Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

Vũ Hạnh - Nhà lí luận, phê bình xuất sắc trên văn đàn đô thị miền Nam Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (912.04 KB, 115 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ NHUNG

VŨ HẠNH – NHÀ LÍ LUẬN, PHÊ BÌNH XUẤT SẮC
TRÊN VĂN ĐÀN ĐÔ THỊ MIỀN NAM VIỆT NAM
1956 – 1975
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thiện đã
tận tình quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn, Phòng
đào tạo Sau đại học – Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong
những lúc tôi gặp khó khăn.
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em và đặc biệt là chồng con tôi đã
luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập, làm việc và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn


Nguyễn Thị Nhung


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung th c và không tr ng lặp với các đề tài khác. Tôi c ng xin cam đoan rằng mọi
s giúp đỡ cho việc th c hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nhung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề....................................................................................................................4

3. Đối tƣợng nghiên cứu ..................................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................................... 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................................ 6
6. Đóng góp mới của luận văn. .......................................................................................... 7
7. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................................... 8
CHƢƠNG 1. ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, VĂN HÓA, VĂN NGHỆ ĐÔ THỊ MIỀN
NAM VIỆT NAM 1954 – 1975 VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, VĂN NGHỆ
CỦA VŨ HẠNH ................................................................................................................. 9
1.1. Đời sống xã hội, văn hóa, văn nghệ đô thị miền Nam Việt Nam 1954 - 1975 9
1.2. Khái quát chung về hoạt động văn hóa, nghệ thuật của V Hạnh ................. 14
CHƢƠNG 2. VŨ HẠNH - NHÀ LÝ LUẬN MÁC XÍT ............................................. 20
2.1. Khái quát về phƣơng pháp phê bình Mác xít trong văn học Việt Nam. ........ 20

2.2. V Hạnh với công trình lý luận: Tìm hiểu văn nghệ ...................................... 24
2.2.1. Văn nghệ, một hình trạng ý thức ............................................................. 24
2.2.2. Bản chất, chức năng của văn nghệ........................................................... 27
2.2.3. Quan hệ giữa văn nghệ và hiện th c........................................................ 35
2.2.4. Quan niệm về văn nghệ sĩ ........................................................................ 39
2.2.5. Tính dân tộc trong văn nghệ .................................................................... 42
CHƢƠNG 3. VŨ HẠNH VỚI KHUYNH HƢỚNG PHÊ BÌNH TÌM VỀ DÂN
TỘC. .................................................................................................................................... 50
3.1. Truyện Kiều - Đỉnh cao của văn học dân tộc. ................................................ 50
3.1.1. V Hạnh với cách tiếp cận Truyện Kiều đặc sắc và s ra đời của Đọc lại
“Truyện Kiều”. ................................................................................................... 50
3.1.2. Giá trị của Đọc lại “Truyện Kiều” .......................................................... 54


3.1.2.1. Hai nàng Thúy Kiều .......................................................................... 54
3.1.2.2. Đôi mắt nàng Vân, Nàng Kiều. ......................................................... 58
3.1.2.3. Đứa con của nàng Kiều .................................................................... 61
3.1.2.4. Từ Hải, sự lỡ tay của thiên tài. ......................................................... 65
3.1.2.5. Tính chất phi thường trong con người bình thường Thúy Kiều ........ 69
3.1.2.6. Khách viễn phương, người là ai? .................................................... 73
3.1.2.7. Những khuôn mặt tình yêu trong “Truyện Kiều”.............................. 75
3.1.2.8. Trường hợp hai Nguyễn Du trong “Đoạn trường tân thanh”. ......... 78
3.2. Người Việt cao quý - Thức tỉnh tinh thần dân tộc .......................................... 82
3.2.1. Đôi mắt và nụ cƣời của ngƣời Việt. ........................................................ 84
3.2.2. Một căn bản tinh thần quý giá của ngƣời Việt Nam: Óc thiết th c......... 87
3.2.3. Vẻ uyển chuyển và nét tế nhị của ngƣời Việt. ......................................... 89
3.2.4. Ý thức luân lí của ngƣời Việt. ................................................................. 92
3.2.5. Tinh thần bất khuất của ngƣời dân Việt. ................................................. 96
3.3. Khái quát về nghệ thuật phê bình của V Hạnh. ............................................ 99
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 106


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt / Kí hiệu

Cụm từ đầy đủ

GS

Giáo sƣ

Nxb

Nhà xuất bản

PGS.TS

Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ

TP

Thành phố


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

Xã hội đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 chứng kiến rất nhiều biến động
lớn. Với âm mƣu chia cắt đất nƣớc ta lâu dài để th c hiện một xã hội th c dân kiểu
mới, Mỹ đã đổ quân ồ ạt vào miền Nam, cùng với đô la, gái điếm tràn ngập. Miền
Nam quay cuồng trong cơn lốc Mỹ. Tất cả tạo nên một đời sống bất an, hoảng hốt
trong xã hội. Ngƣời ta cảm giác có một s phá sản về tinh thần mà không có cách
nào cứu vãn đƣợc đang hiện hữu và ám ảnh ngày đêm. Mặc d ngƣời Mỹ dùng
nhiều biện pháp, cả kinh tế và chính trị để cố gắng tái ổn định xã hội nhƣng vẫn
không hiệu quả. Những mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc. Đây là lí do
dẫn đến những cuộc đấu tranh đòi t do, cơm áo, đòi dân chủ, dân sinh, dân quyền,
đấu tranh bảo vệ văn hóa dân tộc ngày càng phát triển.
S thay đổi về đời sống chính trị, kinh tế là cơ sở dẫn đến những thay đổi
trong ý thức con ngƣời. Cùng với đời sống kiểu Mỹ thì tâm lí Mỹ, văn hóa Mỹ xuất
hiện khắp mọi nơi. Các ấn phẩm văn hóa phƣơng Tây tràn ngập miền Nam, từ các
biệt th sang trọng cho đến những “mảnh chiếu” vỉa hè. Những triết thuyết khác
hoàn toàn với ý thức hệ truyền thống c ng góp mặt trên những giá sách và trong các
cuộc tranh luận văn chƣơng. Các ấn phẩm hữu hình và vô hình ấy đã ảnh hƣởng sâu
sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ở đô thị miền Nam. Trƣớc th c
trạng đó, những ngƣời có lòng yêu nƣớc, có tinh thần dân tộc, trân trọng vẻ đẹp văn
hóa… không thể khoanh tay đứng nhìn.
Và nhƣ một tất yếu, từ trong đời sống sục sôi của quần chúng, phong trào bảo
vệ văn hóa dân tộc đƣợc hình thành và ngày càng phát triển. Ngày 9/10/1966 tại hội
trƣờng Quốc gia âm nhạc, 112 - Nguyễn Du - Sài Gòn, Ban chấp hành Trung ƣơng
l c lƣợng Bảo vệ văn hóa dân tộc đã chính thức ra mắt “ trƣớc đông đảo thành phần
các giới đến d …”. L c lƣợng lấy tạp chí (sau đổi thành Nguyệt san) Tin văn làm
cơ quan ngôn luận, do V Hạnh làm Chủ bút. Nội dung, đƣờng lối, phƣơng thức
hoạt động của L c lƣợng hết sức rõ ràng: “Nhấn mạnh đến các phẩm chất tiêu biểu


2


của nền văn hóa Việt Nam, nhiệm vụ cụ thể mà l c lƣợng phải th c hiện, kêu gọi
phát huy một niềm t hào dân tộc chính đáng, d a vào sức mạnh và s t vệ của
giống nòi trong cơn sóng to gió lớn đang đe dọa cuộc đời dân tộc”. L c lƣợng
khẳng định quyết tâm “trên lập trƣờng dân tộc, những gì phù hợp với văn hóa dân
tộc, tất phải đƣợc đón nhận, những gì phá hoại, tất phải đƣợc bài trừ”.
S lớn mạnh của phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc đã ghi nhận s trƣởng
thành của những cây bút nhƣ Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, V Hạnh, Lữ Phƣơng,
Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Ngọc Lƣơng, Nguyễn Văn Xuân, Tô Nguyệt Đình,
Tƣờng Linh, Trần Cao Bằng, Trƣơng Đình Cử, Lê Nhân Phú… Những tên tuổi này
đã có những đóng góp đáng kể vào việc xây d ng một cơ sở lý luận và tạo s ảnh
hƣởng sâu rộng đến tình hình văn học, đồng thời họ đã góp phần không nhỏ vào việc
đấu tranh chống lại khuynh hƣớng văn học đồi trụy, làm sống dậy ngọn lửa đấu tranh
giải phóng dân tộc ở các đô thị miền Nam. Phong trào Bảo vệ văn hóa Dân tộc th c
s trở thành một làn sóng văn hóa thâm nhập vào đời sống xã hội và ảnh hƣởng đến
các sáng tác văn chƣơng. Trong đó, V Hạnh chính là cái tên sáng giá nhất.
V Hạnh (tên thật là Nguyễn Đức D ng) sinh năm 1926, tại Quảng Nam.
Ông vừa là nhà văn, nhà báo, vừa là nghiên cứu, phê bình văn học. Ngƣời ta biết
đến V Hạnh không chỉ với các bút danh nhƣ Cô Phƣơng Thảo, Nguyên Phú, Minh
Hữu, Hoàng Thanh Kỳ,... làm việc không mệt mỏi trên lĩnh v c văn học nghệ thuật,
mà còn biết đến ông nhƣ một nhà cách mạng giàu lòng yêu nƣớc, d ng cảm, khôn
khéo, hoạt động trong lòng địch.
Vốn sinh trƣởng trong một gia đình trí thức Nho học, từ nhỏ V Hạnh đã say
mê văn học. Trong thời gian ra Huế học tập, ông đã từng có thơ đăng trên báo Sông
Hương khi mới 18 tuổi. Trƣớc Cách mạng tháng 8 - 1945, V Hạnh đã từng hoạt
động trong phong trào Việt Minh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, từ 1946 - 1954,
ông vừa hoạt động nghệ thuật phục vụ cách mạng vừa dạy học tại quê nhà (Trƣờng
trung học Thăng Bình).
Sau ngày hòa bình lập lại 1954, ông không tập kết ra Bắc mà ở lại quê nhà
hoạt động. Năm 1955, ông bị chính quyền Mỹ Diệm bắt giam. Giữa năm 1956, ông



3

đƣợc trả t do. V Hạnh vào Sài Gòn và hoạt động rất hăng hái trên mặt trận văn
học, nghệ thuật và báo chí. Năm 1960, ông gia nhập Mặt trận Dân tộc và Giải
phóng miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn này, ông đƣợc giao nhiệm vụ hoạt
động công khai đấu tranh chống văn hóa nô dịch, đồi trụy của địch ở vùng Sài Gòn
- Gia Định. Trong 10 năm hoạt động, V Hạnh đã bị bắt giam năm lần, nhƣng ông
vẫn luôn giữ vững tinh thần, mƣu trí, d ng cảm, kiên trì trong đấu tranh vì mục tiêu
cách mạng. Ông từng đƣợc bầu làm Chủ bút tạp chí Tin Văn, cơ quan ngôn luận của
L c lƣợng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc. Tờ báo đã đƣợc các tầng lớp thanh niên học
sinh, sinh viên đón chào nhiệt liệt. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông
đƣợc bầu làm Tổng thƣ ký Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình đấu tranh gian khổ ấy, V Hạnh không chỉ nổi tiếng với
những sáng tác nhƣ Người chủ tiệm, Một giấc chiêm bao, Thưa biết rồi ạ! (kịch),
Vượt thác (truyện ngắn, 1963), Lửa rừng (Tiểu thuyết, 1966), Con chó hào hùng
(truyện, 1973), Cô gái Xà Niêng (truyện, 1973), Những người còn lại (truyện,
1974),… mà ông còn nổi tiếng với các tiểu luận Đọc lại “Truyện Kiều” (1960), Tìm
hiểu văn nghệ (1970), Người Việt cao quý (1965, bút hiệu A. Pazzi, nghĩa là bất di
bất dịch, không thay đổi lập trƣờng)…
V Hạnh thật s là một tên tuổi đặc biệt. Trong những cuộc đối thoại văn
chƣơng, trong s tranh luận về văn hóa dân tộc, trong việc điểm xuyết công trình có
giá trị, nhà văn xuất hiện với một s cần mẫn và gan dạ hiếm có. Chính điều đó làm
cho đời sống văn nghệ miền Nam có thêm một sức sống mới. Sau bao nhiêu ồn ào,
ngƣời ta lại đƣợc nhìn thấy ở trong nhà văn này một chính kiến, một tƣ thế tiếp cận
nghệ thuật ở một tầm cao văn hóa.
V Hạnh – nhà văn, nhà lí luận phê bình xuất sắc trên văn đàn đô thị miền
Nam Việt Nam, kinh nghiệm hơn 50 năm cầm bút sáng tác và phê bình của ông rất
nên và cần đƣợc tìm hiểu, học tập và vận dụng vào việc giảng dạy ở trƣờng phổ
thông c ng nhƣ cho việc nghiên cứu lí luận văn học của chính chúng ta.



4

2. Lịch sử vấn đề
Giở lại sách báo tiếng Việt trong hơn nửa thế kỉ nay, thấy đã xuất hiện không
ít công trình nghiên cứu, phê bình, giới thiệu toàn diện và từng mặt con ngƣời và s
nghiệp văn chƣơng V Hạnh.
Nhà phê bình Trần Hoài Anh trong cuốn Lí luận - phê bình văn học ở đô thị
miền Nam 1954 – 1975 đã nghiên cứu một cách toàn diện, phong phú, khoa học về
một mảng khá quan trọng của văn học miền Nam trƣớc 1975. Trong đó, nhà nghiên
cứu c ng đã có bài viết về nhà văn V Hạnh với tiêu đề: “V Hạnh – nhà lí luận phê
bình văn học tiêu biểu ở miền Nam”. Với bài viết này, Trần Hoài Anh đã có những
nhận xét trung th c, chính xác về lí luận phê bình của V Hạnh, tuy nhiên bài viết
vẫn còn khá giản đơn và ngắn gọn.
PGS.TS Đoàn Trọng Huy c ng đã nói đến V Hạnh qua bài viết: “V Hạnh
với cách đọc Truyện Kiều đặc sắc”, nhà nghiên cứu đã cho thấy những đóng góp
của V Hạnh khi nghiên cứu Truyện Kiều, cách tiếp cận Truyện Kiều khá độc đáo
của V Hạnh, đó là cách đọc đặc sắc có tính chất hiện đại đầy hiểu biết thấu đáo,
cảm thông sâu sắc và trân trọng kiệt tác của thi hào với tƣ cách ngƣời đồng sáng
tạo, đã đem đến cho bạn đọc hôm nay một tiểu luận văn chƣơng có giá trị. Nhà
nghiên cứu c ng đã khái quát các đặc điểm trong cách đọc của V Hạnh theo từng
chƣơng trong tiểu luận Đọc lại Truyện Kiều của V Hạnh. Tuy nhiên, nó chƣa đƣợc
nghiên cứu một cách bài bản, công phu.
Ngoài ra có rất nhiều bài viết nói về nhà nghiên cứu V Hạnh, phải kể đến
nhƣ: nhà báo Nguyễn Đắc Xuân có bài Vũ Hạnh, nhà văn phản kháng thời chống
Mĩ ở miền Nam Việt Nam, Ngô Ngọc Ng Long có bài Nhà văn Vũ Hạnh - nửa thế
kỉ “bút chẳng tà”, Trạc Tuyền có bài Nhà văn Vũ Hạnh - Chiến sĩ bảo vệ văn hóa
dân tộc bằng “bút máu”... Tuy nhiên, những bài đánh giá này thƣờng rất khái quát,
chƣa nghiên cứu chi tiết và cụ thể về lí luận, phê bình của V Hạnh. Bên cạnh đó,

c ng có một số luận văn Thạc sĩ viết về V Hạnh nhƣng ở các góc độ khác nhƣ:
sáng tác hoặc nghiên cứu. Ngày 5/10/2015, Hội đồng lí luận phê bình văn học nghệ
thuật thành phố Hồ Chí Minh và Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tọa


5

đàm khoa học nhân dịp nhà văn V Hạnh sinh nhật 90 tuổi và ra mắt Tuyển tập Vũ
Hạnh - Đời văn, chiến sĩ do Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành. Tác phẩm là
tổng hợp những bài tham luận của những nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về s
nghiệp văn chƣơng của V Hạnh. C ng trong lễ mừng thọ nhà văn V Hạnh tròn 90
tuổi, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh đã gửi tặng ông một bài thơ đƣợc lồng trong
khung kính, nghe nói của một hội viên nữ viết:
Sông nước mênh mông nhắc nhớ ngày Vượt thác
Bút máu chưa khô tim vẫn rực Lửa rừng
Chín mươi mùa xuân - Một chặng đường bút mực
Chất ngọc dâng đời giá trị sống của cha ông
Chính bởi thế, ngày hôm nay, trên đƣờng tìm lại những giá trị văn học của
dân tộc, ta không thể không nhắc đến V Hạnh. Th c hiện đề tài này, luận văn
hƣớng tới các mục đích sau:
- Trƣớc hết là để hiểu và tổng kết một cách toàn diện các thành t u văn học
của V Hạnh về tất cả các mặt lý luận, phê bình.
- Qua nghiên cứu s nghiệp văn học của V Hạnh, chúng tôi có điều kiện để
hiểu rõ hơn về Phong trào Bảo vệ Văn hóa Dân tộc nói riêng và văn học ở đô thị
miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 nói chung.
- Hiện nay, chúng ta đang xây d ng một nền văn học tiên tiến, hiện đại thì việc
nghiên cứu về V Hạnh đặc biệt về mặt tiểu luận - phê bình không những có ý
nghĩa với lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học mà phần nào còn có ý nghĩa đối với
việc sáng tác và giảng dạy văn học ở phổ thông và đại học hiện nay.
3. Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tƣợng của luận văn là những công trình lý luận, nghiên cứu, phê bình, của
V Hạnh.
3.1. Sách báo hữu quan về lí luận văn học của Vũ Hạnh
- Tìm hiểu văn nghệ, Trí Đăng xuất bản, Sài Gòn, năm 1970 (bản sử dụng
nghiên cứu); Các bài trong Tìm hiểu văn nghệ xuất hiện lần đầu là Chín điểm trong
văn nghệ, Tạp chí Tin Văn, Sài Gòn, năm 1966, các số 1, 2, 4, 5, 11.


6

- Người Việt cao quý, Nxb. M i Cà Mau, năm 1999.
3.2. Sách báo nghiên cứu văn học của Vũ Hạnh
- Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1, 2, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2015.
- Đọc lại “Truyện Kiều” do Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nxb.Văn học ấn
hành năm 2015.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Th c hiện đề tài này, luận văn hƣớng tới giải quyết các nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu các vấn đề về lí luận, phê bình văn học, chúng tôi khái quát s
nghiệp của tác giả và xác định những đặc sắc trong tiểu luận phê bình của ông.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở
cho hoạt động nghiên cứu. Việc đánh giá tác giả V Hạnh thuộc khuynh hƣớng văn
học yêu nƣớc ở đô thị miền Nam trong dòng chảy chung của văn học dân tộc sẽ
đƣợc nhìn nhận một cách toàn diện. Xác định nhƣ vậy, chúng tôi sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
5.1. Phương pháp lịch sử - xã hội
Đây là một phƣơng pháp nghiên cứu vừa có tính th c tiễn vừa có giá trị
phƣơng pháp luận. S hình thành phát triển văn học của V Hạnh chịu tác động sâu
sắc của những biến cố lịch sử. Nghiên cứu các hiện tƣợng văn học ở trong quá khứ,
nhất là văn học đô thị miền Nam 1954-1975 nếu không đứng trên quan điểm lịch sử

thì chúng ta rất dễ sa vào tƣ tƣởng phiến diện, lạc hậu. Cho nên, coi trọng quan
điểm lịch sử c ng là để chúng ta đảm bảo nguyên tắc nhận thức đối tƣợng theo
hƣớng khoa học, hiện đại. Đánh giá toàn diện nền văn học quá khứ trên quan điểm
lịch sử sẽ tạo điều kiện cho chúng ta có cái nhìn biện chứng và đầy đủ nhất về lí
luận - phê bình văn học của V Hạnh trong hệ tƣ tƣởng văn nghệ ở miền Nam
1954-1975.
5.2. Phương pháp hệ thống
Văn học miền Nam và văn nghiệp của V Hạnh là một hệ thống gồm nhiều
phƣơng diện, nhiều yếu tố có mối liên hệ phức tạp và luôn biến động. S nghiệp văn


7

học của V Hạnh c ng bao gồm nhiều bộ phận: Lí luận, phê bình, nghiên cứu và sáng
tác văn học. Các bộ phận ấy không độc lập mà lại hoàn toàn có thể đƣợc chia thành
những yếu tố nhỏ hơn nhƣ phê bình văn học lại có thể tách thành phê bình truyện,
thơ, kịch; hoặc nghiên cứu văn học có thể chia thành nghiên cứu văn học cổ điển và
văn học đầu thế kỷ. Cho nên, việc hệ thống hóa lại những quan điểm và tƣ tƣởng
thẩm mĩ sẽ là một công việc vô c ng ý nghĩa đối với ngƣời nghiên cứu nói riêng và
đối với việc định vị giá trị của văn học miền Nam nói chung.
5.3. Phương pháp văn hóa học
Đây là một phƣơng pháp quan trọng mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu
dòng văn học này. Văn hóa là một lĩnh v c vô cùng rộng lớn và đặt lí luận - phê
bình văn học của V Hạnh trong bối cảnh văn hóa - xã hội miền Nam có một ý
nghĩa vô c ng quan trọng. Phƣơng pháp này sẽ cho chúng ta thấy s phát triển của
văn hóa tƣ tƣởng trong s tiếp biến và ảnh hƣởng, trong s đa tạp và thừa hƣởng
của các hệ tƣ tƣởng chính thống và phi chính thống, trong s phồn tạp của các kiểu
phong tục, các kiểu lối sống, các kiểu diễn xƣớng văn hóa… tất cả sẽ đƣợc nhìn
nhận trong s sinh động vốn có của nó.
Tuy nhiên, việc xác định phƣơng pháp nghiên cứu văn hóa học còn có một ý

nghĩa lớn là xác định chính chân th c và tính chất dân tộc của văn hóa văn nghệ
miền Nam trên quan điểm và những giá trị dân tộc - hiện đại.
5.4. Các thao tác phân tích, so sánh, phân loại, tổng hợp
Phân tích là một thao tác cơ bản của khoa nghiên cứu văn học. Những vấn đề
văn học sử và lý luận văn học sẽ thiếu sáng tỏ nếu không đƣợc phân tích cụ thể. So
sánh, phân loại… c ng vậy. Nhà văn V Hạnh là một tác giả lớn và đa dạng nên khi
nghiên cứu cần phải có s phân tích, đối chiếu,… thì mới thấy hết những nét tiêu
biểu độc đáo của tác giả.
6. Đóng góp mới của luận văn
Khi nghiên cứu về V Hạnh trên mặt tiểu luận phê bình, luận văn có những
đóng góp sau:


8

- Khái quát và hệ thống lại những đóng góp về phê bình văn học từ nội dung
đến phong cách của V Hạnh.
- Phân tích nội dung và giá trị trong việc nghiên cứu di sản văn học cổ điển và
văn học thế kỷ XX của V Hạnh.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng
chính:
Chƣơng 1: Đời sống xã hội, văn hóa, văn nghệ đô thị miền Nam Việt Nam
1954 - 1975 và hoạt động văn hóa, văn nghệ của V Hạnh
Chƣơng 2: V Hạnh – nhà lí luận Macxit
Chƣơng 3: V Hạnh với khuynh hƣớng phê bình tìm về dân tộc


9


Chƣơng 1
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, VĂN HÓA, VĂN NGHỆ ĐÔ THỊ MIỀN NAM
VIỆT NAM 1954 – 1975 VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, VĂN NGHỆ
CỦA VŨ HẠNH
1.1. Đời sống xã hội, văn hóa, văn nghệ đô thị miền Nam Việt Nam 1954 - 1975
Khi đặt bút kí kết hiệp định Giơ - ne - vơ ngày 20/7/1954, có lẽ những bên liên
quan đến chiến tranh Đông Dƣơng lần thứ nhất chỉ tiên liệu và hình dung phần nào
những hậu quả và hệ lụy hiệp định này gây ra cho số phận các dân tộc ở Việt Nam,
Lào và Campuchia. Đối với Việt Nam, trƣớc hết đó là việc phân chia lãnh thổ toàn
vẹn của nƣớc ta thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời, trong khi
chờ đợi cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất đất nƣớc d định diễn ra hai năm sau đó.
Tác động tr c tiếp của việc này là 14 vạn ngƣời miền Nam và miền Trung từng
tham gia kháng chiến chống Pháp đi tập kết ra miền Bắc để bảo toàn l c lƣợng;
đồng thời gần một triệu ngƣời miền Bắc di cƣ vào miền Nam để “tị nạn cộng sản”.
Cuộc sống ngƣời dân từ vĩ tuyến 17 trở vào chứng kiến những xáo trộn và biến
động to lớn, từ cơ cấu dân cƣ, các thành phần kinh tế, chế độ chính trị, đến sinh hoạt
văn hóa, văn nghệ. Ảnh hƣởng tr c tiếp và bao tr m là cuộc chiến tranh ngày càng
lan rộng và khốc liệt diễn ra ở nông thôn, rừng núi và kéo dần đến thành thị.
Trải qua một vài năm yên ổn ban đầu, chính quyền Ngô Đình Diệm đƣợc
chính phủ Hoa Kì khuyến khích và ủng hộ qua viện trợ kinh tế và v khí, vấp phải
s kháng c và phong trào cách mạng sau thời gian tạm lắng. Đƣờng Hồ Chí Minh
đƣợc xây d ng từ tháng 5 - 1959, nhƣ một huyết mạch làm phƣơng kế lâu dài cho
s nghiệp thống nhất đất nƣớc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam đƣợc thành
lập ngày 20/12/1960. Kể từ đó về mặt danh nghĩa, trên lãnh thổ miền Nam tồn tại
hai th c thể chính trị và điều này đƣợc tái khẳng định bằng s ra đời của Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày 6/6/1969. Hội nghị Paris
bốn bên dẫn đến việc kí kết hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ngày
27/1/1973 xác nhận bốn phía có liên quan và đầy đủ tƣ cách pháp lí: Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kì và miền Nam Cộng hòa.



10

Xã hội miền Nam 1954 - 1975 đã chứng kiến những xung đột giữa khát vọng
hòa bình, độc lập, thống nhất của đồng bào với s can thiệp của Mỹ, những mâu
thuẫn ngay trong nội bộ các thế l c cầm quyền, đồng thời với s phân hóa trong lòng
quần chúng, giữa các tầng lớp giàu có và nghèo khổ, giữa các tín đồ của những tôn
giáo khác nhau. Cuộc chiến tranh làm suy kiệt đất nƣớc, nhất là v ng nông thôn và
rừng núi, nhƣng c ng là cơ hội cho một số ngƣời ở thành thị thủ lợi nhờ mối quan hệ
với kẻ có chức quyền. Trong khi một bộ phận nông dân bị đốt cháy nhà cửa, mất
ruộng mất vƣờn phải trôi dạt, sống tạm bợ ở phố thị để bảo toàn mạng sống, thì chính
ở thành thị diễn ra tình trạng nghèo khổ, thất nghiệp của ngƣời lao động.
Thái độ đối với chiến tranh đã thành hòn đá tảng trong lập trƣờng chính trị của
các thành phần xã hội ở miền Nam. Một bên là lập trƣờng chống Cộng và kéo dài
chiến tranh để bảo vệ thế giới t do và những thế l c cầm quyền và các đảng phái
theo chủ nghĩa quốc gia. Một bên đối lập là lập trƣờng hòa bình, đòi chấm dứt chiến
tranh, kêu gọi hòa giải và hòa hợp dân tộc để tránh thảm họa diệt chủng của nhiều
phong trào quần chúng.
Hai mƣơi năm chiến tranh đã tàn phá bao làng mạc, ruộng vƣờn, phố thị trên
đất nƣớc ta, giết hại hàng triệu ngƣời Việt Nam ở cả hai miền để lại những bi kịch
sâu sắc trong lòng dân tộc, gây chia rẽ trong nhiều gia đình và nỗi đau trong lòng.
Cuộc biến thiên xã hội trong cơn tao loạn kéo theo những giằng xé trong tâm hồn và
chỗ rung động nhất của văn chƣơng vẫn là tiếng kêu, tiếng khóc về thân phận con
ngƣời trong chiến tranh. Đằng sau những s kiện chiến tranh và s phân hóa trong
xã hội là những đau khổ chất chồng của dân tộc Việt Nam và những vết thƣơng khó
lành trong trái tim ngƣời Việt. Chiến tranh là chủ đề tập trung và xuyên suốt trên
báo chí và văn học Việt Nam những năm tháng đó. Trong lò lửa chiến tranh thân
phận con ngƣời nhƣ con sâu cái kiến, bị đƣa đẩy, trôi dạt trong guồng máy bạo l c,
dẫn đến cái chết thảm khốc với tất cả s phi lý.
Nhằm kiểm soát thông tin và định hƣớng dƣ luận để không “làm hoang mang

dân chúng và ảnh hƣởng đến tinh thần chiến đấu của quân đội”, chính quyền Việt
Nam Cộng hòa đã thiết lập một hệ thống kiểm soát báo chí và xuất bản khắc nghiệt.


11

Trong hoàn cảnh khó khăn nhƣ vậy, những nhà văn, nhà báo và những ngƣời
làm xuất bản ở miền Nam vẫn giữ tinh thần liên đới giữa những ngƣời đồng nghiệp.
Bằng nhiều cách khác nhau, họ biểu thị s phản đối trƣớc việc chính quyền xâm
phạm quyền t do diễn đạt ý kiến và phổ biến tác phẩm của nhà văn. D không
c ng quan điểm chính trị và khuynh hƣớng nghệ thuật, ngày 5/3/1969, 100 nhà văn
(gồm giới sáng tác, dịch thuật, biên khảo, phê bình…) đã ký dƣới kiến nghị “yêu
cầu nhà cầm quyền cấp bách bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản” bởi
vì theo họ “s cấm đoán, bƣng bít không bao giờ giải quyết đƣợc một vấn đề mà chỉ
làm cho vấn đề ấy trầm trọng thêm tới một mức tai hại nhất; hơn thế, trong một chế
độ không có t do ngôn luận, trƣớc con mắt nghi kỵ của nhân dân và của công luận
thế giới, những điều nhà nƣớc chính thức công bố lúc đó chỉ còn xuất hiện nhƣ là
những lời lẽ tuyên truyền, bịa đặt mà thôi”. Trung tâm Văn bút Việt Nam c ng ra
kháng nghị 6/8/1969: “c c l c phản đối Bộ Thông tin” và “khẩn thiết yêu cầu Bộ
Thông tin c ng nhƣ tất cả các cơ quan công quyền t

hậu không d ng những biện

pháp hành chính để đe dọa s t do tƣ tƣởng và sáng tạo của những ngƣời cầm bút”.
Mặc d Sở kiểm duyệt, sau đổi tên là Sở phối hợp nghệ thuật, làm việc rất
mẫn cán, nhƣng nhiều tác phẩm mang nội dung phản đối chiến tranh và phản kháng
xã hội vẫn tìm cách xuất hiện, đồng thời với những tờ báo đƣợc ấn hành bí mật,
nhân danh quyền t do xuất bản và t do báo chí đƣợc ghi tại điều 12 Hiến pháp
1967. Sách xuất bản bất hợp pháp dƣới hình thức in roneo chỉ vài trăm bản, nhƣng
có tiếng vang. Một hiện tƣợng thú vị khác là sách không đề tên nhà xuất bản mà ghi

là “tác giả ấn hành”, thƣờng không có giấy phép vì không qua khâu kiểm duyệt.
Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, xuất hiện những ấn phẩm t cấp phép cho
mình bằng cách nhân danh điều 11 Hiệp định Paris kí ngày 27/1/1973, là điều
khoản quy định “bảo đảm các quyền t do dân chủ của nhân dân: t do cá nhân, t
do ngôn luận, t do báo chí…”.
Có thể nói trong đời sống văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 từng diễn
ra s mâu thuẫn và đan cài giữa văn học dân tộc và văn học ngoại lai, văn học chính
thống và văn học phản kháng, văn học truyền thống và văn học cách tân, văn học
tinh hoa và văn học đại chúng.


12

Mặc d vừa có s kế thừa, vừa có s đứt đoạn với văn học Việt Nam trƣớc
1945, nhƣng nhìn chung văn học miền Nam tiếp nối con đƣờng hiện đại hóa văn
học bị bỏ dở vì cuộc kháng chiến chống Pháp. Quá trình hiện đại hóa văn học này
không tách rời quá trình hiện đại hóa báo chí và xuất bản.
Về khảo cứu, tinh hoa triết lí Nho, Phật, Đạo đã hình thành cội nguồn tƣ tƣởng
của văn hóa dân tộc tạo nên một làn sóng học thuật cho đời sống tinh thần trong
lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa trƣớc ảnh hƣởng của văn hóa phƣơng Tây. Thành t u
này gắn với những tên tuổi mà một số công trình của họ hiện nay đang đƣợc tái bản:
Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Thích Minh Châu, Nhất Hạnh, Bửu Cầm, Thu Giang
Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng San, Tuệ Sỹ,… Không loại trừ
có một ít học giả hƣớng việc nghiên cứu đó nhằm hạn chế ảnh hƣởng của chủ nghĩa
cộng sản, nhƣng nhìn chung đó là một nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và quảng bá bình
thƣờng trong xã hội. Việc thành lập các phân khoa Phật học, triết học Đông phƣơng
trong các trƣờng Đại học càng làm tăng lên nhu cầu đƣa việc nghiên cứu này đi vào
chiều sâu.
Vẻ đẹp của văn hóa dân tộc không chỉ là đề tài bàn luận của những cây bút
chính luận mà đã đi vào hình tƣợng nghệ thuật. Thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, Đông

Hồ, Mộng Tuyết, Quách Tấn, V Hoàng Chƣơng, Trần Thị Tuệ Mai, Phạm Thiên
Thƣ, Trụ V , Tƣờng Linh… còn giữ tiếng gọi hồn của thơ ca truyền thống, nồng nàn
tình ngƣời, tình nhà, tình quê, tình nƣớc. Văn xuôi giai đoạn này vừa thể hiện tình
cảm thống nhất đất nƣớc, vừa phản ánh phong tục, tập quán, sinh hoạt của một v ng
đất mà nhà văn thông thuộc: miền Bắc (V Bằng, Nhật Tiến, Thế Nguyên, Phan Văn
Tạo…), miền Trung (Nguyễn Văn Xuân, Võ Hồng, V Hạnh, Phan Du, Nguyễn
Mộng Giác…), miền Nam (Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam…). Những đặc điểm thiên
nhiên, con ngƣời, lối sống ở nông thôn chƣa bị đô thị hóa đƣợc lƣu dấu trong hình
ảnh những làng mạc hẻo lánh miền Trung hay những v ng quê sông nƣớc miền Nam.
Văn xuôi không chỉ phản ánh nếp sống bên ngoài mà cả sức mạnh tinh thần qua hình
tƣợng những ngƣời nông dân trọng nghĩa, giàu lòng hi sinh, có ý thức kháng c sức
mạnh tha hóa của đồng tiền. Các nhà văn không chỉ làm chứng cho s băng rã của xã
hội mà còn làm chứng cho s hồi sinh của văn hóa và con ngƣời.


13

Về vấn đề hiện đại hóa nghệ thuật, so với văn học 1930 - 1945, sáng tác văn
học đô thị miền Nam c ng có những đóng góp đáng ghi nhận trên các thể loại: thơ,
truyện ngắn, tiểu thuyết, t y bút. Tƣ tƣởng văn nghệ hiện đại phƣơng Tây đƣợc
phân tích và giới thiệu cặn kẽ trên các trang tạp chí trƣớc khi đƣợc tập hợp để xuất
bản thành sách đã có ảnh hƣởng nhất định đến các nhà văn.
Ngôn ngữ văn chƣơng thời này c ng có những thay đổi: ngôn ngữ trau chuốt,
tinh tế của văn xuôi miền Bắc tồn tại song song và trong s tác động qua lại với
ngôn ngữ bộc tr c, sống động của văn xuôi miền Nam. Những phong cách nghệ
thuật đa dạng, từ bác học đến bình dân, từ văn chƣơng hoa mĩ đến khẩu ngữ, từ hiện
đại đến truyền thống… c ng hiện diện trong một địa bàn văn học luôn sôi nổi với
những hiện tƣợng mới. Ảnh hƣởng của báo chí đối với văn học c ng làm cho ngôn
ngữ trong tác phẩm linh hoạt hơn, đồng thời dễ dãi hơn.
Trong 20 năm chiến tranh, hoàn cảnh của những nhà văn miền Nam là một

hoàn cảnh c c đoan, đòi hỏi s chọn l a. Đó không chỉ là chọn l a con đƣờng văn
học mà còn là chọn l a con đƣờng sống, lẽ sống. S đổi mới trong nghiên cứu, đánh
giá, giảng dạy văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX cho chúng ta những bài học
quý có thể vận dụng vào việc ứng xử với những hiện tƣợng văn học ra đời ở miền
Nam những năm 1954 - 1975 trong một hoàn cảnh đen tối về chính trị mà ngày nay
nhìn lại, từ góc độ hiện đại hóa và hội nhập, cần rất nhiều tinh thần khoan hòa và
dung hợp trong đối thoại văn hóa.
Văn hóa dân tộc thời kì nào c ng có những giá trị, nhiều ẩn khuất dƣới bề mặt
của những hiện tƣợng xô bồ, phức tạp. Với tinh thần khách quan, công bằng, ngƣời
làm xuất bản và nghiên cứu cần chọn lọc, khai thác những thành t u quá khứ trong
bối cảnh mới của đời sống văn hóa. Giới trí thức sáng tạo thời nào c ng có những
biểu tƣợng cho tinh thần dân tộc, cho tinh hoa văn hóa và ngôn ngữ dân tộc. Trƣớc
những hoàn cảnh nghiệt ngã của lịch sử, có thể có những hiện tƣợng chao đảo, ngả
nghiêng. Nhƣng cội rễ của văn hóa dân tộc luôn ăn sâu vào mọi tâm hồn Việt Nam.
Chính nhờ thế mà dân tộc ta mới trƣờng tồn và thống nhất nhƣ ngày hôm nay. Tình
yêu đất nƣớc, tình yêu con ngƣời, tình yêu đối với văn hóa dân tộc, đối với tiếng
Việt là một thƣớc đo để thẩm định những giá trị tinh thần trong quá khứ.


14

1.2. Khái quát chung về hoạt động văn hóa, nghệ thuật của Vũ Hạnh
Trong suốt chiều dài lịch sử ba mƣơi năm đấu tranh (1945 - 1975), nhân dân ta
dƣới s lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành hai cuộc kháng chiến
thần thánh đánh thắng hai kẻ th xâm lƣợc h ng mạnh nhất là Pháp và Mỹ, giữ
vững nền độc lập thống nhất Tổ quốc, làm nên bản anh h ng ca oanh liệt nhất của
dân tộc Việt Nam thế kỉ XX.
C ng góp sức vào chiến công lịch sử vĩ đại đó của dân tộc, không thể không
nhắc đến l c lƣợng văn nghệ sĩ ở khắp ba miền đất nƣớc. Họ đã rời bỏ “tháp ngà”
nghệ thuật vị nghệ thuật với chủ nghĩa lãng mạn tiêu c c cá nhân dƣới chế độ thuộc

địa th c dân Pháp, hƣởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc sau Cách mạng
tháng Tám thành công, t nguyện đứng vào hàng ng cách mạng, d ng ngòi bút, lời
ca tiếng hát của mình làm v khí đánh lại kẻ th xâm lƣợc hung bạo và xảo quyệt
nhất. Trong hai cuộc kháng chiến, nhiều văn nghệ sĩ đã bị địch giết hại, bắt bớ, tra
tấn, t đày nhƣ bao chiến sĩ cách mạng khác hoạt động trong v ng địch hậu, đô thị
bị tạm chiếm,nhất là thời kì chống Mỹ ác liệt ở miền Nam. Trừ một số ít cầu an, dao
động, phản bội đầu hàng cam chịu thân phận làm bồi bút cho đế quốc Mỹ và bè l
tay sai bán nƣớc, đa số văn nghệ sĩ vẫn giữ đƣợc phẩm chất chính trị, khí tiết của kẻ
sĩ, không chịu bẻ cong ngòi bút trƣớc cƣờng quyền bạo l c của kẻ th , và theo lối
nói ngƣời xƣa là “Không vì năm đấu gạo mà còng lƣng xuống”.
Bằng lòng yêu nƣớc và t hào dân tộc, bằng niềm tin vào thắng lợi của cuộc
đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nƣớc dƣới s lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn nghệ sĩ đã c ng với toàn thể nhân dân
ta đấu tranh không mệt mỏi cho cuộc chiến chính nghĩa vì quyền sống của con
ngƣời, đƣợc cả thế giới tiến bộ đồng tình ủng hộ. Cuộc đấu tranh đó đã giành thắng
lợi cuối c ng, d phải trải qua nhiều hi sinh, gian khổ. Đó là niềm tin sắt đá không
lay chuyển nổi, đã giúp họ đứng vững trên trận tuyến văn hóa, đối đầu với kẻ địch
suốt ba mƣơi năm cho đến khi lá cờ Tổ quốc tung bay trên nóc Dinh Độc Lập trƣa
ngày 30/4/1975 lịch sử.


15

Trong số văn nghệ sĩ tr c tiếp đối đầu với bè l Mỹ và chính quyền Sài Gòn thời
ấy có một gƣơng mặt nổi bật là nhà văn V Hạnh. Ông là một trong số ít ngƣời hoạt
động c ng thời còn sống ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, và d tuổi cao sức yếu
vẫn tiếp tục công việc sáng tác - công việc đã từng gắn bó với ông hơn nửa thế kỉ.
V Hạnh sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, giàu có và yêu
nƣớc. Nền tảng văn hóa ấy đã sớm hun đúc trong ông niềm say mê cầm bút và tinh
thần phản kháng th c dân cƣớp nƣớc. Điều ấy càng đƣợc tiếp lửa thêm khi ông tr c

tiếp theo học những ngƣời thầy tài năng và nhân cách lớn nhƣ Cao Xuân Huy, Chế
Lan Viên, Hoài Thanh, Tôn Quang Phiệt, Đoàn Phú Tứ,…
Sau khi từ Đà Nẵng ra Huế học thi đậu tú tài 1 thì Nhật đảo chính Pháp
(9/3/1945), ông bỏ học quay về quê nhà tham gia Mặt trận Việt Minh, thành lập đội
võ trang tuyên truyền, tiến tới Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính
quyền. Quân Pháp tái xâm lƣợc, ông lập đoàn kịch kháng chiến và làm công tác
giáo dục ở v ng t do Liên khu 5.
Hiệp định Giơ - ne - vơ đƣợc kí kết năm 1954, ông lại trở lại quê hƣơng tham
gia đấu tranh đòi hiệp thƣơng thống nhất đất nƣớc. Bị địch bắt giam năm 1955, vì tổ
chức biểu tình đòi hiệp thƣơng thống nhất đất nƣớc. Năm 1956, ông thoát khỏi nhà
tù vào Sài Gòn chọn báo chí làm phƣơng tiện để tiếp tục đấu tranh. Từ đây, V
Hạnh đã d ng cây bút và con chữ làm v khí, ông trở thành chiến sĩ tiên phong trên
mặt trận văn hóa trong cuộc đấu tranh vừa mềm dẻo vừa quyết liệt giữa lòng đối
phƣơng. Ông chọn tạp chí Bách khoa làm mảnh đất chính cho công việc cầm bút, kí
dƣới các truyện là V Hạnh. Từ năm 1956 - 1975, cộng tác với tờ báo này, ông đã
lần lƣợt vào t năm lần.
Năm 1959, ông viết kịch - truyện Người nữ tỳ để nói đến lớp trí thức tôi đòi
phục vụ cho chế độ bất công, bạo tàn và vì quyền lợi, ảo vọng hay vì sợ hãi – họ đã
từ chối cái nguồn gốc th c của mình để mà sống chết cho chế độ ấy. C ng năm ấy,
ông viết Cái Tết giữa rừng, kể lại câu chuyện tình cờ đƣợc nghe từ nhỏ hai cha con
đi lạc trong núi rừng sâu, đang khi bóng ngả về chiều, giữa lúc lo sợ, hoang mang
bỗng gặp một bãi phân ngƣời, vui mừng cảm thấy sắp đƣợc cứu thoát vì đã có phân
ắt hẳn có ngƣời. Ngƣời ta gọi ông là Macxim Gorki của Việt Nam.


16

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời, lúc đó ông lấy bút
danh là Hoàng Thanh Kỳ viết tiểu thuyết Lửa rừng hay Truyện nàng Y – Kla để nói
lên tinh thần bất khuất của các dân tộc đoàn kết chống bọn xâm lƣợc và giành thắng

lợi cuối c ng.
C ng vào năm này, ông gia nhập Trung tâm Văn bút, một tổ chức có hệ thống
quốc tế, từ những ngày đầu mới thành lập ở Sài Gòn để mƣợn diễn đàn của hội này
mà đấu tranh văn hóa. Từ đó ông đã diễn thuyết rất nhiều chủ đề trên văn đàn nhƣ
Cái hậu trong tác phẩm văn chương, Trường hợp hai Nguyễn Du trong “Đoạn
trường tân thanh”.
Ông c ng giữ một vai trò cốt cán trong Hội đồng Bảo vệ thanh thiếu nhi và
tham gia vào Hội bạn trẻ Việt Nam mà tờ Hồn trẻ là cơ quan ngôn luận. Các tổ chức
này đều nhằm chống các biểu hiện lai căng, nô dịch và suy đồi trong đời sống tinh
thần của giới trẻ.
Từ 1961 - 1966, ông lấy bút danh là Hoàng Thiên Lý và viết các truyện nhƣ
Bốn bể anh hùng, Anh hùng mặt sắt, Nữ hiệp kén chồng, Kiếm đao ba thước, Giang
hồ ngàn năm.
Năm 1965, khi Hoa Kì đổ quân ồ ạt vào Miền Nam, ông đã lấy bút danh là A.
Pazzi để viết tiểu luận Người Việt cao quý (một năm sau, trong một lần tái bản, tác
giả sửa lại thành Người Việt kỳ diệu) để đề cao tinh thần dân tộc và gián tiếp chống
Mỹ. Trong lời t a cuốn Người Việt cao quý (Nxb. M i Cà Mau in năm 2001), nhà
văn V Hạnh viết: “Tôi muốn t khẳng định với chính mình là lòng yêu quý dân
tộc, luôn luôn bất di bất dịch, nên bèn chọn Pazzi (phát âm gần với chữ bất di)”.
C ng năm 1965, hƣởng ứng miền Bắc kỉ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du,
ông gom lại các bài viết về Truyện Kiều để in thành sách, gọi là Đọc lại “Truyện
Kiều”. Tác phẩm là những lí giải d a trên tình yêu thƣơng dân tộc, đề cao chủ nghĩa
nhân đạo và những nét đẹp văn hóa của cha ông với một quan điểm tiến bộ và kĩ
thuật viết thâm hậu.
Năm 1965, ông viết Chín điểm trong văn nghệ tức là Tìm hiểu văn nghệ in
trên tờ Tin văn để phổ biến các quan điểm sáng tác của cách mạng và phê phán


17


những hiện tƣợng tiêu c c trong văn học công khai. Tác phẩm đã đặt ra câu hỏi:
“trở về với văn hóa dân tộc trên mặt trận văn hóa nhƣ thế nào” trong bối cảnh đất
nƣớc bị xâm lăng, văn hóa bị lai căng, mất gốc, những giá trị truyền thống bị chà
đạp, là một tác động sâu sắc về tƣ tƣởng đối với giới văn nghệ và trí thức thời đó.
C ng trên tờ Tin văn ông viết truyện dài Lối xóm phản ánh đời sống xã hội bị tha
hóa nặng nề từ khi Mĩ kéo quân sang.
Năm 1971, ông viết truyện dài Cô gái Xà Niêng có nội dung: “các đô thị - bấy
giờ - c ng là chốn rừng già u uất cuộc sống bản năng và những con ngƣời luôn bị
lôi kéo trở về cuộc sống thú vật”[9, 32-33].
C ng vào năm 1971, ông viết Con người Sài Gòn nói nhằm phát huy những
giá trị truyền thống tốt đẹp nơi con ngƣời để góp thêm phần kích động cho s vƣơn
lên của đô thị này.
Sau đó ông bị bắt lần thứ tƣ, đến khi đƣợc trả t do, ông nhận đƣợc chỉ thị của
Khu ủy là viết chống chủ trƣơng bán công hóa các trƣờng tƣ thục mà địch có thể
ban hành. Ông đã viết một phóng s khá dài với tiêu đề Trường tư hai mặt đăng
trên nhật báo Dân chủ và truyện vừa Ngôi trường đi xuống để nói lên s suy đồi của
nền giáo dục đƣơng thời.
Vào khoảng năm 1971, trƣớc ý đồ của Mỹ là Việt Nam hóa chiến tranh, ngụy
quyền lại cho phát động phong trào Về nguồn gọi là quay về với những giá trị
truyền thống của dân tộc. Nhớ lại 5 năm trƣớc đó, chính quyền Sài Gòn đã tìm cách
tấn công Lực lượng bảo vệ Văn hóa Dân tộc ông mƣợn diễn đàn Trung tâm Văn Bút
để nhằm vạch rõ tính cách giả hiệu của phong trào đó. Bài thuyết trình Văn hóa và
mạo hóa ngày 25/7/1971 đƣợc đăng trên tờ Bách Khoa số 350 và 351. Trong thời
gian này, ông dịch hồi kí Chuyện đời tôi của Charlie Chaplin nhằm góp thêm tiếng
nói chống Mỹ.
Với những hoạt động mà V Hạnh đã làm, cấp lãnh đạo Khu ủy đã nhận xét
về suốt quá trình công tác của ông là: “Trên lĩnh v c đấu tranh văn hóa nội thành,
đã tích c c th c hiện tất cả chủ trƣơng cách mạng đề ra trong thời chống Mĩ và chỉ
có mỗi khuyết điểm là đã làm trên yêu cầu của Đảng” [9, 36].



18

D ng cây bút và con chữ làm v khí, ông trở thành chiến sĩ tiên phong trên
mặt trận văn hóa trong cuộc đấu tranh vừa mềm dẻo vừa quyết liệt giữa lòng đối
phƣơng. Hai mƣơi năm đơn phƣơng tả xung hữu đột, ông đã năm lần vào t ra
khám, c ng gia đình vƣợt qua nhiều hoàn cảnh cơ c c, hiểm nguy thập tử nhất sinh.
Và c ng trong hai mƣơi năm ấy, bút danh V Hạnh do ông chọn từ tên của một
bạn t đồng hƣơng yêu nƣớc mà mình quý trọng ở Hội An, đã trở thành một cái tên
lừng lẫy của làng văn làng báo Sài Gòn nhƣ một biểu tƣợng của tinh thần yêu nƣớc,
bảo vệ văn hóa dân tộc. Ngoài ra, vì nhiều lí do ông còn lấy các bút danh khác: Cô
Phƣơng Thảo, Hoàng Thanh Kỳ, Nguyên Phủ, Minh Hữu, và đặc biệt là A. Pazzi, cái
tên ngƣời Ý đầy giai thoại gắn liền với tác phẩm nổi tiếng: Người Việt cao quý.
Không phải bây giờ mà từ khi đất nƣớc mới thống nhất, nhà văn V Hạnh đã
đƣợc nhìn nhận là một trong số ít những ngôi sao sáng nhất của dòng văn học yêu
nƣớc đô thị miền Nam trƣớc 1975. Ông c ng từng đƣợc giao nhiều trọng trách: Chủ
bút L c lƣợng bảo vệ văn hóa dân tộc từ năm 1966, Tổng thƣ kí Hội Văn nghệ TP.
Hồ Chí Minh sau ngày đất nƣớc thống nhất, Ủy viên Hội đồng Lí luận phê bình văn
học nghệ thuật Trung ƣơng... Ông đã đƣợc trao tặng Giải thƣởng Nhà nƣớc về Văn
học nghệ thuật năm 2007 c ng nhiều giải thƣởng cao quý khác.
Nhà văn Trần Thanh Giao cho biết: khi đất nƣớc còn bị chia cắt, ngay sau
truyện Bút máu của nhà văn V Hạnh đƣợc in ở miền Nam thì báo Thống Nhất ở
miền Bắc đã đăng tải lại, gây chấn động dƣ luận và có tác động lớn đến các tầng lớp
thanh niên lên đƣờng ra tiền tuyến. Sau này về Nam, có dịp làm việc chung và gần
gi với tác giả Bút máu, ông nhận thấy nhà văn V Hạnh là con ngƣời có lập trƣờng
kiên định, luôn vững vàng trƣớc mọi sóng gió thời cuộc.
Nhà phê bình Mai Quốc Liên c ng cho biết, ông đọc những tác phẩm của nhà
văn V Hạnh khi công tác ở Viện Văn học, chuyển từ Sài Gòn qua đƣờng hàng
không đến Hồng Kông rồi về Hà Nội. Giới trí thức miền Bắc bấy giờ rất quý trọng
những ngƣời cầm bút chiến đấu ngay trong lòng đối phƣơng nhƣ nhà văn V Hạnh.

Ngay sau ngày miền Nam giải phóng, khi gặp nhau tại Hà Nội, GS. Hoàng Nhƣ Mai
đã ôm lấy nhà văn V Hạnh và khóc. Những giọt nƣớc mắt cảm động ấy nói lên
nhiều điều!


19

Nhìn lại s nghiệp phong phú và sôi động, nhất là qua những trƣớc tác của
ông, cho thấy V Hạnh không chỉ là nhà văn mà còn là nhà hoạt động văn hóa và xã
hội tiêu biểu, với tài năng và nhân cách đáng để những thế hệ đi sau học tập. Ông
suốt đời chung thủy với con đƣờng lý tƣởng mà mình đã chọn: Yêu nƣớc, thƣơng
dân, sẵn sàng dấn thân vì lẽ phải và s công bằng. Không thể nói hết đƣợc s
nghiệp hơn sáu mƣơi năm của một nhà văn yêu nƣớc đã chọn văn học làm v khí
đấu tranh, không thể kể hết những đoạn trƣờng của một chiến sỹ cách mạng hoạt
động âm thầm trong lòng địch suốt mấy mƣơi năm và năm lần bị đày đọa trong t ,
không thể liệt kê phân tích đầy đủ những giá trị tiềm tàng trong khối tác phẩm đồ sộ
thuộc nhiều thể loại của ông. Tác giả Dƣơng Linh đã viết: “Ngƣời đọc ghi nhận
chính cuộc đời đầy sóng gió thăng trầm, vào t ra tội, chịu thiệt thòi nhiều thứ, V
Hạnh vẫn luôn đồng hành c ng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trƣớc kia, công
cuộc đổi mới xây d ng đất nƣớc hiện nay, vẫn là một V Hạnh thể hiện một nhân
cách sống, một con ngƣời t nguyện hiến dâng cả cuộc đời mình cho s nghiệp văn
chƣơng với ý nghĩa cao đẹp nhất của ngƣời cầm bút”[19, 10]. Ở tuổi chín mƣơi, nhà
văn V Hạnh là một nhân chứng sống quý hiếm của lịch sử hào h ng và bi thƣơng
của dân tộc.


×