Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
A. MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Sinh thời Bác Hồ thường xuyên quan tâm và chăm lo đến việc đào
tạo, huấn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ. Bác nói: “Cán bộ là cái gốc của
mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém”. Trong nhiều văn kiện của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng
định vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Hội nghị Trung ương ba
(khoá VIII) khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng… là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”.
Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải hoàn
thiện được yếu tố chủ đạo đó là tư tưởng và con người xã hội chủ nghĩa,
trong đó người cán bộ rất quan trọng bởi vì: “Con người xã hội chủ nghĩa là
con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một
dạ phụ vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.
Xác định được vị trí và vai trò của cán bộ là tiền vốn của đoàn thể cái gốc của mọi công việc nên Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ
mẫu mực phải có đức, có tài, lấy Đức là chính, phải khắc phụ mọi biểu hiện
của chủ nghĩa cá nhân, xa rời quần chúng, hống hách kiểu quan cách mạng,
quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm dẫn đến chia rẽ, cục bộ địa phương
và kết quả tất yếu là hỏng việc.
Cán bộ và công tác cán bộ là một trong những vấn đề có tầm quan
trọng quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh là một nội dung quan trọng
luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Trong đó công
tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức chiếm vị trí then chốt.
1
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Công tác cán bộ bao gồm: tuyển dụng, quy hạch, đào tạo, bồi dưỡng,
bố trí, sử dụng, quản lý, cất nhắc, đề bạt cán bộ. Nhưng trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài này tôi chỉ đi sâu vào việc tuyển dụng, sử dụng và
quản lý đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước ở Việt Nam
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu:
Công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ công chức là vấn đề quan trọng
được Đảng và nhà nước quan tâm. Trên thực tế có nhiều các nhà nghiên cứu lý luận
quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu, khẳng định công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công
chức ở nước Vệt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích: Nhằm góp phần hiệu quả hơn về công tác tuyển dụng,
sử dụng cán bộ, công chức ở nước Việt Nam trong tình hình mới.
3.2. nhiệm vụ: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác tuyển dụng, sử
dụng cán bộ, công chức ở nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó phân tích
thực trạng tìm ra những nguyên nhân tác động đến công tác sử dụng, tuyển dụng
cán bộ, công chức, trong cơ sở đó đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác phát
triển tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức ở nước Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng: Cán bộ, công chức của nước Cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt
Nam.
4.2. Phạm vi: Khảo sát thực tế giới hạn, trong các ………………
5. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp điều tra xã hội
học, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp…
6. Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phân nội dung của tiểu luận
gồm có 3 chương, 9 tiết.
2
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC
TUYỂN DỤNG, SỬ DỤGN CÁN BỘ CÔNG CHỨC.
1.1. Các khái niệm:
1.1.1. Cán bộ, công chức:
1.1.1.1. Cán bộ:
Cán bộ là khái niệm khá quen thuộc trong đời sống chính trị xã hội. Trong đại từ điển Tiếng Việt của của Nhà xuất bản Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, trang 185 quy định: “Cán bộ là người
làm việc trong cơ quan nhà nước. Người giữ chức vụ phân biệt với người
bình thường, không giữ chức vụ trong các tổ chức cơ quan nhà nước”
Còm trong luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là
công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh
theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước”.
1.1.1.2 Công chức:
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa: “Công
chức là người tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của
Nhà nước ở trung ương hay địa phương, làm việc thường xuyên, được xếp
vào ngạch của hệ thống ngạch bậc được hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”.
3
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Và theo luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công
chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay, sử
dụng đồng thời các khái niệm “cán bộ”, “công chức”, “viên chức”. Các “cán
bộ”, “công chức”, “viên chức” không chỉ làm việc trong bộ máy Nhà nước
mà cả trong các tổ chức xã hội.
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 không đưa ra định nghĩa riêng
cho đối tượng “cán bộ”, “công chức” mà tại Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ,
công chức (1998) quy định: “Cán bộ, công chức” là công dân Việt Nam
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh cán bộ, công chức đã
được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua ngày 29/4/2003. Tại
Điều 1 khoản 1 Pháp lệnh này quy định cán bộ, công chức là “Công dân Việt
Nam”, trong biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử, để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm
kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là
4
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện);
b) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm vào một ngạch
công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước
ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm vào một ngạch
viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp
của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân;
e) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g) Người do bầu cử để đảm nhiệm chức vự theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng
uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, phường, thị trấn (sau đây gọi
là cấp xã);
h) Những người được tuyện dụng, giao giữ một chức danh
chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
1.2. Chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác tuyển dụng, sử
dụng cán bộ, công chức
5
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu những tư tưởng cơ bản làm cơ
sở nền tảng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ của giai cấp công nhân. Thực
tiễn lịch sử đã chứng minh: mỗi thời đại xã hội đều cần có những con người
vĩ đại và nếu không có những con người như thế thì thời đại sẽ sáng tạo ra
họ. Từ quá trình truyền bá lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào
công nhân, Mác khẳng định: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những
con người sử dụng lực lượng thực tiễn”(1).
V.I.Lênin kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc
biệt coi trọng đội ngũ cán bộ “những nhà chính trị của giai cấp” thực sự của
mình. Từ ngày đầu thành lập Đảng, Lênin đã coi trọng cán bộ và công tác
cán bộ. Khi Đảng có chính quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Lêninh khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh.
Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết
định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”(2). Lênin còn chỉ rõ, trong bất kỳ giai đoạn nào
của cách mạng, “Người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để
chứng minh quyền lãnh đạo của mình, đó là tìm cho mình được nhiều, càng
ngày càng nhiều những người phụ tá… biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt
họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ” (3). Khi vào giai đoạn
công nghiệp hoá xây dựng đất nước, Lênin đặc biệt coi trọng đội ngũ cán bộ
khoa học - kỹ thuật và quan tâm tới đội ngũ tri thức của giai cấp công nhân,
coi đây là điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội: “không có sự chỉ đạo của
các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm,
thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi
hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi tới một năng
suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở những
kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”(4).
6
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
1. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.2,
tr. 181.
2. V.I.Lênin: Sđd, 1975, tr. 44, tr.449.
3. V.I.Lênin: Sđd, 1979, tr. 42, tr.407.
4. V.I.Lênin: Sđd, 1978, tr. 36, tr.217.
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyển dụng, sử dụng
cán bộ, công chức
Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán
bộ và công tác cán bộ hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh. Cốt lõi của tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ chính là coi trọng và đánh giá đúng
vai trò “quyết định”, “cái gốc của mọi công việc” của người cái bộ; từ đó có
chiến lược để hình thành người cán bộ có đức, có tài; xây dựng một đội ngũ
cán bộ vững mạnh đủ sức đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ cách mạng
trong mỗi một thời kỳ.
Trong việc lựa chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan
tâm tới phẩm chất đạo đức và năng lực của những người được lựa chọn.
Người nói: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ
vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính” (1). Và
“Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có
đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng
vẻ vang”(2).
Bác đã nêu rõ 4 tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ:
“1. Những người đã tỏ ra rất trung thành, hăng hái trong công việc,
trong lúc đấu tranh.
2.
Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân
chúng, luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng
mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ.
7
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
3.
Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong
những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không
phải là người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại
không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị
quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn.
4.
Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật.
Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho
đúng”(3).
Trong công tác cán bộ, Người luôn luôn coi trọng cả đức và tài của
người cán bộ. Người nói: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức tham ô,
hủ hoá, có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa
không giúp ích gì được ai”(4).
1.
Sđd, t. 7, tr. 480.
2.
Sđd, t. 9, tr. 283.
3.
Sđd, t. 5, tr. 275.
4.
Sđd, t. 8, tr. 184.
Trong việc sử dụng cán bộ, phép dụng người ở Hồ Chí Minh đạt tới
nghệ thuật khoa học, thấm đượm chất nhân văn.
Sử dụng đúng cán bộ “Tài nhỏ có thể hoá ra tài to”. Theo Hồ Chí
Minh, nếu “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ cũng là một cớ thất
bại”; “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được
việc”(1). “Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách
của Đảng và Chính phủ. Nếu cán bộ có ý hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất
ức hoặc công tác không hợp, chắc chắn không thành công được”(2).
8
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Phải biết rõ cán bộ, đương nhiên trước khi dùng cán bộ phải hiểu cán
bộ. Càng am hiểu bản chất, ưu khuyết điểm của cán bộ thì càng có cơ sở
dùng cán bộ hiệu quả, đặt cán bộ phù hợp với năng lực sở trưởng của họ.
Người từng nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài
đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này
thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta… là con
Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc” (3). Hồ Chí Minh nói
về phương châm sử dụng cán bộ như sau:
“Hiểu biết cán bộ; khéo dùng cán bộ; cất nhắc cán bộ; thương yêu cán
bộ; Phê bình cán bộ”(4)
Sử dụng cán bộ thế nào ? Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải xác
định đúng yêu cầu công việc, “công việc yêu cầu cán bộ” và khi bố trí, sử
dụng phải tránh sự thiên vị cá nhân. Dùng người là cả một khoa học và nghệ
thuật, do đó, nếu bố trí đúng sẽ phát huy mặt mạnh của cán bộ, thúc đẩy
được phòng trào và còn hạn chế được mặt yếu, mặt dở của họ.
Người căn dặn 5 vấn đề người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện
khi dùng người:
“1. Minh phải độ lượng, vị tha thì mới có thế đối với cán bộ một
cách chí
công - vô tư, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi;
2. Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình
không ưa;
3. Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí
còn kém, giúp cho họ tiến bộ;
4. Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vay, mà cách xa cán bộ
tốt;
9
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
5. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi
mình” (5) .
1.
Sđd, t. 5, tr. 273 và tr. 243.
2.
Sđd, t. 4, tr. 246.
3.
Sđd, t. 5, tr. 277.
4.
Sđd, t. 5, tr. 40.
5.
Sđd, t. 5, tr. 270-271.
2. Cơ sở pháp lý về công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công
chức.
2.1. Tuyển dụng cán bộ, công chức
Tuyển dụng công chức là một hoạt động của quản lý hành chính
Nhà nước diễn ra thường xuyên theo quy định của pháp luật. Theo đó Nhà
nước chọn lựa một số người đủ tiêu chuẩn, năng lực và phẩm chất vào
những vị trí nhất định của bộ máy hành chính Nhà nước. Tuyển dụng diễn ra
bằng thi cử công khai do Chính phủ quy định.
Theo quy định tại Điều 23, tuỳ vào vị trí công tác mà người
được tuyển dụng phải tuân theo những quy định và chế độ, hình thức tuyển
dụng riêng. Như vậy, để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực và tận tuỵ phục vụ
nhân dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, việc tuyển
dụng cán bộ, công chức đã có những quy định cụ thể và chặt chẽ như sau:
1. Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, đ, e
và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này, cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào
nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ
tiêu biên chế được giao.
10
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
2. Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1
Điều 1 của Pháp lệnh này, đơn vị sự nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu công
việc, kế hoạch biên chế và nguồn tài chính của đơn vị. Việc tuyển dụng được
thực hiện theo hình thức hợp đồng làm việc.
3. Người được tuyển dụng làm cán bộ, công chức quy định tại điểm b
và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này phải qua thực hiện chế độ công
chức dự bị.
4. Người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, đủ tiêu chuẩn
và thông qua thi tuyển; đối với việc tuyển dụng ở các đơn vị sự nghiệp, vùng
cao, vùng sau, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì có thể thực hiện thông
qua xét tuyển.
Chính phủ quy định cụ thể chế độ thi tuyển và xét tuyển.
Việc tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm
sát viên viện kiểm sát nhân dân được thực hiện theo quy định của Luật tổ
chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh về thẩm phán và hội thẩm toà án nhân dân,
Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh về kiểm sát viên viện
kiểm sát nhân dân. Được quy định trong Điều 24 của Pháp lệnh cán bộ, công
chức.
Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của
Chính phủ về việc tuyển dụng cán bộ, công chức như sau:
* Về điều kiện đăng ký dự tuyển công chức:
1. Người đăng ký dự tuyển vào công chức phải bảo đảm
những điều kiện sau:
a) Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt
Nam;
11
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
b) Tuổi của người dự tuyển từ 18 tuổi đến 40 tuổi.
Trường hợp người dự tuyển là sĩ quan, quân nhân chuyển nghiệp, viên chức
trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiẹp nhà nước thì tuổi dự tuyển có
thể cao hơn nhưng không quá 45 tuổi;
c) Có đơn vị dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng
chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển;
d) Đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ, công vụ;
đ) Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp
hành án phạt tù, cải tạo không gian giữ, quản chế, đang bị áp dụng biện pháp
giáo dụng tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo
dục.
2. Những người dự tuyển vào công chức quy định tại điểm b và
điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh Cán bộ, công chức ngày 29-4-2003 phải qua thực hiện chế độ công
chức dự bị.
3. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, căn cứ vào tính
chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của ngạch tuyển dụng, cơ quan có
thẩm quyền tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người
dự tuyển.
* Về tuyển dụng cán bộ, công chức:
1. Việc tuyển dụng công chức phải thông qua thi tuyển.
2. Người tình nguyện làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì việc tuyển dụng có thể thực
hiện thông qua xét tuyển.
2.2. Sử dụng cán bộ, công chức
12
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Sử dụng cán bộ, công chức được quan niệm là Nhà nước, đại
diện là Chính phủ thực hiện chính sách huy động nguồn nhân lực hành chính
(Chủ yếu là đội ngũ công chức Nhà nước) vào hoạt động quản lý từ lực
lượng đang trong hệ thống công vụ như thế nào. Sử dụng cán bộ, công chức
còn thể hiện ở khoa học về tổ chức lao động khoa học (thuộc về chuyên
ngành quản trị công chức, công sở) ở việc sử dụng một công chức cụ thể với
một chuyên môn cụ thể, một lứa tuổi cụ thể và một năng lực, phẩm chất nhất
định. Sử dụng cán bộ, công chức còn thể hiện một khoa học quản lý về bản
lĩnh của các nhà lãnh đạo như thế nào.
Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ
về việc sử dụng cán bộ công chức như sau:
* Bố trí, phân công công tác:
1. Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm bố
trí, phân công, giao nhiệm vụ cho công chức, bảo đảm các điều kiện cần
thiết để công chức thi hành nhiệm vụ, thực hiện các chế độ, chính sách đối
với công chức.
2. Khi thực hiện việc bố trí, phân công công tác cho công chức phải
bảo đảm phù hợp giữa nhiệm vụ được giao với ngạch công chức được bổ
nhiệm, công chức ở ngạch nào thì bố trí công việc phù hợp với ngạch đó.
3. Công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm
vụ, công vụ của mình; công chức giữ chức vụ lãnh đạo còn phải chịu trách
nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của công chức thuộc quyền quản
lý theo quy định của pháp luật.
* Chuyển ngạch:
1. Công chức được phân công nhiệm vụ mới không phù hợp với
ngạch công chức đang giữ thì phải chuyển ngạch cho phù hợp với vị trí và
chuyển môn nghiệp vụ được giao.
13
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
2. Công chức được chuyển ngạch phải đáp ứng tiêu chuẩn chuyên
môn, nghiệp vụ của ngạch được chuyển và phù hợp với cơ cấu ngạch công
chức của cơ quan.
3. Cơ quan sử dụng công chức khi chuyển ngạch cho công chức
phải thành lập Hội đồng kiểm tra để sát hạch về trình độ và năng lực của
công chức. Nếu công chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch mới,
thì cơ quan sử dụng công chức ra quyết định bổ nhiệm theo thẩm quyền hoặc
đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức bổ nhiệm.
II. THỰC TRẠNG TRONG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG, SỬ
DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức qua các số liệu thống kê.
1.1. Về số lượng:
Theo số liệu của Bộ Nội vụ, tính đến ngày 30-6-2003, đội ngũ
cán bộ, công chức của Việt Nam có khoảng: 1.530.000 người (không tính
cán bộ, công chức trong các lực lượng vũ trang), cụ thể như sau:
1.2. Về trình độ đào tạo chuyên môn:
- Trong các cơ quan đảng, đoàn thể (tính đến 31-12-2003).
Trình độ
Trên
Đại
Trun
đào tạo chuyên đại học
học và cao g cấp
môn
đẳng
Ở
Trung
ương
Ở
phương
địa
43,81
%
9,05
%
0,82
%
cấp
C
hưa
qua
đào tạo
20,14
%
Sơ
37,46
%
17,43
%
22,90
%
9,
57%
9,89
%
28
,93%
- Trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp (tính đến tháng 12-2003).
14
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Trình độ đào tạo
chuyên môn
Trên
đại học
Đại
Trun
học và cao g cấp
Sơ
cấp
đẳng
Trong 21 Bộ và cơ
11.14
quan ngang Bộ (trừ Bộ Quốc 3 người
phòng và Bộ công an): 158.653
người.
62.38
9 người
Chiế
m 7,03%
51.98
7 người
Chiế
m 39,32%
33.13
4 người
Chiế
m 32,77%
Chiế
m 20,88%
Trong cơ quan thuộc
Chính phủ (trừ một số đơn vị
1.445
sự nghiệp như: Đài tiếng nói người
VN, Thông tấn xã VN, các
14.35
9 người
Chiế
trung tâm KH, các học viện…): m 4,32%
33.705 người.
Trong cơ quan hành
chính, sự nghiệp địa phương: người
1.071.199 người.
1 người
Chiế
m 42,59%
6.545
326.0
22người
Chiế
m 0,61%
10.51
Chiế
m 30,43%
7.390
người
Chiế
m 31,18%
478.6
14người
Chiế
m 44,68%
Chiế
m 21,92%
260.0
18 người
Chiế
m 24,27%
- Đối với cán bộ, công chức cơ sở: Trình độ văn hoá phổ thông trung
học: 57%; vẫn còn khoảng 5% có trình độ tiểu học. Về chuyên môn nghiệp vụ: có
trên 765 người chưa qua đào tạo.
1.3. Về trình độ lý luận chính trị:
- Trong các cơ quan đảng, đoàn thể:
Trình độ
lý luận chính trị.
Cao cấp,
cử nhân
Trung
Sơ cấp
cấp
Ở Trung
32,65%
9,75%
12,86%
Ở
26,42%
30,35%
12,34%
ương
địa
phương
- Trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:
15
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
+ Ở các Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: 16,04%
cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị cao, trung cấp.
+ Ở địa phương, cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị cao,
trung cấp chiếm 5%.
Theo Bộ trưởng Nội vụ, tính đến ngày 01-9-2007, toàn quốc
có 204.167 cán bộ công chức cấp xã, gần bằng số lượng công chức hành chính ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện cộng lại (Tổng số công chức ở Trung ương và địa
phương 2007, Bộ Nội vụ trình Chính phủ giao là: 239.081 người. Trong đó Trung
ương: 98.827 người, địa phương 140.254 người).
2. Đánh giá thực trạng về công tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ
cán bộ, công chức hiện nay
2.1. Những kết quả đạt được
Thời gian qua, cùng với việc ra đời của Pháp lệnh cán bộ, công
chức, hệ thống thể chế quản lý cán bộ, công chức đã được hình thành và hoàn thiện
từng bước, đưa công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức vào nền
nếp, góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Việc
quản lý sử dụng cán bộ, công chức được đổi mới từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi
nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đãi
ngộ…, góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức và nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức: các Bộ, ngành đã
nghiên cứu để thống nhất với Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ)
ban hành các văn bản hướng dẫn nội dung, hình thức thi tuyển cán bộ, công chức và
tổ chức thực hiện việc thi tuyển.
16
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Hiện đã có nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện quy trình đề
bạt, bố trí cán bộ. Những bộ ngành, địa phương làm nghiêm đã chọn được
cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt.
- Trong công tác quản lý sử dụng cán bộ, công chức cũng có nhiều
thành tựu đạt được như sau:
+ Thứ nhất, đã từng bước tiêu chuẩn hoá cán bộ, công chức, tức là
Nhà nước đã có những quy định pháp lý, hành chính để định ra những quan
hệ với trình độ, năng lực của cán bộ tương ứng với chức vụ mà người đó
đảm nhiệm và mức lương phù hợp với công việc.
+ Thứ hai, trên cơ sở những tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn,
năng lực công tác, đánh giá cán bộ cũng có thêm cơ sở khách quan để các
cán bộ quản lý, cán bộ tổ chức có căn cứ để đánh giá không sai lệnh, không
thiên vị. Trái lại, tiêu chuẩn cán bộ, công chức cũng có giá trị để đánh giá
năng lực quản lý, sử dụng, sắp xếp cán bộ của công chức lãnh đạo và của
những người làm công tác tổ chức.
+ Thứ ba, việc sử dụng cán bộ, công chức ở nhiều nơi đã có sự kết
hợp giữa thẩm quyền bổ nhiệm với việc thăm dò ý kiến quẩn chúng, ý kiến
cán bộ chủ chốt.
Trên đây đó là một số kết quả đạt được trong những thời gian qua về
việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Cùng với ưu
điểm đó vẫn còn một số hạn chế, bất cấp trong việc tuyển dụng, sử dụng và
quan lý cán bộ, công chức.
2.2. Những hạn chế, yếu kém
Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung
công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa
đáp ứng kịp thời yêu cầu của quá trình phát triển nhanh, bền vững và yêu
17
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
cầu của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng như sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 cùng với các
văn bản quy phạm pháp luật vừa được ban hành là bước tiến mới của thể chế quản lý
cán bộ, công chức. Tuy nhiên hệ thống các văn bản pháp luật về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý cán bộ công chức chưa đồng bộ, thiếu thống nhất và còn chồng chéo. Các
chế định chưa được lượng hoá cụ thể nên trong quá trình triển khai thực hiện còn nhiều
khó khăn, vướng mắc hoặc có nhiều cách vận dụng khác nhau. Nhiều quy định của
pháp luật về quản lý cán bộ, công chức không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chưa
được kịp thời sửa đổi, thay thế.
VD: Những bất cập trong Nghị định 121về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Xảy
ra tình trạng đến tháng 02-2007 vẫn còn 223 cán bộ, công chức cơ sở chưa
biết chữ, 5.644 người mới tốt nghiệp tiểu học, 41.343 người tốt nghiệp tiểu
học cơ sở. Về chuyên môn nghiệp vụ cán bộ chủ chốt cơ sở, có tới 93.802
người chưa qua đào tạo, trình độ lý luận chính trị thì có 67.056 người chưa
được đào tạo, có 82.932 người chưa được đào tạo trình độ quản lý hành
chính Nhà nước.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức chưa có tầm nhìn xa, bố trí cán bộ chủ yếu vẫn theo tình huống, tình
trạng hụt hẫng giữa các thế hệ cán bộ, công chức trong mỗi cơ quan, đơn vị
còn phổ biến, thiếu đội ngũ cán bộ, công chức nòng cốt, kế cận có trình độ
chuyên môn cao và các chuyên gia hoạch định chính sách, chiến lược.
- Chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức ở VN hiện nay, nhất là
chế độ thi tuyển tuy đã được quy định và thực hiện, nhưng chưa phải là điều
kiện bắt buộc. Hơn nữa xuất hiện tình trạng thiếu đồng bộ: việc thi tuyển
chưa tiến hành đồng loạt, thường xuyên do cơ quan có thẩm quyền tổ chức
18
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
thi tuyển chưa đủ những điều kiện để làm, nên có người đến lượt phải thi thì
đã đến tuổi hưu trí, hoặc chuyển đi làm việc ngoài công vụ hành chính…
- Cơ cấu trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức không cân đối
và chưa được xác định rõ ràng, hợp lý. Sau khi tuyển dụng không bố trí và
sử dụng đúng người, đúng việc, đúng với yêu cầu, gây lãng phí nguồn lực,
người được tuyển dụng không thực sự gắn bó với công việc được giao.
- Trong đề bạt cán bộ, công chức vẫn có tình trạng chạy chức
chạy quyền. Chuyển chạy chức chạy quyền làm chất lượng đội ngũ cán bộ
giảm sút, vấn đề này chưa được xử lý nghiêm túc.
- Trong công tác sử dụng, một số cơ quan khi sử dụng cán bộ,
công chức hay xuất phát từ ý chí chủ quan, thiếu sự tìm hiểu, thăm dò, lại vô
hiệu hoá cấp uỷ (Đảng uỷ) bằng sự lấy ý kiến chiếu lệ, hình thức… Đồng
thời, trong việc sử dụng cán bộ, công chức có một số cơ quan còn thiếu quy
hoạch dẫn đến sự lúng túng.
- Đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước ở
cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) chưa được đào tạo, bồi dưỡng về chuyân
môn nghiệp vụ, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, không ổn định…Hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã còn nhiều hạn chế, bất
cập, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu.
- Công tác quản lý cán bộ, công chức còn phân tán chồng chéo,
thiếu tập trung thống nhất, chưa có sự phân công, phân cấp rõ ràng, rành
mạch. Việc phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa các
cơ quan làm chức năng tham mưu trong việc quản lý cán bộ, công chức chưa
được quy định cụ thể, rõ ràng.
- Mặt khác, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức bị sa sút về
phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm kém, còn quan liêu, hạch dịch và
tham nhũng.
19
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong công
tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức
Nguyên nhân của tình trạng bất cập trong công tác tuyển
dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức chủ yếu là do bản thân người
cán bộ, công chức. Mặt khác, do cơ sở pháp lý để quản lý các hoạt động
kinh tế - xã hội còn có nhiều lỏng lẻo, sơ hở, thiếu đồng bộ, tạo nhiều kẽ hở
và điều kiện để phát sinh những vi phạm về đạo đức, phẩm chất của người
cán bộ, công chức.
Hệ thống ngạch, bậc và các tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức
danh công chức còn chưa hoàn thiện, thiếu cơ sở khoa học và chưa phù hợp
với thực tiễn cuộc sống.
Chưa xây dựng được cơ cấu ngạch công chức hợp lý trong bộ
máy các cơ quan, đơn vị của Nhà nước, dẫn đến tình trạng việc bố trí cán bộ,
công chức ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa phù hợp giữa ngạch với tính chất và
mức độ phức tạp về yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí công tác và
chuyên môn kỹ thuật đặc thù của mỗi loại cơ quan, tổ chức. Tiêu chuẩn chức
danh chuyên môn nghiệp vụ các ngạch công chức chưa được kịp thời sửa
đổi, bổ sung, hoàn chỉnh phù hợp đặc điểm, yêu cầu của từng loại công
chức.
Những tiêu chí và phương pháp đánh giá và phân loại cán bộ,
công chức còn chung chung chưa cụ thể, chưa gắn với kết quả thực hiện
nghiệm vụ của cán bộ, công chức nên việc xem xét, đánh giá để bố trí, sử
dụng và đãi ngộ đối với công chức còn nhiều bất hợp lý.
Việc lựa chọn cán bộ vào các vị trí quan trọng, đứng đầu
vẫn tiếp tục còn thiếu dân chủ, công khai, minh bạch. Việc sử lý các vi phạm
đạo đức cán bộ chưa nghiêm, chưa đồng bộ; công tác giáo dục chính trị, tư
20
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
tưởng chậm đổi mới, nội dung và phương pháp lạc hậu, thiếu tính thuyết
phục.
Cơ chế quản lý, sử dụng và chế độ chính sách đối với cán bộ,
công chức còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo được động lực để khuyến khích
đội ngũ cán bộ, công chức đề cao trách nhiệm, phấn đấu rèn luyện nâng cao
phẩm chất năng lực công tác. Quy chế thưởng, phạt còn thiếu minh bạch, cụ
thể, chậm đổi mới và thực hiện chưa nghiêm. Bên cạnh đó chưa có biến
pháp hữu hiệu (kịp thời và kiên quyết) xử lý số cán bộ, công chức thoái hoá,
biến chất, tham nhũng, hối hộ, chạy quyền, chạy chức, vi phạm chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Chưa xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn chung và chậm cụ thể
hoá tiêu chuẩn cho từng chức danh cán bộ, công chức hoặc nếu có thì còn
mang tính hình thức, không phản ánh đúng thực chất yêu cầu về trình độ,
năng lực đối với từng vị trí công tác của cán bộ, công chức. Quyền hạn và
trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị trong việc quản lý
cán bộ, công chức chưa được xác định rõ về mặt thể chế.
III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC.
1. Phương hướng:
Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu ra vai trò,
phương hướng nhiệm vụ của công tác cán bộ: “Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ
các khâu: đánh giá, quy hạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây
dựng và thực hiện chính sách cán bộ. Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch,
khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm
thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ….
21
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng
nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt người
trong Đảng hoặc người ngoài Đảng”(1).
Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, trình
độ và phẩm chất, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế,
Bộ trưởng Nội vụ cho biết, tới đây sẽ thực hiện xác định rõ vị trí, cơ cấu và
tiêu chuẩn chức danh, công chức trong từng cơ quan của nhà nước để làm
căn cứ tuyển dụng và bố trí sử dụng.
Bên cạnh đó, làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy
hoạch cán bộ, công chức; thông qua việc đánh giá, phân loại cán bộ, công
chức, xác định rõ những người đủ và không đủ tiêu chuẩn. Có chính sách
thích hợp và kiên quyết thực hiện đối với những người không đủ tiêu chuẩn
phải đưa ra khỏi bộ máy.
Bộ trưởng Nội vụ cũng khẳng định sẽ đổi mới chế độ đào tạo,
tuyển dụng và quản lý cán bộ, công chức. Tuyển dụng cán bộ, công chức
phải căn cứ vào nhu cầu, vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công
chức. Khắc phục tình trạng vào cơ quan nhà nước rồi mới đưa đi đào tạo và
chủ yếu là đào tạo tại chức.
Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng cán bộ, công chức, thực hiện việc
tuyển dụng công chức hành chính thông qua thi cử công khai và chọn dùng
người tài giỏi. Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội cạnh tranh như nhau,
qua thi cử mà chọn nhân tài cho bộ máy nhà nước. Xác định các hình thức,
nội dung thi tuyển thích hợp với đặc điểm, yêu cầu cụ thể của từng loại cán
bộ, công chức và phù hợp với tình hình đất nước. Xây dựng cơ chế thi tuyển
đảm bảo tính dân chủ, công khai, cạnh tranh, chọn đúng người tài, đức vào
bộ máy nhà nước.
22
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
1. V¨n kiÖn §¹i héi X - §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam, Nxb ChÝnh trÞ quèc
gia, Hµ Néi-2006, Tr. 295-296.
Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí về đánh giá, phân loại cán
bộ công chức phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Đặc
biệt, áp dụng thực hiện thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo gắn với
chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính nhà nước và các đơn vị sự
nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức:
bảo đảm sự phù hợp giữa các thuộc tính của cán bộ, công chức cả về trí thức, năng
lực và phẩm chất với yêu cầu của công vụ (chức danh) mà họ đảm nhận. Hướng
giải quyết việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức trước hết, tất cả các cơ
quan Nhà nước kể cả các cơ quan quản lý hành chính tới các cơ quan hành chính sự
nghiệp phải đánh giá nghiêm túc sự phù hợp giữa yêu cầu của các chức danh theo
tiêu chuẩn đã định với phẩm chất và năng lực thực tế của mỗi cán bộ, công chức
của cơ quan mình.
Bố trí cán bộ, công chức phải đúng tiêu chuẩn, phù hợp
với sở trưởng. Đồng thời cần chú ý cả yếu tố khách quan và chủ quan.
Khách quan là: các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, chủ quan là thuộc về
những phẩm chất, năng lực, cá tính, ham muốn phù hợp với công vụ.
Trong sử dụng cán bộ, công chức, đề bạt, cất nhắc phải
đúng lúc, đúng người, đúng việc.
Trọng dụng người có đức, có tài kể cả những người là
đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và những người chưa phải đảng viên
nhưng là người có tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể cao.
Kết hợp một cách hài hoà giữa đóng góp của công chức
và chế độ vật chất mà họ được hưởng nhất là tiền lương và các nhu cầu khác
gắn với đời sống của công chức như vấn đề nhà ở và phương tiện đi lại.
23
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
tuyển dụng, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyển dụng,
sử dụng và quản lý cán bộ, công chức cần tập trung quán triệt một số giải
pháp sau đây:
* Trong công tác tuyển dụng:
Trước hết: Phải thực hiện thật nghiêm túc các hình thức
đánh giá, quy hạch, phải xây dựng các tiêu chuẩn nghiêm ngắt, rõ ràng và
thủ tục minh bạch trong thi tuyển để nâng cao chất lượng người được tuyển
dụng. Xác định hệ thống các tiêu chí để tuyển dụng công chức dựa vào 3 căn
cứ chủ yếu: hiểu biết (kiến thức đo đếm được tại thời điểm tuyển dụng), biết
cách làm (khả năng hành động và phát triển trong tiến trình nghề nghiệp hay
để thực hiện những chức năng khác), biết cách đối xử (hành vi xã hội, tính
thích nghi với môi trường xã hội, hội nhập vào nhóm, tập thể và khả năng
lãnh đạo). Đồng thời kiên quyết loại trừ các hiện tượng tiêu cực (như đưa
người thân quen, chạy chỗ, chạy chức…) tạo cho nền công vụ có sức thu hút
những cá nhân có tài năng; xử lý kịp thời và nghiêm minh hành vi sai phạm
của người làm công tác tuyển dụng lẫn người đang muốn được tuyển dụng.
Thứ hai: Phải thông báo công khai, tiêu chuẩn rõ ràng như đã
nêu trong các văn bản, cố gắng tránh tình trạng công tác cán bộ chỉ phụ
thuộc vào một số ít người.
Thứ ba: Để tuyển dụng được người tài ngoài những tiêu chuẩn
chung cũng cần có chế độ ưu đãi. Tiêu chuẩn tuyển dụng cán bộ, công chức
không hề “khuôn” lại ở tiêu chuẩn chỉ tuyển lựa bằng chính quy.
Thứ tư: Tuyển dụng cán bộ, công chức phải căn cứ vào nhu cầu,
vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn, khắc phục tình trạng vào cơ quan nhà nước rồi
mới đưa đi đào tạo và chủ yếu là đào tạo tại chức.
24
Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Thứ năm: Yêu cầu phải điều chỉnh chính sách tiền lương, chế
độ đãi ngộ, đủ sức thu hút những người có tài, tạo cơ chế để thay thế những
người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi bộ máy Đảng và Nhà nước.
* Trong công tác sử dụng:
Sử dụng cán bộ, công chức xuất phát từ nhiều yếu tố,
nhưng có hai điều quan trọng nhất. Đó là sử dụng công chức xuất phát từ
yêu cầu của công vụ và xuất phát từ điều kiện nhân lực cụ thể. Phương
hướng sử dụng chủ yếu dựa vào những định hướng có tính nguyên tắc dưới
đầy:
Một là: Sử dụng cán bộ, công chức phải có tiền đề là quy
hoạch.
Hai là: Sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu. Mục tiêu của
hoạt động quản lý dẫn đến mục tiêu sử dụng cán bộ, công chức.
Ba là: Bổ nhiệm cán bộ, công chức phải trên cơ sở xây
dựng cơ cấu nhân sự của tổ chức đó.
Bốn là: Bổ nhiệm cán bộ, công chức trên cơ sở sự đòi hỏi
của công vụ và nguồn nhân lực hiện có (để tuyển chọn và bổ nhiệm).
Năm là: Tuân thủ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc vô
tư và công bằng khi thực hiện chính sách sử dụng cán bộ, công chức.
Sáu là: Những định hướng về quy hoạch cán bộ, công
chức, về chiến lược kinh tê, chính trị và những chính sách của Nhà nước là
căn cứ quan trọng để thực hiện chính sách sử dụng cán bộ, công chức.
Bảy là: Sử dụng cán bộ, công chức cần chú ý bảo đảm
cân đối giữa các vị trí trong một cơ quan giữa đội ngũ công chức và đội ngũ
cán bộ Đảng, đoàn thể trong phạm vi các cơ cấu của hệ thống chính trị. Sự
phối hợp này là cần thiết xuất phát từ tính thống nhất của chủ thể trong hệ
thống chính trị của nước Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đ
25