SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THẢO LUẬN
NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 3”
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì giáo dục không ngừng được đổi
mới và lần đổi mới này tôi nghĩ là bước tiến quan trọng trong cải cách giáo dục.
Trong dạy học để học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách linh hoạt sáng tạo thì
người giáo viên phải tìm tòi khám phá ra mọi kĩ năng nhằm giúp cho học sinh đạt
kết quả cao. Tiểu học là bậc học quan trọng, mang tính toàn diện ở tất cả các môn
học. Ngay từ bậc tiểu học, mọi học sinh đều cần và có thể đạt được những trình độ
học vấn phổ thông toàn diện, đồng thời phát triển sở trường, khả năng của mình về
một môn học nào đó nói chung và môn Toán nói riêng.
Chương trình tiểu học hiện nay được xây dựng trên quan điểm tích cực hoá
người học, lấy “ Học sinh làm trung tâm”. Đây thực sự là bước phát triển mới của
khoa học giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
đã được xác định trong các Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) và Nghị quyết
Trung ương 2 (khoá VIII) của Đảng, các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được
thể chế hoá trong Luật Giáo dục và được cụ thể hoá trong Chỉ thị 15 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
Trong Luật Giáo dục (2005), Khoản 2, Điều 27 đã ghi : "Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS ; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học ; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, bồi dưỡng khả năng làm việc theo
nhóm cho học sinh, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
học sinh".
Như vậy, có thể nói tư tưởng và cũng là mục đích của quá trình đổi mới
phương pháp dạy học là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. Tính tích cực
trong hoạt động học tập của học sinh thực chất là tính tích cực nhận thức được đặc
trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức.
Để đạt được mục tiêu trên, hiện nay mỗi chúng ta đang thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học bằng cách áp dụng một số phương pháp và hình thức dạy học
tích cực trong đó có hình thức dạy học theo nhóm và bước đầu đã đạt được những
kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng hình thức dạy học này ở tiểu
học mà nhất là áp dụng cho môn Toán chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn vì hiện tại
chưa có tài liệu cũng như chưa có các biện pháp hữu hiệu trong việc áp dụng hình
thức thảo luận nhóm phù hợp cho từng bộ môn và đối tượng học sinh tiểu học nên
nhìn chung hiệu quả đạt được chưa cao. Khi dạy học theo nhóm giáo viên thường
gặp những khó khăn như sau:
+ Khó kiểm soát được hoạt động học của học sinh và không can thiệp giúp đỡ kịp
thời.
+ Dạy học theo nhóm có thể gây ồn ào trong lớp, khó kiểm soát. Nhiều học sinh
không thích học theo nhóm, vì muốn chứng tỏ khả năng của mình với giáo viên
hơn là với bạn. Trong nhóm có thể có một số học sinh tích cực, một số khác ỷ lại
vào các bạn trong nhóm. Việc phân nhóm khó khăn, mất nhiều thời gian, khó có thể
đánh giá trên kết quả thảo luận của nhóm.
+ So với dạy học đại trà, sự tương tác trực diện thầy – trò dường như bị giảm sút,
nhiều khi thầy không đứng ở vị trí đối diện với trò nên việc kiểm soát hoạt động
của học sinh gặp khó khăn và hệ quả kéo theo là những học sinh không tự giác thực
hiện hoạt động học tập mà không bị thầy “bắt gặp”, những học sinh gặp khó khăn
không được thầy nhận biết khiến cho càng bị chậm tiến bộ.
+ Một số giáo viên chưa đủ năng lực, chưa thích ứng với việc điều chỉnh nội dung
và làm đồ dùng dạy học phù hợp với hoàn cảnh dạy học và trình độ học sinh.
+ Kỹ thuật hỗ trợ để học sinh làm việc nhóm còn hạn chế. Theo quan sát, học sinh
vẫn chưa thực sự biết cách thảo luận trong nhóm. Hầu hết đều theo phương pháp:
nhóm trưởng nêu câu hỏi trong tài liệu, yêu cầu bạn trả lời, sau đó bạn khác nhận
xét đúng sai trước khi chuyển sang câu hỏi khác; chứ hoàn toàn chưa có sự tương
tác diễn ra trong nhóm, có nghĩa là phần trả lời của học sinh sau bổ sung cho học
sinh trước hoặc phải trình bày được suy nghĩ riêng, một quan điểm khác của mình
hay đưa ý kiến tranh cãi với nhóm.
+ Tài liệu thí điểm một số chỗ chưa hợp lí.
+ Thời gian đầu chưa có phân phối chương trình nên giáo viên còn lúng túng.
+ Chuyển đổi từ phương pháp truyền thống sang phương phát học tích cực một
cách đột ngột nên không khỏi gây cho giáo viên, học sinh, phụ huynh tâm lí
hoang mang sợ học sinh không tiếp thu được kiến thức nhất là đối tượng học sinh
trung bình, yếu.
+ Các đơn vị thí điểm khi thực hiện cách tổ chức quản lí bước đầu chưa được bài
bản, việc sinh hoạt chuyên môn áp dụng phương pháp đổi mới còn lúng túng, học sinh
chưa mạnh dạn khi được giao nhiệm vụ tự quản. Cơ sở vật chất ở một số đơn vị chưa
đáp ứng được yêu cầu ( bàn ghế của học sinh chưa thuận lợi cho việc học nhóm, không
gian lớp học chưa phù hợp nên việc trang trí các góc học tập còn nhiều hạn chế,...)
+ Giáo viên phải hết sức linh hoạt, uyển chuyển, làm chủ thời gian cho việc hỗ trợ
từng cá nhân hoặc từng nhóm để không em nào cảm thấy mình không được thầy cô
quan tâm.
+ Dễ lúng túng trong việc điều hành hoạt động giữa các cá nhân; các nhóm học
sinh có nhịp độ học tập chênh lệch nhau.
Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn tiếp tục nghiên cứu một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thảo luận nhóm và vận dụng vào dạy học môn Toán
lớp 3 nhằm gây hứng thú trong học tập cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn đạt hiệu quả cao hơn. Đó là lí do tôi chọn để viết sáng kiến kinh
nghiệm năm học này: "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thảo luận
nhóm trong dạy học môn Toán lớp 3". Tôi đã dự kiến các phương pháp để thực
hiện như sau:
- Phương pháp nghiên cứu đọc tài liệu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại, vấn đáp để trao đổi với học sinh.
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1.Tình hình thực tế của lớp trước đây.
Trước đây khi chưa áp dụng đổi mới phương pháp dạy học, bản thân tôi cũng
như các thầy cô trong khối chỉ dạy theo phương pháp truyền thống: thầy giảng, trò
nghe; trò làm bài sai, thầy sửa.
+ Ưu điểm:
- Phương pháp dạy học truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao.
- HS dễ dàng tiếp cận kiến thức với sự hướng dẫn tận tình của giáo viên.
+ Hạn chế:
- Học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến
thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kĩ năng thực hành của các em.
- Giáo viên là nguồn kiến thức quan trọng mà học sinh tiếp nhận được.Tuy
nhiên, giáo viên chưa hướng học sinh vào hoạt động tập thể, hoạt động chung cả
lớp. Một số học sinh còn tự ti, e ngại , chưa tự tin, mạnh dạn trong các hoạt động
tập thể. Chính vì vậy chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của các em trong
học tập, dẫn đến kết quả học tập của các em không cao, tâm lí chán việc học vì
không bằng bạn bè.
- Nội dung kiến thức chỉ dừng lại ở các câu hỏi, bài tập mà không có sự vận
dụng.
- Nguồn kiến thức các em tiếp cận được rất hạn hẹp.
Qua những năm trực tiếp giảng dạy, bản thân cũng nắm bắt và thấu hiểu được
tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học. Nếu các em được sống trong sự yêu thương, chăm
sóc, quan tâm của gia đình, thầy cô và có một môi trường học tập tốt thì các em sẽ
ham thích, say mê và nỗ lực trong học tập. Điều này có tác động rất lớn đến các em
học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng, giúp các em tự tin hơn trong việc học
của mình. Việc phụ đạo học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng hay nói khác
hơn, để nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của nhà trường, gia
đình mà còn là của toàn xã hội. Vì vậy, đây là động lực để những ai đang làm công
việc “trồng người” luôn cố gắng tìm ra được những tồn tại và nguyên nhân làm cho
chất lượng học sinh đạt chuẩn kiến thức kĩ năng chưa đạt hiệu quả cao. Và từ đó sẽ
có những biện pháp khắc phục phù hợp. Đây cũng chính là mục đích của đề tài này.
Đối với học sinh lớp 3 các em có thể tiếp nhận sự giúp đỡ trong học tập từ
nhiều phía. Trong đó, bạn học với vai trò “ Đôi bạn cùng tiến” đã giúp các em chưa
đạt chuẩn kiến thức kĩ năng giảm bớt phần nào khó khăn trong học tập. Giáo viên
nhiệt tình, thân thiện luôn quan tâm đến từng đối tượng học sinh đặc biệt là học
sinh chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng. Sự quan tâm, phối hợp của Ban giám hiệu
và các đoàn thể trong nhà trường.
* Cách làm hiện nay:
Hiện nay, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, cho phép giáo viên chủ động thời
lượng trong từng phân môn, từng bài học. Vì vậy, việc giúp đỡ các em trên lớp dễ
dàng hơn, chủ động hơn.
Như đã nêu, đối tượng học sinh nhận thức môn Toán có những khác biệt về
khả năng nhận thức, hoàn cảnh gia đình, ... Vì vậy, mỗi dạng đối tượng cần có sự
tác động khác nhau.
Giáo viên có những biện pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm riêng của lớp,
của từng học sinh để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Công việc tiếp theo
là giáo viên có biện pháp để xóa bỏ dần các nguyên nhân đó, nhen nhóm lại lòng tự
tin và hứng thú của học sinh đối với việc học môn Toán.
*Cơ sở pháp lí:
Căn cứ Thông tư số 22/2016/TT – BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 và văn
bản hợp nhất số 03/VBHN - BGDĐT ngày 28 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ
giáo dục và Đào tạo về Ban hành quy định đánh giá học sinh Tiểu học.
Căn cứ vào Quyết định số 14/2007/QĐ – BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm 2007
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy định về Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên tiểu học.
Căn cứ vào công văn số 4323/BGDĐT - GDTH ngày 25 tháng 8 năm 2015 của
Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục tiểu
học năm học 2015 -2016.
Căn cứ vào chỉ thị số 40/2008/CT – BGDĐT về việc phát động phong trào thi
đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực “ trong các trường phổ
thông giai đoạn 2008 – 2013.
Căn cứ vào Công văn số 1919/SGDĐT – GDTH ngày 07 tháng 10 năm
2015của Sở giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục
tiểu học năm học 2015 -2016.
Căn cứ vào hướng dẫn số 842 /PGDĐT – NV ngày 16 tháng 09 năm 2016 của
Phòng giáo dục và Đào tạo quận Bình Thủy về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
Giáo dục tiểu học năm học 2016 -2017.
Căn cứ vào quyết định số 16/QĐ - BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về Chương trình giáo dục phổ thông.
*Cơ sở thực tiễn :
Chúng ta biết rằng dạy học theo nhóm là hình thức dạy học đặt học sinh vào
môi trường học tập tích cực. Trong đó, HS được tổ chức thành các nhóm một cách
thích hợp. Trong nhóm, học sinh được khuyến khích thảo luận và làm việc hợp tác
với nhau. Thông qua hoạt động nhóm, các em được rèn luyện và phát triển kĩ năng
làm việc, kĩ năng giao tiếp, học sinh có điều kiện học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò
trách nhiệm, tính tích cực trên cơ sở làm việc và hợp tác.
Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối
quan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng
lẫn nhau trong học tập. Tổ chức học tập theo nhóm còn giúp các em nhút nhát, khả
năng giao tiếp, diễn đạt kém...có điều kiện được rèn luyện, tập dượt...từ đó khẳng
định bản thân trong môi trường hoạt động nhóm.
Chính vì những lí do trên mà ngay từ đầu năm học, khi tiếp nhận lớp tôi đã
vận dụng linh hoạt hình thức dạy học theo nhóm trong các tiết dạy để giúp học sinh
chiếm lĩnh kiến thức. Thực tế dạy học cho tôi thấy việc thảo luận nhóm của học
sinh lớp mình đạt hiệu quả chưa cao vì những nguyên nhân sau:
- Học sinh chưa có thói quen thảo luận nhóm, việc hình thành nhóm còn
chậm nên chiếm nhiều thời gian của tiết học.
- Ý thức tự giác, tự quản trong mỗi nhóm còn hạn chế. Nhóm trưởng chưa
điều khiển được các bạn trong nhóm tập trung thảo luận tốt. Các thành viên trong
nhóm chưa lắng nghe ý kiến của nhau.
- Trong nhóm nhiều trình độ thì học sinh khá, giỏi làm việc tích cực còn
những học sinh chậm, yếu thì ngại nói, tham gia một cách thụ động, thậm chí có lúc
không làm việc trong nhóm.
Sau khi đã đánh giá đúng thực trạng và tìm ra được nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế trong việc thảo luận nhóm của học sinh, tôi đã tập trung nghiên cứu
kĩ hình thức dạy học theo nhóm, làm rõ vai trò của người giáo viên trong dạy học
theo nhóm nói chung và dạy học theo nhóm trong quá trình giảng dạy môn Toán
nói riêng để giúp học sinh thảo luận nhóm đạt hiệu quả.
2. Nội dung và các giải pháp thực hiện.
2.1. Các dạng hoạt động nhóm để căn cứ vào đó có thể chọn hoạt động
nhóm phù hợp với nội dung bài dạy.
Các hình thức làm việc trong nhóm được thay đổi thường xuyên căn cứ vào
yêu cầu của tài liệu Hướng dẫn học và thiết kế hoạt động của giáo viên.
+ Làm việc cá nhân: Đây là hình thức học sinh tự học độc lập. Ở hình thức
này, học sinh trực tiếp làm việc với tài liệu Hướng dẫn học hoặc cùng với chỉ dẫn
của giáo viên, độc lập suy nghĩ, tính nhẩm, viết, độc lập chọn giải pháp ( chọn câu
trả lời, nêu ý kiến nhận xét, nêu ý tưởng cá nhân, nêu cách làm của mình,…).
Để hình thức dạy học này có hiệu quả và có tác dụng, GV cần lưu ý :
Giao nhiệm vụ học tập vừa sức để HS có thể hoàn thành được ở mức độ nhất
định, qua đó kích thích hứng thú và duy trì quá trình học tập của từng em. Đối với
những học sinh yếu, kém, giáo viên có thể gợi ý bằng lời hoặc dẫn dắt bằng câu hỏi
phụ, tách câu hỏi thành 2,3 ý nhỏ,… nhằm “dễ hóa” nhiệm vụ cần thực hiện. Ví dụ:
Tính nhẩm, thực hành làm vào vở, phiếu bài tập ( giáo viên dẫn dắt, gợi ý)
Theo dõi học sinh làm việc cá nhân và hỗ trợ kịp thời đối với học sinh học
yếu để các em đạt được kết quả nhất định ( ví dụ : làm được một phần của bài tập,
làm đúng hướng nhưng chưa tìm ra kết quả hoặc tìm được kết quả nhưng chưa đầy
đủ…) ; tìm cách đánh giá được kết quả học tập của học sinh để kịp thời động viên
hay uốn nắn ( Ví dụ: Sau khi học sinh làm bài tập, giáo viên cần tạo điều kiện cho
học sinh nêu kết quả để nhận xét, đánh giá, kết hợp hướng đẫn học sinh đối chiếu
với bài đã chữa trên lớp để tự sửa kết quả, nếu sai).
+ Làm việc theo cặp : Đây là hình thức học sinh tự học theo từng cặp với tài
liệu học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trong hình thức này, học sinh được
giáo viên chỉ dẫn thực hiện nhiệm vụ, đổi nhiệm vụ với bạn, đánh giá kết quả của
bạn, báo cáo kết quả học tập của từng cặp. Giáo viên cần lưu ý cách chia nhóm sao
cho không học sinh nào bị lẻ khi hoạt động theo cặp. Nếu không giáo viên phải
cho đan chéo giữa các nhóm để đảm bảo tất cả các HS đều được làm việc. Làm
việc theo cặp rất phù hợp với các công việc như: kiểm tra dữ liệu; giải thích, chia sẻ
thông tin; thực hành kĩ năng giao tiếp cơ bản ( Ví dụ: nghe, đặt câu hỏi, làm rõ một
vấn đề); đóng vai. Đây là quy mô nhóm đặc biệt phù hợp cho việc hợp tác. Làm
theo cặp sẽ giúp các em tự tin, mạnh dạn và tập trung tốt cho công việc nhóm. Quy
mô nhỏ này cũng là nền tảng cho sự chia sẻ và hợp tác trong nhóm lớn hơn sau này.
+ Làm việc theo nhóm : Trong các giờ học luôn có các hoạt động cả nhóm
cùng hợp tác ( ví dụ: sau khi học sinh tự đọc cá nhân một đề toán, trưởng nhóm sẽ
dẫn dắt các bạn trao đổi về một số vấn đề của bài toán). Đây là hình thức học sinh
tự học theo từng nhóm từ 3 đến 5 em với tài liệu học tập dưới sự kiểm soát của giáo
viên. Hoạt động của từng học sinh trong nhóm do nhóm trưởng phân công. Mỗi em
sau khi hoàn thành nhiệm vụ được phân công sẽ làm cho cả nhóm hoàn thành
nhiệm vụ được giao. Học trong nhóm giúp cho mỗi học sinh không chỉ học được
kiến thức, kĩ năng toán mà còn học được kĩ năng hợp tác với bạn trong học tập, nhờ
đó hình thành được năng lực hợp tác. Hình thức tổ chức học sinh làm việc theo cặp,
theo nhóm thường có tác dụng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, tạo cơ
hội cho từng cá nhân được tham gia vào các hoạt động cơ bản tìm hiểu kiến thức cơ
bản, hoạt động thực hành hỗ trợ nhau thực hiện các bài tập thực hành. Để việc tổ
chức cho học sinh làm việc theo cặp, theo nhóm đem lại hiệu quả thiết thực, cần
thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
- Tính toán thời gian làm việc của học sinh sao cho hợp lí, thiết thực.
- Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ cụ thể của HS khi làm việc theo cặp hoặc
theo nhóm ( Ví dụ: Hoạt động cá nhân, để cùng chia sẻ cùng bạn, trao đổi – thảo
luận để tìm hiểu bài, bày tỏ ý kiến về vấn đề do tài liệu Hướng dẫn học nêu ra,…).
- Hình thành thói quen tự giác làm việc và ý thức kỉ luật cho học sinh ( Chia
sẻ cùng bạn với mức độ vừa phải, không ảnh hưởng đến các nhóm khác, thái độ
trao đổi nhẹ nhàng, lịch sự và tôn trọng ý kiến của bạn,…).
- Thường xuyên giám sát, động viên hay giúp đỡ học sinh ( nhất là những
học sinh học yếu) trong quá trình học ; đánh giá đúng kết quả luyện tập của học
sinh để có biện pháp tiếp theo cho phù hợp.
+ Làm việc cả lớp: Đây là hình thức học sinh tự học trong sự tương tác đa
chiều. học sinh tương tác với bạn, tương tác với giáo viên. Học tương tác toàn lớp
không phải chỉ là giáo viên nói cho học sinh nghe hoặc ghi chép. Giáo viên cần
giao nhiệm vụ, nêu câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề để học sinh thực hành, thảo luận,
chỉ dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ, định hướng thảo luận, khuyến khích học sinh
nêu ý kiến, nhận xét ý kiến của bạn,…
Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp được thực hiện khi giáo viên cần thông
báo, giải thích, tổng kết các ý kiến của học sinh; hướng dẫn chung cho cả lớp thực
hiện nhiệm vụ học tập; tổ chức cho cả lớp cùng trao đổi hoặc nghe đại diện các
nhóm báo cáo kết quả làm việc ở nhóm; cùng quan sát một vài học sinh chữa bài
sau khi làm việc cá nhân hoặc cùng tham gia trò chơi học tập do giáo viên tổ chức,
… Khi dạy cho học sinh toàn lớp, giáo viên cần lưu ý:
Lựa chọn nội dung cần thiết, gây chú ý cho học sinh (có thể kết hợp yêu cầu
học sinh ghi bài đã sửa vào vở); không thuyết trình quá dài (Ví dụ: phân tích cách
thực hiện các dạng toán).
Kết hợp giảng giải và minh họa bằng đồ dùng dạy học ( sơ đồ, hình vẽ…) ;
nên gợi ý, tổ chức, hướng dẫn học sinh cùng tham gia giải quyết những vấn đề
chung, cùng trao đổi để nêu ý kiến riêng hoặc tìm nhiều ví dụ hướng dẫn thêm một
số bài toán khác để bồi dưỡng thêm cho học sinh toàn lớp.
2.2. Cách thức tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm.
- Nắm vững đặc điểm của nhóm lớn và nhóm nhỏ, những ưu điểm-tồn tại của
từng loại nhóm.
- Để giúp nhóm hoạt động có hiệu quả, giáo viên cần giúp học sinh trong
nhóm biết và hiểu rõ công việc của mình. Vì vậy phải phân công nhiệm vụ cụ thể
cho các thành viên trong nhóm như:
+ Nhóm trưởng: Quản lí, chỉ đạo, điều khiển các thành viên trong nhóm hoạt
động.
+ Thư kí: Ghi chép kết quả công việc của nhóm sau khi được sự đồng tình
của cả nhóm.
+ Báo cáo viên trình bày trước lớp kết quả thảo luận của cả nhóm.
+ Các thành viên khác có nhiệm vụ tham gia tích cực, đóng góp ý kiến vào
hoạt động của nhóm.
Tuy nhiên, giáo viên cần linh hoạt khi phân công nhiệm vụ, không phải bao
giờ một nhóm cũng đủ các thành phần như đã nêu trên. Mặt khác, giáo viên cần
tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các nhóm khác nhau và thực hiện các
nhiệm vụ khác nhau trong nhóm. Điều đó nhằm tạo cơ hội cho các em có thể chia
sẻ kinh nghiệm học tập với những bạn khác. Đồng thời các em cũng được rèn luyện
và phát triển các thao tác tư duy và năng lực hoạt động của bản thân.
- Giáo viên cần lựa chọn kiểu nhóm và dự kiến chia nhóm cho phù hợp với
các phần của tiết dạy.
2.3. Các yêu cầu để nhóm hoạt động có hiệu quả.
Để nhóm hoạt động có hiệu quả thì việc tổ chức hoạt động nhóm cần đảm
bảo một số yêu cầu cơ bản sau:
- GV cần giúp các thành viên trong nhóm biết và hiểu được công việc của
nhóm và của bản thân. Học sinh biết rõ những việc cần làm, biết giúp đỡ nhau và lo
lắng tới công việc chung.
- Toàn nhóm làm việc hợp tác và đồng lòng với quyết tâm của cả nhóm.
- Hình thành cho học sinh thói quen tích cực suy nghĩ và tham gia vào các
hoạt động của nhóm như phát biểu ý kiến, tranh luận...
- Vai trò của nhóm trưởng, báo cáo viên, thư kí...được thực hiện luân phiên.
2.4. Vai trò của giáo viên trong dạy học theo nhóm.
Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động, người cố vấn gợi mở,
khuyến khích và hỗ trợ việc học của học sinh. Để giúp HS hoạt động nhóm đạt hiệu
quả người giáo viên cần phải thực hiện những việc sau:
Ngôn ngữ trình bày, diễn đạt cần ngắn gọn, trong sáng và súc tích; cố gắng
sử dụng những từ ngữ, hình ảnh, cách nói gần gũi với trẻ em,… Trong quá trình
giảng giải, giáo viên cần quan sát, theo dõi thái độ của học sinh ( kết hợp nêu câu
hỏi kiểm tra hoặc nêu vấn đề…) nhằm thu nhận những thông tin ngược từ phía
người học, từ đó mà điều chỉnh hoạt động dạy học trên lớp.
Giáo viên phải đóng vai trò là người “đạo diễn” các hoạt động học tập của
học sinh. Giáo viên cần thường xuyên quan tâm, giúp đỡ từng học sinh, hướng dẫn
học sinh thực hiện từng thao tác nhỏ nhất. Khi dạy học theo tài liệu Hướng dẫn học,
giáo viên không phải soạn giáo án nhưng phải dùng nhiều thời gian cho việc chuẩn
bị các đồ dùng dạy học, nghiên cứu Hướng dẫn học để xem xét và điều chỉnh cho
phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của lớp mình phụ trách. Giáo viên cần lên kế
hoạch hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát và đánh giá học sinh thực hiện các yêu cầu nêu
trong Hướng dẫn học. Giáo viên cần nhanh chóng xác định hoạt động nào mình
trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ học sinh, hoạt động nào để các nhóm trưởng điều hành.
Điều quan trọng là phải hỗ trợ kịp thời đối với từng nhóm, từng cá nhân học sinh
trong mỗi nhóm.
Để hoạt động nhóm mang lại những hiệu quả giáo dục, cần:
+ Các thành viên phải hiểu rõ nhiệm vụ chung của nhóm và nhiệm vụ riêng của
cá nhân.
+ Khi thảo luận, học sinh phải hướng vào nhau, tập trung trao đổi và chia sẻ
kinh nghiệm về vấn đề giáo viên đưa ra.
+ Mỗi thành viên đều bình đẳng tham gia thảo luận. Tránh tình trạng để một
học sinh nói nhiều quá, những học sinh khác nói quá ít hoặc không nói gì.
+ Tôn trọng ý kiến của nhau dù ý kiến đó đúng hay sai, cùng trao đổi để nhận
ra ý kiến, thống nhất.
Mọi thành viên trong nhóm phải có thói quen ghi chép và tuân theo sự điều khiển
của nhóm trưởng.
+ Các thành viên khác lần lượt đảm nhiệm những vai trò khác nhau trong
nhóm : Thư kí, nhóm trưởng, báo cáo viên,...
+ Khi giao việc cho nhóm, giáo viên phải trình bày nội dung một cách rõ ràng,
cụ thể: nêu thứ tự nội dung công việc cần làm, phân công công việc cho các thành
viên trong nhóm, ấn định thời gian làm việc cụ thể cho một hoạt động.
+ Nếu các nhiệm vụ là khác nhau, giáo viên cần lập phiếu hoạt động và giao
cho từng nhóm.
+ Nếu các nhiệm vụ giống nhau thì giáo viên có thể ghi nội dung hoạt động
lên bảng.
+ Giáo viên cần quan sát, theo dõi và giúp đỡ tất cả các nhóm: Cung cấp
thêm thông tin cho nhóm này, giải đáp thắc mắc cho nhóm kia, nhắc nhở nhóm này
làm việc lạc hướng, nhóm kia đang có sai sót và hướng dẫn các em cách sửa chữa.
Đặc biệt, giáo viên cần phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn bằng cách đặt
câu hỏi, hướng dẫn trả lời, cung cấp thêm thông tin cho các em.
+ Động viên, khuyến khích và khen ngợi các em nhằm tạo không khí phấn
khởi, tự tin trong học tập. Dáng điệu, cử chỉ của giáo viên cần phải thể hiện thái độ
thân mật, hợp tác, đồng tin, tạo niềm tin cho các em.
+ Giáo viên không nên nói trước toàn lớp trong khi các em đang hoạt động.
Nếu cần thiết, giáo viên có thể dừng mọi hoạt động để tất cả học sinh chú ý và lắng
nghe những điều mình muốn nói.
+ Khi các nhóm trình bày, giáo viên yêu cầu nhóm khác nhận xét, bổ sung và
so sánh cách làm, kết quả với nhóm mình. Đồng thời, giáo viên cần động viên,
khuyến khích các nhóm và cá nhân đưa ra các câu hỏi có liên quan đến công việc
của mỗi nhóm để học sinh trả lời. Khi học sinh phát biểu xong, giáo viên mới đưa
ra ý kiến của mình.
2.5. Một số ví dụ minh hoạ cụ thể về việc vận dụng hình thức làm việc theo
nhóm trong dạy học Toán lớp 3.
Trong quá trình dạy học Toán lớp 3, có rất nhiều bài tôi chọn cho các em
thảo luận theo nhóm đôi, nhóm lớn từ 3 đến 6 em và thường chia nhóm theo nhiều
cách nhưng chủ yếu là chia theo nhóm cố định và nhóm gần nhau.
Thảo luận để tìm ra kiến thức mới như lập các công thức nhân, chia, giải bài
toán về tìm một trong các phần bằng nhau của một số, gấp một số lên nhiều lần,
giảm đi một số lần,... thì có thể tiến hành chia nhóm trình độ (trong nhóm có cả học
sinh khá, giỏi, trung bình, yếu).
Ví dụ: Khi dạy bài bảng chia 6 cho học sinh thảo luận theo nhóm ( nhóm
nhiều trình độ) với nhiều nội dung: Dựa vào bảng nhân 6 đã học, các em hãy thảo
luận để tìm cách lập và lập hoàn chỉnh bảng chia 6.
Trong quá trình học sinh thảo luận có thể ưu tiên cho học sinh chậm, nhắc
lại bảng nhân 6. Sau đó, các thành viên trong nhóm thảo luận với nhau dựa vào mối
quan hệ giữa phép nhân và phép chia để lập hoàn chỉnh bảng chia 6, thư kí ghi vào
giấy nháp và cử đại diện nhóm trình bày.
Khi dạy bài tìm thành phần chưa biết của phép tính như: Tìm số chia... thì
việc cho HS thảo luận nhóm ở phần hình thành kiến thức mới là vô cùng cần thiết.
Các em thảo luận để nêu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm; trao đổi
để nêu được cách tìm thành phần chưa biết. Trong khi học sinh thảo luận, giáo viên
đến các nhóm để giúp đỡ và hướng dẫn thêm. Đối với các nhóm còn lúng túng khi
thảo luận, giáo viên gợi ý để các em xác định thành phần chưa biết là gì? Cách tìm
như thế nào?... Đối với các nhóm đã thảo luận xong, giáo viên gợi ý để các em tự
đưa ra một số ví dụ và thực hiện tương tự để củng cố lại cách làm, tự tìm ra được
quy tắc...
Ví dụ: Bài Gam: Trong phần hình thành kiến thức mới, cung cấp cho học
sinh biểu tượng về gam thì nhất thiết phải tổ chức cho các em thực hành theo nhóm
cân một số đồ vật theo đơn vị đo gam, kilôgam: cân khối lượng của quyển vở,
quyển sách, quả táo... Các em trao đổi, quán xuyến lẫn nhau trong nhóm, giáo viên
chỉ là người tổ chức, giúp đỡ và hướng dẫn các hoạt động học tập.
Ví dụ: Hình thành kiến thức về biểu thức và giá trị biểu thức (Bài Tính giá
trị của biểu thức ).
Xuất phát ban đầu là bài tập tính giá trị của biểu thức 30 + 5 : 5, HS hoàn
toàn thống nhất cách tính giá trị của biểu thức này:
Đây là biểu thức có cả phép cộng và phép chia, ta thực hiện phép chia trước :
5 chia cho 5 bằng 1; tiếp theo thực hiện phép cộng: 30 cộng 1 bằng 31.
Đến đây giáo viên đặt vấn đề: Nếu muốn thực hiện phép cộng 30 + 5 trước,
sau đó mới thực hiện phép chia cho 5.
Cuối cùng giáo viên cho học sinh thảo luận để đưa ra quy tắc tính giá trị của
biểu thức có dấu ngoặc.
Ví dụ: Sau khi học xong đại lượng độ dài và Bảng đơn vị đo độ dài, giáo
viên có thể cho HS thực hiện nhiệm vụ sau: Đo và thống kê số liệu chiều cao của
từng bạn trong lớp.
Đây là một nhiệm vụ thực hành, công việc nhiều (đo chiều cao của mỗi bạn),
kết quả đo chiều cao của mỗi bạn khác nhau. Vì vậy cả lớp thống nhất chia làm
nhiều nhóm, mỗi nhóm chịu trách nhiệm đo chiều cao của mỗi bạn thuộc nhóm của
mình.
Mỗi nhóm đều thực hiện nhiệm vụ: Đo chiều cao từng bạn (theo đúng thao
tác đo đã được học), ghi chép số liệu vào nháp (hoặc sổ), sắp xếp tên các bạn theo
thứ tự từ thấp đến cao.
Xác định bạn cao nhất, bạn thấp nhất trong nhóm.
Như vậy cần phải có: một bạn cầm êke áp sát vào tường, một bạn dùng thước
để đo, một bạn ghi chép số liệu vào sổ, một bạn chỉ huy chung. Với cách xác định
như trên, mỗi nhóm có 5 bạn là đủ.
Cần tổ chức thử nghiệm nhiều trường hợp để từ đó quan sát kết quả đi đến
một kết luận mang tính quy luật về một số vấn đề cần tới đo đạc, tính toán. Khi đó
mỗi trường hợp giao cho một nhóm, kết hợp kết quả các nhóm lại, khái quát hoá
thành kết luận mang tính quy luật.
Ví dụ: Để tìm quy tắc tính diện tích hình chữ nhật, giáo viên có thể tiến hành
như sau:
Giáo viên đưa ra các hình chữ nhật khác nhau ( kích thước 2cm x 3cm; 3cm
x 5cm; 4cm x 3cm; 4cm x 5cm )
Yêu cầu học sinh tìm cách tính diện tích các hình chữ nhật này.
Học sinh được phân nhóm, sử dụng tấm nhựa trong có kẻ lưới các ô vuông
cạnh 1cm, áp vào các hình chữ nhật và tìm các cách khác nhau để biết diện tích các
hình chữ nhật.
Các nhóm sẽ có các cách khác nhau ( chẳng hạn đếm các hình chữ nhật, đếm từng
nhóm theo hàng, đếm từng nhóm theo cột, và thực hiện phép nhân số cột với số
hàng).
Học sinh thảo luận để tìm cách tính dễ nhất.
Sau khi thảo luận, học sinh sẽ đi đến kết luận: Để tính diện tích hình chữ
nhật thì việc thực hiện phép nhân chiều dài với chiều rộng là đơn giản nhất:
S1 = 3 x 2 = 6 ( cm2)
S2 = 5 x 3 = 15 ( cm2)
S3 = 4 x 3 = 12 ( cm2 )
S4 = 5 x 4 = 20 ( cm2 )
Giáo viên cho học sinh nêu quy thức tính diện tích hình chữ nhật có chiều dài
a và chiều rộng b. Học sinh sẽ nêu quy tắc tổng quát như sách giáo khoa.
Với cách dạy này. học sinh phải suy nghĩ, tìm cách vận dụng kiến thức đã
học ở tiết trước để tìm diện tích từng hình chữ nhật. Cách này tưởng như mất thời
gian, nhưng có giá trị không đổi được: giáo viên đã tổ chức tình huống hấp dẫn cho
học sinh hoạt động và học sinh mong muốn giải quyết nó ( Tìm diện tích các hình
chữ nhật khác nhau), học sinh tích cực sử dụng kiến thức đã biết, phải thử nghiệm,
đếm và tìm cách xác định số hình vuông cạnh 1cm tạo nên hình chữ nhật đã cho và
đi đến cách tối ưu: lấy chiều dài nhân chiều rộng. Hoạt động nhóm đã giúp học sinh
phát hiện và giải quyết vấn đề đặt ra.
Giáo viên cũng có thể sử dụng hình thức dạy học theo nhóm với nhiều dạng bài
tập. Chẳng hạn: khi giải các bài toán có lời văn, đặc biệt là dạng toán giải bằng 2
phép tính, cần tổ chức cho các em thảo luận nhóm đôi, nhóm lớn để tự tìm hiểu đề
dưới hình thức hỏi đáp lẫn nhau.
Ví dụ : Mẹ Hà mua 4 gói kẹo và một gói bánh, mỗi gói kẹo cân nặng 130g
và gói bánh cân nặng 175g. Hỏi mẹ Hà đã mua tất cả bao nhiêu gam kẹo và bánh ?
Các em thực hiện nhóm đôi hỏi đáp lẫn nhau. Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi
gì ?
Để biết mẹ Hà đã mua bao nhiêu gam kẹo và bánh ta phải làm gì? ( Đến đây
HS có thể thảo luận theo hướng em khá, giỏi nêu câu hỏi định hướng rút ra cách
giải để giúp các em chậm chưa hiểu bài dần rút ra được vấn đề để giải được bài
toán theo cách giáo vẫn thường gợi mở đối với cả lớp khi hướng dẫn chung.)
Số gam kẹo biết chưa? Số gam kẹo chưa biết, cần phải đi tìm.
Bài toán thuộc dạng gì? Gấp một số lên nhiều lần…..
Trong quá trình thảo luận, tất cả học sinh được đọc và tìm hiểu đề, gạch chân
để xác định những từ trọng tâm của đề bài, tạo được sự hỗ trợ tích cực từ phía học
sinh khá giỏi đến học sinh chậm, yếu nhằm giúp học sinh củng cố lại phương pháp
giải bài toán và vận dụng làm bài đạt kết quả cao.
* Với các bài rèn kĩ năng tính cũng cần có sự lựa chọn cho học sinh thảo
luận.
*Một số bài tập về xếp hình trong chương trình Toán 3 cũng tương đối khó
với học sinh . Vì vậy giáo viên cũng cần cho các em thảo luận nhóm 2 để làm các
bài tập này. Học sinh thảo nhóm đôi tìm cáchghép 8 hình tam giác để tạo thành
hình mới. Sau khi học sinh ghép hình xong, giáo viên cho 2 nhóm lên ghép ở bảng
cài, các nhóm khác theo dõi nhận xét.
Ví dụ:
6x4=
6x2=
6x5=
6x1=
24 : 6 =
12 : 6 =
30 : 6 =
6:6=
24 : 4 =
12 : 2 =
30 : 5 =
6:1=
Giáo viên cho học sinh tự tính nhẩm độc lập sau đó thảo luận theo nhóm đôi
để tìm ra mối quan hệ giữa phép nhân và phép chia và diễn đạt bằng lời trong
nhóm.
Cho học sinh kiểm tra kết quả làm bài của nhau, phát hiện và chữa chỗ sai
của bạn, trong trường hợp cần thiết hai bạn sẽ tranh luận.
Thông thường các cặp bạn kiểm tra bài làm của nhau là các bạn ngồi cạnh
nhau trong lớp.
3. Sự vật chuyển biến.
Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên lớp tôi cũng có sự chuyển biến, hoạt
động nhóm cũng sôi nổi hơn, khi phân thành các nhóm các em có ý thức tự giác, tích
cực trong học tập, kèm cặp lẫn nhau, tinh thần đoàn kết được đề cao, khi được ngồi
thành nhóm các em có thể giúp đỡ nhau dễ dàng hơn.
4. Kết quả thực hiện kiểm chứng.
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp tôi nhận thấy …….. chất lượng
giảng dạy được nâng cao rõ rệt với kết quả như sau:
Năm học
Tổng
Đầu năm
số HS
2016- 2017
34
Học lực
Hoàn
Chưa
thành
thành
hoàn
cố
cố
thành
gắng
gắng
8
3
Tổng
34
7
Đạt
Cần
24
3
Tốt
11
Đạt
Cần
20
3
Kết quả học kì 1
số HS
2016- 2017
23
Tốt
Phẩm chất
Hoàn
tốt
Năm học
Năng lực
Học lực
Năng lực
Hoàn
Hoàn
Chưa
thành
thành
hoàn
cố
cố
thành
gắng
gắng
tốt
9
24
1
Tốt
9
Đạt
Phẩm chất
25
Cần
0
Tốt
14
Đạt
Cần
20
5. Đánh giá kết quả và rút ra kết luận khái quát.
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã đạt được kết quả rất khả quan. Đã hình
thành cho HS thói quen và phương pháp học tập theo nhóm. HS đã nắm được các
kiểu nhóm và cách chia nhóm nên việc hình thành nhóm theo yêu cầu của GV
không mất nhiều thời gian. Các thành viên trong nhóm đã có ý thức tự giác, tự quản
tốt. Các nhóm thảo luận sôi nổi và tập trung vào nội dung thảo luận nên không gây
mất trật tự. Trong quá trình thảo luận, các thành viên trong nhóm đã biết lắng nghe
ý kiến của nhau để bổ sung và hoàn chỉnh theo yêu cầu của giáo viên. Học sinh đã
0
nắm được nhiệm vụ của mình, biết đươc nhiệm vụ chính của nhóm trưởng, thư kí,
báo cáo viên và các thành viên khác trong nhóm. Đồng thời học sinh được thực
hiện các nhiệm vụ khác nhau trong nhóm nên có thể chia sẻ kinh nghiệm với các
bạn khác, học sinh được rèn luyện và phát triển tư duy. Các thành viên trong nhóm
đã biết hợp tác với nhau cùng giúp nhau trong học tập để đạt mục đích chung. Học
sinh chậm, yếu có nhiều cơ hội học hỏi ở các bạn học sinh khá giỏi. Đã tham gia
thảo luận tích cực, điều này đã đóng góp vào sự thành công của cả nhóm. Điều đó
làm tôi rất vui mừng và vơi đi những vất vả, mệt nhọc. Các biện pháp được áp dụng
cùng với kết quả đạt được đã khẳng định. Rõ ràng qua cách làm này, tôi thấy kết
quả học tập của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt. Điển hình trong vài năm gần đây
các em vừa mới làm quen chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức
học tập đa dạng nhưng kết quả đạt được khá cao. Thực tế cho thấy, trong năm học,
khi áp dụng các biện pháp trên thì phần lớn các em của lớp có ý thức học tập, có
tinh thần thi đua học tập, giúp đỡ nhau trong học tập, tự giác học tập, có tinh thần
tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong học tập.
6. Tính khả thi.
Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng tại trường tôi rất có hiệu quả; qua
thời gian thực nghiệm tôi được các đồng nghiệp đánh giá sáng kiến kinh nghiệm
này rất khả thi cao, dễ thực hiện do những biện pháp người viết đưa ra hoàn toàn
phù hợp với thực tế, năng lực, trình độ, tâm lí và nét đặc thù của người học, đồng
thời góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên của
trường nói riêng và giáo dục toàn diện nói chung. Mặt khác, các biện pháp nêu trên
đều có thể vận dụng thực hiện bất cứ đơn vị trường tiểu học nào.
III.KẾT LUẬN:
Từ kết quả nghiên cứu lý luận về hình thức dạy học theo nhóm và tìm hiểu về
thực trạng của việc dạy học theo nhóm ở môn Toán lớp 3, tôi đã tìm hiểu một số
biện pháp dạy học theo nhóm và vận dụng vào thực tế dạy học môn Toán lớp 3
bước đầu đã mang lại kết quả khả quan. Học sinh phát huy được tính tích cực,
tương tác trong dạy học theo nhóm. Đồng thời với hình thức dạy học này đã hấp
dẫn, lôi cuốn HS vào các hoạt động học, thu lượm kiến thức bằng khả năng của
mình với sự giúp đỡ, hướng dẫn của giáo viên.
Muốn tổ chức hoạt động nhóm thành công , đòi hỏi giáo viên phải không ngừng
nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và rèn luyện. Phải nắm vững yêu cầu về quan điểm dạy
học, chương trình, nội dung dạy học. Thấy được tầm quan trọng và lợi ích của hoạt
động nhóm trong quá trình dạy học. Bắt buộc giáo viên phải quan sát tinh tế và bao
quát lớp. Quan sát và bao quát để điều tiết nhịp độ làm việc giữa các nhóm, quan
sát để trợ giúp học sinh khi có tình huống phát sinh hoặc trong một số trường hợp,
giáo viên bao quát để nắm tốc độ thảo luận của nhóm nhanh để làm chậm tốc độ
cho học sinh có học lực yếu hơn có thể tham gia và đạt mục tiêu vững chắc của
từng hoạt động học. Giáo viên phải quan sát đồng thời cả làm việc theo nhóm, làm
việc độc lập của từng cá nhân học sinh thì giáo viên mới đánh giá đầy đủ về tình
hình học tập của nhóm và từng học sinh trong nhóm, từ đó bản thân giáo viên mới
có những can thiệp cần thiết.
Trong quá trình học sinh thảo luận theo nhóm, giáo viên nên đi chuyển đến
các nhóm, tranh thủ quan sát hoạt động của các nhóm. Giáo viên không nên đứng
một chỗ hoặc đến bên nhóm để can thiệp quá sớm khi học sinh chưa kịp đọc yêu
cầu (học sinh sẽ phụ thuộc vào sự hướng dẫn của giáo viên chứ không tự đọc tài
liệu). Trong quá trình quan sát, khi muốn tác động đến nhóm nào đó thì giáo viên
chỉ nên nói nhỏ, đủ nghe cho nhóm đó chứ không nên nói to làm ảnh hưởng và
phân tán sự chú ý của các nhóm khác.
Để giúp học sinh phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập và nâng
cao chất lượng học toán của học sinh, giáo viên cần:
Nắm vững mục tiêu từng bài học, trên cơ sở đó có biện pháp tổ chức dạy học
thích hợp cho học sinh.
Phải lựa chọn nội dung thảo luận nhóm hợp lý thì việc áp dụng hình thức dạy
học theo nhóm mới mang lại hiệu quả.
Việc sử dụng hình thức dạy học theo nhóm phải được tiến hành thường xuyên,
đều khắp ở tất cả các môn học.
Phải thường xuyên thay đổi các hình thức tổ chức học tập của học sinh để các
em khỏi nhàm chán. Chú ý tư duy độc lập của từng học sinh.
Lời nói của giáo viên phải nhẹ nhàng, chính xác thường xuyên động viên, khen
thưởng học sinh kịp thời để khích lệ các em.
Phải đặt mình vào nhận thức của trẻ để giảng dạy, tránh gây áp lực nặng nề cho
các em.
Trong năm học này tôi đã áp dụng các biện pháp ở lớp 3A4 và đạt kết quả tốt.
Tuy nhiên, kết quả đó vẫn chưa thỏa mãn với yêu cầu tôi mong muốn nhưng một
phần nào đó đã giúp cho tôi nỗ lực phấn đấu hơn trong việc giảng dạy và giáo dục
học sinh. Để có được kết qủa hôm nay nhờ sự phấn đấu của cô và trò. Tôi thấy học
sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo khi thảo luận nhóm.
Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm các biện pháp mới để phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình giảng dạy và học tập để
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Đồng thời, mạnh
dạn đề xuất với lãnh đạo trường và ngành để sáng kiến được triển khai ứng dụng
rộng rãi hơn.
Trà An, ngày 20 tháng 04 năm 2017