dụng;
- Bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên, đặc biệt là đối với các khu rừng
nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn; hạn chế đến mức thấp nhất việc
mở đường giao thông và các hoạt động gây tổn hại đến tài nguyên rừng; đẩy
mạnh trồng rừng; phủ xanh đất trống, đồi trọc và khôi phục rừng ngập mặn; phát
triển kỹ thuật canh tác trên đất dốc có lợi cho bảo vệ độ màu mỡ của đất, ngăn
chặn tình trạng thái hóa đất và sa mạc hóa đất đai;

- Nghiêm cấm triệt để việc săn bắt chim, thú trong danh mục cần bảo vệ;
ngăn chặn nạn dử dụng các phương tiện đánh bắt có tính hủy diệt nguồn lợi
thủy, hải sản; quy hoạch phát triển các khu bảo tồn biển và bảo tồn đất ngập
nước;
- Phát triển các hình thức cung cấp nước sạch nhằm giải quyết cơ bản
nước sinh hoạt cho nhân dân ở tất cả các vùng nông thôn trong cả nước; bảo vệ
chất lượng các nguồn nước, đặc biệt chú ý khắc phục tình trạng khai thác, sử
dụng bừa bãi. Gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm;
- Khắc phục cơ bản nạn ô nhiễm môi trường các làng nghề, các cơ sở công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đi đôi với hình thành các cụm công nghiệp bảo
đảm các điều kiện về xử lý môi trường; chủ động có kế hoạch thu gom và xử lý
khối lượng rác thải đang ngày càng tăng lên;
- Hình thành nếp sống hợp vệ sinh gắn với việc khôi phục phong trào xây
dựng “ba công trình vệ sinh” của từng hộ gia đình phù hợp với tình hình thực tế;
chú ý khắc phục tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng đang diễn ra tại nhiều vùng
ven biển;
- Trong quá trình đô thị hóa nông thôn, quy hoạch xây dựng các cụm,
điểm dân cư nông thôn phải hết sức coi trọng ngay từ đầu yêu cầu bảo vệ môi
trường.
9


Câu 3: Anh (chị) hãy nêu lịch sử và ý nghĩa Ngày môi trường thế giới? Việt
Nam bắt đầu hưởng ứng Ngày môi trường thế giới từ năm nào?
Trả lời:
Bắt đầu từ những năm 1960, những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngày
càng tăng của nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ ràng hơn, con người đã
bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường
sống. Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường tổ chức tại
Stockholm (thủ đô Thụy Điển) trong thời gian 5-6/6/1972 là kết quả của những

nhận thức mới này, là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể
nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. Trong cuộc họp này,
Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng đã được thành lập vào ngày
5/6/1972. Kể từ đó, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày 5/6 hàng năm làm ngày Môi
trường Thế giới và khuyến khích những người dân, Chính phủ và các tổ chức
của tất cả các nước trên thế giới tổ chức các hoạt động nhằm cải thiện môi
trường ở nước mình trong ngày này.
Ở nhiều nước các hoạt động kỷ niệm ngày này đã thực sự thu hút sự chú ý
của giới chính trị và thúc đẩy các hoạt động chính trị nhằm làm cho các Chính
phủ tham gia ký kết và thông qua các hiệp ước quốc tế về bảo vệ môi trường.
Mỗi năm Liên hợp quốc sẽ chọn ra một thành phố làm nơi tổ chức các hoạt động
trọng tâm của cả thế giới để kỷ niệm ngày này và đưa ra một chủ đề riêng nào
đó làm trọng tâm chính cho các hoạt động môi trường trong năm. Trong ngày
này, nhân dân trên toàn thế giới sẽ nhận được một thông điệp chính thức của
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, trong đó có nêu lên các vấn đề môi trường và bảo
vệ môi trường chung trên toàn thế giới. Bắt đầu từ năm 1987, để khuyến khích
tinh thần và trách nhiệm bảo vệ môi trường của toàn thể nhân dân trên thế giới,
Liên Hợp Quốc đã phát động thêm Lễ trao giải thưởng Global 500 được tổ chức
vào đúng ngày môi trường thế giới tại thành phố được chọn làm trung tâm tổ
chức lễ kỷ niệm ngày này trên thế giới. Hàng năm, Liên Hợp Quốc sẽ chọn ra
những người có nhiều đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường để trao Giải
thưởng Global 500 vào đúng ngày 5/6 tại thành phố được chọn làm trung tâm tổ
chức lễ kỷ niệm Ngày môi trường thế giới.
Bắt đầu từ năm 1982, Việt Nam cũng đã hưởng ứng các hoạt động kỷ
niệm ngày lễ này trong phạm vi cả nước. Hàng năm, Cục Bảo vệ Môi trường/
Bộ Tài nguyên và Môi trường thường phối hợp với các cơ quan liên quan phát
động và tổ chức sôi nổi ngày lễ này ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước với các
hoạt động như: tổ chức các chiến dịch làm sạch đẹp môi trường sống, môi
10



trường làm việc... và cũng chọn ra một địa phương nào đó làm nơi tổ chức các
hoạt động trọng tâm cho cả nước. Lễ kỷ niệm Ngày 5/6 hàng năm ở Việt Nam
thường có sự tham gia của mọi tầng lớp dân chúng như: các quan chức Chính
phủ, đại diện của các cơ quan, tổ chức quốc tế và các đại sứ quán ở Việt Nam,
học sinh, sinh viên và các tổ chức xã hội quần chúng...
Các địa phương, đơn vị đã đăng cai tổ chức Lễ mít tinh Quốc gia hưởng
ứng Ngày Môi trường thế giới hàng năm gồm:
- Năm 1999: Cục môi trường, Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ
chức mít tinh hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới với chủ đề “Một trái đất –
một cơ hội” tại công viên Lý Tự Trọng; có 10 Bộ, 9 tổ chức xã hội đã tham gia
hoạt động này.
- Năm 1995: Các hoạt động mít tinh hưởng ứng được tổ chức tại Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Năm 1996: Các hoạt động mít tinh hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới
được tổ chức tại Nam Định với chủ để “Trái đất – Môi trường sống của chúng
ta”.
- Năm 1997: Lễ mít tinh được tổ chức tại Hà Nội với các hoạt động: Mít
tinh, trồng cây, tổng vệ sinh nhà máy, đường phố, tổ chức các hoạt động tuyên
truyền, cổ động, chủ đề Ngày Môi trường thế giới 5/6/1997: “Vì sự sống trên
trái đất!”.
- Năm 1998: Lễ mít tinh kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới với chủ đề
“Hãy cứu lấy biển của chúng ta” được tổ chức tại Thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định với các hoạt động: Mít tinh, thu gom rác thải trên biển, trông cây
xanh, phóng sinh, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động.
- Năm 1999: Ngày Môi trường thế giới với chủ đề “Trái đất chúng ta –
tương lai của chúng ta – Hãy cứu lấy trái đất” được tổ chức ở Thị xã Cao Lanh,
tỉnh Đồng Tháp với các hoạt động mít tinh, thu gom rác và trồng cây ở khu vực
mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, các cuộc thi tìm hiểu về môi trường, thi chạy việt dã vì
môi trường cùng các hoạt động tuyên truyền, cổ động vệ sinh đường phố tiếp tục

diễn ra trên khắp tỉnh Đồng Tháp. Ngày Môi trường thế giới năm 1999 có sự
tham dự và phát động của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm.
- Năm 2000: Ngày Môi trường thế giới được tổ chức tại Thành phố Hồ
Chí Minh với chủ đề “Năm 2000: Thiên niên kỷ Môi trường – Thời cơ phải hành
động!”.
11


- Năm 2001: Lần đầu tiên Việt Nam được Liên hợp quốc chọn là 1 trong 4
điểm tổ chức lễ phát động toàn cầu hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới với
chủ đề “Liên kết toàn cầu vì sự sống”. Tuần lễ môi trường được tổ chức tại
Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế với nhiều hoạt động sôi nổi, phong phú
diễn ra trên toàn địa bàn tỉnh.
- Năm 2002: Ngày Môi trường thế giới 2002 với chủ đề “Hãy cho trái đất
một cơ hội” được tổ chức tại Hà Nội với nhiều hoạt động phong phú như mít
tinh, diễu hành, cổ động, triển lãm tranh, ảnh về môi trường, trao giải thưởng
môi trường…
- Năm 2003: Ngày Môi trường thế giới được tổ chức tại Thành phố Phan
Thiết, tỉnh Bình Thuận với chủ đề “Nước – Hai tỷ người đang khao khái”.
- Năm 2004: Thị xã Quãng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi được chọn làm nơi
đăng cai tổ chức các hoạt động quốc gia nhân ngày Ngày Môi trường thế giới
với chủ đề “Chúng ta muốn Biển và Đại dương sống hay chết?”.
- Năm 2005: Thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đăk Lắc được chọn làm nơi
đang cai tổ chức các hoạt động quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới.
Chủ đề Ngày Môi trường thế giới năm 2005 được UNEP chọn là “Thành phố
xanh: Kế hoạch cho Hành tinh chúng ta” (Green Cities: Plan for the Planet).
- Năm 2006: Thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị được chọn làm điểm tổ
chức, đây cũng là dịp tỉnh Quảng Trinh được dịp giới thiệu về hình ảnh và con
người Quảng Trị. “Sa mạc và hoang mạc hoá” là chủ đề UNEP chọn cho Ngày
Môi trường thế giới ngày 5 tháng 6.

- Năm 2007: Thành phố Đà Nẵng được chọn là điểm tổ chức. Ngày 5/6,
tại Thành phố Đà Nẵng, Bộ tài nguyên và Môi trường phối hợp với Trung ưng
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và UBND thành phố Đã Nẵng tổ chức trọng thể lễ
Mít tinh quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới. Chủ đề của Ngày Môi
trường thế giới là “Băng tan – Một vấn đề nóng bỏng?”. Hưởng ứng năm Địa
cực Quốc tế, Ngày Môi trường thế giới năm 2007 tập trung vào các tác động của
biến đổi khí hậu đối với các hệ sinh thái và cộng đồng vùng cực, và những hậu
quả thứ cấp trên toàn thế giới.
- Năm 2008: Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà là địa điểm tổ chức.
Ngày 05/6/2008 tại Thành phố Nha Trang diễn ra mít tinh quốc gia nhân ngày
Ngày Môi trường thế giới và năm hành tinh trái đất năm 2008. Chủ đề Ngày
Môi trường thế giới năm 2008 là “CO2 – Hãy thay đổi thói quen. Hướng đến
một nền kinh tế ít cacbon”.
12


Câu 4: Anh (chị) hãy cho biết khái niệm về Kinh tế Xanh? Tại sao Kinh tế
Xanh lại đóng vai trò quan trọng trong Phát triển bền vững?
Trả lời:
1. Khái niệm về kinh tế Xanh
Theo chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP năm 2010), Kinh tế
Xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã
hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh
thái. Nói một cách đơn giản, nền Kinh tế Xanh có phát phải thấp, sử dụng hiệu
quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội.
Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông
qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm phát thải
cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài
nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái.
Như vậy khác với trước đây, trong nền “kinh tế nâu”, đầu tư công cần phải có sự

điều chỉnh cơ bản thông qua những chính sách mới được cải thiện của các quốc
gia, ưu tiên cho duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài
sản thuộc sở hữu chung mang lại lợi ích cho mọi người. Sự đầu tư đó cũng cần
sự chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và an sinh của họ phụ thuộc nhiều
vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai
cũng như sự biến đổi khí hậu.
Kinh tế Xanh phải là nền kinh tế con người là trung tâm trong đó các
chính sách tạo ra các nguồn lực mới về tăng trưởng kinh tế bền vững và bình
đẳng. Thúc đẩy nền Kinh tế Xanh và cải tổ quản lý môi trường là hai nhân tố
căn bản đảm bảo phát triển bền vững của mỗi nước nói riêng và trên phạm vi
toàn cầu nói chung.
2. Vai trò của Kinh tế Xanh trong Phát triển bền vững
“Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những yêu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai”. Từ cuối những năm 80, thuật ngữ này đã gây được sự chú
ý từ dư luận quốc tế sau khi xuất hiện trong bản báo cáo “Tương laic hung của
chúng ta”, một bản báo cáo mang tính bước ngoặt của Ủy ban Brundtland; và
tiếp tục gây được tiếng vang tại Hội nghị thưởng đỉnh Trái đất năm 1992 (Rio
1992), được coi như là một nguyên tắc quyết định về phát triển bền vững. Phát
triển bền vững đòi hỏi sự tiến bộ và tăng cường sức mạnh của ba yếu tố có tính
chất phụ thuộc và tương hỗ: Kinh tế - Xã hội – Môi trường.
13


Chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh có thể là một động lực quan trọng
trong nỗ lực này. Thay vì bị coi như là nơi hấp thụ chất thải tạo ra bởi các hoạt
động kinh tế một cách thụ động, thì trong nền Kinh tế Xanh môi trường được
xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải thiện chuỗi giá trị,
đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài. Nói cách khác, nhân tố môi trường
thực sự đóng vai trò như là chất xúc tác cho tăng trưởng và đổi mới trong nền

Kinh tế Xanh.
Trong nền Kinh tế Xanh, nhân tố môi trường có khả năng tạo ra tăng
trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Ngoài ra, khi mà sinh kế của một bộ phận
người dân có mức sống dưới mức nghèo khổ phụ thuộc vào nhiều tự nhiên, hơn
nữa họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như
sự biến đổi khí hậu, việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh cũng góp phần cải
thiện sự công bằng xã hội, và có thể được xem như một hướng đi tốt để phát
triển bền vững. Cách thức để áp dụng mô hình kinh tế xanh đối với một quốc gia
phát triển hoặc đang phát triển có thể rất khác nhau; điều đó phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, chẳng hạn như đặc điểm địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực
con người – xã hội và giai đoạn phát triển kinh tế. Tuy nhiên, những nguyên tắc
quan trọng bao gồm đảm bảo phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt
xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinh thái thì vẫn luôn
luôn không thay đổi.

Câu 5: Anh (chị) hãy cho biết trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức,
cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Trả lời:
Điều 35 chương V luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định trách
nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ như sau:
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá
tác động môi trường đã được phê duyệt, bản cam kết bảo vệ môi trường đã đăng
ký và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường.
- Phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt
động của mình.
- Khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra.
14



- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người
lao động trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình.
- Thực hiện chế độ báo cáo về môi trường theo quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường.
- Chấp hành chế độ kiểm tra, thanh tra bảo vệ môi trường.
- Nộp thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường.

Câu 6: Trên cơ sở thực trạng môi trường hiện nay của địa phương, đơn vị.
Anh (chị) hãy viết bài đóng góp các giải pháp và kiến nghị để bảo vệ môi
trường? ( Không quá 1.000 từ)
Trả lời:
Nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề suy thoái
môi trường gay gắt và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu khôn lường. Tình
trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, mà nước ta mà một trong số ít
nước chịu tác động nặng nhất, có thể sẽ là những biến đổi quan trọng trong tiến
trình phát triển của đất nước trong những thập niên tới.
Chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là chất lượng môi trường đang
tiếp tục bị xấu đi và gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ và đời sống của nhân
dân. Ô nhiễm môi trường nước, không khí đang lan rộng, có nơi ở mức độ trầm
trọng, không những tại các khu công nghiệp, khu đô thị dân cư đông đúc mà cả
ở những vùng nông thôn. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, thiếu sự
kiểm soát. Nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt; đa dạng
sinh học tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã gây ra triều
cường, lũ lụt, mưa bão với cường độ ngày càng lớn, diễn biến ngày càng phức
tạp, khó lường.
Phát triển nhanh, bền vững là yêu cầu cấp thiết trong chiến lực phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Bảo vệ môi trường trong thời gian tới có ý nghĩa
sống còn, là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới tư duy,

đổi mới cách làm và cần những giải pháp mang tính đột phá.
Tôi xin đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để bảo vệ môi trường như sau:
Một là, Hoàn thiện các quy định và cơ chế quản lý về bảo vệ môi trường
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cụm công nghiệp, làng nghề, các
lưu vực sông, môi trường nông thôn, miền núi, biển và hải đảo.

15


Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường cần tiếp tục đẩy mạnh, đặc biệt, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường trên phạm vu cả nước. Cần có sự phối hợp tốt hơn
giữa các cấp, các ngành, phải coi nhân dân là “tai mắt” trong quá trình thanh tra,
kiểm tra. Kết quả thanh tra, kiểm tra cần được công bố, công khai rộng rãi trên
các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết.
Hai là, Giảm lượng rác phát sinh thông qua việc thay đổi lối sống, thay
đổi trong cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất… Chẳng hạn áp dụng
các giải pháp sản xuất sạch hơn, hoá học xanh trong hoạt động sản xuất, hay
khuyến khích thói quen “ăn chắc mặc bền” trong đời sống, sinh hoạt của người
dân. Đây là nội dung hiệu quả nhất trong ba giải pháp, là sự tối ưu hoá quá trình
sản xuất và tiêu dùng về mặt môi trường, tạo ra lượng sản phẩm lớn nhất, sử
dụng hiệu quả nhất mà tiêu thụ ít tài nguyên và thải ra lượng thải thấp nhất.
Ba là, Xây dựng văn hoá ứng xử thân thiện với môi trường, đẩy mạnh
truyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, xây dựng các chuẩn mực,
hình thức, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Môi trường
phải trở thành tiêu chí cơ bản trong các hoạt động bình chọn, xét thưởng thi đua,
khen thưởng…
Việc sử dụng rác thải, vật liệu thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật
chất, các sản phẩm mới có ích. Hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần
có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt

động sinh hoạt và sản xuất. Mặc dù chất lượng của sản phẩm tái chế không thể
bằng sản phẩm từ nguyên liệu chính phẩm nhưng quá trình này giúp ngăn chặn
lãng phí nguồn tài nguyên, giảm tiêu thụ nguyên liệu thô cũng như nhiên liệu sử
dụng so với quá trình sản xuất cơ bản từ nguyên liệu thô. Tái chế có thể chia
thành hai dạng, tái chế ngay tại nguồn từ quy trình sản xuất và tái chế nguyên
liệu từ sản phẩm thải.
Bốn là, Không được:
- Không được đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, huỷ
hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái;
- Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép,
các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại gây dịch
bệnh vào nguồn nước;
- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;

16


- Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danh
mục quy định của Chính phủ;
- Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường,
nhập khẩu, xuất khẩu chất thải;
- Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong
khai thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật.
Nên:
- Phát động mọi người nên có ý thức bảo vệ môi trường;
- Tất cả mọi người cùng nhau chung sức trồng thật nhiều cây xanh;
- Tuyên truyền giải thích cho mọi người hiểu về tầm quan trọng của môi
trường.

4


17



×