ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
----------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THU HÚT
KHÁCH DU LỊCH ĐẾN VỚI BẢO TÀNG
CỔ VẬT CUNG ĐÌNH HUẾ
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
ThS. Hồng Thị Mộng Liên
Cao Thị Oanh
Lớp: K47 QLLH
Huế, tháng 05 năm 2017
Bài khóa luận tốt nghiệp này là
thành quả nỗ lực, phấn đấu và rèn
luyện của tôi trong quá trình học tập tại
Khoa Du Lòch – Đại Học Huế.
Để hoàn thành bài khóa luận này,
cũng như hoàn thành quá trình học tập tại
trường tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất đến các thầy giáo, cô giáo bộ
môn Lữ hành của Khoa Du Lòch - Đại Học
Huế, cảm ơn Th.S Nguyễn Thò Ngọc Cẩm Trưởng bộ môn đã hết lòng giảng dạy,
trang bò kiến thức cho tôi trong suốt quá
trình học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc đến giảng viên
Th.S Hoàng Thò Mộng Liên người đã trực
tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ, động
viên em trong suốt quá trình làm khóa
luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các
cô, chú, anh, chò, đặc biệt là chú Th.S
Nguyễn Viết Dũng - Trưởng phòng Hướng
dẫn - Thuyết minh tại Trung tâm Bảo tồn
Di tích Cố đô Huế đã tạo điều kiện cho
tôi thực tập, điều tra thu thập số liệu,
tài liệu phục vụ cho nghiên cứu.
Xin cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình, giúp
đỡ động viên của toàn thể bạn bè,
người thân trong suốt quá trình hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã có những cố gắng song
khóa luận này không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Kính mong quý thầy cô
góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Ngày 12 tháng 05 năm
2017
Sinh viên thực hiện
Cao Thò Oanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết
quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên
cứu khoa học nào
Ngày 12 tháng 5 năm 2017
Cao Thị Oanh
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
MỤC LỤC
SVTH: Cao Thị Oanh
6
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
DANH MỤC VIẾT TẮT
UNESCO
VITM
FEALAC
KOTFA
JATA
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Viet Nam International Tourism Mart
Hội chợ Du lịch Quốc tế Việt Nam
Forum for East Asia-Latin America Cooperation
Diễn đàn hợp tác Đông Á – Mỹ Latin
The Korea World Travel Fair
Hội chợ Du lịch Quốc tế Hàn Quốc
Japan Association of Travel Agents
Hiệp hội Du lịch Nhật Bản
SVTH: Cao Thị Oanh
7
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
SVTH: Cao Thị Oanh
8
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, du lịch đang nhanh chóng trở thành một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới và được xem
như là chìa khóa mang lại sự giàu mạnh cho cả nước nghèo lẫn nước giàu. Trong
những năm qua, du lịch Việt Nam cũng không ngừng tăng trưởng, từng bước khẳng
định là điểm đến của du lịch châu Á và tô đậm tên mình trên bản đồ du lịch thế giới.
Trong mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, du lịch sinh
thái, du lịch văn hóa, lịch sử được xác định là hướng phát triển quan trọng nhất,
nhằm khai thác tối đa và có hiệu quả nguồn tài nguyên vốn có của nước ta.
Nói đến du lịch văn hóa, lịch sử, chúng ta không thể không nhắc đến hệ thống
các bảo tàng. Thông qua nó, du khách phần nào có được cái nhìn tổng quát hơn về
văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán và con người của vùng đất nơi mình đang đi qua.
Ở Việt Nam, trải dài khắp từ Bắc đến Nam có rất nhiều bảo tàng được xây
dựng, phục vụ cho nhu cầu tham quan và tìm hiểu. Các bảo tàng này đang ngày
càng được tập trung phát triển và dần trở thành điểm đến của du khách trong nước
và quốc tế không kém các danh lam thắng cảnh. Nó không chỉ đơn thuần phục vụ
cho mục đích tham quan mà còn đóng góp rất lớn vào việc giáo dục kiến thức lịch
sử, truyền thống cho người dân, nâng cao nhận thức, hiểu biết về các giá trị văn hóa,
khơi dậy niềm tự hào dân tộc và góp phần đưa lịch sử của đất nước đến gần hơn với
bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu thưởng thức văn
hóa và nhu cầu giải trí ngày càng cao. Con người có thể dễ dàng tiếp cận thông tin
cũng như có nhiều lựa chọn khác nhau để thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình. Thay
vì đến các Bảo tàng để tìm hiểu, nghiên cứu, họ có thể hoàn toàn có thể truy cập
nhanh chóng thông qua Internet. Mặc dù vậy, không phải nguồn thông tin nào cũng
thực sự đảm bảo. Với thế mạnh là hiện vật gốc - những bằng chứng xác thực nhất
về lịch sử, thay vì phục vụ theo cái mình có, Bảo tàng cần luôn làm mới mình, đáp
ứng cái mà du khách cần, thu hút khách đến với mình và cạnh tranh với vô vàn các
hoạt động vui chơi giải trí khác để phát huy hết tiềm năng và giá trị của mình.
SVTH: Cao Thị Oanh
9
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Thừa Thiên Huế hiện có 6 bảo tàng với hơn hàng nghìn hiện vật và tài liệu
hiện vật. Trong số đó, Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế được xem là Bảo tàng cổ
nhất, lâu đời nhất, nơi lưu giữ hàng trăm hiện vật quý hiếm, ghi dấu về cuộc sống
của Vương triều Nguyễn xưa kia. Mặc dù vậy, nguồn khách đến tham quan tại Bảo
tàng vẫn còn khá khiêm tốn, thực sự chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị vốn
có của nó. Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá, tìm hiểu nhu cầu, nâng cao chất lượng
của hoạt động thu hút khách tham quan là một việc làm hết sức thiết thực.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cũng như được sự đồng ý của Giáo
viên hướng dẫn, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng thu hút
khách du lịch đến với Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế” làm luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
−Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tàng và khả năng thu hút
khách du lịch.
−Phân tích khả năng thu hút khách du lịch đến với Bảo tàng Cổ Vật Cung
Đình Huế trong những năm qua.
−Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch đến với Bảo tàng Cổ
Vật Cung Đình Huế trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về: “Khả năng thu hút khách du lịch đến với Bảo
tàng Cổ Vật Cung Đình Huế”.
3.2. Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của đề tài là khách nội địa và khách quốc tế đến tham quan
tại Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
−Về mặt không gian: Nghiên cứu tại Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế, Số 03
Lê Trực, phường Thuận Thành, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế.
−Về mặt thời gian:
+ Tham khảo thông tin, các dữ liệu thứ cấp từ nguồn Sở Du lịch Thừa Thiên
Huế, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô trong 3 năm 2014-2016.
+ Dữ liệu sơ cấp (kết quả điều tra) từ tháng 06/02 – 06/05/2016. Khảo sát trực
SVTH: Cao Thị Oanh
10
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
tiếp ý kiến của khách du lịch đến với Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế thông qua
bảng hỏi.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
− Số liệu thứ cấp
Tiến hành thu thập từ nguồn Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Trung tâm bảo
tồn di tích Cố đô, số liệu liên quan đến: Lịch sử quá trình xây dựng, kiến trúc và các
hiện vật trong Bảo tàng, Biến động lượt khách du lịch đến tham quan tại Bảo tàng
Cổ Vật Cung Đình Huế (2014-2016).
−Số liệu sơ cấp
Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn bằng bảng
hỏi đối với khách du lịch nội địa và quốc tế trên địa bàn thành phố Huế.
Quy mô mẫu: xác định quy mô mẫu theo công thức:
n=
Trong đó:
n: Quy mô mẫu
N: Kích thước tổng thể (tổng lượt khách đến tham quan tại Bảo tàng Cổ Vật
Cung Đình Huế năm 2016)
Chọn mức tin cậy là 90%, độ sai lệch e = 0,1
Với N = 153.609, ta xác định được
n=
= 99,93
Để đạt được cỡ mẫu như trên, tác giả tiến hành phát 120 bảng hỏi (gồm 60
bằng tiếng Việt và 60 bảng hỏi bằng tiếng Anh) để điều tra.
4.2. Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
−Sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ:
1 - Rất không đồng ý
2 - Không đồng ý
3 - Không có ý kiến
4 - Đồng ý
5 - Rất đồng ý
−Sử dụng phương pháp phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản
SVTH: Cao Thị Oanh
11
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
22.0 để phân tích số liệu thứ cấp.
+Thống kê tần suất (Frequency), phần trăm (Percent), trung bình (Mean).
+Phân tích phương sai một yếu tố (One - way ANOVA) để xem xét sự khác
biệt về ý kiến đánh giá của khách du lịch theo độ tuổi, nghề nghiệp, quốc tịch… với
các yếu tố.
5. Cấu trúc nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung khóa luận
chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch đến với Bảo tàng Cổ
Vật Cung Đình Huế.
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng thu hút khách
du lịch đến với Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế.
SVTH: Cao Thị Oanh
12
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về vấn đề du lịch
1.1.1. Du lịch
Cho đến nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch, nó tùy
thuộc vào quan điểm của nhà nghiên cứu, từng quốc gia, tổ chức khác nhau.
Theo Michael Coltman: “Du lịch là sự tổng hợp các hiện tượng phát sinh từ
các quan hệ kinh tế và chi phí khinh tế, là tổng hợp các hiện tượng phát sinh từ các
quan hệ tác động lẫn nhau giữa bốn thành phần sau: khách du lịch, nhà kinh doanh
du lịch, chính quyền địa phương và dân cư địa phương”. [1]
Theo khoản 1, điều 4, chương 1, Luật du lịch Việt Nam (27/6/2005): “Du lịch
là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan , tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một khoảng thời gian nhất định”. [2]
1.1.2. Khách du lịch
1.1.2.1. Khái niệm
Theo điều 34 Luật Du lịch Việt Nam:
“Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”.
“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam ra nước ngoài”. [2]
1.1.2.2. Phân loại
Phân loại theo quốc tịch
Khách du lịch phân loại theo quốc tịch bao gồm: khách du lịch nội địa và
khách du lịch quốc tế.
SVTH: Cao Thị Oanh
13
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Khách du lịch nội địa Domestic Tourist: là công dân của một quốc gia và
những người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi du lịch trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia đó.
Khách du lịch quốc tế International Tourist: là những khách du lịch có điểm
xuất phát và điểm đến du lịch thuộc phạm vi lãnh thổ của hai quốc gia khác nhau.
Phân loại theo hình thức chuyến đi
Khách du lịch đi theo đoàn: là các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường
xuyên có sự chuẩn bị chương trình từ trước. Có hai hình thức đi theo đoàn:
− Khách du lịch theo đoàn thông qua các tổ chức lữ hành, các công ty du lịch.
− Khách du lịch tổ chức thành đoàn không thông qua bất cứ tổ chức du
lịch nào.
Khách du lịch đi lẻ: là những người đi du lịch một mình (có thể đi du lịch với
gia đình) qua các tố chức du lịch để mua các chương trình tour riêng của họ.
Phân theo lứa tuổi
Lứa tuổi thanh niên (dưới 30 tuổi)
Lứa tuổi trung niên (từ 31 đến 55 tuổi)
Lứa tuổi thâm niên (từ 55 tuổi trở lên)
Tiêu chuẩn phân chia này giúp cho các nhà kinh doanh du lịch nắm được tâm
lý khách theo lứa tuổi nhằm dễ dàng tạo ra các sản phẩm du lịch dịch vụ phù hợp,
đáp ứng nhu cầu, mong muốn của khách, làm cho khách hài lòng và từ đó thu được
lợi nhuận cao trong kinh doanh.
Phân theo động cơ của khách du lịch
Khách du lịch văn hóa
Khách du lịch lịch sử
Khách du lịch công vụ
Khách du lịch quá cảnh
Khách du lịch thăm người thân
Khách du lịch giải trí, nghỉ ngơi
Khách du lịch sinh thái
SVTH: Cao Thị Oanh
14
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
1.1.3. Bảo tàng
1.1.3.1. Khái niệm
Trong cuốn “Sổ tay công tác bảo tàng” của giáo sư Lâm Bình Tường đã định
nghĩa: “Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Là cơ quan nghiên cứu khoa học: Bảo tàng đã nghiên cứu, sưu tầm
và bảo quản những di tích lịch sử văn hóa, những đối tượng lịch sử tự nhiên và
những di tích khác, những nguồn tư liệu đầu tiên của kiến thức khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Là cơ quan giáo dục khoa học: Bảo tàng đã thường sử dụng những
thành quả nghiên cứu của mình vào trong công cuộc giáo dục khoa học thông qua
phần trưng bày của mình và trong các tập san phổ cập khoa học”. [3]
Theo Luật Di sản Văn hóa: “Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu
tầm, bảo quản. nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất
về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu
nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng”. [4]
Trong Phần 2, Điều 1 quy chế của ICOM (Hội đồng Bảo tàng thế giới), Bảo
tàng được định nghĩa như sau: “Bảo tàng là một tổ chức (cơ quan) không có lợi
nhuận, tồn tại lâu dài để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, mở rộng đón nhận
công chúng. Bảo tàng thu nhận, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và tuyên truyền
nhằm mục đích giáo dục, học tập và thưởng thức. Bảo tàng là một bằng chứng vật
chất xác thực về con người và môi trường xung quanh con người”. [1]
1.1.3.2. Phân loại bảo tàng
Phân theo các sưu tập
Bảo tàng tổng hợp
Bảo tàng chuyên ngành
Phân loại theo đối tượng chủ quan
Bảo tàng trung ương
Bảo tàng địa phương
Bảo tàng của trường đại học
Bảo tàng quân đoàn
Bảo tàng tư nhân hoặc hoạt động độc lập
Bảo tàng của các cơ quan thương mại
SVTH: Cao Thị Oanh
15
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Phân loại theo phạm vi mà bảo tàng bao quát
Bảo tàng quốc gia
Bảo tàng vùng
Bảo tàng địa phương
Phân loại theo đối tượng khách tham quan
Bảo tàng giáo dục
Bảo tàng chuyên ngành
Bảo tàng phục vụ khách tham quan nói chung
Phân loại theo các phương pháp, trưng bày bộ sưu tập của bảo tàng
Bảo tàng truyền thống
Bảo tàng ngoài trời
Bảo tàng là các tòa nhà, các di tích lịch sử
1.1.3.3. Nhiệm vụ và quyền hạn
Theo điều 48 Luật Di sản Văn hóa Việt Nam, Bảo tàng có các nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây:
− Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập
− Nghiên cứu khoa học về di sản văn hóa
− Tổ chức phát huy giá trị các di sản văn hóa phục vun lợi ích toàn xã hội
− Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ
− Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật
− Thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật
1.1.4. Mối quan hệ giữa bảo tàng và du lịch
1.1.4.1. Tác động của bảo tàng đến phát triển du lịch
Trên thực tế khách quan và xu thế chung, cơ sở phát triển của ngành du lịch
không chỉ là hệ thống các nhà hàng, khách sạn, các điều kiện thuận lợi về giao
thông hay chế độ chính trị ổn định… mà điều cũng không kém phần quan trọng tạo
nên thế mạnh cho ngành công nghiệp không khói này phát triển chính là sự phong
phú, đa dạng của nền văn hóa thông qua những hiện vật, bộ sưu tập hiện vật hay nói
cách khác đó là di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia mang tính vật thể trong đó bao gồm
cả di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh hoặc phi vật thể như lễ hội, nghệ thuật…Chính
những giá trị văn hóa này tạo nên sự riêng biệt, nét độc đáo không thể hòa lẫn của
mỗi quốc gia, dân tộc trong dòng chảy lịch sử, văn hóa chung của thế giới.
SVTH: Cao Thị Oanh
16
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Có thể nói bảo tàng là một bộ phận tài nguyên nhân văn quan trọng, là nơi bảo
tồn các giá trị di sản văn hóa dân tộc đồng thời cũng là nơi thu hút số lượng đông
đảo khách tham quan du lịch. Với những bộ sưu tập hiện vật phong phú bảo tàng
góp một vai trò quan trọng trong việc truyền tải cho khách tham quan những giá trị
về văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, đất nước và con người, đặc biệt là đối với
khách quốc tế.
Bảo tàng được đem là cơ sở, là nguyên liệu tạo nên các sản phẩm du lịch hấp
dẫn, độc đáo, phục vụ nhu cầu tham quan, thưởng thức của con người, là yếu tố
thúc đẩy động cơ du lịch của du khách. Bên cạnh đó, bảo tàng còn đóng góp quan
trọng vào việc phát triển loại hình du lịch văn hóa của quốc gia.
Tuy nhiên, tầm ảnh hưởng của Bảo tàng còn phụ thuộc vào quy mô, bản sắc và
cá tính riêng của mỗi bảo tàng. Một bảo tàng lớn với bộ sưu tập độc đáo, điển hình,
dịch vụ phong phú sẽ có sức hút mạnh mẽ đối với du khách không chỉ trong nước
mà còn cả đối với khách quốc tế.
1.1.4.2. Tác động của hoạt động du lịch đến bảo tàng
Tác động tích cực
Chức năng chính của bảo tàng là nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức, trong
đó chức năng giải trí và thưởng thức của bảo tàng ngày càng nhận được sự quan tâm
của giới nghiên cứu. Nó đã mở ra một cơ hội hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa bảo
tàng và du lịch, làm cho bảo tàng và các hoạt động của bảo tàng thực sự đi vào cuộc
sống một cách gần gũi và mang hơi thở của cuộc sống đương đại, giúp cho công
chúng được hưởng thụ các giá trị đích thực mà bảo tàng và du lịch đem lại.
Du lịch được xem là phương tiện quảng bá tốt nhất hình ảnh và danh tiếng của
bảo tàng đến với công chúng. Và hình thức quảng bá hữu hiệu nhất chính là thông
qua truyền miệng của du khách. Nhờ đó, Bảo tàng sẽ được đông đảo công chúng
biết đến và trở thành một trong những lựa chọn của họ khi đi du lịch.
Sự phát triển của hoạt động du lịch thúc đẩy Bảo tàng luôn cố gắng hoàn thiện
cơ sở vật chất và các tiện nghi để phục vụ cho việc tiếp đón du khách, đồng thời
kích thích nghiệp vụ Bảo tàng ngày càng nâng cao hơn nữa.
Tác động tiêu cực
SVTH: Cao Thị Oanh
17
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch cũng có những tác động
xấu đến bảo tàng.
Do bản chất của hoạt động du lịch là thời vụ khá rõ rệt, do đó gây ra không ít
khó khăn cho hoạt động tại Bảo tàng nhất là vào các mùa cao điểm. Lượng khách
tập trung quá đông trong một thời gian ngắn có thể gây quá tải, làm giảm khả năng
cảm nhận, thưởng thức hiện vật tại bảo tàng và làm chất lượng phục vụ khách.
Bảo tàng ngày càng thu hút lượng lớn du khách đến tham quan, tuy nhiên ý
thức bảo vệ của du khách là một điều đáng bàn. Dù có biển bảng về việc không sờ
vào hiện vật nhưng rất nhiều du khách vô tư sờ, ngồi lên hiện vật, sử dụng flash dù
đã có bảm cấm làm hoen ố, hư hại nhiều hiện vật. Việc xả rác bừa bãi cũng gây ra
các tác động xấu môi trường tại khu vực Bảo tàng. Do đó, việc giáo dục ý thức du
khách của các tổ chức du lịch trước khi đến tham quan Bảo tàng là một đề hết sức
quan trọng và thiết thực.
1.1.5. Điểm đến du lịch
1.1.5.1. Khái niệm
Điểm đến du lịch là một trong những khái niệm rất rộng và đa dạng, được
dùng để chỉ một địa điểm có sức hút với tập du khách khác biệt cao hơn so với địa
điểm cùng cấp so sánh xung quanh bởi tính đa dạng tài nguyên, chất lượng và một
loạt các tiện nghi và hoạt động cung cấp cho du khách; do ở đây tồn tại các yếu tố
sơ cấp đặc thù (khí hậu, sinh thái, truyền thống văn hoá, các kiến thức truyền thống,
loại hình vùng đất) cùmg các yếu tố thứ cấp như các khách sạn, giao thông - vận tải
và các khu vui chơi giải trí và hoạt động được quy hoạch và quản lý như một hệ
thống mở.
Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về điểm đến du
lịch (Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách
du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp,
các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự
nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”. [5]
Theo Buhalis (2000) định nghĩa: “Điểm đến là nơi mà cung cấp tổng hợp các
sản phẩm và dịch vụ du lịch được tiêu dùng dưới tên thuơng hiệu của điểm đến”.
SVTH: Cao Thị Oanh
18
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Ranh giới của một điểm đến có thể được xác định một cách cụ thể bằng ranh giới
địa lý, chính trị hoặc cũng có thể được xác định bằng ranh giới nhận thức và ranh
giới tạo ra bởi thị trường. [12]
1.1.5.2. Đặc điểm của điểm đến du lịch
Được thẩm định về mặt văn hóa: Các du khách thường cân nhắc điểm đến để
đầu tư thời gian, tiền bạc đến viếng thăm hay không do đó có thể nói rằng điểm đến
là kết quả của những thẩm định về văn hóa của khách thăm.
Tính đa dạng: Các tiện nghi ở điểm đến thường phục vụ cho cả dân cư địa
phương và khách tham quan. Tính đa dạng ở điểm đến phụ thuộc vào sự phân biệt
tiện nghi chỉ phục vụ khách du lịch, dân cư địa phương hay hỗn hợp cả hai đối
tượng trên.
Tính bổ sung: Thực tế cho thấy các yếu tố cấu thành điểm đến có mối quan hệ
mật thiết với nhau ở hầu hết các điểm đến du lịch. Chất lượng của mỗi yếu tố này và
sự cung cấp dịch vụ của chúng cần có sự tương đồng với nhau một cách hợp lý.
1.1.5.3. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch
− Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn của một điểm đến du lịch dù mang
đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng đều gây ra động
lực ban đầu cho sự thăm viếng của khách.
− Giao thông đi lại: Rõ ràng giao thông và vận chuyển khách ở điểm đến sẽ
làm tăng thêm chất lượng của các kinh nghiệm sự phát triển và duy trì giao thông có
hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điểm căn bản cho sự thành công
của các điểm đến. Sự sáng tạo trong việc tổ chức giao thông du lịch sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho các tập du khách trong việc tiếp cận điểm đến và là một yếu tố quan
trọng thu hút khách du lịch.
− Nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú của điểm đến không chỉ cung cấp nơi ăn
nghỉ mang tính chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi cuồng nhiệt và
ấn tượng khó quên về món ăn và đặc sản địa phương.
− Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi,
phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại điểm đến du lịch. Bộ phận này có đặc điểm là
mức độ tập trung về sở hữu thấp. Hỗn hợp các cấu thành của điểm đến kết hợp theo
SVTH: Cao Thị Oanh
19
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
nhiều cách khác nhau, tất nhiên để du khách sử dụng có hiệu quả hơn thời gian của
mình, góp phần làm tăng sự hấp dẫn du khách.
− Các hoạt động: các yếu tố cấu thành của một điểm đến du lịch trên địa
phương diện khác phương diện vật chất, đó là cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
của điểm đến. Cơ sở hạ tầng biểu thị tất cả các dạng của công trình xây dựng trên
hoặc dưới mặt đất cần thiết cho một khu vực dân cứ sinh sống bao gồm cả hệ thống
thông tin liên lạc mở rộng ra hệ thống bên ngoài. Cở sở vật chất kỹ thuật của điểm
đến bao gồm toàn bộ những tiện nghi vật chất và phương tiện kỹ thuật của điểm đến
du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú và ăn uống, các điểm hấp dẫn được xây dựng, các
khu vui chơi, giải trí, các cơ sở thương mại và dịch vụ khác.
1.1.6. Hình ảnh điểm đến
1.1.6.1. Khái niệm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình ảnh điểm đến. Echtner và Ritchie
(2003) cho rằng tuy đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch sử dụng thuật
ngữ hình ảnh điểm đến song vẫn chưa có một định nghĩa nào thật sự chính xác.
Định nghĩa dường như được chấp nhân hơn cả đó chính là của Cronptom
(1979) “Hình ảnh điểm đến là một hệ thống các niềm tin, ý tưởng và ấn tượng mà
người ta có về một nơi hay một điểm đến nào đó”. Trong du lịch yếu tố thu hút
khách lựa chọn tới thăm và quay trở lại chính là bởi cảm xúc gần gũi, hấp dẫn với
điểm đến. Do đó việc xây dựng và quản lý điểm đến phải dựa trên cơ sở nhận thức
đúng về hình ảnh và giá trị đích thực mà điểm đến mang lại cho du khách. Theo
Tiến sĩ Bùi Thị Tám (2003): “Mỗi khi hình ảnh đó đi vào nhận thức của du khách
thì rất khó thay đổi”. [12]
năngđến
1.1.6.2. Các thành phầnĐặc
củađiểm
hình chức
ảnh điểm
Chung
Theo Echtner và Ritchie (2003), hình ảnh của điểm đến bao gồm các thuộc
tính cấu thành nên điểm đến và những yếu tố mang tính tổng thể. Hai tác giả đã xác
định sự tồn tại của nhận thức hình ảnh điểm đến theo 3 trục dọc: chức năng/tâm lý,
chung/duy nhất và tổng thể/dựa vào thuộc tính. Theo đó những hình ảnh của điểm
Tổng thể
Thuộc tính
đến được sắp xếp từ đặc điểm chức năng đến các đặc điểm tâm lý, từ những yếu tố
chung phổ biến đến những yếu tố độc đáo, duy nhất. [13]
SVTH: Cao Thị Oanh
20
Đặc điểm tâm lý
Duy nhấtLớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Sơ đồ 1.1: Những thành phần của hình ảnh điểm đến
Nguồn: Echner và Ritchie (2003)
1.1.7. Khả năng thu hút của điểm đến du lịch
1.1.7.1. Khái niệm
Theo Hu và Ritchie (1933), “Khả năng thu hút của điểm đến phản ánh cảm
nhận, niềm tin, và ý kiến mà mỗi cá nhân có được về khả năng làm hài lòng khách
hàng của điểm đến trong mối liên hệ với nhu cầu chuyến đi cụ thể của họ”. Có thể
nói một điểm đến càng có khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách thì điểm đến đó
càng có cơ hội để được du khách lựa chọn. Có thể nói một điểm đến càng có khả
năng đáp ứng nhu cầu của du khách thì điểm đến đó càng có cơ hội để du khách lựa
chọn. [11]
Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Mayo và Jarvis (1981)
cho rằng “khả năng thu hút của điểm đến mang lại lợi ích cho du khách”. Các khả
năng này phụ thuộc vào các thuộc tính của điểm đến và cũng là yếu tố thúc đẩy du
khách đến với điểm đến (Vengesayi, 2003). [11]
Như vậy, khả năng thu hút có thể được nhận thức bởi du khách mỗi khi họ tiếp
cận thông tin về điểm đến mà không nhất thiết phải có trải nghiệm thực tế ở điểm
đến. Có thể nói một điểm đến càng có khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách thì
điểm đến đó càng có cơ hội để du khách lựa chọn.
SVTH: Cao Thị Oanh
21
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
1.1.7.2. Mối quan hệ giữa khả năng thu hút và tính cạnh tranh của điểm đến
Trên thực tế không ít người nhầm lẫn giữa khả năng thu hút và khả năng cạnh
tranh của điểm đến. Theo Buhalis (2000), khả năng cạnh tranh và khả năng thu hút
xem xét một điểm đến từ hai phương diện khác nhau. Khả năng thu hút của điểm
đến như đã nêu ở trên là những yếu tố nhận thức của du khách đánh giá về các
thuộc tính yếu tố của điểm đến. Đó là phương diện cầu của một điểm đến hay
phương diện du lịch. Trong khi đó khả năng cạnh tranh nhìn nhận theo phương diện
cung của điểm đến. Đó là các yếu tố phản ánh khả năng của điểm đến mang lại
những trải nghiệm cho du khách khác với các điểm đến tương đồng (Vengesayi,
2003). [11]
Tuy vậy, mặc dù những khác biệt về mặt khái niệm và ứng dụng trong nghiên
cứu khả năng thu hút và khả năng cạnh tranh của điểm đến là khá rõ ràng, nhưng
mối liên hệ giữa các yếu tố của hai khái niệm này vẫn khó có thể phân biệt rạch ròi.
Vengesayi (2003) đã đề xuất mô hình TDCA (Tourism Destination Competitiveness
and Attractiveness) để khái quát mối quan hệ giữa các yếu tố của cung điểm đến và
các yếu tố cầu du lịch:
SVTH: Cao Thị Oanh
22
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Nguồn nội lực và các hoạt động
Hình ảnh điểm đến
Khả năng cạnh tranh
Sự hài lòng du
khách
Môi trường trải nghiệm (tự nhiên và xã hội): Mức độ đông đúc, an
ninh, anhiệu
toàn,…
Thương
điểm đến
Khả năng thu hút
Hoạt động của tổ chức
Các dịch vụ bổ trợ: Lưu trú, vận tải, năng lượng, vui chơi giải trí
Quảng bá/ giao tiếp: Thương hiệu, danh tiếng, giá cả
Sơ đồ 1.2. Khung lý thuyết về liên hệ giữa khả năng thu hút và khả năng cạnh
tranh của điểm đến (TDCA, Vengesayi, S. (2003))
1.1.7.3. Các thuộc tính cấu thành khả năng thu hút của điểm đến
Các thuộc tính cấu thành khả năng thu hút của điểm đến theo mô hình TDCA
và Vengesayi (2003) đề xuất có thể liệt kê dưới dạng các nhóm hoặc tiểu nhóm khác
nhau, bao gồm các yếu tố tài nguyên của điểm đến, tổng hợp các hoạt động du lịch
tại điểm đến, các trải nghiệm môi trường vĩ mô, các phương tiện và dịch vụ bổ trợ
khác. Cùng vấn đề này trong nghiên cứu của mình, Azlizam Aziz đã đưa ra mô hình
về khả năng thu hút của điểm đến gồm 5 nhân tố chính: [12]
SVTH: Cao Thị Oanh
23
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Yếu tố địa lý
Vị trí
Thời tiết, khí hậu
Khả năng tiếp cận
Nét độc đáo
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
Yếu tố văn hóa – xã
hội
Lối sống bản địa
Lòng hiếu khách
Mức giá địa phương
Các đặc tính bổ trợ
Cơ sở hạ tầng
Lưu trú và ăn uống
Phương tiện vận chuyển
KHẢ NĂNG THU HÚT CỦA ĐIỂM ĐẾN
Đặc điểm vật chất
Công viên giải trí
Khu vực mua sắm
Kiến trúc
Tiện nghi giải trí
Đặc điểm tự nhiên
Nét đẹp thiên nhiên
Phong cảnh độc đáo
Các hoạt động ngoài trời
Sơ đồ 1.3: Hệ thống đo lường khả năng thu hút của điểm đến
(Azlizam Aziz, 2002)
Vận dụng các thuộc tính nêu trên phù hợp với quy mô, đặc điểm của điểm đến
nghiên cứu là Bảo tàng Cổ Vật Cung Đình Huế, đồng thời bổ sung yếu tố “an ninh,
an toàn của điểm đến” – một trong những vấn đề nổi bật trong du lịch quốc tế hiện
nay (theo tiến sĩ Bùi Thị Tám, 2012) [11] cùng với việc thừa kế các nghiên cứu
trước đây, đề tài xác định được 7 nhân tố chính nổi bật hơn cả với 28 tiêu chí để đưa
vào bảng hỏi điều tra của mình. Cụ thể các nhân tố này bao gồm:
− Giá trị của Bảo tàng
− Cơ sở vật chất của Bảo tàng
− Cảnh quan môi trường
− Khả năng tiếp cận
− Đội ngũ nhân viên
− Giá cả
− Yếu tố an ninh, an toàn
SVTH: Cao Thị Oanh
24
Lớp K47 QLLH
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
GVHD: ThS. Hoàng Thị Mộng Liên
1.1.7.4. Vai trò của việc thu hút khách du lịch đến với Bảo tàng Cổ Vật Cung
Đình Huế
Sự ra đời và hoạt động của bất kỳ một bảo tàng nào cũng phải xuất phát từ nhu
cầu của xã hội. Bảo tàng tồn tại và phát triển được dựa trên cơ sở nguồn hiện vật
gốc – sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng và phải hướng tới mục tiêu phục vụ
nhu cầu của công chúng. Công chúng chính là đối tượng hưởng thụ các giá trị văn
hóa vật chất, văn hóa tinh thần của xã hội; đó cũng là đối tượng mà bảo tàng hướng
tới. Trong đó, khách tham quan tới bảo tàng được xem là một tiêu chí quan trọng để
đánh giá hiệu quả hoạt động của bảo tàng, là thước đo tính hấp dẫn của bảo tàng đối
với công chúng.
Nhận thức được tầm quan trọng của khách tham quan đối với hoạt động của
bảo tàng, Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế luôn xem vấn đề thu hút khách tham quan
là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong các định hướng, chiến lược
phát triển bảo tàng.
Thu hút khách tham quan là một nhiệm vụ chiến lược bởi vì nó có tác động to
lớn đến hiệu quả hoạt động của các khâu công tác khác trong bảo tàng. Lượng
khách tham quan ngày càng đông sẽ là một động lực thúc đẩy sự phát triển của bảo
tàng về mọi mặt, đặc biệt là trong việc nâng cao chất lượng các khâu công tác
chuyên môn nghiệp vụ của bảo tàng.
Khi công chúng quan tâm đến bảo tàng với những nhu cầu khác nhau thì bảo
tàng phải thường xuyên đổi mới hoạt động để có thể đáp ứng được tất cả những nhu
cầu ấy. Như đối với vấn đề cơ sở vật chất của bảo tàng: khi lượng khách tham quan
đông, đòi hỏi bảo tàng phải có bãi đỗ xe rộng rãi, có đầy đủ các dịch vụ trong bảo
tàng như khu giải khát, quầy hàng lưu niệm, khu vệ sinh, … Đó cũng là một động
lực lớn để bảo tàng ngày càng hoàn thiện hơn. Đồng thời, tầm quan trọng của vấn
đề thu hút khách tham quan đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả là qua các
khâu hoạt động nghiệp vụ bảo tàng bao gồm: nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm
kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giáo dục.
Khi nhu cầu tìm hiểu của khách đối với các hiện vật trưng bày trong bảo tàng
trở nên cấp thiết sẽ thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng phát triển
SVTH: Cao Thị Oanh
25
Lớp K47 QLLH