ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
VŨ THÀNH CHUNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU HIỆN TƢỢNG RỐI LOẠN SINH SẢN Ở BÕ SỮA,
THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU BÕ VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ, HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học
: 2012 – 2017
Thái Nguyên, năm 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
VŨ THÀNH CHUNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU HIỆN TƢỢNG RỐI LOẠN SINH SẢN Ở BÕ SỮA,
THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU BÕ VÀ ĐỒNG CỎ BA VÌ, HÀ NỘI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp
: K44 - TY
Khoa
: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học
: 2012 – 2017
Giáo viên hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Văn Sửu
Thái Nguyên, năm 2016
i
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian kết thúc học tập tại Trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,
đƣợc sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, Bộ môn VSV – GP
- BL, tôi đƣợc giới thiệu về thực tập tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
- Viện Chăn nuôi. Tại đây, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi cũng đã nhận
đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của nhiều ngƣời để hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp.
Trƣớc hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trƣờng Đại
Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, cùng toàn
thể thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và thực tập tốt nghiệp. Đặc biệt là sự hƣớng dẫn trực tiếp của TS. Nguyễn Văn
Sửu, bộ môn VSV – GP - BL.
Tiếp đến tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bò
và Đồng cỏ Ba Vì - Viện Chăn nuôi, cùng các anh chị phòng kĩ thuật của trung tâm
và ThS Trần Thị Loan, dẫn tinh viên Cao Ngọc Hòa đã nhiệt tình hƣớng dẫn, giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, ngƣời thân, bạn bè đã hết lòng
quan tâm, giúp đỡ, động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng nhƣ quá
trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày
tháng
Sinh viên
Vũ Thành Chung
năm 2016
ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Phƣơng pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh buồng trứng sau khi khám
qua trực tràng hai lần liên tục cách nhau 7 đến 10 ngày ..........................34
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn bò theo độ tuổi của Trung tâm trong 2 năm gần nhất
2015 - 2016 ...............................................................................................38
Bảng 4.2. Cơ cấu đàn bò sữa theo giống ...................................................................39
Bảng 4.3. Kết quả nghiên cứu sinh học của bò sữa ..................................................40
Bảng 4.4. Tỷ lệ đẻ, sảy thai, đẻ non và sát nhau ở đàn bò sữa..................................45
Bảng 4.5. Kết quả theo dõi động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau
khi đẻ ........................................................................................................46
Bảng 4.6. Các nguyên nhân trên buồng trứng gây chậm động dục ở bò sữa ............46
Bảng 4.7. Yếu tố lứa đẻ ảnh hƣởng đến hoạt động của buồng trứng ........................48
Bảng 4.8. Ảnh hƣởng của thể trạng bò đến chức năng hoạt động buồng trứng
sau đẻ ........................................................................................................49
Bảng 4.9. Kết quả điều trị bệnh buồng trứng không hoạt động ................................51
Bảng 4.10. Kết quả điều trị bệnh u nang buồng trứng ..............................................52
Bảng 4.11. Kết quả điều trị thể vàng tồn lƣu ............................................................53
iii
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Sử dụng vòng CIDR kết hợp hormone GnRH và PGF2α ..........................35
Hình 3.2. Sử dụng GnRH và PGF2α để điều trị bệnh u nang buồng trứng................36
Hình 3.3. Sử dụng PGF2 điều trị bệnh thể vàng tồn lƣu ..........................................36
Hình 4.1. Cơ cấu đàn theo giống bò..........................................................................39
Hình 4.2. Các nguyên nhân của buồng trứng gây chậm động dục ...........................47
Hình 4.3. Ảnh hƣởng của thể trạng bò đến chức năng buồng trứng .........................50
iv
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
X
: Bình Quân
µg
: Microgam
CIDR
: Controlled Intravaginnal Drug Releasing
Cm
: Xentimet
Cs
: Cộng sự
FSH
: Folliculo Stimulin Hormone
G
: Gam
GnRH
: Gonadotropin Releasing Hormone
HCG
: Human Chorionic Gonadotropin
HF
: Holstein Friesian
HTNC
: Huyết thanh ngựa chửa
LH
: Lutein Stimulating Hormone
LTH
: Luteino Trofic Hormone
Mg
: Miligam
N
: Ngày
Nxb
: Nhà xuất bản
PGF2
: Prostaglandin
PRID
: Progestrone Releasing Device
SE
: Sai số chuẩn
STH
: Somato Tropin Hormone
STT
: Số thứ tự
TT
: Thể trọng
TTNT
: Thụ tinh nhân tạo
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. ii
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT............................................... iv
MỤC LỤC ...................................................................................................................v
Phần 1: MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2. Mục đích đề tài và yêu cầu của đề tài ..................................................................1
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học việc nghiên cứu đề tài ................................................................3
2.1.1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái .......................................3
2.1.2. Hoạt động sinh dục của bò cái ..........................................................................6
2.1.3. Sự điều tiết thần kinh thể dịch đến hoạt động sinh sản ...................................12
2.2. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng
sinh sản. ..........................................................................................................17
2.2.1. Những nghiên cứu hormone hƣớng sinh dục ..................................................17
2.2.2. Những nghiên cứu sử dụng hormone sinh dục nâng cao khả năng
sinh sản ở bò...................................................................................................19
2.3.Một số nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc về đặc điểm sinh sản và
điều tiết sinh sản trên bò có liên quan ............................................................22
2.3.1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài ....................................................................22
2.3.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam ......................................................................25
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU..............................................................................................30
3.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu.....................................................30
3.2. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................30
3.2.1. Cơ cấu đàn bò của Trung tâm trong 2 năm gần nhất 2015 - 2016 ..................30
vi
3.2.2. Đánh giá tình hình sinh sản của đàn bò sữa tại trung tâm nghiên
cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội ..................................................................30
3.2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động của buồng trứng bò sau khi đẻ ......................30
3.2.4. Ứng dụng hormone để điều trị bệnh buồng trứng ...........................................31
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu....................................................................................31
3.3.1. Phƣơng pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh sản ...................................................31
3.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu sự động dục trở lại của bò sữa đến 120
ngày sau khi đẻ ...............................................................................................32
3.3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu nguyên nhân gây chậm động dục sau
120 ngày sau đẻ ở buồng trứng ......................................................................32
3.3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu sự ảnh hƣởng của lứa đẻ đến chức năng
buồng trứng ....................................................................................................32
3.3.5. Phƣơng pháp nghiên cứu sự ảnh hƣởng của thể trạng bò đến chức
năng buồng trứng bò sữa sau đẻ.....................................................................33
3.3.6. Phƣơng pháp xác định bệnh ở buồng trứng bò qua khám lâm sàng ...............34
3.3.7. Phƣơng pháp điều trị bệnh buồng trứng..........................................................35
3.3.8. Phƣơng pháp xử lý số liệu ...............................................................................37
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..................................................................38
4.1. Cơ cấu đàn bò của Trung tâm trong 2 năm gần nhất 2015 - 2016 .....................38
4.1.1. Cơ cấu đàn bò theo độ tuổi của Trung tâm trong 2 năm gần nhất
2015 - 2016 ....................................................................................................38
4.1.2. Cơ cấu giống bò sữa của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ
Ba Vì năm 2015 – 2016 .................................................................................39
4.2. Kết quả khảo sát, đánh giá khả năng sinh sản của đàn bò lai hƣớng
sữa nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội ...............40
4.2.1. Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lần đầu. ....................................................40
4.2.2. Khối lƣợng cơ thể khi bò cái đẻ lứa đầu .........................................................41
4.2.3. Thời gian động dục lại sau khi đẻ của đàn bò lai hƣớng sữa ..........................42
4.2.4. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ...........................................................................43
vii
4.2.5. Tỷ lệ đẻ, sảy thai, đẻ non, sát nhau .................................................................45
4.3. Đánh giá tình trạng hoạt động của buồng trứng bò sau khi đẻ .........................45
4.3.1. Động dục trở lại của bò sữa đến 120 ngày sau khi đẻ.....................................45
4.3.2. Nguyên nhân gây chậm động dục sau 120 ngày sau đẻ ở
buồng trứng ....................................................................................................46
4.3.3. Ảnh hƣởng của lứa đẻ đến chức năng buồng trứng ........................................48
4.3.4. Ảnh hƣởng của thể trạng bò đến chức năng hoạt động buồng
trứng sau đẻ ....................................................................................................49
4.4. Sử dụng hormone trong điều trị một số bệnh sinh sản ở bò sữa ........................50
4.4.1. Điều trị buồng trứng không hoạt động của bò sữa ..........................................51
4.4.2. Điều trị u nang buồng trứng ............................................................................52
Phần 5: KẾT LUẬN ................................................................................................55
1. Kết luận .................................................................................................................55
2. Kiến nghị ...............................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam và nhiều nƣớc trên thế giới đang bị đe
dọa bởi hai loại bệnh chủ yếu là bệnh dinh dƣỡng và bệnh sinh sản. Bệnh dinh
dƣỡng xảy ra có thể là do khẩu phầu ăn không hợp lý hoặc cách phối trộn thức ăn
không đảm bảo đủ các chất... làm ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng sinh sản cũng
nhƣ sức sản xuất của đàn bò. Bệnh dinh dƣỡng sẽ do các nhà khoa học về dinh
dƣỡng nghiên cứu và tìm ra các phƣơng pháp hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề.
Điều tôi muốn đề cập đến ở đây là bệnh sinh sản trên bò sữa, nổi bật lên là bệnh
buồng trứng. Gồm ba bệnh thể vàng tồn lƣu, u nang buồng trứng và buồng trứng
không hoạt động, đã và đang gây ảnh hƣởng rất lớn đến ngành chăn nuôi bò sữa ở
nƣớc ta.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh sản và những phƣơng
pháp điều trị bệnh buồng trứng nhằm nâng cao khả năng sinh sản của bò. Việc sử
dụng kích tố hƣớng sinh sản để nâng cao khả năng sinh sản cũng nhƣ khắc phục
những hiện tƣợng mà bệnh buồng trứng gây ra đã đƣợc các nhà khoa học trong
nƣớc sử dụng. Các kích tố có thể sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau và thu
đƣợc nhiều kết quả tốt. Có thể thấy, những phƣơng pháp điều trị bệnh sinh sản ở
nƣớc ta đang cho những kết quả tốt.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, dƣới sự hƣớng dẫn của Thầy giáo TS.
Nguyễn Văn Sửu, tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu hiện tượng rối loạn sinh sản
ở bò sữa, thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại Trung tâm nghiên cứu Bò và
Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội”.
1.2. Mục đích đề tài và yêu cầu của đề tài
Có đƣợc cái nhìn bao quát hơn về bệnh rối loạn sinh sản ở bò sữa
Bổ sung thêm tài liệu về bệnh rối loạn sinh sản ở bò sữa
Xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Từ tình hình mắc bệnh và tỷ lệ mắc một số bệnh rối loạn sinh sản ở bò
sữa từ đó đƣa ra những phác đồ điều trị hiệu quả, kinh tế và là cơ sở khoa học
cho những biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả.
2
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định tác dụng của một số loại hormone trong điều trị một số
bệnh trên thực tiễn chăn nuôi.
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế
chăn nuôi, điều trị bệnh cho bò sữa từ đó nâng cao và củng cố kiến thức
của bản thân.
- Từ kết quả của đề tài để đƣa ra những khuyến cáo giúp cho ngƣời
chăn nuôi hạn chế đƣợc những thiệt hại do bệnh gây ra.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học việc nghiên cứu đề tài
2.1.1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục cái
Sinh sản là chức năng vô cùng quan trọng của gia súc cái và cũng là một quá
trình sinh lý phức tạp của cơ thể. Các nhà chăn nuôi từ lâu đã quan tâm tìm hiểu và
nghiên cứu về cấu tạo và chức năng của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ
quan sinh dục của gia súc cái.
Cơ quan sinh dục bò cái mang đặc điểm chung của loài và chia làm 2 bộ phận
sau: Bộ phận sinh dục bên ngoài (âm hộ, âm vật và tiền đình), bộ phận bên trong
(âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng).
Các bộ phận sinh dục bên ngoài
Âm hộ hay âm môn (Vulva)
Dƣới hậu môn là âm môn, phía ngoài âm môn có 2 môi (Labia vulva), nối liền
2 môi băng 2 mép (Bima vulvae).
Trên hai môi của âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết, tiết chất nhờn
trắng và tiết mồ hôi.
Âm vật (Clitoris)
Âm vật giống nhƣ dƣơng vật thu nhỏ, trong cấu tạo âm vật cũng có các thể
hồng nhƣ con đực, trên âm vật có nếp da tạo mu âm vật (Praepatium clitoridis),
giữa âm vật bẻ gập xuống dƣới.
Tiền đình
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh,
phía trƣớc màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo, màng trinh có các
sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp. Sau màng trinh có
lỗ niệu đạo.
Tiền đình có một tuyến, tuyến này xếp theo hàng chéo, hƣớng quay về âm vật.
Các bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên trong bao gồm: âm đạo, cổ tử cung, tử cung, ống dẫn
trứng và buồng trứng.
4
Âm đạo (Vagina): Âm đạo nối tiếp với âm hộ và mở rộng về phía cổ tử
cung. Là nơi chứa dƣơng vật của con đực khi tiến hành giao phối tự nhiên hoặc
đƣờng đi của dẫn tinh quản khi truyền tinh nhân tạo, cũng là nơi thai ra khi đẻ và
thoát nƣớc tiểu.
Âm đạo có dạng hình ống, dài khoảng 20- 25 cm, thành mỏng dai và đàn hồi.
Khi động dục, âm đạo đƣợc bôi trơn bằng những chất thấm qua biểu mô âm đạo,
bằng dịch nhầy ở cổ tử cung và bằng niêm dịch tuyến nội mạc tử cung. Đối với bò,
khi giao phối trực tiếp, tinh dịch đƣợc phóng vào cuối âm đạo, trƣớc cổ tử cung.
Tử cung(Uterus): Tử cung bò hình sừng cừu, thân tử cung ngắn, hai sừng tử
cung dài, lớp niêm mạc trong tử cung và trên hai sừng tử cung có gấp nếp nhiều lần
tập trung lại với số lƣợng 80- 120 (Trần Tiến Dũng và cs, 2002)[5], đây là tiền thân
của núm nhau mẹ.
Cổ tử cung (Cervix): Có dạng hình tròn, luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào nó
hƣng phấn cao độ, hoặc lúc sinh đẻ hay khi bệnh lý. Niêm mạc cổ tử cung trâu bò
gấp nếp nhiều lần , từ 3-5 lần gọi là nhiều lần hoa nở. Có sự khác biệt về cổ tử cung
giữa bò già và bò chƣa trƣởng thành , giữa bò ít đẻ và bò đẻ nhiều, giữa các giống
bò, giữa bò đẻ bình thƣờng và đẻ không bình thƣờng. Cổ tử cung dài khoảng 510cm, đƣờng kính từ 2-5cm.
Thân tử cung (Body uterus): Thân tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử
cung, có kích thƣớc rất ngắn, chỉ khoảng 2-4cm. Thân tử cung đƣợc cấu tạo với
những lớp cơ trơn dày, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài, trong cùng là các tuyến
sinh dục có khả năng tiết ra những chất giúp cho sự vận động của tinh trùng cũng
nhƣ sự phát triển của thai.
Sừng tử cung (Horn uterus): Bò cái có hai sừng tử cung trái và phải , độ dài
của sừng tử cung khoảng 15-20cm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002)[5]. Hai sừng tử
cung của bò cái gắn với thân tử cung dính với nhau tạo thành một lõm hình lòng
máng phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3-5cm, rãnh này dễ
dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bênh lý
ở tử cung.
5
Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng bò hình bầu dục, thƣờng là màu trắng không có lõm rụng trứng.
Vị trí buồng trứng bò thƣờng nằm ở 2 mút sừng tử cung , gần cạnh trƣớc xƣơng
ngồi, hay ở phía dƣới sừng tử cung. Kích thƣớc buồng trứng (1-2)
(1-1,5)
1,5
cm (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1995)[1]. Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh
ra trứng và tiết dịch nội tiết.
Bên dƣới lớp màng của buồng trứng là tế bào trứng non (Folliculin ovocyt
primario). Khi noãn bao chín thì các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia
thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum granulosum). Noãn bao ngày càng phát
triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái xoang có chứa dịch (Liquar
folliculin). Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo ra một lớp màng bao bọc ở
ngoài, có chỗ lồi lên để chứ tế bào trứng (Ovum). Noãn bao nguyên thủy khi trở
thành noãn bao chín (Folliculis ovaricus vesicolosus) đƣợc bao bọc một lớp màng
mỏng. Tổ chức màng liên kết buồng trứng lúc này dày lên để bảo vệ noãn bao chín,
giữa màng bảo vệ liên kết và màng mỏng của noãn bao là tổ chức mạch quản dày
đặc. Noãn bao chín nằm ở phần lồi trên của màng liên kết buồng trứng. Noãn bao
chín có kích thƣớc 1cm. Tế bào trứng trong noãn bao là tế bào lớn nhất trong cơ thể,
có thể trong thấy đƣợc bằng mắt thƣờng, kích thƣớc 0,15-0,25 mm (Trần Tiến Dũng
và cs, 2002)[5]. Lúc noãn bao đã thành thục thì màng bọc nang, màng liên kết
buồng trứng rách ra, tế bào trứng đƣợc rời khỏi buồng trứng , cùng với dịch nang,
tế bào hạt đi vào loa kèn. Màng noãn bao rách xong liền lại ngay, các tế bào hạt
trong xoang phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bao
và trở thành thể vàng (Corpus luteum).
Thể vàng là thể rắn màu vàng, các tế bào thể vàng tiết ra progesterone và các
progestin khác. Thể vàng có thể đạt đến kích thƣớc tối đa là 20,5 mm vào ngày 1516 của chu kỳ, sau đó thoái hóa và có đƣờng kính trung bình 12,5 mm vào ngày 1821. Nếu bò thụ thai thể vàng sẽ không thoái hóa cho đến cuối kỳ mang thai. Khối
lƣợng thể vàng và hàm lƣợng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8
và giữ tƣơng đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng ở bò bắt đầu từ
ngày 17-18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không đƣợc thụ tinh.
6
Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng hay còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng, chức
năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngƣợc nhau và
đồng thời một lúc. Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng gần sát buồng
trứng và có hình loa kèn, loa kèn là một màng mỏng tạo thành một cái tán rộng và
lô nhô không đều ôm lấy buồng trứng. Trứng đƣợc chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng
ống dẫn trứng nơi xảy ra thụ tinh và phân chia sớm của phôi. Phôi đƣợc lƣu lại
trong ống dẫn trứng vài ngày trƣớc khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp
điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi bao gồm chất dinh dƣỡng
và bảo vệ cho tinh trùng, noãn bao và hợp tử sau đó niêm mạc, ống dẫn trứng và tử
cung còn tiết ra men hyaluronidaza tham gia vào quá trình thụ tinh. Thời gian tế bào
trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3-10 ngày. Trên đƣờng di hành trong ống
dẫn trứng, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp
của ống dẫn trứng. Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua
diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và đoạn eo của ống dẫn trứng (Nguyễn Tuấn Anh
và cs, 1995)[1].
2.1.2. Hoạt động sinh dục của bò cái
Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng
trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ tinh, đồng thời tử
cung cũng biến đổi để đủ điều kiện cho phôi thai phát triển trong tử cung. Những
dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi nhƣ vậy báo hiệu sự thành thục
về tính. Trong thực tế, thành thục về tính thƣờng đến sớm hơn thành thục về thể vóc
và thời điểm đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ giống, môi trƣờng sống và mức độ
nuôi dƣỡng. Trong điều kiện nuôi dƣỡng tốt, sự sinh trƣởng đƣợc thúc đẩy và thành
thục về tính sẽ đến sớm hơn.
Bò cái nếu đƣợc nuôi dƣỡng tốt có thể thành thục tính dục lúc 12 tháng tuổi,
nhƣng thành thục về thể vóc phải từ 18 tháng tuổi trở lên. Đối với bò lang trắng
đen Hà Lan, cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt, thành thục tính dục lúc 10-12 tháng tuổi;
chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16-18 tháng tuổi. Phối giống lần đầu tốt nhất vào
lúc 15-18 tháng tuổi.
7
Chu kỳ động dục
Sau khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của bò đƣợc diễn ra liên
tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển lớn dần đến độ chín,
nổi cộm lên trên bề mặt buồng trứng đƣợc gọi là nang Graff, khi nang Graff vỡ,
trứng rụng thì gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện
tính dục ra bên ngoài đƣợc gọi là động dục. Trứng rụng có chu kỳ nên động dục
cũng có chu kỳ. Chu kỳ động dục thông thƣờng của bò là 21 ngày (dao động 18-24
ngày). Quá trình trứng phát triển đến chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của
hormone, do đó nhiều nhà nghiên cứu đã phân chia chu kỳ động dục của bò thành 2
pha chính:
Pha Folliculin: gồm toàn bộ biểu hiện trƣớc khi rụng trứng.
Pha Lutein: gồm những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng
Trong một chu kỳ động dục của bò thƣờng có các đợt sóng nang (Foliculas Wave),
đây là sự phát triển đồng loạt của một số bào noãn trong cùng một thời gian. Theo
dõi sự phát triển của buồng trứng bằng phƣơng pháp nội soi và siêu âm cho thấy ở
bò trong một chu kỳ thƣờng có 2-3 đợt sóng nang (một số ít có 4 đợt). Đợt 1 bắt đầu
diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu kỳ. Đợt 2 vào ngày 11-17 và
đợt 3 vào ngày 18-0 (ngày 0 là ngày bắt đầu động dục). Mỗi đợt sóng nang có thể
phát triển (huy động) tới 15 nang kích thƣớc từ 5-7mm. Một số nang phát triển
mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thƣớc của nang khống chế ở đợt
1; 2; 3 có thể đạt tới 12-15mm vào các ngày 6; 13; 21 (Sato và cs, 1992a)[21].
Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính tự
điều khiển và cạnh tranh giữa các nang. Một đợt có 1-2 nang trội, vài nang lớn phát
triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm. Tuy vậy khi thể vàng còn tồn
tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hóa, chỉ có đợt cuối cùng khi thể vàng
không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín và rụng trứng. Do đặc điểm
này các đợt phát triển nang gọi là song phát triển. Trong mỗi đợt song nhƣ vậy sự
tồn tại của các nang không phải nang khống chế dao động từ 5-6 ngày. Riêng nang
khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của
nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6 mm/ngày.
8
Theo Siphilop (1967)[31], chu kỳ động dục của bò biến động từ 18-28 ngày
(trung bình 21 ngày), thời gian động dục từ 6-36 giờ (phần lớn kéo dài từ 25-36
giờ). Chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trƣng theo loài và đƣợc chia làm 4
giai đoạn (4 pha) riêng biệt nhƣng liên tiếp nhau:
Giai đoạn trước động dục: tính từ thời kỳ thoái hoá thể vàng của chu kỳ trƣớc
cho đến giai đoạn động dục kỳ sau, con vật bồn chồn, đi lại, đái rắt, kém ăn, nhảy
lên con khác, âm hộ sƣng nhẹ, sung huyết, bóng ƣớt, niêm dịch chảy ra nhiều, lỏng,
trong suốt dễ đứt (kéo dài 1-2 cm).
Giai đoạn động dục: kéo dài 8-30 giờ, là giai đoạn bò chấp nhận sự phối
giống. Tế bào trứng và nang trứng đạt đến độ chín tối đa. Con vật có biểu hiện tìm
đực hoặc đến gần con khác, chịu đực, trạng thái mê ỳ, ăn ít hoặc không ăn, âm hộ
bớt sƣng, hơi thấm niêm dịch đặc dính co lại, màu đục trong, kéo dài 7-10 cm.
Giai đoạn sau động dục: đầu giai đoạn sau động dục xảy ra hiện tƣợng nang
trứng rách ra và vách của nang trứng rách phát triển thành thể vàng trong vòng 3
ngày. Gai đoạn này con vật chịu cho nhảy và phối giống (một thời gian ngắn), con
vật ăn ít, âm hộ hết sƣng.
Giai đoạn cân bằng sinh học: các trạng thái trở về bình thƣờng, giai đoạn
này kéo dài từ 12-15 ngày và thể vàng sản sinh mạnh progesterone (Satoet và cs,
1992)[30].
Chu kỳ động dục đƣợc điều hòa bởi các hormone đƣợc tiết ra từ vùng dƣới đồi
(hypothalamus) và buồng trứng.
Hypothalamus tiết GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) vào hệ thống
động mạch vùng dƣới đồi - tuyến yên làm thùy trƣớc tuyến yên tăng tiết FSH và
LH, kích thích sự phát triển nang trứng. Trong hàng loạt các nang phát triển,
xuất hiện nang trứng phát triển nhanh hơn và trở thành nang trội. Estradiol và
Inhibin đƣợc tổng hợp từ các tế bào hạt của nang trội. Hàm lƣợng estradiol tăng
cao, tác động ngƣợc dƣơng tính vào hypothalamus, kích thích sản xuất LH tăng
cao làm nang trội giải phóng tế bào trứng. Inhibin tác động ngƣợc âm tính làm
giảm hàm lƣợng FSH dƣới ngƣỡng cần thiết đối với sự tồn tại của các nang còn
lại, làm thoái hóa các nang trứng còn lại. Tuy nhiên, ở hàm lƣợng FSH thấp nang
9
trội vẫn có khả năng phát triển và rụng trứng do nang trội có sự mẫn cảm với
FSH nhờ sự có mặt của IGF-1 (Inhibin-like Growth Factor-1: yếu tố sinh trƣởng
giống Inhibin) trong tế bào với hàm lƣợng cao hơn và nang trội có thụ thể tiếp
nhận LH của các tế bào hạt sớm hơn các nang khác và do vậy nang trội phát triển
đến giai đoạn rụng trứng mà không bị thoái hóa trong điều kiện FSH thấp.
Vai trò của FSH
Kích noãn tố gọi tắt là FSH, là một glycoprotein đƣợc tìm thấy ở ngƣời và
các động vật khác nhau, đƣợc tổng hợp và tiết ra bởi các tế bào nội tiết của thùy
trƣớc tuyến yên. FSH có chức năng điều hòa quá trình sinh trƣởng, phát triển,
thành thục về tính và các quá trình sinh sản của cơ thể. FSH hoạt động thông qua
sự liên kết vào các thụ thể (receptor) đặc trƣng, đƣợc định vị vào một nơi riêng
biệt trên tế bào hạt của nang trứng và các tế bào hạt trên buồng trứng, là vị trí đích
để FSH hoạt động. Các nghiên cứu gần đây cho thấy FSH rất cần thiết cho tất cả
các giai đoạn phát triển của nang trứng nhƣ: chuyển hóa tiền các tế bào hạt dẹt
thành các tế bào hình lập phƣơng, phát triển các nang trứng thứ cấp và chuyển hóa
nang trứng từ nang trứng thứ cấp thành nang trứng phát triển do FSH ảnh hƣởng
trực tiếp lên sự hình thành nang. Vai trò của FSH trong sự điều khiển phát triển
các nang trứng nhỏ hơn 1 mm đƣợc rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
và đến nay vẫn có nhiều quan điểm trái ngƣợc nhau. Một số tác giả cho rằng FSH
không có chức năng đối với các nang trứng ở trƣớc giai đoạn nang trứng thứ cấp ở
bò cũng nhƣ các loài động vật có vú khác (Tanaka và cs, 2001)[33]. Song một số
tác giả gần đây nghiên cứu cho thấy, FSH đóng vai trò trong sự phát triển của
nang trứng giai đoạn đầu, thiếu lƣợng FSH tối thiểu có thể làm giảm tỷ lệ phát
triển của nang trứng nhỏ do kéo dài thời gian cần thiết để các tế bào hạt phát triển,
FSH là yếu tố đầu tiên điều khiển quá trình phát triển của nang trứng ở tất cả các
giai đoạn khác nhau. Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa sự xuất hiện của nang
trứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ mang thai và hàm lƣợng FSH trong huyết
thanh của bào thai cái, Tanaka và cs (2001)[33], thấy rằng trong thời kỳ bào thai
cũng nhƣ ở bò trƣởng thành, số lƣợng của các nang trứng và các giai đoạn phát
triển của nang trứng đƣợc đánh giá thông qua sự thay đổi nồng độ FSH. Ở bò,
ngay sau khi các nang trứng nguyên thủy đƣợc hoạt hóa, thụ thể FSH đƣợc thể
10
hiện lên các màng tế bào hạt. Nghiên cứu ở loài gặm nhấm cho thấy FSH cần thiết
cho quá trình thành thục của tiền các tế bào hạt dẹt thành các tế bào hạt hình lập
phƣơng. Các tế bào hình lập phƣơng này đánh dấu cho sự chuyển đổi của quá
trình hoạt hóa nang trứng nguyên thủy thành nang trứng sơ cấp. Ức chế FSH là
hạn chế quá trình hoạt hóa nang trứng nguyên thủy thành nang trứng sơ cấp. Nhƣ
vậy, chúng ta có thể thấy rằng FSH cần thiết cho tất cả các giai đoạn phát triển của
nang trứng nhƣ chuyển hóa các tế bào hạt thành các tế bào hạt hình lập phƣơng,
phát triển các nang trứng giai đoạn thứ cấp, chuyển hóa nang trứng từ giai đoạn
thứ cấp thành nang trứng phát triển và phát triển đến khi rụng trứng, qua đó ảnh
hƣởng trực tiếp đến sự hình thành các xoang của nang trứng.
Sự phát triển của các nang trứng ở giai đoạn phát triển, có kích thƣớc nhỏ
hơn 1 mm phụ thuộc vào nồng độ FSH trong hệ thống tuần hoàn. Trƣớc khi rụng
trứng, nồng độ FSH của nang trứng (có kích thƣớc 4-5 mm) lặp đi lặp lại giống
nhƣ sóng và hàm lƣợng FSH bắt đầu giảm sau khi nang trứng lớn hơn 5 mm.
Estradiol và inhibin từ nang trứng 4-5 mm dần tăng tiết tạo ra sự phản hồi âm
tính cho FSH ở trục dƣới đồi tuyến yên. Sự suy giảm FSH dẫn đến hàm lƣợng
estrogene giảm đó là cơ sở xảy ra đồng thời với sự ƣu tiên một nang trội.
Vai trò của LH:
Đối với gia súc cái, LH có vai trò kết hợp với FSH làm giảm sự bài tiết của
estrogen ở những nang Graff lớn, làm cho bao noãn thành thục. Sự có mặt của LH
với nồng độ cao có vai trò làm rách vách nang trứng gây rụng trứng. Một vai trò
quan trọng của LH là kích thích sự tạo và duy trì hoạt động của tế bào thể vàng
buồng trứng (thực chất của quá trình này là tăng số lƣợng thể nhận LH ở các tế bào
hạt dƣới ảnh hƣởng của FSH). Đối với con đực, LH kích thích tế bào kẽ (tế bào
Leydig) của dịch hoàn sản xuất testosteron.
Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tƣợng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó đƣợc bắt
đầu từ khi trứng đƣợc thụ tinh cho đến khi đẻ xong. Trong thực tế, sự có thai của
bò đƣợc tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ. Thời gian mang
thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố nhƣ tuổi của bò mẹ, điều kiện nuôi dƣỡng, chế
độ khai thác và sử dụng, số lƣợng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ hoặc tính
11
biệt của thai. Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278-290 ngày và
đƣợc chia làm 3 thời kì cơ bản gồm thời kì phôi (ngày 1-34), thời kì tiểu thai
(ngày 35-60), thời kì bào thai (ngày 61-đẻ).
Mức dao động của thời gian này giữa các cá thể rất nhỏ, chỉ sớm hay muộn hơn
so với trung bình là 5 ngày. Tuy nhiên, một số bò đẻ non, bê tuy yếu nhƣng vẫn nuôi
đƣợc và bò sữa vẫn khai thác sữa mặc dù không đƣợc cao nhƣ chu kì bình thƣờng.
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là thƣớc đo khả năng sinh sản của gia súc. Khoảng cách
lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dƣỡng, đặc điểm sinh vật của giống,
thời gian động dục lại sau đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa. Ở bò, 1 năm
1 lứa là khoảng cách lý tƣởng; khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hƣởng đến toàn bộ thời
gian cho sản phẩm, tới tổng sản lƣợng sữa và số bê con đƣợc sinh ra trong 1 đời
bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di truyền. Gia súc càng mắn đẻ, hệ
số tái sản xuất càng cao.
Ở Việt Nam, trong điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng chƣa đầy đủ, khoảng cách
giữa 2 lứa đẻ là 18-20 tháng, bò Lai Sind là 417 ngày.
Sự hồi phục sau khi đẻ
Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ
Sau quá trình co bóp để đẩy thai ra ngoài, tử cung dần dần co lại (hầu nhƣ trở
lại kích thƣớc ban đầu), quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi đẻ, là giai
đoạn sinh lý có ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng phân tiết prostaglandin ở thân
sừng tử cung, ảnh hƣởng tới khả năng động dục trở lại sau khi đẻ.
Trƣớc đây ngƣời ta cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục của bò cái hồi
phục hoàn toàn sau khi đẻ chỉ là 3 tuần. Những kết quả nghiên cứu sau này chứng
minh rằng thời gian này dài hơn. Đối với bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, bò đã đẻ nhiều
lần là 50 ngày. Kích thƣớc tử cung của bò sau khi đẻ đƣợc hồi phục trở lại gần nhƣ
bình thƣờng vào khoảng ngày thứ 30 nhƣng cần thêm 15 ngày nữa thì trƣơng lực cơ
tử cung mới đƣợc hồi phục hoàn toàn (Sato và cs, 1992)[30].
Phƣơng pháp khám qua trực tràng cho biết, 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử
cung giảm còn 1/2 và tử cung hồi phục gần nhƣ hoàn toàn khoảng ngày thứ 18 sau
khi đẻ. Trong thời gian sau khi đẻ, sự phá hoại của mô nội mạc tử cung kèm theo
12
sự có mặt của số lƣợng lớn bạch cầu và việc giảm thấp lòng mạch nội mạc tử
cung, các tế bào cổ tử cung giảm về số lƣợng và kích thƣớc. Những biến đổi
nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai
sau khi đẻ bị giảm thấp. Các mô máu bị tróc và rụng khỏi dạ con 12 ngày sau khi
đẻ. Sự tái sinh của bề mặt biểu mô ở các núm xuất hiện bằng cách lớn lên từ mô
bao bọc xung quanh và đƣợc hoàn tất sau khi đẻ 30 ngày (Nguyễn Tấn Anh và cs,
1995)[1]. Theo Sato và cs (1992)[30], quá trình hồi phục tử cung bò sau khi đẻ
(nếu không biến chứng) là 45 ngày và để nội mạc tử cung trở lại trạng thái mô bào
học bình thƣờng thì cần 15 ngày tiếp theo. Ở dê cừu sau khi đẻ 15-20 ngày, tử
cung co lại bình thƣờng. Theo Nguyễn Trọng Tiến và cs (1991)[18], sau khi đẻ 60
ngày, 75% số bò cái có cơ quan sinh dục đƣợc hồi phục, sau 75 ngày có 87%. Đối
với bò đẻ khó, sót nhau, thời gian này là 4 tháng. Tác giả cũng cho biết ở đàn bò
cái sự hồi phục tử cung phía không mang thai là 11,4 ngày. Sự co dạ con còn phụ
thuộc vào cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng, quá trình đẻ và sự hộ lý chăm
sóc sau khi đẻ.
Rụng trứng và động dục lại sau khi đẻ
Sau khi sinh, nhiều cá thể bò sẽ động dục lại và rụng trứng trong vòng 20-30
ngày. Tuy nhiên, hiện tƣợng “động dục ngầm” hay là rụng trứng “thầm lặng”
thƣờng chiếm tỷ lệ cao và những con bò này rụng trứng trở lại vào lúc 45-50 ngày.
Phần lớn chúng có biểu hiện động dục và những bò nhƣ vậy thƣờng ít có vấn đề về
sinh sản so với những bò có thời kỳ động dục kéo dài sau đẻ .
Vấn đề động dục trở lại sau khi đẻ còn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ chăm
sóc nuôi dƣỡng (dinh dƣỡng) trong thời gian trƣớc và sau khi đẻ. Vấn đề dinh
dƣỡng và nuôi con, tiết sữa sẽ kéo dài thời gian động dục trở lại sau 100 ngày.
Một số nguyên nhân khác cũng làm cho thời gian động dục lại kéo dài sau đẻ là
nhiễm bệnh (viêm nhiễm ở tử cung), rối loạn trao đổi chất, môi trƣờng sống kém...
2.1.3. Sự điều tiết thần kinh thể dịch đến hoạt động sinh sản
Hoạt động sinh dục chịu sự điều tiết của hệ thần kinh - thể dịch, hệ thần
kinh tác động thông qua các thụ quan nhạy cảm, nơi tiếp nhận tất cả các xung
động của ngoại cảnh vào cơ thể. Đầu tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là
13
Hypothalamus tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) GH-RF kích thích
thùy trƣớc tuyến yên tiết FSH, LH và các hormone đó theo máu tác động tới
buồng trứng làm nang trứng phát triển đến mức độ chín và tiết ra estrogen.
Ở quá trình sinh lý bình thƣờng, trong gia súc đến tuổi trƣởng thành, buồng
trứng đã có nang trứng phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật
đã có sẵn một lƣợng nhất định về estrogen, chính estrogen tác động lên trung khu vỏ
đại não và ảnh hƣởng đến hypothalamus, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền
các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (Gonadotropin Releasing Hormone hay
là hormone giải phóng FRH và LRH) (Trần Tiến Dũng và cs, 2002)[5].
Hormone giải phóng FRH (Follitropin-Releasing Hormone) và LRH
(Luteinizing Releasing Hormone) đƣợc gọi chung là GnRH.
Hormone FRH kích thích thùy trƣớc tuyến yên tiết FSH, kích tố này kích thích
sự phát triển noãn nang của buồng trứng, cũng đồng nghĩa với việc lƣợng estrogen
tiết ra nhiều hơn. Estrogen tác động vào các bộ phận sinh dục thứ cấp đồng thời tác
động lên trung tâm hypothalamus, vỏ đại não, gây nên hiện tƣợng động dục.
Thùy trƣớc tuyến yên tiết ra hormone LH và LRH dƣới sự kích thích của
LRH. LH tác động vào buồng trứng, làm trứng chín; kết hợp với FSH làm nang
trứng vỡ ra và gây nên hiện tƣợng thải trứng, hình thành thể vàng. LRH kích thích
thuỳ trƣớc tuyến yên phân tiết LTH (Luteino Trofic Hormone). LTH tác động vào
buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng, kích thích thể vàng phân tiết
progesterone. Progesterone tác động ngƣợc lên tuyến yên ức chế phân tiết FSH, LH
và quá trình động dục chấm dứt.
Progesterone tác động vào tử cung làm cho tử cung dày lên, tạo cơ sở tốt cho
việc làm tổ của hợp tử - phôi lúc ban đầu (tạo sữa tử cung). Ở con vật có chửa, thể
vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, có nghĩa là lƣợng progesterone đƣợc duy trì
với nồng độ cao trong máu. Nếu không có chửa, thể vàng tồn tại đến ngày thứ 1517 của chu kỳ, sau đó teo dần, đồng thời hàm lƣợng progesterone cũng giảm dần,
giảm đến một mức độ nhất định nó lại cùng với một số nhân tố khác kích thích vỏ
đại não, hypothalamus, tuyến yên, lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng
cƣờng phân tiết FSH, LH, chu kỳ sinh dục mới lại hình thành.
14
Sự liên hệ giữa hypothalamus, tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hòa hoạt
động sinh dục của gia súc cái không chỉ theo chiều thuận mà còn theo cơ chế điều
hoà ngƣợc. Cơ chế điều hoà ngƣợc đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững
“cân bằng nội tiết”.
Lợi dụng cơ chế điều hòa ngƣợc, ngƣời ta sử dụng một lƣợng progesterone
đƣa vào để điều khiển chu kỳ tính ở gia súc cái.
Khi đƣa một lƣợng progesterone vào cơ thể làm cho hàm lƣợng progesterone
trong máu tăng lên, theo cơ chế điều hòa ngƣợc trung khu điều khiển sinh dục ở
hypothalamus bị ức chế, kìm hãm sự tiết các kích tố của tuyến yên, làm cho các bao
noãn tạm thời ngừng phát triển, do đó làm cho chu kỳ động dục tạm thời ngừng lại.
Sau khi kết thúc sử dụng progesterone, hàm lƣợng này trong máu sẽ giảm xuống đột
ngột, sự kìm hãm đƣợc giải tỏa, trung khu điều khiển sinh dục đƣợc kích thích, kích
tố FSH lại đƣợc bài tiết đã kích thích sự phát triển của noãn nang làm cho chu kỳ
động dục của bò cái (đƣợc xử lý) trở lại hoạt động cùng một lúc. Hiệu quả tác động
sẽ cao hơn nếu có sự kết hợp của một số loại hormone khác nhƣ huyết thanh ngựa
chửa (HTNC), estradiol benzoat, LH.
Vai trò của tuyến yên trong sinh sản của gia súc
Theo Cù Xuân Dần và cs (1985)[3], trƣớc đây ngƣời ta quan niệm rằng hormone
là những chất của các tuyến nội tiết tiết ra đi thẳng vào máu hay bạch huyết có tác dụng
sinh học cao, điều hòa hoạt động chức năng của cơ quan thích ứng
Hai hormone từ tuyến yên có tác dụng kích thích sinh dục: Một hormone kích
thích sự sinh trƣởng và phát triển của nang trứng đƣợc gọi là kích noãn tố (FSH).
Kích tố kia có tác dụng lutein hóa nang trứng gọi là kích thể vàng tố (LH).
Tác dụng chính của FSH (Foliculin Stimulating Hormone) là kích thích nang
trứng phát triển mà không gây rụng trứng. Muốn gây đƣợc trứng rụng phải có LH
(Lutein Stimulating Hormone). Hầu hết các nhà sinh học đều thống nhất rằng, để
trứng rụng đƣợc thì lƣợng LH phải lớn hơn lƣợng FSH, thƣờng với tỷ lệ
LH
3
FSH 1
Prolactin (Lutrin tropin hormone): Prolactin có tác dụng kích thích tuyến vú
phát triển và tiết sữa. Ngoài ra nó còn có tác dụng trong thời kỳ đầu có thai giúp cho
thể vàng tồn tại trong buồng trứng. Một số ý kiến khác cho rằng prolactin của tuyến
15
yên thực hiện đƣợc nhờ kích thích thần kinh vùng dƣới đồi thị và các phản xạ có
điều kiện ở tử cung đã có thai. Ngƣợc lại nếu tử cung không có thai thì tuyến yên
không tiết ra prolactin.
Oxytoxin là loại hormone do thùy sau tyến yên tiết ra, oxytoxin có tác dụng
đặc biệt là kích thích sự co bóp của tử cung, tăng cƣờng sự co bóp của tuyến sữa.
Hormone của buồng trứng, nhau thai và prostaglandin trong sinh sản
Oestrogen
Hormone của buồng trứng đƣợc tạo ra bởi toàn bộ tế bào nang trứng và tổ chức
kẽ. Ở động vật khi có chửa, estrogen đƣợc tổng hợp bởi nhau thai (hoặc bởi vỏ tuyến
trên thận với một lƣợng nhỏ), vì thế vẫn thấy estrogen đƣợc tiết ra không ngừng.
Estrogen gồm 3 loại: estradiol, estron và estriol. Trong đó, estradiol là estrogen đƣợc
bài tiết nhiều nhất và có tác dụng sinh học mạnh nhất, nó tồn tại dƣới hai dạng đồng
phân và , trong đó 17-estradiol có hoạt tính sinh học mạnh hơn cả (lớn hơn 17estradiol tới 40 lần và hơn estron 10 lần). Còn estriol là estrogen yếu nhất, nó là dạng
chuyển hóa của 17β-estradiol và estrone. Cả ba loại đều có bản chất hóa
học là steroid đƣợc tổng hợp từ cholesterol.
Trong quá trình sinh tổng hợp estrone ngƣời ta thấy có sự chuyển hóa qua lại
của chúng. Ví dụ: esterone 17 dễ dàng chuyển thành estron, estron bị phân giải
thành những sản phẩm steroid.
Công dụng của estrogen là kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển, làm cơ
quan sinh dục tăng sinh và tiết dịch, giúp gia súc cái có những biểu hiện động dục.
Bằng thực nghiệm đã chứng minh rằng khi cho estrogen vào cơ thể con cái làm tăng
khối lƣợng của dạ con và buồng trứng, là kết quả của sự tăng tổng hợp protein và
axit nucleic.
Progesterone
Khi bao noãn chín, trứng rụng khỏi nang trứng. Tại nơi đó, mạch quản và tế bào
sắc tố vàng phát triển thành thể vàng. Khi còn tồn tại và hoạt động, thể vàng tiết ra
progesterone (nó cũng đƣợc tiết ra ở nhau thai và một lƣợng nhỏ từ tuyến thƣợng thận).
Progesterone kích thích sự phát triển hơn nữa của niêm mạc tử cung, âm đạo
tích luỹ nhiều glucogen ở các niêm mạc đó, làm phát triển lƣới mao mạch tử cung.
Progesterone làm giảm tính mẫn cảm co bóp của nội mạc tử cung, tham gia vào sự
chuẩn bị của nội mạc dạ con cho sự làm tổ của hợp tử đồng thời nó cũng làm tăng
16
sinh và phát triển các bao tuyến trong tuyến vú. Khi trứng đã đƣợc thụ tinh và làm
tổ, hormone này có tác dụng dƣỡng thai, làm nhau thai phát triển và duy trì sự phát
triển của thai, làm giảm tính mẫn cảm của cơ trơn tử cung với oxytoxin, ức chế sự sản
sinh RSH (FSH và LH) của tuyến yên, do đó ức chế quá trình phát triển của bao noãn.
Kích tố nhau thai
Ngay sau khi hợp tử bắt đầu làm tổ ở tử cung, túi phôi đƣợc hình thành và
phát triển. Khi túi phôi lớn lên tuyến nhau thai đƣợc hình thành. Hệ thống nhau thai
ở bò có cấu tạo dạng múi. Núm nhau thai con và mẹ kết hợp với nhau theo hệ thống
cái răng lƣợc. Chúng chiếm gần hết tử cung. Nhau thai tiết ra hormone là prolan A
và prolan B.
- Prolan A có tác dụng tƣơng tự FSH và oestrogen
- Prolan B có tác dụng tƣơng tự LH và progesterone
Ở ngựa có chửa nhau thai tiết khá nhiều prolan A (huyết thanh ngựa chửa –
HTNC) và 1 ít prolan B. Hoạt tính gần giống FSH.
Ở ngƣời nhau thai tiết ra hormone là HCG (Human Chorionic Gonadotropin)
là một glycoprotein gồm hai chủng polypirtit
(riêng
là 18000,
và . Khối lƣợng phân tử là 46000
là 28000), hoạt tính sinh học của HCG cơ bản giống LH.
Prostaglandin
Lần đầu tiên prostaglandin đƣợc phát hiện trong tinh dịch ngƣời (1935), lúc đó
ngƣời ta giả thiết rằng nguồn gốc của nó xuất hiện ở tuyến tiền liệt (Protala
glandula), do đó mà có thuật ngữ là prostaglandin. Prostaglandin là một axit béo
không no, trong phân tử có chứa 20 nguyên tử hydro nằm trong thành phần
photpholipit của màng tế bào. Tùy theo cách sắp đặt của các nguyên tử ở các vị trí
khác nhau, tùy cách kết hợp 2 nhóm hydroxit và nhóm xeton mà chia thành 4 chất
prostaglandin. Tập hợp trong 4 nhóm chính đƣợc đặt tên là A, B, E, F trong đó 2
nhóm E, F có hoạt tính sinh học mạnh nhất.
Từ năm 1966 prostaglandin đã đƣợc bào chế tại các xí nghiệp lớn và đƣợc sử
dụng. Ngƣời ta đã tiến hành thử nghiệm estrumeta. Prostaglandin để điều hòa chức
năng sinh sản của bò cái và cừu cái (chất này tổng hợp tƣơng tự nhƣ prostaglandin)
giá trị của nó là hiệu lực mạnh gấp 100 lần (PGF2) tự nhiên nhƣng ảnh hƣởng tới
có rút cơ trơn tử cung chỉ bằng PGF2 tự nhiên.