LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài “Quản lí đánh giá
kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường
Trung học phổ thông huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên” là kết quả của quá
trình cố gắng không ngừng của bản thân và đƣợc sự giúp đỡ, động viên khích lệ
của các thầy,cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và ngƣời thân. Qua trang viết này tác
giả xin gửi lời cảm ơn tới những ngƣời đã giúp đỡ tôi trong thời gian hai năm
học tập và rèn luyện, nghiên cứu tại trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo Tiến Sĩ
Phạm Ngọc Long đã trực tiếp tận tình hƣớng dẫn cũng nhƣ cung cấp tài liệu
thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy-cô giáo và các em học
sinh của các trƣờng THPT đóng trên địa bàn huyện Tuần Giáo, Trung tâm giáo
dục thƣờng xuyên huyện Tuần Giáo đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt
công việc nghiên cứu khoa học của mình.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình hoàn thiện luận văn tuy
nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự góp ý, xây
dựng của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Xuân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Quản lí đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận
năng lực ở các trường Trung học phổ thông huyện Tuần Giáo tỉnh Điện
Biên” là trung thực, nghiên cứu độc lâp và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn trọng Xuân
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
2
Các từ viết tắt
STT
Nghĩa các từ viết tắt
1.
CBQL
Cán bộ quản lí
2.
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3.
CMHS
Cha mẹ học sinh
4.
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
5.
GV
Giáo viên
6.
HS
Học sinh
7.
KT
Kiểm tra
8.
ĐG
Đánh giá
9.
KQHT
Kết quả học tập
10.
THPT
Trung học phổ thông
11.
TB
Trung bình
12.
QL
Quản lí
13.
QLGD
Quản lí giáo dục
14.
GD
Giáo dục
15.
UBND
Ủy ban nhân dân
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tác động vô
cùng to lớn tới mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có GD&ĐT. Đảng và nhà nƣớc
ta đã xác định CNH, HĐH đất nƣớc là mục tiêu hàng đầu “đến năm 2020 đất
nước ta về cơ bản phải trở thành nước công nghiệp”. Vì vậy, văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa” [1].
Đổi mới GD nói chung và đổi mới GD ở bậc phổ thông nói riêng đang
đƣợc sự quan tâm của các cấp và ngành GD với mục đích đào tạo ra con ngƣời
có năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xã hội. Công tác đổi mới GD đòi hỏi
phải có sự đổi mới đồng bộ tất cả các khâu trong quá trình GD, nhất là các khâu
trong quá trình dạy học.
Nhằm đảm bảo và nâng cao chất lƣợng đào tạo, ngoài việc đổi mới mục
tiêu, nội dung, phƣơng pháp giảng dạy...thì KT, ĐG – một trong những thành tố
quan trọng của quá trình dạy học – cần đƣợc quan tâm đúng mức, vì thông qua
công tác này, có thể phản ánh kết quả giảng dạy, học tập và chất lƣợng đào tạo
nói chung.
Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
GD và đào tạo nêu rõ:“Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, KT và
ĐG kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan. Việc thi, KT và
ĐG kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã
hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết
quả ĐG trong quá trình học với ĐG cuối kỳ, cuối năm học; ĐG của người dạy
với tự ĐG của người học; ĐG của nhà trường với ĐG của gia đình và của xã
hội” [2].
4
KTĐG kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực là một yêu cầu cấp
thiết để nâng cao chất lƣợng GD và đáp ứng yêu cầu đổi mới chƣơng trình GD
phổ thông sau năm 2015. Đổi mới KTĐG kết quả học tập của HS theo hƣớng
tiếp cận năng lực sẽ tạo nên tính chủ động, tích cực, sáng tạo cả trong hoạt động
dạy của GV và hoạt động học của HS. Tuy nhiên, KTĐG kết quả học tập của
HS theo tiếp cận năng lực còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Chính vì vậy, để hoạt
động KTĐG theo tiếp cận năng lực phát huy đƣợc hiệu quả đòi hỏi sự hỗ trợ,
quan tâm, động viên và giám sát chặt chẽ của các nhà QL.
Tuần Giáo là một huyện miền núi của tỉnh Điện Biên. Trong những năm
qua, GD đã nhận đƣợc sự quan tâm về mọi mặt của cấp uỷ Đảng, chính quyền
cùng sự nỗ lực của ngành, đầu tƣ xây dựng CSVC, bồi dƣỡng đội ngũ CBQL,
GV theo chuẩn.
Mặc dù đã có những cải tiến, nhƣng công tác KT, ĐG kết quả học tập môn
Vật lí của HS theo hƣớng tiếp cận năng lực ở các trƣờng THPT huyện Tuần
Giáo, tỉnh Điện Biên vẫn bộc lộ nhiều yếu kém về phƣơng pháp, cách thức cũng
nhƣ QL, chỉ đạo. Một số GV vẫn chƣa nắm đƣợc mục đích cần thiết của KT,ĐG
nên việc KT, ĐG trên lớp chỉ nhằm mục đích cho điểm và xếp loại HS, nặng nề
về điểm số, ĐG định kì và tổng kết. Điều đó dẫn đến việc bó hẹp các hình thức
KT, ĐG chỉ trong phạm vi KT miệng và KT viết, còn các hình thức KT, ĐG
khác có khả năng phát triển đƣợc năng lực của HS lại không đƣợc áp dụng. Việc
ĐG chỉ diễn ra tại những thời điểm nhất định không thay đổi của kì học, năm
học nên không thể theo dõi đƣợc toàn bộ quá trình học tập của HS, chính vì vậy
việc ĐG kết quả học tập của HS vẫn chƣa đƣợc chính xác. Khi tiến hành đổi
mới, nhiều GV còn lúng túng trƣớc các hình thức và phƣơng pháp KT, ĐG hiện
đại dẫn đến tình trạng GV KT, ĐG một cách hời hợt, còn HS thì không hứng
thú với việc KT, ĐG.
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là không rèn luyện đƣợc tính trung thực
5
trong thi, KT; nhiều HS phổ thông còn thụ động trong việc học tập; khả năng
sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực
tiễn cuộc sống còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu và đề
xuất các biện pháp quản lí hoạt động KT, ĐG kết quả học tập môn Vật lí của
trƣờng THPT Tuần Giáo theo định hƣớng phát triển năng lực của HS là hết sức
cần thiết. Do đó, chúng tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: "Quản lí đánh
giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các
trường Trung học phổ thông huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, tìm hiểu thực trạng của việc KT,ĐG kết
quả học tập môn Vật lí của HS ở các trƣờng THPT huyện Tuần Giáo tỉnh Điện
Biên, đề tài đề xuất các biện pháp quản lí KT,ĐG theo hƣớng phát triển năng
lực học tập của HS nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học tại các trƣờng THPT
huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về QL công tác ĐG kết quả học tập môn Vật
lí của HS theo tiếp cận năng lực tại các trƣờng THPT huyện Tuần Giáo.
- Khảo sát thực trạng hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS
và QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực
ở các trƣờng THPT trên địa bàn huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đề xuất một số biện pháp QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật
lí theo tiếp cận năng lực của HS các trƣờng THPT trên địa bàn huyện Tuần
Giáo, tỉnh Điện Biên.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
6
QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng
lực ở trƣờng THPT.
4.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp QL hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo
tiếp cận năng lực các trƣờng THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
5. Giả thuyết khoa học
Quản lí ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS các trƣờng THPT huyện
Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên trong thời gian qua đã đạt đƣợc những kết quả nhất
định. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, bất cập ảnh hƣởng đến hiệu quả công
tác này nhƣ việc phối hợp đánh giá của giáo viên, học sinh và phụ huynh học
sinh còn hạn chế, giáo viên vẫn còn lúng túng trong chuyển đối sang đánh giá
năng lực ngƣời học,... Nếu đề xuất, áp dụng đƣợc các biện pháp QL phù hợp thì
hiệu quả hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo hƣớng tiếp cận
năng lực thì sẽ đƣợc nâng cao, góp phần nâng cao chất lƣợng GD ở các trƣờng
THPT trên địa bàn huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu phục vụ cho đề tài nhƣ các văn kiện của Đảng,
các chỉ thị, nghị quyết, các tài liệu bồi dƣỡng CBQL công chức nhà nƣớc, các
tài liệu về KT, ĐG theo tiếp cận năng lực của HS.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp điều tra, khảo sát thực trạng: Dùng phiếu hỏi để trƣng cầu
ý kiến của CBQL, GV, HS về các nội dung sau:
+ Thực trạng ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng
lực.
7
+ Thực trạng quản lý hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS
theo tiếp cận năng lực.
+ Khảo sát mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp QL đã
đƣợc đề xuất.
Số lƣợng khách thể khảo sát: 70 CBQL; 120 GV; 220 HS
- Phƣơng pháp phỏng vấn: Sử dụng hệ thống câu hỏi để phỏng vấn
CBQL, GV để thu thập thông tin.
- Phƣơng pháp quan sát: Quan sát hoạt động ĐG kết quả học tập môn Vật
lí của HS, tinh thần, ý thức trách nhiệm... của GV để có những đánh giá khách
quan nhất về công tác ĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng
lực tại các trƣờng THPT.
- Phƣơng pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của lãnh đạo, các GV có
kinh nghiệm để rút ra kết luận hợp lí nhất cho vấn đề nghiên cứu của đề tài.
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm khảo sát, ĐG thực trạng
quản lý ĐG KQHT của HS
6.3. Các phƣơng pháp hỗ trợ
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí phiếu điều tra: điểm trung bình, tần
suất, hệ số tin cậy, tƣơng quan,…
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham
khảo, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập
môn Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trƣờng trung học phổ
thông huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
8
Chƣơng 2: Thực trạng quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn
Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trƣờng trung học phổ thông
huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
Chƣơng 3: Biện pháp quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn
Vật lí của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trƣờng trung học phổ thông
huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN VẬT LÍ CỦA HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở
CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu nước ngoài
KT, ĐG kết quả học tập của HS luôn là một đề tài thu hút sự quan tâm,
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, với
những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã luận bàn về vấn đề
KT,ĐG, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Đầu thế kỉ XVI, nhà GD Tiệp Khắc J.A.Comesnki (1592 – 1670) đã là
ngƣời nêu lên vai trò ý nghĩa của KT, ĐG quá trình lĩnh hội tri thức của HS và
việc KT, ĐG phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hƣớng dẫn HS tự KT, ĐG
kiến thức của bản thân trong tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại ”.
Trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, J.Dewey - nhà triết
học, nhà giáo dục học nổi tiếng ngƣời Mĩ, với tác phẩm “Trƣờng học và xã
hội” (The school and Society, 1899) cho rằng chƣơng trình GD không nên quá
coi trọng lý thuyết, mà cần coi trọng việc tiếp cận với đời sống thực tiễn, không
chú trọng kiến thức lý luận mà chú trọng rèn kỹ năng với tinh thần: trong quá
trình hoạt động, những kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức sẽ đƣợc hình thành. Hai
khẩu hiệu “GD là đời sống chứ không phải chuẩn bị cho đời sống” và “Vừa
làm vừa học” mà J.Dewey đƣa ra đặt cơ sở trực tiếp cho sự ra đời của lí luận
dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực của HS sau này.
Tác giả B.S. Bloom cùng George F. Madaus và J.Thomas Hastings năm
1971 đã cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (ĐG thúc đẩy
học tập). Đây là cuốn sách viết về kỹ thuật ĐG kết quả học tập của HS dành
10
cho GV, cuốn sách hƣớng tới việc hoàn thiện và sử dụng các câu hỏi, các bài
KT, ĐG quá trình học tập và các dạng bài KT khác do GV tự làm đƣợc áp dụng
cho HS một cách có hệ thống để tăng cƣờng khả năng học tập của HS. Thông
qua việc liên kết các kỹ thuật ĐG tốt nhất, cuốn sách hỗ trợ các GV sử dụng
ĐG nhƣ một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học.
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển GD&ĐT, hoạt động
nghiên cứu KTĐG; nghiên cứu công tác quản lý hoạt động KTĐG có những
phát triển mới. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm
nâng cao chất lƣợng KTĐG, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học. Một số
tài liệu nghiên cứu về KTĐG trong lĩnh vực giáo dục của các chuyên gia nhƣ:
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, “ Đo lƣờng và đánh giá kết quả học tập”
(2007) [26] đề cập đến những vấn đề cơ bản về KT, ĐG một cách hệ thống.
Tác giả Phan Trọng Ngọ, “Dạy học và phƣơng pháp dạy học trong nhà
trƣờng” [23], đã bàn về khái niệm ĐG, mối quan hệ của ĐG và mục tiêu học
tập, các phƣơng pháp ĐG.
Tác giả Nguyễn Đức Chính, “Đo lƣờng và đánh giá kết quả học tập của
HS” (2008) [10];
Tác giả Trần Khánh Đức, “Đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục”
(2006) [12].
Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau song tất cả đều
có chung một mục đích là ĐG sự tiến bộ của ngƣời học qua từng giai đoạn,
đánh giá mức độ đạt chuẩn của ngƣời học và cuối cùng là ĐG chất lƣợng cả
quá trình GD.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về KT, ĐG đã nêu trên còn có
những nghiên cứu về KT, ĐG kết quả học tập môn Vật lí:
11
Dự án chƣơng trình phát triển GD trung học năm 2010 “Tài liệu bồi
dưỡng cán bộ quả lý và giáo viên biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu
hỏi, bài tập môn Vật lí cấp THPT” [5].;
Tài liệu tập huấn dự án phát triển chƣơng trình GD năm 2014 “Hướng
dẫn dạy học và kiểm tra đánh giá môn Vật lí theo định hướng phát triển năng
lực của HS cấp THPT” [7].;
Nhóm tác giả Vũ Đình Chuẩn, Nguyễn Trọng Sửu“Phương pháp thủ
thuật, giải nhanh các câu hỏi, bài tập trắc nghiệm Vật lí 12” [11].;
Tài liệu tập huấn “Dạy học và KT, ĐG KQHT theo định hướng phát
triển năng lực HS môn Vật lí cấp THCS”, Chƣơng trình phát triển GD trung
học năm 2014 [5].;
Tác giả Nguyễn Trọng Sửu, “Hướng dẫn thực hiện chương trình sách
giáo khoa môn Vật lí lớp 10-11-12” [37].
Các nghiên cứu trên đã tập trung phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân
ảnh hƣởng đến chất lƣợng học tập môn Vật lí. Trong đó các nghiên cứu cũng
đã xác định một trong những nguyên nhân khiến chất lƣợng GD môn Vật lí
chƣa đƣợc nâng cao chính là do công tác ĐG kết quả học tập của môn Vật lí
còn nhiều bất cập. Các nghiên cứu đã đƣa ra những biện pháp khả thi song
chƣa có nghiên cứu nào đƣa ra biện pháp QL hoạt động ĐG kết quả học tập
môn Vật lí của HS theo tiếp cận năng lực.
Đề tài “Quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của HS
theo tiếp cận năng lực ở các trường THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”
lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu với các số liệu đƣợc điều tra, thu thập tại các
trƣờng THPT huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên có tính khả thi và cấp thiết
trong nhiệm vụ nâng cao chất lƣợng môn Vật lí nói riêng và chất lƣợng GD nói
chung để đáp ứng yêu cầu về đổi mới căn bản toàn diện GD trong giai đoạn
hiện nay.
12
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đánh giá
Theo Ralph Tyler (1950) (Dẫn theo Nguyễn Công Khanh) thì ĐG là
“quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong các chương trình
GD” [17,tr.32].
Robet.F.Mager – nhà GD học của Pháp cho rằng “ĐG là việc miêu tả
tình hình của HS và GV để dự đoán công việc, phải tiếp tục giúp HS tiến bộ”
[18, tr.29].
Theo Nitko & Brookhart (2007)(Dẫn theo Nguyễn Công Khanh) thì ĐG
trong GD là “một quá trình thu thập thông tin và sử dụng thông tin này để ra
quyết định về HS, về chương trình, về nhà trường và đưa ra các chính sách
GD”[18,tr.32].
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, ĐG trong GD là “quá trình tiến hành
có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu GD nhất
định” [25,tr.9].
Tác giả Lê Đức Ngọc trong “Vắn tắt về đo lường và ĐG thành quả học
tập trong GD Đại học” lại khẳng định ĐG trong GD là “Căn cứ vào các số đo
và các tiêu chí xác định, việc ĐG năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo
là để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không
ngừng chất lượng đào tạo” [24; tr.12].
Nhƣ vậy, ĐG trong quá trình dạy học là đƣa ra những nhận định tổng hợp
về các dữ kiện đo lƣờng đƣợc qua các kì KT, lƣợng giá ngƣời học trong quá
trình và khi kết thúc khóa học bằng đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã
đƣợc xác định rõ ràng trƣớc đó trong các mục tiêu.
Từ các quan niệm trên, tác giả cho rằng KT và ĐG có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, KT là cơ sở, là tiền đề của ĐG, KT nhằm cung cấp thông tin để ĐG.
Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là KT - ĐG trong quá trình dạy
13
học.
1.2.3. Đánh giá kết quả học tập
ĐG kết quả học tập là một phần không thể tách rời quá trình dạy – học,
đƣợc thực hiện liên tục, đan xen trong quá trình dạy – học. Theo từ điển Giáo
dục học – NXB Từ điển Bách khoa (2001), ĐG kết quả học tập là “xác định
mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với yêu cầu của
chương trình đề ra” [38, tr.37].
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Đánh giá kết quả học tập là quá
trình thu thập, xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các
mục tiêu học tập đã được xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư
phạm của GV, của nhà trường và cho bản thân người học giúp họ tiến bộ
hơn”[25, tr.12].
Nhƣ vậy, ĐG kết quả học tập của HS là việc đƣa ra những kết luận, nhận
định, phán xét về trình độ HS, bao gồm các giai đoạn sau:
- Thu thập thông tin về hiện trạng của kết quả học tập;
- Xử lí và phân tích hiện trạng, khả năng, nguyên nhân kết quả học tập;
- Phán đoán, nhận xét về việc HS có đạt đƣợc hay không mục tiêu học
tập theo quy định của chƣơng trình. Ra quyết định hành động cho giai đoạn
tiếp theo.
Nhƣ vậy, kết quả học tập của HS là thƣớc đo của quá trình dạy – học, ĐG
chính xác kết quả học tập của HS là điều vô cùng cần thiết trong suốt quá trình
dạy – học.
1.2.4. Quản lí
Trong xã hội, các hoạt động đều cần đến công tác quản lí. Quản lí trở
thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ. QL
14
vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật trong điều khiển một hệ thống xã hội, ở
tầm vĩ mô lẫn vi mô. Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động QL.
Theo H.Fayol (Dẫn theo Bùi Minh Hiền) “QL là sự dự đoán và lập kế
hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là KT” và “đây cũng là 5
chức năng cơ bản nhất của QL” [13, tr.20].
Các nhà khoa học ở Việt Nam cũng có những quan điểm riêng về QL
nhƣ sau:
Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong
việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực
(nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một
cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[19, tr.29].
Theo nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Nguyễn Vũ Bích Hiền: “QL là sự
tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt
được mục tiêu đề ra” [14, tr.46].
Các khái niệm trên đây, tuy có khác nhau, song chúng có chung những
dấu hiệu chủ yếu sau đây [13], [14], [19], [21], [29]:
- Hoạt động QL có các thành tố cơ bản sau: Chủ thể QL, đối tƣợng QL,
mục tiêu QL. Ba thành tố này gắn bó chặt chẽ tạo nên hoạt động của bộ máy.
- QL là một hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định
đúng qui luật và có hiệu quả QL nhƣng cũng tuân theo những nguyên tắc nhất
định nhằm hƣớng tới mục tiêu.
- Mục tiêu cuối cùng của QL là chất lƣợng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ
con ngƣời. Ngƣời QL tựu chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải
quyết các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời vô cùng phức tạp giữa
chủ thể và khách thể trong hệ thống.
15
- QL là thực hiện những tác động có mục đích đến khách thể QL. Còn
khách thể QL hiện thực hóa mục tiêu QL bao gồm các sản phẩm vật chất và
phi vật chất với giá trị sử dụng tối ƣu. QL suy cho cùng lấy yếu tố con ngƣời
làm trung tâm và là đích đến cuối cùng của hoạt động.
- QL là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên
và xã hội nhân văn khác: toán học, thống kê, kinh tế học, tâm lí học, xã hội
học… QL còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tính toán ứng xử,
giao lƣu để đạt tới mục đích.
Nhƣ vậy, có thể khái quát rút ra một khái niệm chung về QL nhƣ sau:
QL là sự tác động có mục đích, có biện pháp, có sáng tạo của chủ thể QL đến
đối tượng QL nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của QL mà mục tiêu cuối
cùng của QL là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người.
1.2.5. Quản lí đánh giá kết quả học tập
Trên cơ sở lí luận về QL kết hợp với lí luận về ĐG kết quả học tập,
chúng ta có thể hiểu khái niệm về quản lí ĐG kết quả học tập nhƣ sau: “Quản
lí đánh giá kết quả học tập là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
tra quá trình đánh giá kết quả học tập nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu
đánh giá đề ra”.
QL hoạt động ĐG kết quả học tập là hoạt động của chủ thể QL tác động
vào quá trình KT, ĐG kết quả học tập làm cho hoạt động KT, ĐG đƣợc chính
xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lƣợng dạy học, để
từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất
lƣợng dạy học cũng nhƣ chất lƣợng GD tổng thể.
Căn cứ vào chức năng của QL, QL hoạt động ĐG kết quả học tập của HS
cũng bao gồm các bƣớc cơ bản:
+ Lập kế hoạch
16
+ Tổ chức thực hiện
+ Chỉ đạo giám sát hoạt động ĐG kết quả học tập của HS
+ KT, ĐG hoạt động ĐG kết quả học tập của HS
QL hoạt động ĐG kết quả học tập của HS của ngƣời hiệu trƣởng không
những tác động vào GV, HS, phụ huynh mà cả bản thân ngƣời QL. Nếu làm tốt
công tác QL đánh giá kết quả học tập thì ngƣời QL sẽ có đƣợc thông tin chính
xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lí về chất lƣợng quá trình dạy
học, quá trình giáo dục, mức độ đạt đƣợc mục tiêu QL đã đề ra cũng nhƣ hiệu
quả QL.
1.3. Đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh theo định
hƣớng tiếp cận năng lực
1.3.1. Đánh giá năng lực của học sinh thông qua môn Vật lí
Yêu cầu tất yếu khi chuyển mục đích dạy học sang phát triển năng lực của
HS thì việc ĐG cũng phải là ĐG kết quả học tập theo năng lực HS. ĐG theo năng
lực là việc ĐG dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp
thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu có
đƣợc kiến thức có thể áp dụng trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong
thực tế cuộc sống.
Theo Nguyễn Công Khanh: “Đánh giá học sinh theo cách tiếp cận năng lực
là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra…nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến
thức, kĩ năng, mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần
có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó”[17, tr.11]. Do đó, ĐG
theo hƣớng phát triển năng lực của HS là cách thức mà trọng tâm không phải là
KT các thành phần tri thức hay kĩ năng riêng lẻ mà là sự vận dụng có phối hợp
các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề mới đối với ngƣời học. ĐG
theo hƣớng tiếp cận này không định hƣớng theo những nội dung KT trừu tƣợng
mà luôn đặt HS vào các tình huống trong cuộc sống để thử thách họ hơn là theo
17
định hƣớng nội dung học tập truyền thống.
Hệ thống năng lực cần phát triển ở HS có nhiều loại khác nhau và đƣợc
xây dựng khái quát bao gồm bốn thành phần nhƣ sau:
- Năng lực chuyên môn: gắn liền với khả năng nhận thức và tâm lí vận
động
- Năng lực phƣơng pháp: khả năng về cách thức tiếp nhận, xử lý, chuyển
hóa nhằm thực hiện, giải quyết vấn đề hiệu quả
- Năng lực xã hội: khả năng giao tiếp, tƣơng tác trong cộng đồng, xã hội
- Năng lực cá thể: chủ động, tự chủ, tự tin, khẳng định bản thân trong
quan hệ ứng xử, giải quyết vấn đề, thực hiện nhiệm vụ hành động hay trong tƣ
duy nhận thức.
Bốn thành phần của năng lực nêu trên tƣơng ứng với mục đích học tập:
“Học để hiểu biết – Học để làm việc – Học để chung sống – Học để thành ngƣời
(tự khẳng định bản thân)” – một tuyên ngôn của tổ chức UNESCO, đã đƣợc các
nhà sƣ phạm xác định là “bốn trụ cột của GD” và cũng là mục tiêu xã hội và GD
của nhà trƣờng cần hƣớng tới.
Từ các phẩm chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những phẩm
chất, và năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt
động giáo dục. Môn Vật lí đƣợc coi là môn học thực nghiệm, lý thuyết gắn liền
với thực hành. Bên cạnh những năng lực chung, môn Vật lí còn hƣớng tới phát
triển cho HS những năng lực đặc thù, cụ thể, chuyên biệt của môn học:
- Năng lực tự học: Lập đƣợc kế hoạch tự học và điều chỉnh, thực hiện kế
hoạch có hiệu quả, tìm kiếm thông tin về nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của
các ứng dụng kĩ thuật. Trình bày đƣợc kiến thức về các hiện tƣợng, đại lƣợng,
định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng số vật lí. Tóm tắt
thông tin bằng sơ đồ tƣ duy, bản đồ khái niệm, bảng biểu, sơ đồ khối. Tự đặt
18
câu hỏi và thiết kế, tiến hành đƣợc phƣơng án thí nghiệm để trả lời cho các câu
hỏi đó. Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải
pháp … ) kiến thức vật lí vào các tình huống thực tiễn.
- Năng lực giải quyết vấn đề: Đặc biệt quan trọng là năng lực giải quyết
vấn đề bằng con đƣờng thực nghiệm hay còn gọi là năng lực thực nghiệm. Đặt
ra những câu hỏi về một sự kiện Vật lí. Tiến hành thực hiện các cách thức tìm
câu trả lời bằng suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm. Khái quát hóa rút
ra kết luận từ kết quả thu đƣợc. Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu đƣợc.
- Năng lực sáng tạo: Thiết kế đƣợc phƣơng án thí nghiệm để kiểm tra giả
thuyết (hoặc dự đoán), lựa chọn đƣợc phƣơng án thí nghiệm tối ƣu. Giải đƣợc
bài tập Vật lí sáng tạo.
- Năng lực giao tiếp: Mô tả đƣợc các hiện tƣợng tự nhiên bằng ngôn ngữ
Vật lí và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tƣợng đó. Lập đƣợc bảng và mô tả
bảng số liệu thực nghiệm, vẽ đƣợc đồ thị từ bảng số liệu cho trƣớc, vẽ đƣợc sơ
đồ thí nghiệm, mô tả đƣợc sơ đồ thí nghiệm, đƣa ra các lập luận lôgic, biện
chứng.
- Năng lực hợp tác: Tiến hành thí nghiệm Vật lí theo nhóm, tiến hành thí
nghiệm theo các khu vực khác nhau.
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Sử dụng
một số phần mềm chuyên dụng (maple, coachs, crocodie…) để mô hình hóa quá
trình Vật lí, sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối tƣợng Vật lí.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Sử dụng ngôn ngữ khoa học để diễn tả quy
luật Vật lí, sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật Vật lí. Đọc hiểu đƣợc
đồ thị, bảng biểu.
- Năng lực tính toán: Mô hình hóa quy luật Vật lí bằng các công thức toán
học, sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức đã biết ra hệ quả hoặc ra kiến
thức mới.
19
1.3.2. Vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập môn Vật lí của học sinh theo định hƣớng phát triển năng lực
KTĐG kết quả học tập của HS là khâu cuối cùng và rất quan trọng của
QTDH ở các trƣờng phổ thông. KT, ĐG kết quả học tập của HS cung cấp thông
tin về chất lƣợng sản phẩm ĐT của trƣờng trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu ĐT
và các thông tin phản hồi hữu ích giúp các nhà QL điều chỉnh hiệu quả quá trình
ĐT.
Ngày nay, chúng ta đã và đang tiến hành đổi mới KT,ĐG chuyển từ định
hƣớng nội dung sang định hƣớng phát triển NL ngƣời học. Nếu việc KT,ĐG
theo hƣớng phát triển NL thành công sẽ có tác dụng nuôi dƣỡng hứng thú học
đƣờng, tạo sự tự giác trong học tập, từ đó góp phần nâng cao chất lƣợng dạy
học. Đồng thời, nó còn góp phần đào tạo ra đƣợc những con ngƣời có đầy đủ
những phẩm chất, năng lực, phát triển toàn diện đáp ứng đƣợc nhu cầu nguồn
nhân lực chất lƣợng cao của sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc.
Hiện nay, trong tất cả các khâu cần đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục thì đổi mới KT,ĐG là khâu tạo nên sự đột phá. KT,ĐG phải đổi mới đầu
tiên, “đi tắt”, “đón đầu”, sau đó mới là đổi mới các khâu còn lại của QTDH.
Cho nên, KT, ĐG kết quả học tập của HS có ý nghĩa quan trọng trên cả ba
mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với cả GV, HS và các cấp QLGD.Cụ thể:
- Đối với GV: KT,ĐG là công cụ để đo kết quả dạy học của chính bản thân
mỗi GV, giúp GV đánh giá chính xác kết quả học tập, năng lực của HS ở từng
giai đoạn học tập khác nhau. Mặt khác, việc KT,ĐG theo định hƣớng phát triển
năng lực còn giúp GV đánh giá đƣợc khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ
năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống ở mức độ nào so với
mục tiêu môn học đề ra, nắm đƣợc mức độ tiến bộ hay sút kém của từng em để
có biện pháp khuyến khích, động viên hay giúp đỡ, bồi dƣỡng kịp thời.
Với xu hƣớng đổi mới KT,ĐG theo định hƣớng phát triển năng lực, GV sẽ
đƣợc bồi dƣỡng về các loại hình và phƣơng pháp KT,ĐG mới; biết đƣợc xu
20
hƣớng đổi mới KT,ĐG của thế giới và của Việt Nam, từ đó nâng cao trình độ
nhận thức của mình để GV có phƣơng pháp KT,ĐG đúng, phù hợp với từng đối
tƣợng HS. KT,ĐG có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với GV trong việc đánh giá
chính xác năng lực học tập của HS, đồng thời cũng qua đó mà khẳng định năng
lực chuyên môn, năng lực sƣ phạm của ngƣời thầy, góp phần vào định hƣớng
học tập cho HS.
- Đối với HS: Ý nghĩa của KT,ĐG thể hiện trên ba mặt:
Về mặt kiến thức, KT,ĐG theo tiếp cận phát triển năng lực không chỉ
giúp HS củng cố, mở rộng, bổ sung, đào sâu và hoàn thiện vốn tri thức mà
còn làm sáng tỏ mức độ đạt đƣợc hay chƣa đạt đƣợc về mục tiêu dạy học,
tình trạng kiến thức, năng lực đối với chƣơng trình. Qua đó HS phát hiện
đƣợc những thiếu sót trong kiến thức, kỹ năng để kịp thời sửa chữa, điều
chỉnh hoạt động học. Đặc biệt, KT,ĐG theo tiếp cận năng lực là biện pháp
quan trọng nhất để hình thành các năng lực cơ bản, cần thiết cho mỗi HS
trƣớc khi bƣớc vào cuộc sống.
Về mặt thái độ, KT,ĐG theo hƣớng phát triển năng lực có tác dụng to lớn
trong việc giáo dục tƣ tƣởng, đạo đức, phẩm chất của HS. Hình thành ở HS lòng
tin, ý trí quyết tâm đạt kết quả cao trong học tập, lòng trung thực, tinh thần tập
thể, ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Mặt khác, sự đa dạng, phong phú của
các biện pháp KT, ĐG theo định hƣớng phát triển năng lực còn tạo cho HS niềm
hứng thú, say mê nghiên cứu các hiện tƣợng Vật lí, hình thành cho các em thói
quen làm việc độc lập, tự chủ - một trong những phẩm chất quan trọng của
ngƣời công dân toàn cầu.
Về mặt kỹ năng, KT, ĐG theo hƣớng phát triển năng lực không chỉ có ý
nghĩa về mặt nhận thức, hƣớng thái độ mà còn có tác dụng quan trọng trong
việc rèn luyện kỹ năng cho HS. Thông qua các hình thức KT miệng, KT viết,
KT thực hành, HS đƣợc rèn luyện ngôn ngữ nói, cách lập luận vấn đề, cách
nhận thức vấn đề đặt ra một cách chính xác và nhạy bén, biết trình bày những
21
kiến thức đã đƣợc tiếp thu trong quá trình học tập, biết vận dụng những kiến
thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và vận dụng chúng vào hoạt động thực
tiễn.
- Đối với cấp QLGD
Công tác QLGD, QL chất lƣợng dạy và học rất cần các thông tin từ hoạt
động KT, ĐG. Bản chất của KT,ĐG là cung cấp thông tin nhằm xác định xem
mục tiêu của chƣơng trình GD có đạt đƣợc hay chƣa, mức độ đạt đƣợc nhƣ thế
nào… Các thông tin khai thác đƣợc từ kết quả KT, ĐG sẽ rất hữu ích cho các
nhà QL, giúp họ giám sát quá trình GD, phát hiện các vấn đề, có các quyết
định kịp thời điều chỉnh nội dung, cách thức và điều kiện đạt mục tiêu. Đây
chính là cơ sở để xây dựng đội ngũ GV, về vấn đề đối mới nội dung, phƣơng
pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học,… Do đó, KT,ĐG có tác dụng
thúc đẩy quá trình dạy học phát triển không ngừng.
1.3.3. Đặc điểm đánh giá theo định hƣớng tiếp cận năng lực
Theo quan điểm phát triển năng lực, ĐG kết quả học tập cần chú trọng khả
năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.
Mục tiêu của KT, ĐG theo định hƣớng tiếp cận năng lực là:
- Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS,
nhóm HS và tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự ĐG, giúp HS
nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập.
- Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm
yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu không ngừng nâng cao
chất lƣợng và hiệu quả dạy học.
Nhƣ vậy, ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định
hƣớng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định
ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
22
* Quy trình KT, ĐG kết quả học tập theo tiếp cận năng lực
- Xác định đƣợc mục đích chủ yếu của ĐG kết quả học tập là so sánh
năng lực của HS với chuẩn kiến thức và kĩ năng (năng lực) môn học ở từng chủ
đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học.
- Tiến hành ĐG kết quả học tập theo ba công đoạn cơ bản là thu thập
thông tin, phân tích và xử lí thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra quyết
định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học. Yếu tố đổi mới của công đoạn
này là:
+ Thu thập thông tin: Thông tin đƣợc thu thập từ nhiều nguồn, nhiều
hình thức và bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau (quan sát trên lớp, làm bài
kiểm tra, sản phẩm học tập, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau...); lựa chọn đƣợc
những nội dung đánh giá cơ bản và trọng tâm, trong đó chú ý nhiều hơn đến
nội dung kĩ năng; xác định đúng mức độ yêu cầu của mỗi nội dung (nhận biết,
thông hiểu, vận dụng...) căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng; sử dụng đa dạng
các loại công cụ khác nhau (đề kiểm tra viết, câu hỏi trên lớp, phiếu học tập,
bài tập về nhà...); thiết kế các công cụ đánh giá đúng kĩ thuật (câu hỏi và bài
tập phải đo lƣờng đƣợc mức độ của chuẩn, đáp ứng các yêu cầu dạng trắc
nghiệm khách quan hay tự luận, cấu trúc đề kiểm tra khoa học và phù hợp...);
tổ chức thu thập đƣợc các thông tin chính xác, trung thực. Cần bồi dƣỡng cho
HS những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia ĐG
và cải tiến quá trình dạy học.
+ Phân tích và xử lí thông tin: các thông tin định tính về thái độ và năng
lực học tập thu đƣợc qua quan sát, trả lời miệng, thực hành,...đƣợc phân tích
theo nhiều mức độ với tiêu chí rõ ràng và đƣợc lƣu trữ thông qua sổ theo dõi
hàng ngày; các thông tin định lƣợng qua bài KT đƣợc chấm điểm theo đáp
án/hƣớng dẫn chấm – hƣớng dẫn đảm bảo đúng, chính xác và đáp ứng các yêu
23
cầu kĩ thuật; số lần kiểm tra, thống kê điểm TB, xếp loại học lực,...theo đúng
quy chế đánh giá, xếp loại ban hành.
+ Xác nhận kết quả học tập: xác nhận HS đạt hay không mục tiêu từng
chủ đề, cuối lớp học, cuối cấp học dựa vào các kết quả định tính và định lƣợng
với chứng cứ cụ thể, rõ ràng; phân tích, giải thích sự tiến bộ học tập vừa căn cứ
vào kết quả ĐG quá trình và kết quả ĐG tổng kết, vừa căn cứ vào thái độ học
tập và hoàn cảnh gia đình cụ thể. Ra quyết định cải thiện kịp thời hoạt động
dạy của GV, hoạt động học của HS trên lớp; ra các quyết định quan trọng với
HS (lên lớp, thi lại, ở lại lớp, khen thƣởng...); thông báo kết quả học tập của
HS cho các bên có liên quan (HS, CMHS, hội đồng GD nhà trƣờng, QL cấp
trên...). Góp ý và kiến nghị với cấp trên về chất lƣợng chƣơng trình, SGK, cách
tổ chức thực hiện kế hoạch GD,...
* Nguyên tắc KTĐG kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực
ĐG kết quả học tập cần phải:
- Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hƣớng tiếp cận năng lực)
môn Vật lí; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định
hƣớng tiếp vận năng lực) của HS của cấp học.
- Trong ĐG thành tích học tập của HS không chỉ ĐG kết quả mà chú ý
cả quá trình học tập. ĐG kết quả học tập theo quan điểm phát triển năng lực
không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà tri thức mà chú trọng khả
năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
- Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phƣơng pháp KT, ĐG khác nhau.
Kết hợp giữa KT miệng, KT viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa tự luận và
trắc nghiệm khách quan.
- Phối hợp giữa ĐG thƣờng xuyên và ĐG định kì, ĐG của GV, của nhà
trƣờng và ĐG của gia đình, cộng đồng.
24
- Có công cụ ĐG thích hợp nhằm ĐG toàn diện, công bằng, trung thực,
có khả năng phân loại, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy và học.
- Tạo cơ hội HS đƣợc tham gia ĐG: tự ĐG và ĐG đồng đẳng trong học
tập.
Bảng 1.1. So sánh giữa đánh giá theo kiến thức, kĩ năng với đánh giá
theo tiếp cận năng lực năng lực[13,121]
Tiêu chí
Đánh giá năng lực
Đánh giá kiến thức, kỹ năng
so sánh
1. Mục đích - ĐG khả năng HS vận dụng - Xác định việc đạt kiến thức,
chủ yếu nhất
các kiến thức, kỹ năng đã học kỹ năng theo mục tiêu của
vào giải quyết vấn đề thực chƣơng trình giáo dục.
tiễn của cuộc sống.
- ĐG, xếp hạng giữa những
- Vì sự tiến bộ của ngƣời học ngƣời học với nhau.
so với chính họ.
2. Ngữ cảnh Gắn với ngữ cảnh học tập và Gắn với nội dung học tập
đánh giá
thực tiễn cuộc sống của HS.
(những kiến thức, kỹ năng,
thái độ) đƣợc học trong nhà
trƣờng.
3. Nội dung - Những kiến thức, kỹ năng, - Những kiến thức, kỹ năng,
đánh giá
thái độ ở nhiều môn học, thái độ ở một môn học.
nhiều hoạt động giáo dục và - Quy chuẩn theo việc ngƣời
những trải nghiệm của bản học có đạt đƣợc hay không
thân HS trong cuộc sống xã một nội dung đã đƣợc học.
hội (tập trung vào năng lực
thực hiện).
- Quy chuẩn theo các mức độ
phát triển năng lực của ngƣời
25