Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

BÀI TIỂU LUẬN (GIỮA kì)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (194.06 KB, 31 trang )

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 3
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN, QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tiểu luận học phần: Phương pháp Nghiên cứu khoa học
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trúc

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2016


2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 3
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN, QUẬN 5,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành viên nghiên cứu: 1. Nguyễn Thị Thanh Trúc

MSSV: K40.901.249

2. Nguyễn Thị Ngọc Mai

MSSV: K40.901.119



3. Huỳnh Thị Kim Huệ

MSSV: K40.901.077

4. Nguyễn Thị Ngọc

MSSV: K40.901.144

Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Nguyễn Thị Ly Kha
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2016


3

Lời cảm ơn
Để có được bài tiểu luận hoàn chỉnh như thế này, suốt thời gian từ khi bắt đầu
thực hiện, nhóm nghiên cứu đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của
giảng viên hướng dẫn, quý thầy, cô, bạn bè cùng các em học sinh trường Tiểu học
Trần Quốc Toản, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, nhóm nghiên cứu xin được gởi lời cảm ơn đến
PGS. TS Nguyễn Thị Ly Kha - giảng viên trực tiếp hướng dẫn nhóm nghiên cứu thực
hiện đề tài này - đã cung cấp kiến thức một cách hoàn chỉnh, đầy đủ, giúp nhóm có cơ
sở kiến thức, biện pháp thực hiện bài nghiên cứu.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu học Trần
Quốc Toản đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhóm nghiên cứu thực hiện các khảo sát
tại trường. Chúng tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các thầy, cô, cùng các em học sinh
lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản đã giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo, giúp chúng tôi
hoàn thành các phiếu khảo sát, phỏng vấn, cung cấp thông tin chân thực, khách quan,
nhờ vậy, nhóm nghiên cứu mới có được những số liệu quý giá, góp phần hoàn thành

bài tiểu luận này.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng bài tiểu luận này chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý
của thầy cô và các bạn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Tp.HCM, ngày 18 tháng 4 năm 2016
Nhóm nghiên cứu


4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn.................................................................................................................3
Phần I. Tổng quan......................................................................................................6
Lí do chọn đề tài............................................................................................6
Lịch sử nghiên cứu vấn đề.............................................................................7
Khách thể và đối tượng nghiên cứu...............................................................8
3.1. Khách thể nghiên cứu.............................................................................8
3.2. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................8
4. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................8
4.1. Địa bàn nghiên cứu.................................................................................8
4.2. Phạm vi thực nghiệm..............................................................................8
4.3. Giới hạn nghiên cứu...............................................................................8
5. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................9
6. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................9
7. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................9
8. Nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................9

9. Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................10
10. Dự kiến đóng góp........................................................................................10
11. Bố cục..........................................................................................................11
1.
2.
3.

Phần II. Nội dung....................................................................................................12
Chương 1. Cơ sở khoa học.................................................................................12
Cơ sở lí luận.....................................................................................12
1.1.1.
Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy học chính tả ..................12
1.1.2.
Cơ sở tâm lí của việc dạy học chính tả................................13
1.2.
Cơ sở thực tiễn..................................................................................15
1.2.1.
Chính tả tiếng Việt..............................................................15
1.2.2.
Phương pháp dạy chính tả ở Tiểu học.................................15
1.1.

Chương 2. Nội dung...........................................................................................16
2.1.

Thực trạng của việc dạy và học Chính tả ở Tiểu học........................16


5


Thực trạng việc học chính tả của Học sinh.........................16
Thực trạng việc dạy chính tả của giáo viên.........................17
2.2. Nguyên nhân học sinh mắc lỗi chính tả............................................18
2.2.1.
Do không nắm quy tắc chính tả...........................................18
2.2.2.
Do không nắm được sự tương ứng giữa chữ và nghĩa........19
2.2.3.
Do phát âm không phân biệt...............................................19
2.3. Biện pháp khắc phục.........................................................................20
2.1.1.
2.1.2.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu...........................................................................24
Phần III: Kết luận....................................................................................................25
1. Một số kinh nghiệm dạy chính tả..................................................................25
2. Kết luận.........................................................................................................26
3. Kiến nghị.......................................................................................................28

Tài liệu tham khảo...................................................................................................30

PHẦN I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Lí do chọn đề tài

Điều 2, Chương I: Những quy định chung của Luật phổ cập giáo dục Tiểu học
được Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kì họp thứ 9,
thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991 đã nhận định “Giáo dục Tiểu học là bậc học nền
tảng của hệ thống giáo dục quốc dân”, nền tảng phải vững chắc thì hệ thống mới chặt
chẽ, bền vững mà phát triển.
Căn cứ vào mục tiêu dạy môn tiếng Việt nói chung và nhiệm vụ chủ yếu nói riêng

của phân môn Chính tả lớp 3, ngoài rèn luyện kĩ năng đọc thông cho học sinh, chúng
ta còn rèn cho học sinh khả năng viết thạo, viết đúng chính tả. Điều đó đòi hỏi giáo


6

viên phải nắm vững vị trí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung chương trình, từ đó xác định
phương pháp giảng dạy phù hợp.
Dạy chính tả là một quá trình lâu dài, được hình thành theo từng giai đoạn, từng
lớp học. Vì vậy, rèn luyện cho học sinh viết đúng chính tả ngay từ những lớp cơ bản
là nhiệm vụ vô cùng cùng quan trọng của giáo viên Tiểu học. bên cạnh việc cung cấp
các lí thuyết về quy tắc viết chính tả cho học sinh, giáo viên cần tổ chức cho học sinh
các giờ học chính tả phù hợp với từng lớp học, từng trình độ của mỗi em
Do vậy, việc nghiên cứu biện pháp để khắc phục lỗi chính tả là một việc làm hết
sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu
môn tiếng Việt ở trường Tiểu học. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã quyết định thực hiện
nghiên cứu về biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp Nhưng vì điều kiện
không gian và thời gian không cho phép, nhóm nghiên cứu chỉ có thể thực hiện
nghiên cứu này ở một số học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5,
thành phố Hồ Chí Minh. Tuy rằng quy mô hạn hẹp nhưng cũng hy vọng góp phần vào
việc nâng cao chất lượng dạy và học chính tả cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần
Quốc Toản nói riêng và toàn thể học sinh lớp 3 cùng địa bàn nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc Tiểu học nhằm thực hiện
mục tiêu của môn học Tiếng Việt là luyện kỹ năng viết chính tả và kỹ năng nghe cho
học sinh, từ đó hoàn thiện kỹ năng sử dụng tiếng Việt nhằm góp phần phát triển tư
duy cho học sinh. Thông qua đó phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh, mở rộng vốn
hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân cách cho các em. Do đó,
dạy tốt chính tả cho học sinh Tiểu học là điều hết sức cần thiết, góp phần hoàn thiện

một trong bốn kĩ năng cơ bản, đó là kĩ năng viết đúng. Vì giai đoạn tiểu học là giai


7

đoạn then chốt trong quá trình hình thành kỹ năng chính tả cho học sinh, do đó, chính
tả được bố trí thành một phân môn độc lập có tiết dạy riêng trong khi bậc Trung học
cơ sở thì không có.
Phân môn chính tả ở chương trình Tiểu học có hai kiểu bài là chính tả đoạn bài và
chính tả âm vần. Nội dung các bài âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có âm,
vần, thanh dễ viết sai chính tả. Thời gian dành cho bài tập âm vần dù là rất ngắn so
với chính tả đoạn bài, song việc rèn kỹ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với
học sinh. Qua các bài tập chính tả âm, vần các em được rèn luyện để tránh việc viết
sai chính tả các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn lộn nhằm đạt mục tiêu môn
học.
Tính chất nổi bật của phân môn chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thể hình thành
các kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập. Do đó, việc dạy lí
thuyết kết hợp song song với thực hành tập viết chính tả là điều hết sức cần thiết và
quan trọng. Trong quá trình dạy và học đó, có không ít giáo viên nhận ra các lỗi sai
trong việc viết chính tả của học sinh, từ đó, giáo viên đào sâu nghiên cứu để tìm ra
biện pháp hữu ích, thích hợp áp dụng cho học sinh của mình. Thiết nghĩ, mỗi một
vùng miền khác nhau, điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, học tập… khác nhau sẽ dẫn
đến những nguyên nhân chủ quan và biểu hiện sai chính tả trong học sinh khác nhau.
Vì lẽ đó, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài này cho một nhóm học sinh lớp 3
trường Tiểu học Trần Quốc Toàn, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra
nguyên nhân viết sai lỗi chính tả ở các em, từ đó đề ra một số biện pháp phù hợp
nhằm áp dụng vào thực tế giúp các em hạn chế viết sai chính tả, nhờ đó nâng cao chất
lượng dạy và học của cả giáo viên và học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu



8

3.1. Khách thể nghiên cứu: các bài tập chính tả ở lớp và ở nhà của học sinh,
giáo án dạy chính tả của giáo viên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: những biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học
sinh lớp 3 trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Địa bàn khảo sát: Các học sinh lớp 3 tại các trường Tiểu học ở quận 5,
TPHCM
4.2. Phạm vi tiến hành thực nghiệm:
- Số lượng đối tượng nghiên cứu: khoảng 100-200 em học sinh lớp 3.
- Thời gian nghiên cứu: 4 tuần, từ cuối tháng 4 năm 2016 đến hết tháng 5
năm 2015
4.3. Giới hạn vấn đề
- Tìm ra các nguyên nhân và các lỗi chính tả thường gặp của HSL3
- Phân loại các lỗi chính tả tìm được
- Nghiên cứu một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả.
5. Mục tiêu nghiên cứu
- Thực hiện các khảo sát, phỏng vấn để nắm được thực trạng của việc dạy và
-

học chính tả của học sinh
Thông qua các khảo sát và phỏng vấn đó, thống kê các số liệu cụ thể, phân
loại số liệu thu thập được, từ đó tìm ra nguyên nhân học sinh mắc lỗi chính

tả và đề xuất biện pháp phù hợp
6. Mục đích nghiên cứu
- Điều tra lỗi chính tả cơ bản thường hay mắc phải của học sinh lớp 3, nguyên
-


nhân của các lỗi đó để tìm ra biện pháp khắc phục
Vận dụng các nguyên tắc dạy học trong phân môn chính tả, hình thành kĩ
năng viết đúng chính tả cho học sinh Tiểu học, giúp các em học tốt phân

môn chính tả, làm nền tảng cho các em học tốt các môn học khác.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đề ra,chúng tôi xây
dựng nhóm phương pháp như sau:


9

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
o Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phiếu phỏng vấn
o Phương pháp quan sát
- Nhóm phương pháp hỗ trợ: thống kê
8. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở xây dựng các phương
-

-

pháp sửa lỗi chính tả
Tổng kết lỗi chính tả của học sinh trường Tiểu học Trần Quốc Toản.
Tìm hiểu những nội dung dạy học chính tả trong chương trình sách tiếng

-


Việt
Xây dựng các biện pháp sửa lỗi chính tả đã đề xuất nhằm kiểm tra tính khả

thi của đề tài
9. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu Nhà trường chú trọng việc tìm hiểu nguyên nhân gây ra các lỗi chính tả mà
học sinh lớp 3 thường hay mắc phải, để từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục phù
hợp thì việc vận dụng các nguyên tắc, biện pháp, phương pháp dạy học về phân môn
chính tả sẽ thuận lợi và giúp cho học sinh khắc phục được các lỗi thường mắc phải,
đồng thời giúp giáo viên đạt hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ năng viết đúng chính
tả cho học sinh.
10. Dự kiến đóng góp
Mỗi một môi trường, điều kiện sống và học tập khác nhau thì kết quả nghiên
cứu sẽ khác nhau, do đó, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu đề tài này ở một
địa điểm là trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5 thành phố Hồ Chí Minh nhằm
thu thập những thông tin chính xác nhất về vấn đề này để từ đó đưa ra các biện pháp
cụ thể, thích hợp nhất. nói như vậy không có nghĩa là bài nghiên cứu chỉ có hiệu quả
khi áp dụng tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản mà những trường lân cận cũng có thể
tham khảo bài biết như một tài liệu tham khảo thêm, giúp người đọc có thêm những
thông tin bổ ích cho vấn đề mình quan tâm.


10

Với mục tiêu, mục đích nghiên cứu đã được trình bày ở trên, bằng cách nêu
trình tự thực trạng, nguyên nhân và hướng xử lí, người đọc sẽ dễ dàng hình dung ra
cách thức, biện pháp áp dụng vấn đề được nghiên cứu vào thực tiễn. Nhóm nghiên
cứu mong rằng bài tiểu luận “Biện pháp khắc phục lỗi chính tả của học sinh lớp 3
trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh” sẽ là một tài liệu
tham khảo có ích cho giáo viên/phụ huynh trong việc khắc phục các lỗi chính tả cho

học sinh/con em mình, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên
và học sinh trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.
11. Bố cục của bài nghiên cứu
Bất kì một môn học nào được giảng dạy tại các trường cũng đều dựa trên một cơ
sở khoa học đáng tin cậy, vì vậy, nhóm nghiên cứu dành chương đầu tiên trong phần
thứ hai (Nội dung) của bài tiểu luận để trình bày cơ sở khoa học của vấn đề cần
nghiên cứu, bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, từ đó, nhóm mới có cơ sở để
thực hiện các bước tiếp theo của bài nghiên cứu này.
Chúng tôi hiểu rằng không thể đề ra biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh
lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh một cách cô
lập mà không có sự nghiên cứu thực trạng của việc dạy và học chính tả của giáo viên
và học sinh tại trường cũng như tìm ra nguyên nhân dẫn đến học sinh mắc lỗi chính
tả. Vì vậy, trước khi đề ra biện pháp cụ thể, nhóm nghiên cứu đã dành một phần để
thực hiện khảo sát thực trạng quá trình dạy và học chính tả của giáo viên và học sinh,
đồng thời thực hiện một số phỏng vấn, quan sát quá trình này ngay tại tiết học chính
tả. Bên cạnh đó, nghiên cứu vấn đề thông qua các bài tập, bài kiểm tra chính tả của
học sinh và giáo án giảng dạy của giáo viên cũng là một biện pháp hay. Do đó, ngoài
phần tổng quan nghiên cứu vấn đề và phần kết luận thì bài tiểu luận bao gồm ba
chương: chương một trình bày cơ sở khoa học, bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực


11

tiễn của vấn đề cần nghiên cứu, dựa trên các cơ sở đó, chương hai trình bày một cách
cụ thể nội dung nghiên cứu của nhóm bao gồm các nội dung (1) Thực trạng việc dạy
và học chính tả ở Tiểu học, bao gồm hai tiểu mục nhỏ lần lượt là thực trạng việc học
chính tả của học sinh và thực trạng việc dạy chính tả của giáo viên; (2) Nguyên nhân
dẫn đến việc học sinh mắc lỗi chính tả và (3) Đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục
việc mắc lỗi chính tả ở học sinh, dựa vào nội dung nghiên cứu và các số liệu thu thập
được khi tiến hành phỏng vấn, quan sát…ở chương hai, chương ba trình bày kết quả

nghiên cứu vấn đề nhằm tổng kết, phân loại các số liệu thu thập được từ đó nêu ra các
ưu điểm hoặc hạn chế của các biện pháp được đề xuất ở chương hai.

PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Dựa vào các yếu tố quan trọng đã xác định ở phần I, phần II trình bài cụ thể nội
dung nghiên cứu của bài Tiểu luận, gồm có ba chương: chương một trình bày cơ sở
khoa học của vấn đề nghiên cứu bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, làm nền
tảng cho chương hai trình bày nội dung nghiên cứu bao gồm thực trạng, nguyên nhân
và giải pháp khắc phục lỗi chính tả, và chương ba tổng kết nội dung nghiên cứu (giả
định) dựa trên nội dung thực nghiệm.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy chính tả

1.1.

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập-âm tiết tính có cấu trúc chặt
chẽ. Trong hệ thống các đơn vị ngữ âm tiếng Việt, âm tiết có vị trí đặc biệt quan trọng.
Âm tiết biểu hiện đầy đủ nhất những đặc điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm. Trên
chữ viết, mỗi âm tiết được ghi thành một khối, tách rời với âm tiết trước và sau nó,


12

điều đó vô tình tạo sự thuận lợi trong quá trình viết chính tả. Nói cách khác, viết đúng
chính tả tức là viết đúng âm tiết. Như vậy, suy rộng ra có thể nói chính tả tiếng Việt về
cơ bản là chính tả ngữ âm. Tuy nhiên, trong thực tế muốn viết đúng chính tả thì việc
hiểu nghĩa của từ cũng rất quan trọng, khi hiểu rõ nghĩa của từ, chúng ta dễ dàng viết
đúng chính tả, đây gọi là nắm được sự tương ứng giữa chữ và nghĩa, do đó, bên cạnh
nhận định chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm thì chính tra tiếng Việt còn là chính tả

ngữ nghĩa.
Dựa vào các đặc điểm nói trên của chính tả tiếng Việt, chương trình sách giáo
khoa Tiểu học đã biên soạn một cách có hệ thống giúp giáo viên giảng dạy tốt phân
môn chính tả, cũng như giúp các em học sinh dễ dàng học tốt môn chính tả, làm nền
tảng cho việc tiếp nhận kiến thức các môn học khác.
1.1.2

Cơ sở tâm lí của việc dạy chính tả

Viết chính tả không chỉ là sự vận động cơ bắp (tay) mà còn là sự vận động của
não người, bởi vì nếu người viết không nắm được các quy tắc viết chính tả cũng như
sự tương ứng giữa chữ và nghĩa hay phát âm không phân biệt thì người viết không thể
viết đúng chính tả. Như đã nhận định ở trên, chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm.
Viết chính tả tiếng Việt chủ yếu là ghi âm âm tiết, thể hiện các thành phần âm vị trong
cấu trúc âm tiết. Khi phát âm âm tiết, thính giác đã ghi nhận chữ cái biểu tượng của
âm tiết được phát ra kèm theo đó là sự ghi nhớ của thị giác về biểu tượng của âm tiết
và cách ghi âm tiết. Như vậy, chỉ cần nằm rõ cấu trúc âm tiết, bảng chữ cái tiếng Việt
và nắm vững các quy tắc chính tả và thường xuyên luyện tập viết đúng chính tả thì
người viết có thể viết đúng chính tả một cách dễ dàng.


13

Như chúng ta đã biết, mục đích của việc dạy chính tả ở Tiểu học là hình thành
cho học sinh năng lực viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo các chuẩn
mực chính tả, nghĩa là giúp học sinh hình thành các kĩ xảo chính tả.
Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả là giúp học sinh viết đúng chínhtả một
cách tự động hoá, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả. Để đạt được
điều này có thể tiến hành theo hai cách: cách có ý thức và cách không có ý thức
• Cách không có ý thức (còn gọi là phương pháp máy móc cơ giới): Chủ


trương dạy chính tả không cần đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả,
không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ
vựng và ngữ pháp của chính tả mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng
trường hợp, từng từ cụ thể: Cách dạy học này tốn nhiều thời gian công
sức, không thúc đẩy được sự phát triển của tư duy chỉ củng cố trí nhớ
máy móc ở một mức độ nhất định.
• Cách có ý thức (còn gọi là phương pháp có ý thức, có tính tự giác): Chủ
trương cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật
chính tả. Trên cơ sở đó tiến hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ
xảo chính tả. Việc hình thành kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức
sẽ tiết kiệm được thời gian công sức. Đó là con đường ngắn nhất và có
hiệu quả cao.
Đối với học sinh Tiểu học, cần vận dụng cả hai cách có ý thức và không có ý
thức. Trong đó:
-

Cách không có ý thức chủ yếu được sử dụng ở các lớp đầu cấp.
Cách có ý thức cần được sử dụng thích hợp ở các lớp cuối cấp của bậc
Tiểu học.


14

Nếu giáo viên có thể kết hợp linh hoạt, khéo léo 2 cách này trong việc dạy
chính tả cho học sinh sẽ mang lại kết quả tốt về kĩ năng viết chính tả cho các em
1.2

Cơ sở thực tiễn của việc dạy học chính tả
1.2.1 Chính tả tiếng Việt


Nếu mục tiêu của môn tiếng Việt ở bậc Tiểu học là hình thành và phát triển ở
học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt thì mục tiêu của phân môn Chính tả là hình
thành và phát triển kĩ năng viết cho học sinh, giúp học sinh nắm vững quy tắc chính
tả, hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả góp phần rèn luyện cho học sinh những thao tác
tư duy cơ bản nhất để học sinh có nền tảng tiếp thu tri thức môn tiếng Việt nói riêng
và các môn khoa học tự nhiên-xã hội khac nói chung. Bên cạnh đó, phân môn Chính
tả còn giúp các em rèn luyện sự kiên nhẫn, cẩn thận, chính xác, góp phần hoàn thiện
nhân cách học sinh.
1.2.2

Phương pháp dạy học chính tả ở Tiểu học

Trong phân môn chính tả, hoạt động dạy học thường sử dụng các phương pháp
dạy học tiếng Việt đặc thù phù hợp với đặc điểm của phân môn này: phân tích ngôn
ngữ, giao tiếp và rèn luyện theo mẫu (theo Phương pháp dạy học chính tả học sinh
Tiểu học- nguồn giaoan.violet.vn). Theo đó,trong giờ học chính tả,học sinh sẽ được
giáo viên cung cấp một số quy tắc chính tả sẽ được học trong tiết học đó, phân tích,
giải thích nghĩ các từ khó(nhằm giúp các em nắm được sự tương ứng giữa chữ và
nghĩa), trao đổi với học sinh về bài viết chính tả và cho học sinh thực hành theo mẫu
viết sẵn, đây là mô típ thường thấy ở các lớp chính tả cơ bản, còn ở những lớp cao
hơn,học sinh sẽ viết chính tả ngay sau khi giáo viên phân tích nghĩa các từ, giúp các
em hình thành kĩ năng viết chính tả cao hơn các lớp nền tảng. giáo viên sẽ chấm bài
viết của các em khi tiết học kết thúc và chỉnh sửa các lỗi viết sai ở giờ học sau. Điều


15

này gây ra sự gián đoạn trong việc ghi nhớ lỗi sai, ảnh hưởng đến hiệu quả việc dạy
và học chính tả của giáo viên và học sinh.

CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Dựa vào các cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đã được trình bày ở chương một,
nhóm nghiên cứu đã thực hiện thực nghiệm việc dạy và học của giáo viên và học sinh
trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh qua các hoạt động
như quan sát,phỏng vấn, khảo sát bằng phiếu hỏi,… và thu được các kết quả sẽ được
trình bày ở chương này bao gồm ba nội dung: thực trạng việc dạy và học của giáo
viên và học sinh; nguyên nhân dẫn đến việc học sinh phạm lỗi chính tả và đề xuất một
số biện pháp khắc phục.
Thực trạng của việc dạy và học chính tả ở Tiểu học
2.1.1.
Thực trạng việc học chính tả của học sinh
Ở lứa tuổi Tiểu học, nhận thức của các em còn mang nặng cảm tính. Các em

2.1.

thường hiếu động, dễ hưng phấn, khó tập trung, chú ý lâu mà hay hướng tới các hoạt
động cụ thể dễ thấy, dể hiểu; các em không thích các hoạt động kéo dài thời gian. Cho
nên trong quá trình học tập các em thường thiếu tính kiên trì, ham chơi, nhiều em còn
cẩu thả, ý thức tự viết chữ chưa cao, kĩ năng viết chưa thành thạo. Qua việc khảo sát
chúng tôi đã tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc các em mắc lỗi chính tả. Nhìn
chung nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả như sau:
- Học sinh phát âm chưa chuẩn dẫn đến học sinh viết sai.
- Học sinh chưa nắm được quy tắc viết chính tả ở một số trường hợp cơ bản:
k/c/qu hoặc ch/tr và r/d/gi,…
- Khả năng phân tích tiếng của học sinh chưa được phát huy ở các lớp dưới.
- Việc nắm nghĩa của từ ở học sinh còn chưa chính xác.


16


- Học sinh còn chủ quan thiếu tính cẩn thận trong khi viết.Viết hoa tuỳ tiện, danh
từ riêng không viết hoa, viết hoa không đúng mẫu. Viết thừa nét thiếu nét, đặt nhầm vị
trí các dấu thanh… Viết sai phụ âm đầu và vần, chữ viết không rõ ràng. Viết không
đúng qui định, khoảng cách các con chữ, không đúng qui trình, kĩ thuật.
- Nhiều em chưa chịu khó, ít rèn luyện và đọc thêm sách báo nên vốn từ ngữ của
các em chưa được mở rộng .
Những nguyên nhân nêu trên dẫn đến giờ học chính tả của các em chưa đạt
hiệu quả.
Thực trạng việc dạy chính tả của giáo viên
Hầu hết các giáo viên nhiệt tình công tác, chịu khó học hỏi việc đổi
mới phương pháp dạy học, thương yêu học sinh, coi trọng việc rèn chữ cho học sinh.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những giáo viên chưa thực sự nhiệt tình tự giác
2.1.2.

bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chưa coi trọng hoạt động rèn chữ viết cho học
sinh dẫn đến tình trạng học sinh viết xấu, viết sai, mắc nhiều lỗi chính tả. Qua các tiết
dự giờ tham khảo, hầu hết các tiết dạy chính tả chưa được giáo viên đầu tư cao mà
chủ yếu dựa vào sách giáo khoa và sách giáo viên là chính. Một số giáo viên chưa
chú ý đến đặc điểm phương ngữ vùng miền đang ở, không xác định rõ các lỗi chính
tả cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm, giáo
viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh nắm các quy tắc, mẹo luật chính tả qua bài
viết hoặc qua bài tập. Bên cạnh đó còn tồn tại một thực trạng là: Nhiều giáo viên
chưa nghiên cứu kĩ về chính tả cho bản thân mình và cho học sinh trong giờ dạy các
môn học khác. Hầu hết giáo viên chỉ phát âm đúng trong giờ tập đọc, chính tả còn
các môn khác phát âm theophương ngữ. Ta vẫn biết rằng việc phát âm không đúng
chuẩn cũng ảnh hưởng rất lớn đến viết chính tả. tóm lại, các hạn chế của việc dạy
chính tả của giáo viên được tóm gọn như sau:


17


+ Chưa coi trọng phương pháp làm gương, vẫn còn giáo viên viết chưa
đẹp, viết sai lỗi chính tả, phát âm chưa chuẩn,viết bảng các môn học khác còn cẩu
thả, không đúng mẫu.
+ Kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết cho học sinh còn hạn
chế mà chủ yếu ở phần môn Tập viết và Chính tả.
+ Chưa coi trọng việc sử dụng đồ dùng dạy học. Hướng dẫn học sinh viết
từ khó không được cụ thể, chi tiết, sợ “cháy giáo án”.
+ Chưa kịp thời phát hiện sửa chữa các sai sót của học sinh nên lâu
ngày tạo thành thói quen xấu trong khi viết.
2.2. Nguyên nhân học sinh mắc lỗi chính tả
2.2.1.
Do không nắm quy tắc chính tả
“So với nhiều ngôn ngữ sử dụng lại hình chính tả ghi âm âm vị, quy tắc
chính tả tiếng Việt không phải là hệ thống quy tắc phức tạp. Nhưng thực tế có
không ít trường hợp phạm lỗi do người viết không nắm đặc điểm và nguyên tắc kết
hợp chữ cái trong chữ viết tiếng Việt, quy tắc ghi dấu thanh. VD: *nghành ngề, “kẻ
kả, *ciên kuyết, * kách mạng, *iêu thương, v.v…
Thuộc nhóm viết sai do không nắm quy tắc còn phải kể đến hai trường
hợp: 1) Viết hoa sai; 2) Phiên âm sai. Vd: xã *Tân thuận tây phường *Hiệp bình
chánh, *Trần bình Trọng, *Nguyễn thị Hà, *hội liên hiệp phụ nữa tỉnh Bình dương,
*Mátxờcờva, *Ông Lê Nin ở nước Nga, …
Việc sửa chữa và cách tránh loại lỗi này không khó: người học cần ghi
nhớ và tuân thủ nguyên tắc, quy tắc chính tả.” (Nguyễn Thị Ly Kha, 2014, trang
17)
2.2.2.

Lỗi do không nắm được sự tương ứng giữa chữ và nghĩa



18

Cũng theo tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (2014),trong tiếng Việt, loại lỗi do
không nắm được sự tương ứng giữa chữ và nghĩa của từ mà nó biểu thị chỉ gặp ở
trường hợp viết các chữ có âm đầu là /z-/. Vd: *dành dật (giành giật), *dàn bí (giàn
bí), *giành giụm (dành dụm), *giằng giặc (dằng dặc), *che dấu (che giấu), *giấu
vết (dấu vết)…
Có thể khắc phục lỗi nhầm lẫn d và gi bằng cách:
- Dùng mẹo “dưỡng dục, giảm giá”; cụ thể là trong từ Hán Việt, nếu

mang thanh ngã hoặc thanh nặng thì viết d, nếu mang thanh sắc hoặc thanh
hỏi thì viết gi. Chẳng hạn: diễu hành, dã man, biểu diễn, dĩ vãng, dũng cảm,
kì diệu, kì dị, dịch thuật, dạ lan, giảng viên, kí giả, miễn giảm, tinh giản, giá
trị, giám sát, can gián, giáng chức,…
- Dùng mẹo âm đệm: gi không đứng trước âm đệm. Vì vậy nếu có âm
đệm thì viết d. Vd: duyên, duy, duềnh,…
- Mẹo dùng từ đồng nghĩa: nếu một trong hai hình thức đó viết bằng tr
thì viết gi, giăng, giầu, giai, giồng, gio, giải, gianh,….
2.2.3.
Lỗi do phát âm không phân biệt
Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (2014, Dùng từ viết câu và soạn thảo văn
bản) Do loại hình chính tả ghi âm, nên ảnh hưởng của biến thể phương ngữ trên
bình diện ngữ âm là một nguyên do quan trọng dẫn đến hiện tượng sai chính tả. Có
thể quy loại lỗi này về hai nhóm sau: viết sau dấu thanh và viết sai chữ ghi các âm.
Như vậy, khi đã tìm và phân loại được các nguyên nhân gây lỗi chính tả
thì việc đề ra biện pháp cụ thể sẽ cho kết quả khả quan hơn
2.3.
-

Biện pháp khắc phục

Ghi nhớ mẹo luật chính tả: Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả
mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính
tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm


19

quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k,gh,ngh chỉ kết hợp với
các nguyên âm i, e, ê, iê, ie. Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho
học sinh một số mẹo luật khác như:
• Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt
đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân,
sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa... sam, sán, sáo, sâu,


sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô...
Luật bổng -trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2
yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng).
Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2
câu thơ:
Em Huyền mang nặng, ngã đau
Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố
đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thìyếu tố đứng sau sẽ mang
thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ:
*Bổng
Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ...
Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ...

Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ r ì
* Trầm:
Huyền + ngã:Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã


20

Nặng + ngã: Nhẹ nhõm,đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,..


Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo...
Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:


Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc:
Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh,
chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, cồng kềnh...



Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang
oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn
rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng
rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng
keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng,
đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập
rình, xập xình, huỳnh huỵch..




Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc
khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeochỉ xuất hiện trong các
từ ngoằn ngoèo, khoèo chân

• Giúp học sinh hiểu ý nghĩa của từ: Khi dạy chính tả giúp học sinh hiểu nghĩa của từ là

rất quan trọng.Các em hiểu nghĩa từ thì sẽ viết đúng. Thông qua các môn học Tập
đọc, Luyện từ và câu. Giáo viên nên giúp các em có vốn từ rất phong phú thông qua
các trò chơi học tập. Ví dụ như nên cho các em tìm những từ theo nội dung bài tập
yêu cầu (theo nhóm). Sau đó cho các em tổng hợp từ vào bảng nhóm theo cột (làm
bộ sưu tập từ) của nhóm cho các em trình bày nhóm nào có nhiều từ hơn và giải


21

nghĩa đúng là nhóm thắng cuộc và được tuyên dương. Sau khi các bạn trình bày học
sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho đội bạn giải nghĩa từ.
- Phân tích, so sánh từ khó: Với cách giải thích, so sánh tỉ mỉ của giáo viên thì

chắc rằng khi viết chính tả ở bất kỳ môn học nào học sinh dần dần có thói quen
viết đúng chính tả. Ở phần lên lớp trong bước hướng dẫn học sinh viết đúng từ
khó, giáo viên nên chú ý giải thích nghĩa của từ và có sự so sánh phân tích kĩ để
học sinh hiểu được nghĩa của từ đã học thì học sinh mới viết đúng từ ấy ở mọi
lúc mọi nơi.
- Đọc mẫu – Hướng dẫn cách viết: Việc đọc đúng, rõ ràng, rành mạch, mạch lạc,

đọc hay, đọc chuẩn của giáo viên là quan trọng nhất. Không những đọc đúng
mà còn phải viết đúng, đẹp, đúng quy cách chữ hiện hành do Bộ Giáo dục quy
định. Trình bày khoa học trong dạy học (nhất là ghi trên bảng lớp vì chữ viết
chính là dụng cụ trực quan hữu hiệu mà các em có thể dựa vào đó để bắt chước,

rèn luyện). Như chúng ta đã biết muốn viết đúng thì phải đọc đúng. Vì vậy khi
hướng dẫn học sinh viết chính tả phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ nhất là khi phân
tích từ khó , tiếng khó. Giáo viên vừa cho học sinh viết vừa đánh vần kết hợp
với đọc để khi các em viết đỡ bị sai.


Hướng dẫn viết chữ đầu câu ta phải viết như thế nào?( Viết hoa chữ cái đầu tiên )
.



Danh từ riêng phải viết như thế nào?( Viết hoa ) .


22



Tùy từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng cho
đúng với quy tắc.



Sau dấu câu phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu câu).



Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào? (Viết thụt vào một ô li chữ đầu
bài và sau khi hết một đoạn so với lề vở).




Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào? Bài thơ có 4,5 tiếng thì các chữ
đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau. (các chữ đầu
dòng thơ phải viết thẳng hàng ) .



Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô li
so với lề vở. Dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế cho đến
hết bài thơ. Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa.



Thông qua phân môn Tập đọc và các môn học khác…..Hoặc giờ ra chơi hằng
ngày Giáo viên hãy gọi một vài em hay mắc lỗi để tìm hiểu nguyên nhân mà các
em sai về từ, chữ, âm, vần thường mắc phải. Cùng trò chuyện trao đổi giúp các
em đọc đúng luyện thanh từ đó sẽ nhớ lâu hơn. Rồi dần dần đọc đúng, đến viết
đúng.
- Chấm chữa bài: Việc chấm chữa bài cho học sinh sau khi viết chính tả cũng

không kém phần quan trọng. Thường giáo viên thu tập chính tả của học sinh để
tự mình chấm. Như vậy giáo viên đã bỏ qua bước quan trọng là cho học sinh tự
sửa lỗi trên vở của mình hoặc của bạn. Giáo viên nên cho học sinh đổi vở cho
nhau để bắt lỗi. Bằng cách này giáo viên vừa giảm bớt thời gian tiết dạy, vừa


23

cho học sinh tiếp xúc với lỗi sai chính tả của mình. Điều đó giúp học sinh

khắc sâu và nhớ lâu hơn những lỗi chính tả mà mình mắc phải.
Tóm lại: Muốn cho học sinh viết đúng chính tả thì ngoài việc nắm vững các quy
tắc chính tả thì việc hiểu nghĩa của từ cũng rất quan trọng. Hiểu được điều này, giáo
viên cần có phương pháp, hình thức dạy học hợp lí để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo viết
chính tả cho các em.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (GIẢ ĐỊNH)
Dựa vào những nội dung đề xuất đã trình bày ở Chương II, kèm theo đó là quá
trình quan sát giờ học chính tả của giáo viên và học sinh, phỏng vấn giáo viên giảng
dạy cũng như phân tích các bài viết chính tả của các em học sinh và giáo án giảng dạy
chính tả của giáo viên, Chương III trình bày các kết quả thu thập được sau khi áp
dụng các biện pháp khắc phục lỗi chính tả đã đề nghị ở trên.
Sau khi áp dụng biện pháp sửa lỗi chính tả, chúng tối đã thu được kết quả và có
được các số liệu như sau
* Kết quả sau khi chấm bài như sau:
Lớp

Sĩ số

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm trung bình Điểm yếu

Trước

sau

Trước


sau

Trước

sau

Trước

sau

3A

35

9

16

15

17

9

6

2

0


3B

37

9

12

11

15

14

9

3

1

3C

34

7

12

14


11

11

11

2

0


24

(đơn vị tính: học sinh)
Qua áp một số biện pháp sửa lỗi chính tả, chúng tôi nhận thấy chất lượng chữ viết
của học sinh được nâng lên rõ rệt, chữ viết của các em đã đúng mẫu, đều nét, rõ ràng,
rất ít em mắc lỗi chính tả. Sự tiến bộ rõ rệt về khả năng viết đúng chính tả của các em
học sinh còn giúp cho kết quả kiểm tra định kỳ của lớp được nâng lên so với kết quả
đầu năm.

PHẦN III. KẾT LUẬN
1. Một số kinh nghiệm giảng dạy môn chính tả ở Tiểu học

Từ thực tiễn việc rèn “Chính tả” trong phân môn Chính tả ở Tiểu học nói chung, ở
khối lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh mà
chúng tôi nghiên cứu nói riêng, chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây:


Giáo viên cần trang bị đầy đủ và nắm chắc hệ thống các quy tắc chính tả,
có khả năng bao quát lớp tốt để kịp thời phát hiện, sửa chữa lỗi sai cho các




em
Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp về phương pháp
dạy môn chính tả, từ đó học hỏi thêm các phương pháp mới. Bản thân
người giáo viên nên có ý thức trong việc tìm tòi, đề xuất những sáng kiến



hay, những phương pháp mới, sáng tạo trong việc dạy học chính tả.
Lấy học sinh làm trung tâm trong giờ học, giảm thời lượng diễn giải và kết
hợp linh hoạt các phương pháp dạy học, giúp học sinh tự giác tìm hiểu,
phân tích. Như vậy các em sẽ có ấn tượng với bài học hơn, khả năng ghi
nhớ chuẩn xác, sâu đậm hơn, từ đó hạn chế việc mắc lỗi chính tả.


25



Việc tìm hiểu đặc điểm tính cách của từng em cũng rất quan trọng, có
những em mạnh dạn phát biểu để hiểu bài hơn, có em lại rụt rè, e ngại.
Hiểu tâm lí học sinh cũng đồng nghĩa với việc giáo viên đã thành công
trong bước đầu động viên các em bộc lộ phần còn yếu kém và kịp thời



chỉnh sửa.
Khuyến khích học sinh viết đúng, viết đẹp, giúp các em hiểu được lợi ích




của việc rèn chữ.
Đặc điểm cấu trúc xương của trẻ tiểu học là đang trong giai đoạn phát
triển, chưa cứng cáp nên việc quan sát, nhắc nhở, chỉnh đốn cho trẻ ngồi



đúng tư thế là vô cùng cần thiết.
Tập cho học sinh có thói quen chuẩn bị bài trước ở nhà. Để làm được điều
này, lượng bài tập rèn chữ, rèn chính tả nên ở mức độ vừa phải, phù hợp




khả năng từng em.
Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Luôn tạo môi trường học tập chính tả tích cực, vui vẻ, hào hứng cho học
sinh bởi khả năng tập trung của các em còn thấp, nhất là các em từ khối
lớp 3 trở xuống, như: thường xuyên khen ngợi, cho điểm tốt, vui vẻ nhiệt
tình, không quát mắng, gây áp lực,…

2. Kết luận

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là công cụ
phản ánh tư duy. Bất kì hệ thống chữ viết nào trên thế giới cũng có các quy định, quy
tắc về chính tả. Việc phát âm chuẩn và viết đúng chính tả sẽ góp phần giữ gìn sự trong
sáng của ngôn ngữ quốc gia.
Chính tả là một phân môn khó đối với các em khối lớp 3 trường Tiểu học Trần

Quốc Toản, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và học sinh tiểu học nói chung.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×