Tải bản đầy đủ (.doc) (102 trang)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM môn TOÁN LỚP 3 TNXH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (977.24 KB, 102 trang )

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2012
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YẾU HỌC TỐT HƠN
MÔN TOÁN LỚP 3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết dạy học Toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh có những
kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại
lượng thông dụng, một số yếu tố hình học. Giải được các bài toán đơn giản ứng
dụng nhiều trong thực tế. Xây dựng nền móng toán học để các em tiến lên các bậc
học trên. Đồng thời ứng dụng thiết thực trong cuộc sống hằng ngày của các em.
Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí, kích thích trí tưởng
tượng, óc sáng tạo, chủ động, linh hoạt.
Qua thời gian giảng dạy từng lớp, tôi thấy trong lớp có một số em giỏi toán
và một số em yếu toán. Những em giỏi thì say mê học tập. Những em yếu thì lười
học, sợ học và sinh ra chán học. Để đảm bảo chất lượng học tập của các em trong
một lớp phải đồng đều như nhau là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, yêu cầu
về chất lượng giảng dạy và hiệu quả bồi dưỡng ngày càng đòi hỏi cao. Việc bồi
dưỡng học sinh yếu là cả một quá trình, phải có kế hoạch cụ thể cho người dạy và
cả người học. Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp
học sinh yếu học tốt hơn môn toán lớp 3 ”.
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, chúng ta thường xuyên gặp những học sinh
học yếu môn toán, trong đó có “giải toán có lời văn”mà các thầy cô giáo có lương
tâm và trách nhiệm không thể hờ hững được, vì đây là nhiệm vụ của mình. Nhiệm
vụ được đặt ra là người giáo viên phụ trách lớp phải cố gắng giúp đỡ các em này
nhanh chóng theo kịp được với mặt bằng kiến thức chung của lớp mình.
*Các phương pháp giải quyết:
-Giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn.
-Giúp học sinh vận dụng kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toán có lời
văn.
II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
+Trước đây qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy:



*Với môn Toán, trước đây hầu hết các học sinh yếu đều có một nguyên nhân chung
là :
Kiến thức ở các lớp dưới bị hổng, không có phương pháp học tập, tự ti, rụt
rè, thiếu hào hứng trong học tập. Học sinh thụ động trong học tập.
Chưa nắm vững được phương pháp giải theo từng dạng bài khác nhau.
Do quên kiến thức cơ bản, kĩ năng tính toán yếu.
Do chưa nắm được phương pháp học môn Toán, năng lực tư duy bị hạn chế
(loại trừ những học sinh bị bệnh lí bẩm sinh). Nhiều học sinh thể lực vẫn phát triển
bình thường nhưng năng lực tư duy toán học kém phát triển.
Do lười học.
Do thiếu điều kiện học tập hoặc do điều kiện khách quan tác động - học sinh
có hoàn cảnh đặc biệt (gia đình xảy ra sự cố đột ngột, hoàn cảnh nghèo,…).
*Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, dạy chủ yếu là truyền thụ kiến
thức, cô giảng trò làm theo. Chưa quan tâm nhiều đến học sinh yếu.
+ Hiện nay từ thực tế giảng dạy tôi đã xác định rõ một trong những
nguyên nhân trên đối với mỗi học sinh là điều quan trọng. Công việc tiếp theo là
giáo viên có biện pháp để xóa bỏ dần các nguyên nhân đó, nhen nhóm lại lòng tự
tin và hứng thú của học sinh đối với việc học môn Toán.
1. Phương pháp tiến hành:
a)Điều tra phân loại học sinh yếu toán ở lớp
Ngay từ đầu năm khi nhận lớp, sau khi khảo sát chất lượng, khi chấm bài
kiểm tra xong tôi đã phân loại từng em, yếu loại điển hình nào để mình có kế
hoạch kèm cặp, hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời cho từng em.
*Kết quả khảo sát:
Năm
Tổng số học sinh Học sinh yếu toán đầu năm
%
2010- 2011
35

4
11,4
2011- 2012
35
5
14,2
Như vậy, qua kết quả khảo sát trên tôi thấy vẫn còn một số em học yếu, đặc biệt
là yếu về giải toán có lời văn.
Muốn cho học sinh học tốt về giải toán có lời văn, trước tiên chúng ta phải
hướng dẫn các em nắm chắc được các bước cần thực hiện khi giải toán .


b)Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp để giải các bài toán.
Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào phương
pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên, chúng ta
cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:
+Bước 1: Đọc kĩ đề toán.
+Bước 2: Tóm tắt đề toán.
+Bước 3: Phân tích bài toán.
+Bước 4: Viết bài giải.
+Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.
* Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 2 lần đề bài toán, để giúp các em nắm
được ba yếu tố cơ bản. Những “ dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đề
bài. “Những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm. Những “Điều kiện” là
quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các
yếu tố cơ bản của bài toán. Phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện
cần thiết liên quan đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu
hỏi. Phát hiện được các dữ kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng
hơn. Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay.

*Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu
chữ, làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và một số
phải tìm hiện rõ hơn.
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em nắm được nhiều cách
tóm tắt thì các em sẽ giải toán tốt hơn. Cho nên khi dạy tôi đã truyền đạt các
cách sau tới học sinh:
+Tóm tắt bằng chữ.
+ Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
+Tóm tắt bằng hình tượng trưng.
+Tóm tắt bằng kẻ ô.
+Tóm tắt bằng sơ đồ Ven.


Tôi luôn hướng các em chọn cách nào cho dễ hiểu nhất, rõ nhất, điều đó còn
phụ thuộc vào nội dung từng bài.
*Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề
bài để tìm ra cách giải bài toán. Cho nên, ở bước này giáo viên cần sử dụng
phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán
dưới dạng các câu hỏi thông thường:
+Bài toán cho biết gì?
+Bài toán hỏi gì?
+Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em
nắm kĩ hơn, tự các em giải được bài toán.
*Viết bài giải:Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ dễ
dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu cầu
học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước
phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.
*Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học

sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời.
Khi giáo viên hỏi “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?”thì nhiều em lúng
túng. Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và
trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, Tôi đã hướng
dẫn các em thông qua các bước:
+ Đọc lại lời giải.
+Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn
diễn đạt trong lời giải đúng chưa.
+ Kiểm tra lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
+Kiểm tra lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viên cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải.
Ngoài ra, thường xuyên kiểm tra bài làm của các em trên lớp, chấm chữa bài tay
đôi với học sinh để củng cố kiến thức. Tuyên dương khen thưởng kịp thời nếu các


em có cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) để các em phấn khởi học tập xóa đi ấn
tượng sợ giải toán.
Về nhà: Phải yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở lớp để các em yếu
nắm vững cách giải. Lần sau gặp loại bài như thế là làm được ngay và yêu cầu
phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con học ở
nhà và giúp các em làm đầy đủ bài tập. Ngoài ra, tôi còn phân công cho những
em giỏi toán ở lớp giúp một em yếu. Lập thành đôi bạn cùng tiến bằng cách:
Giờ truy bài kiểm tra bài làm của bạn. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại
cho bạn nắmđược phương pháp giải toán.
Trong hoạt động dạy học, tôi luôn lấy học sinh làm trung tâm, áp dụng các
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.
c) Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể sang giải
các dạng toán điển hình của lớp 3
-Gấp một số lên nhiều lần.
-Giảm 1 số đi nhiều lần.

-Tìm một phần mấy của một số.
-Giải toán tổng hợp bằng 2 phép nhân chia có liên quan rút về đơn vị.
-Giải toán tổng hợp bằng 2 phép chia có liên quan rút về đơn vị.
Ví dụ: Hồng có 10 quyển tập, Tuấn có 30 quyển tập. Hỏi hai bạn có bao
nhiêu quyển tập? Bạn nào nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu quyển tập?
Đối với bài này có nhiều câu hỏi khác nhau, giáo viên phải hướng dẫn học
sinh giải tương ứng với yêu cầu của từng câu hỏi.
Giải
Hai bạn có số quyển tập là:
10 + 30 = 40(quyển tập)
Đáp số: 40(quyển tập)
Số quyển tập bạn Tuấn nhiều hơn bạn Hồng là:
30 - 10 = 20(quyển tập)
Đáp số: 20(quyển tập)


Giáo viên phải nhấn mạnh cho học sinh một lời giải 1 phép tính. Có bao
nhiêu câu hỏi có bấy nhiêu đáp số (chú ý cả tên đơn vị).
Với các yêu cầu giải toán thông thường:
-Nhiều hơn: Làm tính cộng
-Ít hơn: Làm tính trừ
-Gấp 1 số lần: Làm tính nhân
-Kém một số lần: Làm tính chia
Sau khi rèn luyện một số bài toán điển hình để phát triển tư duy học sinh. Tôi
nâng cao hơn một bước, bằng cách thông qua bài toán “gốc”có dạng trên, tôi cho
học sinh nâng cao tư duy lên một bước với những dự kiện trên, mà cách giải lại làm
tính ngược lại với phép tính trên (vì người ta cho số bé yêu cầu cần tìm số lớn).
-Có từ nhiều hơn: Làm tính trừ
- Có từ ít hơn: Làm tính cộng
- Có từ gấp : Làm tính chia

- Có từ kém : Làm tính nhân
Ví dụ: Hoa có 12 cái kẹo, Hoa có nhiều hơn Hùng 2 cái kẹo. Hỏi 2 bạn có
bao nhiêu cái kẹo?
Bài giải
Số cái kẹo Hùng có là:
12- 2= 10(cái kẹo)
Số cái kẹo của 2 bạn có là:
12+10=32(cái kẹo)
Đáp số:32 cái kẹo
Ví dụ: Tâm có 30 hòn bi, Tâm có gấp 3 lần Bình. Hỏi 2 bạn có bao nhiêu
hòn bi?
Bài giải
Số hòn bi Bình có là:
30: 3= 10(hòn bi)
Số hòn bi của 2 bạn có là:
30+10=40(hòn bi)


Đáp số:40 hòn bi
Với biện pháp này: Các em được nâng cao trình độ tư duy lên một bước. Từ
đó các em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kĩ năng giải toán có lời văn
rõ ràng, chính xác.
d) Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các em trình bày bài giải
đúng.
Hợp lí về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi đáp số để hoàn
thiện bài toán.
Bước này tuy đơn giản nhưng tương đối khó với học sinh. Đó là lời văn ngắn
gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời (phép tính tìm gì?) theo thứ tự.
Lời giải: Phép tính-lời giải- phép tính- đáp số.
Cần lưu ý: Phép tính trong giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị (danh

số) đó là phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn để giải thích, mục
đích thực hiện phép tính.
Ví dụ : Có 30 cái cốc đựng đều trong 5 hộp. Hỏi có 12 cái cốc đựng trong
mấy hộp như thế?
Giáo viên phải đưa ra một số câu hỏi đàm thoại gợi ý học sinh trung bình,
yếu suy đoán, lựa chọn cách giải đúng.
Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài
Tóm tắt
30 cái cốc: 5 hộp
12 cái cốc: hộp ?
Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác
Bài giải
Số cái cốc mỗi hộp có là:
30 : 5 =6 (cái cốc)
Số hộp cần có để đựng hết 12 cái cốc là:
12 : 6 = 2(hộp)
Đáp số : 2 hộp


Lưu ý : Đây là bài toán hợp giải bằng 2 phép chia. Tên đơn vị của 2 phép
tính khác nhau, phép tính trên có đơn vị của đại lượng 1, phép tính dưới có tên đơn
vị của đại lượng 2 (đại lượng phải đi tìm. Chính là đáp số bài toán).
e) Tính cách giải đúng chưa đủ, giáo viên còn giúp học sinh tìm nhiều cách giải
để tìm cách hợp lí nhất, ngắn gọn nhất, phát huy trí lực học sinh tạo điều kiện
cho tư duy toán phát triển.
Bước này đối với học sinh yếu, trung bình giải toán là khó khăn. Song người
giáo viên phải hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh thể hiện được khả năng giải toán
của mình là cần thiết.
Ví dụ: Một cửa hàng buổi sáng bán được 25kg nho, buổi chiều bán được số
nho gấp đôi buổi sáng. Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu ki- lô- gam

nho?
Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài toán. Tóm tắt đề bài bằng cách
vẽ sơ đồ đoạn thẳng (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng và nhiều cách khác.
Tóm tắt
25 kg
Buổi sáng :
Kg nho ?
Buổi chiều:
Cách 1:
Bài giải
Số kg nho buổi chiều bán được là:
25 x 2= 50( kg)
Số kg nho cả hai buổi bán được là:
25 +50 = 75 ( kg)
Đáp số: 75 kg nho
Cách 2:
Bài giải


Số kg nho cả hai buổi bán được là:
(25 x 2) +25 = 75 ( kg)
Đáp số: 75 kg nho
-Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu: Thực ra cách 2 chính là cách 1 giải
gộp 2 phép tính trên mà thôi.
g) Kết hợp giải toán là rèn luyện kĩ năng tính toán giúp học sinh giải toán
đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán.
Vì có những em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả
bài toán sai. Vậy giáo viên phải nhắc nhở học sinh làm bài phải tính toán chính xác,
trình bày khoa học rõ ràng. Nếu là phép “cộng trừ, nhân, chia” trong bảng học
thuộc để vận dụng nhanh. Nêu là các phép “cộng trừ, nhân, chia” ngoài bảng các

em phải đặt tính cột dọc.
Làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả, đúng mới viết vào bài làm. Cần rèn
luyện kĩ năng tính nhẩm, tính viết thành thạo cho học sinh trong quá trình giải toán,
để hoàn thiện bài giải.
* Kết quả kiểm nghiệm
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp giúp đỡ học sinh yếu học tốt hơn
môn toán như đã nêu trên tôi thấy đa số các em đều tiến bộ .
*Kết quả thu được như sau:
Năm
Tổng số học sinh
Học sinh yếu toán Cuối năm
%
2010- 2011
35
0
0
2011- 2012
35
1
2,8
Tôi rất phấn khởi thấy trong các giờ Toán học sinh say mê học và lớp học sôi
nổi, kĩ năng làm toán được nâng cao. Có nhiều em đầu năm học chán học, lười
biếng làm bài, đến cuối năm các em đã hào hứng, phấn khởi, ham học hơn. Những
em học trung bình, yếu đã làm đúng theo yêu cầu bài toán đề ra. Các giờ học toán
đã được diễn ra nhẹ nhàng, gây được hứng thú nhiều hơn cho học sinh yếu của lớp
mình.
III. KIỂM NGHIỆM LẠI KINH NGHIỆM:


Thông qua quá trình giảng dạy, nhờ đã kiên trì bền bỉ áp dụng những biện

pháp giúp đỡ học sinh học yếu môn Toán như đã nêu trên, tôi thấy đa số các em đều
tiến bộ rõ rệt.
Tôi rất mừng thấy trong các giờ toán học sinh say mê học và lớp học sôi nổi,
kĩ năng làm toán được nâng cao. Có nhiều em đầu năm học chưa biết trình bày bài
toán như thế nào, chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, đến cuối năm các em đã biết
phân tích bài toán rồi trình bày bài giải tương đối chính xác. Những em học trung
bình , yếu hứng thú, say mê học hơn. Các em từ chỗ sợ học toán, ngại giải toán đến
chỗ các em không ngại nữa mà lại thích giải toán để khảng định khả năng chính
mình. Tuy kết quả chưa được mĩ mãn như ý, nhưng đó cũng là thành công bước
đầu nghiên cứu, tìm ra biện pháp giúp đỡ học sinh yếu toán trong đó có “giải toán
có lời văn”của lớp mình.
Những biện pháp trên áp dụng phù hợp với chương trình SGK lớp 3 hiện
hành.
IV.KẾT LUẬN:
Muốn giúp đỡ học sinh yếu học tốt hơn môn Toán trước hết giáo viên phải
không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm.
Giáo viên phải nắm chắc đối tượng học sinh. Để có những biện pháp dạy học
đạt kết quả cao nhất, nhằm phát huy hết tính tích cực trong học tập, tổ chức điều
khiển khéo léo gây bầu không khí sôi nổi, kích thích hứng thú học tập và nâng cao
ý thức tự giác của học sinh.
Giáo viên cần phải tìm hiểu chắc nội dung cơ bản của chương trình sách giáo
khoa, sách hướng dẫn, để giúp học sinh nắm vững nội dung bài, hướng dẫn rõ cách
đọc, hiểu đề bài toán, phân tích, tóm tắt và trình bày bài. Thực tế cho thấy sách giáo
khoa Toán, sách hướng dẫn phải thừa nhận là có nhiều ưu điểm nổi bật. Tìm hiểu
phần hướng dẫn chung trong sách, đa số giáo viên đã nắm được cơ bản của phương
pháp giảng dạy mới, song đi sâu vào từng bài cụ thể thì còn lung túng. Do vậy nắm
vững sách, hiểu ý đồ của người biên soạn là quan trọng . Song chưa đủ, còn đòi hỏi
đến vai trò chủ động sáng tạo và ứng xử linh hoạt đối với từng đối tượng học sinh
khác nhau mới đem lại hiệu quả cao.



Giáo viên phải giàu lòng yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình gương mẫu trong
phương pháp soạn giảng, phát hiện kịp thời học sinh yếu phần nào. Giáo viên phải
kiên trì uốn nắn cho học sinh thật tận tình chu đáo.
Giảm bớt hoặc sửa lại câu hỏi cho sát với từng đối tượng học sinh, tránh
giảng triền miên , nói nhiều, viết nhiều trong khi học sinh làm bài còn yếu.
Luôn động viên khuyến khích học sinh khi các em có tiến bộ.
Giáo viên không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên
môn.
*Học sinh cần tích cực học tâp, chủ động tiếp thu bài.
Trên đây là một số biện pháp nhỏ của tôi trong việc giúp đỡ học sinh học yếu
học tốt hơn môn Toán lớp 3. Trong thực tế giảng dạy mỗi người đều có suy nghĩ,
kinh nghiệm, bí quyết nghề nghiệp riêng của mình nhằm mục đích cuối cùng là
nâng cao chất lượng dạy và học.Tất cả vì học sinh thân yêu, vì sự nghiệp giáo dục.
Những biện pháp trên áp dụng phù hợp với mọi học sinh lớp 3. Trong thời
gian tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung thêm một số biện pháp giúp học sinh
giải tốt hơn dạng “Giải toán có lời văn” ở lớp 3.
BAN GIÁM HIỆU DUYỆT

Trà An, ngày tháng 10 năm 2012
Người thực hiện


CHÍCH BÔNG
THỎ TRẮNG
SƠN CA
ĐẠI BÀNG


ĐẠI BÀNG

HỌA MI
CHÍCH BÔNG
THỎ TRẮNG


NGÔI SAO
NGÔI SAO


NGÔI SAO


MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC YẾU MÔN TOÁN
LỚP 3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1/Lí do chọn đề tài
Bắt đầu bước vào năm học mới, sau khi đã ổn định tổ chức và khảo sát chất lượng
đầu năm.Giáo viên phải phân loại học sinh để có biện pháp bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh
học tập các môn, đặc biệt là môn Toán. Trong thực tế giảng dạy hiện nay, chúng ta thường
xuyên gặp những học sinh học tập yếu mà các thầy cô giáo có lương tâm và trách nhiệm
không thể hờ hững được, vì đây là nhiệm vụ của mình.Nhiệm vụ được đặt ra là người
giáo viên phụ trách lớp phải cố gắng giúp đỡ các em này nhanh chóng theo kịp được với
mặt bằng kiến thức chung của lớp mình.
Trên thực tế của từng lớp, từng trường nói riêng, các trường nói chung đều có một
số em giỏi toán và một số em yếu toán. Những em giỏi thì say mê học tập. Những em yếu
thì lười học, sợ học và sinh ra chán học.Để đảm bảo chất lượng học tập của các em trong
một lớp phải đồng đều như nhau là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, yêu cầu về chất
lượng giảng dạy và hiệu quả bồi dưỡng ngày càng đòi hỏi cao. Việc bồi dưỡng học sinh
yếu là cả một quá trình, phải có kế hoạch cụ thể cho người dạy và cả người học, vì vậy tôi
đã quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học yếu môn toán lớp 3”.Để

giúp các em yếu học tập tốt hơn bộ môn toán trong đó có giải toán đúng ở chương trình
này.
2/ Cơ sở lí luận
Chương trình tiểu học là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1,2 và lớp 3,4. Học
sinh được củng cố mở rộng phép cộng ,trừ và làm phép nhân chia. Đồng thời rèn luyện kĩ
năng tính toán cho học sinh 4 phép tính:cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000; và các
dạng giải toán điển hình. Vì vậy đối với việc giải toán trong từng tiết học để học sinh yếu
giải toán đúng quả là khó khăn cả về trả lời lẫn tính toán. Nhưng trên thực tế đối với học


sinh yếu giải toán, các em rất ngại làm bài, rụt rè, thiếu hào hứng trong học tập, sợ giải
toán vì khả năng tư duy “phân tích,tổng hợp của các em có nhiều hạn chế”.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy:
*Với môn Toán, hầu hết các học sinh yếu đều có một nguyên nhân chung là :kiến
thức ở các lớp dưới bị hổng, không có phương pháp học tập, tự ti, rụt rè, thiếu hào hứng
trong học tập.
*Ở mỗi học sinh yếu bộ môn Toán đều có nguyên nhân riêng, rất đa dạng. Có thể
chia ra một số loại thường gặp là:
a)Do quên kiến thức cơ bản, kĩ năng tính toán yếu.
b) Do chưa nắm được phương pháp học môn Toán, năng lực tư duy bị hạn chế(loại
trừ những học sinh bị bệnh lí bẩm sinh). Nhiều học sinh thể lực vẫn phát triển bình
thường nhưng năng lực tư duy toán học kém phát triển.
c) Do lười học.
d) Do thiếu điều kiện học tập hoặc do điều kiện khách quan tác động- học sinh có
hoàn cảnh đặc biệt(gia đình xảy ra sự cố đột ngột, hoàn cảnh nghèo,…).
Xác định rõ một trong những nguyên nhân trên đối với mỗi học sinh là điều quan
trọng.Công việc tiếp theo là giáo viên có biện pháp để xóa bỏ dần các nguyên nhân
đó,nhen nhóm lại lòng tự tin và hứng thú của học sinh đối với việc học môn Toán.
3/ Cơ sở thực tiễn
Với thực tế học sinh lớp tôi còn một số em giải toán có lời văn thiếu chính xác,

chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kĩ năng phán đoán, suy luận,
không biết làm thế nào?Các em rất sợ học. Mà môn Toán là điều cần thiết mà giáo viên
cần quan tâm, trong đó “Cách giải toán” là chú trọng trong chương trình toán 3.
Trước hiện trạng đó, tôi đã phân tích và tự đặt ra cho mình câu hỏi: phải làm gì?
làm như thế nào?Để khắc phục tình trạng đó và nâng cao chất lượng cho học sinh.
Qua quá trình nghiên cứu tôi đã tiến hành sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu đó là: Phương pháp điều tra, phương pháp đối chứng và phương pháp tổng
quát. Ở đây phương pháp điều tra không chỉ dừng lại ở điều tra thực trạng mà phải điều
tra từng giai đoạn trong suốt năm học. Ở mỗi giai đoạn tôi đều lấy kết quả đã đạt được để
đối chứng với kết quả giai đoạn trước, với kết quả năm trước và cuối cùng đi tổng hợp số
liệu và rút ra bài học kinh nghiệm.
Từ yêu cầu thực tiễn của môn Toán lớp 3, tôi đã tự đặt cho mình phải nhận thức
đầy đủ tầm quan trọng, yêu cầu của bộ môn, đặc biệt về nội dung và phương pháp giảng
dạy.
Trong giảng dạy môn Toán, qua nhiều năm gần đây, tôi đã tích cực nghiên cứu, học
hỏi kinh nghiệm giảng dạy, cách truyền thụ kiến thức, đặc biệt là việc phân tích bài toán
để giúp các em hiểu và làm bài tốt hơn. Muốn giúp học sinh làm toán tốt, trước hết trong
mọi giờ toán giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc bài toán, phân tích cho học sinh hiểu
và đặc biệt là hướng dẫn học sinh cách trình bày bài.
II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1/Điều tra phân loại học sinh yếu toán ở lớp
Ngay từ đầu năm khi nhận lớp,chúng ta cần phải phân loại từng em, yếu loại điển
hình nào để mình có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời
cho từng em.
Ví dụ như các em không biết giải, hay trả lời sai, làm tính không đúng thì tôi phải
luôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả
năng của mình để suy nghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng.
Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viên cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải.
Ngoài ra, thường xuyên kiểm tra bài làm của các em trên lớp chấm chữa bài tay đôi



với học sinh để củng cố kiến thức.Tuyên dương khen thưởng kịp thời nếu các em có
cố gắng(mặc dù chưa đạt yêu cầu)để các em phấn khởi học tập xóa đi ấn tượng sợ giải
toán.
Về nhà :Phải yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở lớp để các em yếu nắm
vững cách giải.Lần sau gặp loại bài như thế là làm được ngay và yêu cầu phụ huynh
kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con học ở nhà và giúp các
em làm đầy đủ bài tập cô giao. Ngoài ra, tôi còn giao cho những em giỏi toán ở lớp
giúp một em yếu. Lập thành đôi bạn cùng tiến bằng cách:Giờ truy bài kiểm tra bài làm
của bạn. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắmđược phương pháp giải
toán.
2. Rèn kĩ năng từ dễ đến khó, từ kiến thức cũ đến kiến thức mới
a)Ở lớp một: Các em đã học các bài toán đơn giản:giải bằng 1 phép tính về thêm,
bớt, nhiều hơn 1 số đơn vị.
Loại toán này đơn giản. Nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm vững thì mới
làm được các bài toán ở lớp trên.
Ví dụ:
-Hương hái được 3 bông hoa, Dũng hái được 5 bông hoa. Hỏi ai hái được nhiều
hơn và nhiều hơn bao nhiêu bông hoa?
Đây là các bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng hay tính
trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.
b)Ở lớp hai: Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm 5 mẫu giải
toán dạng: a + b + c; a +b –c ; a +(b –c) ; a +(b + c)
Đây là dạng toán tổng hợp giải bằng 2 phép tính. Tôi cho các em yếu toán, trung
bình ôn luyện các dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em hiểu mối quan
hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán. Từ đó hình thành tư duy toán
cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp, giải được các dạng toán nhanh, chính
xác.Bước đầu có kĩ năng trình bày bài toán.
c)Hình thức rèn luyện:Học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm ra cách
giải, với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần ham thích giải

toán,để thể hiện khả năng chính mình.
Vai trò của người thầy rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai,
giáo viên cũng phải có lời động viên hợp lý. Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc chưa đúng,
giáo viên động viên “gần đúng rồi, con cần suy nghĩ thêm nữa, thì sẽ đúng hơn,..”giúp các
em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên nói “Sai rồi, không đúng,…”làm mất
đi sự hứng thú của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học.
Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi nhau làm
để khảng định mình, từ đó có kĩ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường ở lớp
1,2.
3. Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể sang giải các
dạng toán điển hình của lớp 3
-Gấp một số lên nhiều lần
-Giảm 1 số đi nhiều lần
-Tìm một phần mấy của một số
-Giải toán tổng hợp bằng 2 phép nhân chia có liên quan rút về đơn vị.
-Giải toán tổng hợp bằng 2 phép chia có liên quan rút về đơn vị.
Ví dụ: Hồng có 10 quyển tập, Tuấn có 30 quyển tập.Hỏi hai bạn có bao nhiêu
quyển tập?Bạn nào nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu quyển tập?
Đối với bài này có nhiều câu hỏi khác nhau, giáo viên phải hướng dẫn học sinh
giải tương ứng với yêu cầu của từng câu hỏi.


Giải
Hai bạn có số quyển tập là:
10 + 30 = 40(quyển tập)
Đáp số: 40(quyển tập)
Số quyển tập bạn Tuấn nhiều hơn bạn Hồng là:
30 - 10 = 20(quyển tập)
Đáp số: 20(quyển tập)
Giáo viên phải nhấn mạnh cho học sinh một lời giải 1 phép tính. Có bao nhiêu câu

hỏi có bấy nhiêu đáp số (chú ý cả tên đơn vị).
Với các yêu cầu giải toán thông thường:
-Nhiều hơn: Làm tính cộng
-Ít hơn: Làm tính trừ
-Gấp 1 số lần: Làm tính nhân
-Kém một số lần: Làm tính chia
Sau khi rèn luyện một số bài toán điển hình để phát triển tư duy học sinh. Tôi nâng
cao hơn một bước, bằng cách thông qua bài toán “gốc”có dạng trên, tôi cho học sinh nâng
cao tư duy lên một bước với những dự kiện trên, mà cách giải lại làm tính ngược lại với
phép tính trên(vì người ta cho số bé yêu cầu cần tìm số lớn).
-Có từ nhiều hơn: Làm tính trừ
- Có từ ít hơn: Làm tính cộng
- Có từ gấp : Làm tính chia
- Có từ kém : Làm tính nhân
Ví dụ: Hoa có 12 cái kẹo, Hoa có nhiều hơn Hùng 2 cái kẹo. Hỏi 2 bạn có bao
nhiêu cái kẹo?
Bài giải
Số cái kẹo Hùng có là:
12- 2= 10(cái kẹo)
Số cái kẹo của 2 bạn có là:
12+10=32(cái kẹo)
Đáp số:32 cái kẹo
Ví dụ: Tâm có 30 hòn bi, Tâm có gấp 3 lần Bình. Hỏi 2 bạn có bao nhiêu hòn bi?
Bài giải
Số hòn bi Bình có là:
30: 3= 10(hòn bi)
Số hòn bi của 2 bạn có là:
30+10=40(hòn bi)
Đáp số:40 hòn bi
Với biện pháp này :Các em được nâng cao trình độ tư duy lên một bước. từ đó các

em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kĩ năng giải toán có lời văn rõ ràng,
chính xác.
4. Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các em trình bày bài giải đúng.
Hợp lí về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi đáp số để hoàn thiện bài
toán.
Bước này tuy đơn giản nhưng tương đối khó với học sinh. Đó là lời văn ngắn gọn,
chính xác, đúng nội dung bài để trả lời(phép tính tìm gì?) theo thứ tự.
Lời giải: Phép tính-lời giải- phép tính- đáp số.
Cần lưu ý: Phép tính trong giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị (danh số) đó
là phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn để giải thích, mục đích thực hiện
phép tính.


Ví dụ : Có 30 cái cốc đựng đều trong 5 hộp .Hỏi có 12 cái cốc đựng trong mấy hộp
như thế?
Giáo viên phải đưa ra một số câu hỏi đàm thoại gợi ý học sinh trung bình, yếu suy
đoán, lựa chọn cách giải đúng.
Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài
Tóm tắt
30 cái cốc: 5 hộp
12 cái cốc: hộp ?
Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác
Bài giải
Số cái cốc mỗi hộp có là:
30 : 5 =6 (cái cốc)
Số hộp cần có để đựng hết 12 cái cốc là:
12 : 6 = 2(hộp)
Đáp số : 2 hộp
Lưu ý : Đây là bài toán hợp giải bằng 2 phép chia. Tên đơn vị của 2 phép tính
khác nhau, phép tính trên có đơn vị của đại lượng 1, phép tính dưới có tên đơn vị của đại

lượng 2 (đại lượng phải đi tìm. Chính là đáp số bài toán).
5. Tính cách giải đúng chưa đủ, giáo viên còn giúp học sinh tìm nhiều cách giải để
tìm cách hợp lí nhất, ngắn gọn nhất, phát huy trí lực học sinh tạo điều kiện cho tư
duy toán phát triển.
Bước này đối với học sinh yếu, trung bình giải toán là khó khăn. Song người giáo
viên phải hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh thể hiện được khả năng giải toán của mình là
cần thiết.
Ví dụ: Một cửa hàng buổi sáng bán được 25kg nho, buổi chiều bán được số nho
gấp đôi buổi sáng. Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu ki- lô- gam nho?
Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài toán. Tóm tắt đề bài bằng các vẽ sơ
đồ đoạn thẳng (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng và nhiều cách khác.
Tóm tắt
25 kg
Buổi sáng :
Kg nho ?
Buổi chiều:
Cách 1:
Bài giải
Số kg nho buổi chiều bán được là:
25 x 2= 50( kg)
Số kg nho cả hai buổi bán được là:
25 +50 = 75 ( kg)
Đáp số: 75 kg nho
Cách 2:
Bài giải
Số kg nho cả hai buổi bán được là:
(25 x 2) +25 = 75 ( kg)


Đáp số: 75 kg nho

-Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu: Thực ra cách 2 chính là cách 1 giải gộp 2
phép tính trên mà thôi.
6. Kết hợp giải toán là rèn luyện kĩ năng tính toán giúp học sinh giải toán đúng
tránh nhầm lẫn khi tính toán.
Vì có những em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả bài
toán sai. Vậy giáo viên phải nhắc nhở học sinh làm bài phải tính toán chính xác, trình bày
khoa học rõ ràng. Nếu là phép “cộng trừ, nhân, chia” trong bảng học thuộc để vận dụng
nhanh. Nêu là các phép “cộng trừ, nhân, chia” ngoài bảng các em phải đặt tính cột dọc.
Làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả, đúng mới viết vào bài làm. Cần rèn luyện
kĩ năng tính nhẩm, tính viết thành thạo cho học sinh trong quá trình giải toán, để hoàn
thiện bài giải.
* Kết quả kiểm nghiệm
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp giúp đỡ học sinh yếu toán như đã nêu
trên, tôi thấy đa số các em đều tiến bộ rõ rệt.
Tôi rất phấn khởi thấy trong các giờ Toán học sinh say mê học và lớp học sôi nổi,
kĩ năng làm toán được nâng cao. Có nhiều em đầu năm học chán học, lười biếng làm bài,
đến cuối năm các em đã hào hứng, phấn khởi, ham học hơn.Những em học trung bình
,yếu đã làm đúng theo yêu cầu bài toán đề ra.Các giờ học toán đã được diễn ra nhẹ nhàng,
gây được hứng thú nhiều hơn cho học sinh yếu của lớp mình.
Năm
2011-2012
2012-2013
2012-2013

Tổng số học sinh
31
31
39

Đầu năm

10%
15%
5,2%

Cuối năm
0%
2%

III. KIỂM NGHIỆM LẠI KINH NGHIỆM:
Trên đây là một vài biện pháp giúp đỡ học sinh học yếu Toán cho học sinh lớp 3,
để đạt được những kết quả trên qua kinh nghiệm giảng dạy tôi tự rút ra một số kết luận sư
phạm như sau:
Muốn giúp đỡ học sinh học yếu Toán tốt, trước hết người thầy phải có nghiệp vụ
sư phạm tốt.
Giáo viên phải nắm chắc đối tượng học sinh. Để có những biện pháp dạy học đạt
kết quả cao nhất, nhằm phát huy hết tính tích cực trong học tập, tổ chức điều khiển khéo
léo gây bầu không khí sôi nổi, kích thích hứng thú học tập và nâng cao ý thức tự giác của
học sinh.
Giáo viên cần phải tìm hiểu chắc nội dung cơ bản của chương trình sách giáo khoa,
sách hướng dẫn, để giúp học sinh nắm vững nội dung bài, hướng dẫn rõ cách đọc, hiểu đề
bài toán, phân tích ,tóm tắt và trình bày bài. Thực tế cho thấy sách giáo khoa Toán, sách
hướng dẫn phải thừa nhận là có nhiều ưu điểm nổi bật. Tìm hiểu phần hướng dẫn chung
trong sách, đa số giáo viên đã nắm được cơ bản của phương pháp giảng dạy mới, song đi
sâu vào từng bài cụ thể thì còn lung túng. Do vậy nắm vững sách, hiểu ý đồ của người
biên soạn là quan trọng . Song chưa đủ, còn đòi hỏi đến vai trò chủ động sáng tạo và ứng
xử linh hoạt đối với từng đối tượng học sinh khác nhau mới đem lại hiệu quả cao.
Giáo viên phải giàu lòng yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình gương mẫu trong phương
pháp soạn giảng, phát hiện kịp thời học sinh yếu phần nào. Giáo viên phải kiên trì uốn
nắn cho học sinh thật tận tình chu đáo.



Giảm bớt hoặc sửa lại câu hỏi cho sát với từng đối tượng học sinh, tránh giảng
triền miên , nói nhiều, viết nhiều trong khi học sinh làm bài còn yếu.
Luôn động viên khuyến khích học sinh khi các em có tiến bộ.
IV. KẾT LUẬN :
Qua thực tế giảng dạy trên lớp hằng ngày, tôi đi đến kết luận rằng: Muốn giúp đỡ
học sinh học yếu Toán học tốt hơn, thì vai trò của người thầy giáo đặc biệt quan trọng bởi
người thầy giáo luôn là tấm gương sáng, mẫu mực để học sinh bắt chước.
Trong mỗi giờ toán, người thầy phải hướng dẫn cho học sinh thật tỉ mỉ từng bài
tập và phải kiên trì uốn nắn, sửa chữa kịp thời tùy theo từng đối tượng học sinh tận tình
chu đáo.
Vì vậy mỗi giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình giảng dạy, luôn
luôn trau dồi nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp để nâng cao chất
lượng dạy và học ở các môn đặc biết là môn toán ở tiểu học.
Thông qua quá trình giảng dạy, nhờ đã kiên trì bền bỉ áp dụng những biện pháp
giúp đỡ học sinh học yếu môn Toán như đã nêu trên, tôi thấy đa số các em đều tiến bộ rõ
rệt.
Tôi rất mừng thấy trong các giờ toán học sinh say mê học và lớp học sôi nổi, kĩ
năng làm toán được nâng cao. Có nhiều em đầu năm học chưa biết trình bày bài toán như
thế nào, chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, đến cuối năm các em đã biết phân tích bài toán
rồi trình bày bài giải tương đối chính xác. Những em học trung bình , yếu hứng thú, say
mê học hơn. Các em từ chỗ sợ học toán, ngại giải toán đến chỗ các em không ngại nữa mà
lại thích giải toán để khảng định khả năng chính mình..Tuy kết quả chưa được mĩ mãn
như ý , nhưng đó cũng là thành công bước đầu nghiên cứu,tìm ra biện pháp giúp đỡ học
sinh yếu toán của lớp mình.
Trên đây là một số biện pháp nhỏ của tôi trong việc giúp đỡ học sinh học yếu Toán
lớp 3.Trong thực tế giảng dạy mỗi người đều có suy nghĩ, kinh nghiệm, bí quyết nghề
nghiệp riêng của mình nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy và học.Tất cả
vì học sinh thân yêu, vì sự nghiệp giáo dục.
Có lẽ đề tài của tôi còn nhiều thiếu sót và hạn chế, tôi rất mong được sự giúp đỡ

của các cấp trên cùng các bạn đồng nghiệp, để kinh nghiệm dạy học của tôi thêm phong
phú, hoàn thiện hơn.
Cùng với thời gian tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung cho sáng kiến kinh nghiệm
của mình ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trà An,ngày
tháng 10 năm 2012
Người thực hiện


PHềNG GIO DC V O TO QUN BèNH THY
TRNG TIU HC TR AN







ẹe Taứi :

MT S BIN PHP GIP HC SINH HC
TT PHN MễN LUYN T V CU LP 2


GIO VIấN: PHAN TH MINH
NAấM HOẽC: 2014
- 2015



PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN BÌNH THỦY
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÀ AN







Ñeà Taøi :

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỨNG
THÚ CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HỌC TỐT MÔN
TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 3


GIÁO VIÊN: PHAN THỊ MINH


NĂM HỌC:
2014-2015

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỨNG THÚ
CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC HỌC TỐT MÔN TỰ NHIÊN
XÃ HỘI LỚP 3
I/ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc đổi mới phương pháp dạy học xuất phát từ
yêu cầu làm cho sự nghiệp giáo dục bắt kòp với nhu
cầu phát triển xã hội, được tiến hành thường xuyên ở
các nước. Các thuật ngữ như “cải cách giáo dục” hoặc

“ đổi mới phương pháp dạy học”, “lấy học sinh làm trung
tâm”, học tập hứng thú, chủ động, tích cực”… đã quá
quen thuộc đối với ngành giáo dục.
Trong mục tiêu dạy học hiện nay học sinh đóng vai trò
trung tâm trong việc chủ động tích cực chiếm lónh tri thức.
Vì vậy việc tạo điều kiện gây hứng thú học tập cho học
sinh là một việc làm hết sức cần thiết trong quá trình
giảng dạy đổi mới hiện nay nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục. Mặc dù những năm qua ngành giáo dục đã
có những cải cách phương pháp dạy học, thay đổi nội
dung sách giáo khoa để tạo sự chuyển biến tích cực học
tập của học sinh. Song một số học sinh phần đông vẫn
còn lơ là chưa chú tâm đến việc học. Cụ thể ở trường
tiểu học Trà Nóc 1 qua tìm hiểu và trao đổi với đồng
nghiệp ở khối lớp 3. Qua dự giờ đồng nghiệp ở các
trường bạn tôi nhận thấy học sinh chưa hứng thú phát huy
tính tích cực học tập đối với một số môn học trong đó
đặc biệt có môn Tự nhiên và xã hội lớp 3.


×