Đề cương xã hội học
Câu 1: Trình bày khái niệm, đối tượng và chức năng cơ bản của xã hội học
*Khái niệm: Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội
chung, và đặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác
định về mặt lịch sử; là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức
biểu hiện của các quy luật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm
xã hội, các giai cấp và các dân tộc.
*Đối tượng: Trước hết xã hội học nghiên cứu mặt xã hội của xã hội.
Nhưng mặt xã hội đó lại là đối tượng nghiên cứu chung của nhiều ngành
khoa học khác nhau. Chẳng hạn nó là đối tượng của khoa học kinh tế khi
nghiên cứu về sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng vật chất, hoặc nó trở
thành đối tượng của khoa học chính trị khi nghiên cứu về quyền lực, nó là
đối tượng của khảo cổ học khi nghiên cứu những gì còn lại của những nền
văn minh đã mất,... Còn "xã hội học là khoa học nghiên cứu chủ yếu về
các khuôn mẫu của các tương tác con người trong xã hội (social
interactions)". Các tương tác đó diễn ra trong trường quan hệ xã hội giữa
các chủ thể xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội tổng thể) diễn ra
trong các hoạt động xã hội (sản xuất, văn hóa, tái sản sinh xã hội, quản lý,
giao tiếp). Để nghiên cứu được những điều đó, xã hội học phải bắt đầu từ
các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã hội. Trên cơ sở đó nhằm nắm bắt
cho được trạng thái chất lượng của xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô, ở bề mặt
cắt hay tầng sâu tiềm ẩn, ở một thời gian cụ thể và trong một không gian
xác định với mục đích là thay đổi trạng thái đó theo chiều hướng có lợi
hơn và tiến bộ hơn. Như thế nếu xã hội học sử dụng kết quả của khảo cổ
học hay dân tộc học khi nghiên cứu quá khứ, thì cũng là để phục vụ cho
việc nắm bắt trạng thái xã hội đương đại. Tương tự như thế, xã hội học có
thể liên kết chặt chẽ với tâm lý xã hội, nhân chủng học, kinh tế học hay
luật học thì mục tiêu cuối cùng hướng đến cũng là đi tìm về một trang thái
xã hội hiện thực nào đó.
*Chức năng:
1
1
A. Chức năng nhận thức. Xã hội học cũng giống như các môn khoa học
khác là trang bị cho người nghiên cứu môn học những tri thức khoa học
mới, nhờ đó mà chúng ta có được nhãn quan mới mẻ hơn khi tiếp cận tới
các hiện tượng xã hội, sự kiện xã hội và quá trình xã hội vốn rất gần gũi rất
quen thuộc quanh chúng ta, và như thế xã hội hiện ra dưới mắt chúng ta
sáng rõ hơn mà trước đó chúng ta chưa bao giờ được biết đến hoăc biết
đến rất ít.
B. Chức năng tư tưởng. Xã hội học giúp chúng ta nhận thức đầy đủ sức
mạnh và vị trí của con người trong hệ thống xã hội, góp phần nâng cao
tính tích cực xã hội của cá nhân và hình thành nên tư duy khoa học trong
khi xem xét, phân tích, nhận định, dự báo về các sự kiện, hiện tượng và
quá trình xã hội.
C. Chức năng dự báo. Trên cơ sở nhận diện được hiện trạng xã hội thực tại
và sử dụng các lý thuyết dự báo, các nhà xã hội học sẽ mô tả được triển
vọng vận động của xã hội trong tương lai gần cũng như tương lai xa hơn.
Dự báo xã hội là một thế mạnh của xã hội học. Có thể nói trong tất cả các
môn khoa học xã hội thì xã hội học có chức năng dự báo mạnh nhất và
hiệu qủa nhất.
D. Chức năng quản lý. Trước hết cần phải nói rõ ngay rằng xã hội học
không phải là khoa học quản lý, nhưng có một điều chắc chắn rằng tất cả
các hoạt động quản lý kể cả quản lý kinh tế, hành chính hay nhân sự chỉ
trở nên tối ưu khi mà biết sử dụng tốt các kết luận, nhận định và dự báo
của xã hội học.
E. Chức năng công cụ. Các phương pháp, các kỹ thuật thao tác, các cách
thức tiếp cận xã hội của xã hội học được các ngành khoa học khác nhau
2
2
cũng như các lĩnh vực khác nhau của kinh tế, chính trị, văn hóa,... sử dụng
như một công cụ hữu ích và hết sức cần thiết trong quá trình hoạt động.
Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua các cuộc thăm dò dư luận xã hội trước
các cuộc tranh cử, hay các phương pháp điều tra của xã hội học được ứng
dụng vào việc thăm dò nhu cầu, thị hiếu khách hàng trong marketing. Do
vậy "xã hội học sẽ làm một công cụ hữu hiệu để cho con người có thể xây
dựng cho mình một xã hội tốt đẹp hơn ".
F. Chức năng cải tạo thực tiễn. Xã hội học không phải nghiên cứu xã hội
để biết cho vui mà thực sự nó góp một phần hết sức quan trọng vào việc
cải biến hiện thực. Auguste Comte cha đẻ của ngành khoa học này ngay từ
lúc sơ khai đã nhấn mạnh chức năng cải tạo xã hội của nó mà ông tóm tắt
trong mệnh đề rất nổi tiếng "Biết dự đoán, biết kiểm soát". Còn các nhà xã
hội học Anh cũng đã khẳng định "Xã hội học không chỉ đơn thuần là một
ngành khoa học lý giải và phân tích đời sống xã hội, mà còn là phương
tiện thay đổi xã hội". Các nhà xã hội học cho rằng nếu như họ kém cỏi đến
mức không làm được cái gì cả thì chí ít "những dữ liệu của họ cũng thường
được sử dụng để xây dựng các chính sách".
Câu 2: Hành động xã hội là gì? Cho VD? Phân biệt hành động xã hội và
hành vi.
*Khái niệm:
Trong ngành xã hội học, hành động xã hội là một hình thức hoặc cách
thức giải quyết các mâu thuẫn hay các vấn đề xã hội. Hành động xã hội
được tạo ra bởi các phong trào xã hội, các tổ chức, các đảng phái chính trị,
v.v... Thực chất, hành động xã hội là sự trao đổi trực tiếp giữa các cá nhân
với nhau cũng như các khuôn mẫu quan hệ đã được cấu trúc hóa bên trên
các nhóm, tổ chức, thiết chế và xã hội. Một thực tế có thể quan sát được
trong mọi tình huống cá nhân và công cộng hàng ngày là hành động xã hội
của con người diễn ra theo những quy tắc nhất định và trong những hình
thái nhất định, những quy tắc và hình thái này có một sứ bất biến tương
đối. Hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người với xã
3
3
hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người. Hành động xã
hội mang một ý nghĩa bao trùm tổng thể các mối quan hệ xã hội.
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã hội
được cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, hành động xã hội là hành vi
mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là
một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy,
và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà
định hướng vào chuỗi hành động đó. Weber đã nhấn mạnh đến động cơ
bên trong chủ thể như nguyên nhân của hành động - Một hành động mà
một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội. Mọi
hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những
người khác thì không phải là hành động xã hội. Hành động không phải là
kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã
hội.
Ví dụ: Sự đụng độ của hai người đi xe máy trên đường phố. Trường hợp
này ta phải xét hai khả năng:
1. Thứ nhất: hai người đi vô tình quyệt vào nhau, sự va quêt mang tính cơ
học không phải là hành động xã hội.
2. Thứ hai: Hai người đã cố tránh nhưng vẫn xẩy ra va quêt gọi là hành
động xã hội. Sau khi va quyệt hai người tìm cách giải quyết hậu quả kể cả
đánh chửi nhau cũng gọi là hành động xã hội.
- Hành động giống nhau của các cá nhân trong một đám đông không phải
là hành động xã hội: Đang đi trên đường phố, trời mưa to, mọi người đều
giương ô che, hoặc mặc áo mưa…
- Việc xác định hành động xã hội và hành động rất khó bởi lẽ con người
không phải lúc nào cũng hành động có ý thức.
*Phân biệt hành động và hành vi:
4
4
Hành vi
-Kích thích phản ứng
-Không có động cơ
-Không có khả năng giám sát
-Không có tính chuẩn mực
Hành động
-Phản ứng có suy nghĩ
-Luôn được xác định bởi những
động cơ đằng sau nó
-Có khả năng giám sát
-Tuân theo giá trị, chuẩn mực đúng
sai, tốt xấu
Câu 3: Trình bày cấu trúc và phân loại hành động xã hội? Cho VD.
*Cấu trúc:
Nhu cầu:
Thành tố đầu tiên của cấu trúc hành động xã hội, đó là cội nguồn của hành
động xã hội. Hành động xã hội không chỉ đơn thuần chỉ có những yếu tố
mà chúng ta quan sát, mà bao gồm cả yếu tố ý thức, định hướng động cơ
mà chúng ta khó có thể quan sát nhưng có thể ý thức rất rõ ta gọi đó là nhu
cầu, như vậy nhu cầu luôn tồn tại ở dạng ước ao hoặc ý hướng. Ví dụ: nhu
cầu ăn, nhu cầu mặc, nhu cầu được sưởi ấm…
Động cơ và mục đích:
Động cơ là cái xung lực thúc đẩy con người hành động để thoả mãn nhu
cầu. Nói cách khác cái gì khi được phản ánh trong đầu con người sẽ thúc
đẩy hoạt động và hướng hoạt động vào việc thoả mãn một nhu cầu nhất
định thì gọi là động cơ của hoạt động ấy.
Động cơ này sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia vào định hướng
hoạt động, xác định mục đích của hành động hay là hướng hành động xã
hội đạt được mục đích.
Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy rằng không phải hành động nào cũng đạt
được mục đích, bởi vì việc đặt ra mục đích hành động còn phụ thuộc nhiều
vào tính chủ quan của hoàn cảnh hành động. Chính sự không khớp giữa
nhận định mang tính chủ quan của chủ thể với thực tế đã mang đến những
hành động không như ý muốn.
5
5
Ví dụ: Một sinh viên đi thi, mục đích của anh ta là có một bài thi đạt điểm
cao bằng cách quay cóp khi thi. Anh ta cho rằng với kỹ thuật quay cóp tai
tình của mình thì giám thị không thể phát hiện được, cũng có thể anh ta
cho rằng giám thị sẽ là người dễ tính, dễ thông cảm hoặc là người quen…
cho nên sẽ bỏ qua, và kê hoạch anh ta được thực hiện. Nhưng thực tế anh
ta vẫn có thể bị bắt, bị lập biên bản, thậm chí bị đình chỉ thi… Như vậy kết
quả anh ta nhận được hoàn toàn trái ngược với mục đích đặt ra.
Chủ thể hành động:
Thành tố không thể thiếu được trong cấu trúc hành động xã hội là chủ thể
hành động, đó có thể là cá nhân, nhóm xã hội, thiết chế xã hội hay cộng
đồng…
Một cá nhân hành động đơn lẻ nếu như đảm bảo những dấu hiệu của hành
động xã hội trong những điều kiện xác định thì vẫn có thể coi là hành động
xã hội. Khi nghiên cứu chủ thể hành động là một nhóm xã hội, thiết chế,
cộng đồng… thì chúng ta có thể nhận thấy đó là hành động hội họp, mít
tinh, làm việc.. Bởi đây là những hành động do một tập hợp cá nhân xã hội
tiến hành.
Hoàn cảnh hoặc môi trường hành động:
Đó là những điều kiện về thời gian, không gian, vật chất và tinh thần của
hành động. Nói một cách cụ thể hành động diễn ra lúc nào, ở địa điểm
nào? Bối cảnh xã hội nào (những gì xung quanh ảnh hưởng đến hành
động).
Ví dụ: một cô dâu mới về nhà chồng mặc dù rất đói (có nhu cầu ăn) nhưng
vẫn phải giữ ý ăn chậm, ăn vừa phải khi ngồi cùng mâm với bố, mẹ, anh,
chị chồng… Như vậy yếu tố hoàn cảnh có ảnh hưởng rất rõ tới hành động
xã hội, nhiều khi có thể gọi sự ảnh hưởng này là “ sự kiềm chế thực tế”.
Như vậy tuỳ theo hoàn cảnh hành động mà chủ thể hành động tìm cho
mình một phương án tối ưu đạt hiệu quả cao nhất.
*Phân loại:
6
6
+ Phân loại hành động theo động cơ: Dựa vào động cơ (cái thúc đẩy một
cách có ý thức) của hành động xã hội, M.Weber đã phân loại hành động xã
hội làm bốn loại sau:
Hành động mang tính cảm xúc: Là hành động được thúc đẩy bởi những
cảm xúc, tình cảm bột phát gây ra màkhông có sự cân nhắc, xem xét mối
quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động.
Ví dụ: Khi bị cha mẹ mắng, con đã cảm thấy bị oan ức nên cãi lại cha mẹ,
có thể gây nên những hậu quả xấu.
Hành động mang tính truyền thống: Là hành động tuôn thủ những thói
quen, nghi lễ, tập quán đã được truyền từ đời này qua đời khác.
Ví dụ: Con cái hành động luôn luôn phải tôn trọng bố mẹ, hỏi ý kiến của
bố mẹ…
Hành động mang tính hợp lý giá trị: Chủ thể hành động luôn phải cân
nhắc, suy nghĩ lựa chọn những gì mà được cho là có ý nghĩa, có giá trị.
Ví dụ: hành động hy sinh để bảo vệ tổ quốc.
Hành động hợp lý mục đích: Đòi hỏi người hành động phải cân nhắc,
tính toán lựa chọn phương tiện nào để đạt mục đích đặt ra.
Ví dụ: Học sinh muốn đạt điểm cao, có người lựa chọn phương tiện là học
tập chăm chỉ, đọc sách nhiều… cũng có người lựa chọn cách quay cóp để
đạt điểm cao.
Trên đây là bốn kiểu hành động mà M.Weber đưa ra, nó có giá trị góp
phần cho việc tìm hiểu, lý giải hành động xã hội. Nhưng thường thì mỗi
hành động của con người có thể là sự kết hợp của hai hay nhiều các động
cơ khác nhau.
+ Phân loại hành động theo mức độ nhận thức của cá nhân:
Theo cách phân chia này nhà xã hội học Parecto chia hànhđộng làm hai
loại:
Hành động logic:
7
7
Là hành động được cá nhân ý thức một cách đầy đủ, đúng đắn và hợp lý
trong khi theo đuổi mục đích cụ thể của mình.
Ví dụ: Một sinh viên muốn tốt nghiệp được họ phải hoàn thành chương
trình đào tạo của nhà trường mà không có gian lận nào trong thi cử, học
tập.
Hành động phi logic:
Là hành động không được ý thức hay ý thức không thật hợp lý khi cá nhân
theo đuổi mục đích của mình.
Ví dụ: Sinh viên muốn đạt điểm cao không học tập chăm chỉ nhưng lên
chùa để xin được điều đó.
+ Phân loại dựa theo định hướng giá trị:
T. Parson đưa ra 5 dạng hành động khác nhau theo 5 cặp gía trị:
Bộ phận - toàn thể:
Dạng hành động này được thể hiện ở chỗ các cá nhân hành động tuân theo
những tình huống đặc thù của hoàn cảnh, hoặc theo quy tắc chung.
Ví dụ: Một người nghiện thuốc nhưng không hút thuốc vì khi đến chỗ
công cộng có bảng treo “cấm hút thuốc”. Tuy nhiên nếu ở đó có người hút
thuốc, anh ta cũng có thể hút hoặc không hút.
Có sẵn - đạt được:
Chủ thể hành động định hướng đến những đặc điểm có sẵn (nam, nữ, xinh,
xấu… ) hay những cái đạt được trong cuộc sống như nghề nghiệp, trình
độm địa vị xã hội hoặc kết hợp cả hai.
Cảm xúc - trung lập:
Chủ thể hành động hướng đến thoả mãn nhu cầu trước mắt hay lâu dài,
quan trọng. Ví dụ: Một sinh viên đang ôn thi nhưng có người rủ đi du lịch,
anh ta sẽ chọn du lịch hay ôn thi?
Đặc thù - phổ biến:
8
8
Chủ thể hành động định hướng đến đặc điểm đặc thù hay những đặc điểm
chung của hoàn cảnh.
Ví dụ: một nữ sinh có thể mặc áo dài đi học như các bạn nữ khác khi đến
trường mặc dù lớp không quy định, nhưng cô ta cũng có thể không mặc vì
nhà xa, đi đường không thuận lợi…
Lợi ích cá nhân- lợi ích nhóm:
Dạng hành động này thể hiện ở chỗ các cá nhân hành động định hướng đến
lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm. Ví dụ: Một nhân viên hoàn thành tốt
nhiệm vụ của mình vì anh ta muốn khẳng định vị trí của mình trong tập thể
hay là anh ta muốn tập thể của mình ngày càng vững mạnh.
Câu 4: Trình bày khái niệm về xã hội hóa? Trình bày các môi trường xã
hội hóa. Lấy ví dụ để làm rõ ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển
nhân cách của con người.
*Khái niệm: Quá trình hình thành ý thức trong cách ứng xử của con người
được gọi là quá trình xã hội hóa. Hay, quá trình xã hội hóa là quá trình mà
trong đó chúng ta có thể tiếp nhận nền văn hóa của xã hội, có thể học được
cách suy nghĩ và ứng xử hợp với đặc trưng của xã hội.
Trong quá trình xã hội hóa, cá nhân thu thập kinh nghiệm xã hội và học
các chuẩn mực, khuôn mẫu một cách tự nhiên mà không chống đối lại
được.
*Môi trường xã hội hóa:
- Gia đình: Đây là môi trường xã hội hoá quan trọng bậc nhất của cá nhân
bởi:
Gia đình là nhóm xã hội đầu tiên và gắn bó suốt đời của cá nhân, là môi
trường chính yếu hình thành nên nếp sống và nhân cách của cá nhân.
Sự phụ thuộc về vật chất và tình cảm khiến cho trẻ có sự kết dính mạnh mẽ
với bố mẹ và những người chăm sóc chúng. Lúc này gia đình là cả thế giới
xã hội loài người của đứa trẻ.
9
9
Thông qua các thông tin có chủ đích và không có chủ đích, cha mẹ và
những người lớn trong gia đình truyền lại cho con cái những giá trị, niềm
tin, chuẩn mực, thái độ và cả những tri thức về thế giới xung quanh.
Quá trình xã hội hoá cá nhân ở gia đình còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố
như: nguồn gốc giai cấp, truyền thống văn hoá gia đình, nghề nghiệp….
Chẳng hạn nhiều công trình nghiên cứu cho thấy những gia đình thuộc
tầng lớp trung lưu giàu có, cha mẹ là tri thức cao cấp, hoặc có địa vị cao
trong xã hội thì con cái thường được khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và
độc lập hơn là thụ động theo sự chỉ bảo của người khác… Cách dạy trong
các gia đình này thiên về tâm lý xã hội ( khuyến khích, khên thưởng, kích
động lòng tự ái…) Khác hẳn với loại gia đình trên, các tầng lớp thuộc tầng
lớp công nhân, nông dân lao động thường có xu hướng khuyến khích trẻ
lao động, vâng lời mọi người, phát huy truyền thống văn hoá gia đình,
thiên về hình phạt cơ thể… Truyền thống nghề nghiệp và truyền thống văn
hoá ít nhiều có ảnh hưởng đến xã hội hoá cá nhân trong gia đình. Thực tế
những gia đình có 3,4 thế hệ trở lên có nghề truyền thống, ứng xử có lễ
nghĩa gia phong.
-Trường học: là môi trường xã hội hoá chính yếu đối với đứa trẻ bởi:
Trong xã hội truyền thống, gia đình đóng vai trò chính yếu trong quá trình
xã hội hoá cá nhân. Trong xã hội hiện đại, vai trò này được chia sẻ cho
trường học, các thiết chế xã hội, truyền thông đại chúng…
Khi đứa trẻ đến trường, chúng sẽ tiếp thu không phải chỉ là các môn học
truyền thống của nhà trường mà là cả những quy tắc và cách thức quy định
hành vi. Học sinh không chỉ học các môn lịch sử, địa lý cũng như những
môn học khác mà chúng còn học cả cách làm sao cho quan hệ giáo viên và
các bạn học. Ví dụ, khi nào có thể gợi sự chú ý của giáo viên và đặt các
câu hỏi, khi nào được nói chuyện với bạn bè… nó cũng phải nắm được
những hành vi nào được chấp nhận trong lớp học vì đòi hỏi của các giáo
viên cũng nhiều khi không thống nhất.
Quá trình xã hội hoá mà học sinh tiếp nhận ở trường học do vậy không chỉ
liên quan tới việc tiếp thu những kỹ năng quy định mà còn cả những kỹ
10
10
năng xã hội khác. Ví dụ: học được cách sống nhóm bạn và làm sao đáp
ứng được những người có uy quyền.
-Các nhóm xã hội: Cá nhân tham gia vào nhiều nhóm xã hội: nhóm bạn bè
cùng lứa tuổi, nhóm cùng sở thích, nhóm học tập, nhóm lao động sản xuất,
nhóm nghề nghiệp…
Những nhóm xã hội này có ảnh hưởng quan trọng đến việc thu nhận kinh
nghiệm xã hội, hoàn thiện những kiến thức, kỹ năng lao động, và quy tắc
ứng xử…
Trong những nhóm này nhóm bạn bè cùng lứa tuổi nhiều lúc có tác động
mạnh mẽ đến cá nhân tới mức có thể lấn át ảnh hưởng của gia đình và nhà
trường. Chẳng hạn đối với nhóm thanh niên, thiếu niên phần lớn thời gian
và tâm trí đều dành cho bạn bè. Họ cùng nhau tạo nên một môi trường văn
hoá riêng biệt ( biệt ngữ, các tiêu chuẩn sở thích, các giá trị, nhu cầu…)
Nhiều cá nhân nỗ lực thực hiện quy tắc của nhóm để làm vừa lòng bạn bè.
Thế nên có những thanh niên mặc dù hoàn cảnh gia đình không lấy làm
khá giả song vẫn ăn mặc đúng mốt, đua đòi, ăn chơi… để phù hợp với
những quy tắc của nhóm mà anh ta là thành viên…
Tuy nhiên khi cá nhân bước vào tuổi trưởng thành về xã hội thì nhóm lao
động sản xuất, nhóm đồng nghiệp… lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối
với xã hội hoá cá nhân. Thông qua nhóm cá nhân không chỉ tiếp nay, hầu
hết các gia đình đều có một hoặc nhiều phương tiện thông tin hiện đại ( vô
tuyến, thu kinh nghiệm xã hội mà còn tái tạo ra chúng.
-Thông tin đại chúng: Trong xã hội hiện đại đây là nhân tố rất quan trọng
bởi:Ngày đài, sách, báo, internet… cho phép cập nhật thông tin nhanh
chóng trong và ngoài nước. Với đủ loại thông tin trên mọi lĩnh vực kinh tế,
chính trị, xã hội, tư tưởng văn hoá… một mặt tăng cường ý nghĩa giá trị
văn hoá, các chuẩn mực văn hoá. Mặc khác, các phương tiện thông tin đại
chúng làm méo đi các tiêu chuẩn văn hoá di truyền tải những thông tin
không lành mạnh, hoặc không phù hợp với lứa tuổi… làm cho thanh niên
dễ tiếp nhận, lĩnh hội không chọn lọc.
11
11
*Lấy VD: Một đứa trẻ sống ở Mỹ - đất nước phát triển đa sắc tộc, đa văn
hóa sẽ khác một đứa trẻ sống ở Việt Nam - đất nước đang phát triển với
nền văn hóa phương đông đậm nét. Đứa trẻ sống ở Mỹ sẽ có lối sống
phóng khoáng hơn, tự do hơn và cũng có thể năng động hơn, đứa trẻ sống
ở Việt Nam sẽ có lỗi sống khuôn phép, kín đáo hơn.
Câu 5: Thế nào là thiết chế xã hội? Trình bày những đặc trưng và chức
năng cơ bản của thiết chế xã hội?
*Thiết chế xã hội: là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm
thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng. Khái niệm thiết chế xã hội là khái
niệm quan trọng và được dùng rộng rãi trong xã hội học. Cũng giống như
nhiều khái niệm khác của xã hội học, nội hàm của thiết chế xã hội cũng
chưa được xác định một cách rõ ràng. Sự nhầm lẫn phổ biến nhất là việc
đồng nhất thiết chế xã hội với một nhóm thực, tổ chức thực nào đó. Lý do
của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rất trừu tượng,
nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình (tương tự như nhóm xã hội, tổ chức
xã hội).
*Đặc trưng: Mỗi thiết chế đều có mục đích nhằm thỏa mãn những nhu cầu
xã hội. Sự nảy sinh thiết chế xã hội là do điều kiện khách quan nhất định,
biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế - xã hội. Bản thân của thiết
chế xã hội có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh
tế - xã hội. Tính không hiệu quả của các thiết chế xã hội, sự tác động
không hài hòa của chúng, việc chúng không có khả năng tổ chức các lợi
ích xã hội, không thu xếp được một cách đúng theo trật tự sự vận hành của
các mối liên hệ xã hội là dấu hiệu nói lên sự khủng hoảng của xã hội. Để
khắc phục tình trạng này, cần phải cải tiến cơ bản bản thân các phương
thức và cơ chế hoạt động của chúng.
Thiết chế xã hội được tổ chức thành cơ cấu. Các yếu tố tạo thành thiết chế
xã hội có khuynh hướng kết hợp lại với nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Khi thiết
chế xã hội càng phức tạp, thì xã hội càng phát triển, và như vậy nó xác
định vị trí, vai trò của cá nhân càng rõ ràng. Mỗi một thiết chế xã hội có
12
12
một đối tượng riêng để hướng tới phục vụ, nhằm đáp ứng các nhu cầu xã
hội chuyên biệt liên quan tới đối tượng. Để đạt được điều đó mỗi thiết chế
lại có một chức năng. Mỗi một thiết chế tự nó được cấu trúc ở mức cao và
được tổ chức xung quanh hệ thống các giá trị, chuẩn mực, quy tắc, khuôn
mẫu đã được xã hội thừa nhận.
*Chức năng: Có hai chức năng cơ bản là điều hòa và kiểm soát xã hội.
Sự kiểm soát nhằm đưa các hành vi của các cá nhân, các nhóm vào các
khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận là đúng, dùng các chế tài để đẩy lùi
các hành vi lệch chuẩn vào khuôn phép hay trật tự.
Chức năng kiểm soát xã hội là tạo ra những điều kiện cho sự bền vững, ổn
định và trật tự xã hội, mặt khác tạo ra những thay đổi mang tính hợp lý và
tích cực.
Kiểm soát xã hội cần phải có tính mềm dẻo, linh hoạt, như vậy mới có thể
nhận biết được ý nghĩa của những sai lệch chuẩn mực. Những sai lệch nào
có tính tiêu cực, đe dọa phá hoại sự ổn định và trật tự xã hội, còn những sai
lệch nào là mầm mống của sự tiến bộ, của sự phát triển. Nếu như kiểm
soát xã hội không thể kiểm soát và phân định được vấn đề này thì nó sẽ
triệt tiêu mọi nhân tố tích cực của sự phát triển xã hội.
Kiểm soát xã hội biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các
cá nhân tiếp nhận cơ chế kiểm soát xã hội dưới dạng kiểm soát chính thức
và kiểm soát không chính thức.
-Kiểm soát chính thức gắn với hoạt động của một số tổ chức chính thức,
với các quy định và luật lệ để ép buộc các tổ chức phải tuân theo. Những
tổ chức này là những tổ chức thi hành pháp luật như công an, tòa án, viện
kiểm sát, trại giam…
-Kiểm soát phi chính thức thường gắn liền với các tổ chức xã hội không
chính thức và các nhóm sơ cấp, gắn liền với phản ứng xã hội không công
khai và chỉ phổ biến trong các nhóm nhỏ.
13
13
Trường hợp thiết chế xã hội thức hiện các chức năng điều hòa và kiểm soát
xã hội không đúng cách thức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối với
xã hội. Khi sự điều hòa và kiểm soát quá mạnh sẽ triệt tiêu mọi sáng tạo
của cá nhân, đồng thời thiết chế sẽ mang tính bảo thủ. Tính bảo thủ này thể
hiện ở chỗ nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu tác phong đã lạc hậu, lỗi
thời. Những thiết chế này sẽ cản trở sự tiến bộ của xã hội.
Sự kiểm soát và điều chỉnh quá mạnh của thiết chế xã hội khiến cho cá
nhân đôi khi cảm thấy mất đi bản tính của mình. Những người chống lại sự
kiểm soát của thiết chế đều bị coi là lệch lạc.
Tuy nhiên khi thiết chế biến đổi thì những con người này có thể không còn
là lệch lạc nữa. Đơn cử ở trong xã hội phong kiến việc tái giá của phụ nữ
góa chồng bị coi là sai trái, không được phép. Nhưng trong xã hội ngày
nay lại là bình thường, không bị phê phán.
Sự kiểm soát và điều chỉnh quá yếu của thiết chế có thể dẫn đến tình trạng
các cá nhân, nhóm xã hội không thực hiện tốt vai trò, thậm chí trốn tránh
trách nhiệm của mình. Kết quả hoạt động của từng phần hoặc toàn bộ xã
hội bị trì trệ, những công việc đáng làm, cần làm thì không có người thực
hiện.
Câu 7 : Bất bình đẳng xã hội là gì? Cho ví dụ? Hãy đưa ra các ý kiến của
anh chị để góp phần giảm bớt bất bình đẳng xã hội? Phân tích cơ sở tạo
nên bất bình đẳng xã hội.
*Khái niệm: Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, sự không bằng
nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một
nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội.
*Ví dụ: Trong lớp mẫu giáo những đứa con nhà giàu thường được giáo
viên quan tâm đặc biệt hơn những đứa con nhà bình thường.
*Ý kiến:
- Giáo dục ý thức yêu chuộng sự công bằng ở mọi người dân, bắt đầu từ
giáo dục ở cấp tiểu học.
14
14
- Bộ máy chính quyền cần có những nhà lãnh đạo công bằng, có tài lãnh đạ
và quyết tâm thay đổi xã hội theo hướng tiến bộ, công bằng hơn.
- …. (Tự chém thêm)
*Cơ sở:
- Bất bình đẳng thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả cụ
thể liên quan đến giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo,..
- Tất cả các nguyên nhân đa dạng của bbđ được quy về 3 dạng:
+ Những cơ hội trong cuộc sống: gồm tất cả vật chất có thể cải thiện chất
lượng cuộc sống. Thuận lợi vật chất: của cải, thu nhập, tài sản… Cơ hội
trong cuộc sống là cơ sở khách quan của bbđxh.
+Cơ sở địa vị xã hội: bbđ về địa vị xã hội là do những thành viên của các
nhóm trong xh tạo nên và thừa nhận chúng. Cơ sở địa vị có thể là bất cứ
thứ gì mà một nhóm xh cho là ưu việt và được nhóm xh khác thừa nhận.
+ BBĐ trong ảnh hưởng chính trị: có được do có ưu thế vật chất hoặc địa
vị cao
Gốc rễ của bbđxh nằm trong mqh kinh tế, địa vị xh và quan hệ chính
trị.
Câu 8: Khái niệm phân tầng xã hội? Nguyên nhân của phân tầng xã hội?
Đặc điểm của phân tầng xã hội?
*Khái niệm: Phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của xã
hội loài người (trừ xã hội sơ khai). Đó là sự phân chia xã hội thành các
tầng xã hội khác nhau về địa vị chính trị, kinh tế và xã hội, cũng như
những sự khác nhau về trình độ học vấn, nghề nghiệp, phong cách sinh
hoạt, kiểu ăn mặc, nơi cư trú, thị hiếu nghệ thuật, mức độ tiêu dùng…
*Nguyên nhân:
- Đó là do sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả các chế độ xã hội
(trừ giai đoạn đầu của thời kỳ nguyên thuỷ). Thực tế, mỗi con người trong
mỗi một xã hội, luôn có sự khác biệt về thể chất, trí tuệ (có người khoẻ,
15
15
yếu, thông minh, kém cỏi, người gặp những cơ may thăng tiến, người chịu
rủi ro, thiệt thòi…). Chính sự khác biệt một cách tự nhiên, khách quan này
tạo ra những khả năng chiếm giữ các địa vị xã hội cao thấp, khác nhau.
- Do sự phân công lao động: Đưa đến sự khác nhau về nghề nghiệp, thu
nhập, các điều kiện làm việc, đó cũng là những yếu tố tạo nên sự khác
nhau về địa vị xã hội.
Ngoài ra, còn có những yếu tố chủ quan cá nhân tác động vào qúa trình
phân tầng xã hội. Ví dụ: trong xã hội cực quyền, sự lạm dụng và thao túng
quyền lực của các lãnh chúa (xã hội cũ) và giáo hội cũng tạo ra sự phân
tầng hoặc làm gay gắt hơn, làm biến dạng những trật tự vốn có trong xã
hội.
*Đặc điểm:
- Phân tầng xã hội diễn ra ở nhiều khía cạnh như chính trị, kinh tế, địa vị
xã hội, học vấn;
- Phân tầng xã hội có phạm vi toàn cầu;
- Phân tầng xã hội tồn tại theo lịch sử, theo các thể chế chính trị;
- Phân tầng xã hội tồn tại trong các nhóm dân cư, giai cấp, tầng lớp xã hội.
Câu 9 : Trình bày phân tầng hợp thức và không hợp thức?
Phân tầng xã hội hợp thức: dựa trên cơ sở đạo đức, tài năng, mức độ
đóng góp trong thức tế cho xã hội. Sự phân tầng này đưa đến công bằng xã
hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xa hội, góp phần tạo nên trật tự
và ổn định xã hội. Do đó, ta thừa nhận sự tồn tại và thiết chế hoá sự phân
tầng hợp thức.
Phân tầng xã hội không hợp thức: dựa trên cơ sở sự tham nhũng, làm
ăn phi pháp, lười biếng, thủ đoạn, trộm cướp. Nó đưa đến bất công xã hội,
kìm hãm, cản trở sự phát triển xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng xã hội, đưa
đến xung đột, mâu thuẫn và mất ổn định xã hội. Chúng ta không chấp nhận
16
16
sự tồn tại của hiện tượng phân tầng này, kiên quyết phê phán, kiểm soát,
quản lý, trừng phạt và xoá bỏ chúng.
Câu 10: Trình bày khái niệm biến đổi xã hội đặc điểm và điều kiện biến
đổi xã hội.
+) Biến đổi xã hội là quá trình qua đó những khuân mẫu của các hành vi
xã hội, quan hệ xã hội, thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội
thay đổi qua thời gian
+) Đặc điểm của biến đổi xã hội:
-
Biến đổi xã hội diễn ra trong môi trường các không gian khác nhau
-
Biến đổi xã hội có tính chất và tốc độ khác nhau
-
Biến đổi xã hội diễn ra trên nhiều phương diện lĩnh vực
-
Biến đổi xã hội có sự khác biệt về thời gian và hậu quả
-
Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch
+) Điều kiện của biến đổi xã hội
Thời gian: Bất cứ sự biến dổi nào cũng cần thời gian, đây là điệu
kiện quan trọng dẫn đến sự biến đổi. Thời gian không tự bản thân nó tạo
thành biến đổi. Nhưng thời gian cần thiết cho sự biến đổi cái mới, thay thế
những cái lạc hậu bằng những cái tiến bộ.
Hoàn cảnh: Bất cứ sự biến dổi nào cũng cần đặt trong hoàn cảnh cụ
thể về văn hóa và vật chất. Chi có trong một môi trường xã hội nhất định
thì con người mới sống, hoạt động và chịu sự chi phối của hoàn cảnh, tạo
ra các cá nhân khác biệt. Nhưng con người không hoàn toàn phụ thuộc vào
hoàn cảnh mà có thể tác dộng trở lại hoàn cảnh làm hoàn cảnh thay đổi.
Nhu cầu xh: Mỗi xã hội – dù xã hội đơn giản hay phức tạp, sơ khai
hay hiện đại hóa thì đều có những nhu cầu của mình về văn hóa xh. Đây là
điều kiện quan trọng trong sự biến đổi xã hội. Con người luôn khám phá,
tìm tòi, phát hiện cái mới, do đó nhu cầu xh thúc đẩy dộng lực phát triển tư
duy sáng tạo.
17
17
Câu 11: Phân tích các nhân tố của sự biến đổi xã hội
Những nhân tố mới
Kỹ thuật công nghẹ mới là yếu tố cơ bản dẫn đến sự biến dổi xã hội.
Những kĩ thuật mới xuất hiện và mất đi khi nó lạc hậu. Sự ptr của kĩ thuật
mới làm thay đổi xã hội, văn hóa. Nhờ vận dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật
đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa.kỹ thuật cn còn góp phần làm thay đổi
quan hệ xh giưã các cá nhân, kỹ thuật thông tin đại chúng đã góp phần
quan trọng vào viện xhh con người
Văn hóa mới. không chỉ có máy móc kĩ thuật làm biến dởi thế giới
mà hình thành văn hóa mới cũng làm biến đổi xh
Những cấu trúc xh mới: những hình thức cấu trúc xh có thể là kết
quả của sự phát minh sáng tạo. Câu trúc xh có vai trò quan trọng với biến
dổi xh, sự biến đổi vai trò và sự tạo thành nhg vai trò mới là nguyên nhân
của biến đổi xh,
Những xung đột : những thay đổi có thể dược tạo bởi sự xung đột
trong các nhóm khác nhau của các xh. Đó là mẫu thuẫn vè chủng tộc, tôn
giáo….
Tăng trưởng dân số: Phát triển nhanh dân số là động lực thúc đẩy sự
bdxh. Sự biến đổi cơ bản về quy mô dân số gây ra thay đổi về xh, văn hóa.
Khi một xh tăng thêm nhiều dân số, thì sẽ xuất hiện những vấn đế mới sẽ
đòi hỏi những mô hình tổ chức xh ms.
Tư tưởng: Tư tưởng lý luận giữ vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy và kìm hãm bdxh
-
Tính hiện đại và hiện đại hóa:
Tính hiện đại nghĩa là những khuân mẫu, những hình thức tổ chức xã hội
có liên quan đến vấn đề công nghiệp hóa
Hiện đại hóa là sự biến dổi công nghiệp cm đây là quá trình hiện đại hóa.
Những nhân tố bên ngoài
18
18
Sự truyền bá là sự chuyển giao những dổi mới. Thông qua sự truyền
bá thì những thành tựu về văn hóa, khoa học kĩ thuật sẽ được chuyển giao
từ xh này sang các xh khác nhau.
Sư biến dổi hệ sinh thái: Sự biến dổi của môi trg dẫn đến sự biến đổi
vè xã hội. Khi thời tiết nóng quá hay lạnh quá, lũ lụt hay hạn hán,… thì
đều đem lại sự biến đổi đến cuộc sống của con người.
19
19