Câu : Bánh trôi nước
1. Nội dung
Nét độc đáo của bài thơ là sự tương đồng rất tài tình giữa nghĩa tả thực chiếc bánh
trôi nước và ý nghĩa tượng trưng về thân phận người phụ nữ trên nhiều
phương diện : hình dạng, màu sắc, sự chìm nổi… trong từng câu chữ.
+ Hai câu thơ đầu:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chì với nước non”
- Hình ảnh chiếc bánh trôi nước: “vừa trắng lại vừa tròn”, một vẻ đẹp
trắng trong, tinh khiết
- Chiếc bánh phải “bảy nổi ba chìm”: khi làm xong bánh thì thả vào nước sôi, bao
giờ bánh nổi thì nghĩa là bánh đã chín.
Chiếc bánh trôi ẩn dụ cho nét đẹp bên ngoài và số phận của người phụ nữ thời
phong kiến:
-
Người phụ nữa xưa thường có vẻ bề ngoài xinh đẹp như: Thúy Kiều, Thúy
Vân, Tiểu Thanh, Người cung nữ,...
Nhưng số phận lại chìm nổi lên đênh và rơi vào những bi kịch của cuộc đời
như: góa bụa, làm lẽ, ép gả,...
+ Hai câu thơ cuối:
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
-
Chiếc bánh trôi “tròn hay méo”, “lành lặn hay nát” là do sự khé léo, do đôi
bàn tay của người làm ra chiếc bánh.
- Khi chiếc bánh đã chín: lớp bên ngoài mềm, trắng mịn, lớp bên trong thơm,
ngon.
-> Bánh trôi nước là một thực phẩm rất ngon dành cho người Việt, nó trở
thành một món ăn truyền thống trong dịp tết hàn thực của người Việt Nam.
•
Ẩn dụ cho thân phận của người phụ nữ và phẩm chất bên trong của họ:
Người phụ nữ cũng giống như chiếc bánh trôi kia, “rắn hay nát”, hạnh phúc
hay đau khổ phải phụ thuộc vào người khác, không do mình quyết định.
- Thế nhưng dù có bị vùi dập, đau khổ hay bất hạnh nhưng người phụ nữ vẫn
giữ trong mình những phẩm giá tốt đẹp “lòng son” như: thủy chung, yêu
thương, hiền hậu,...
2. Nghệ thuật
-
- Bài thơ mở đầu bằng mô típ “thân em” – mô típ mở đầu truyền thống trong ca
dao than thân:
VD:
Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
-
Sử dụng nghệ thuật ẩn dụ: dùng hình ảnh bánh trôi để nói lên thân phận
người phụ nữ
-
III. Kết luận
-
- Với nghệ thuật ẩn dụ độc đáo, nhà thơ đã khẳng định vẻ đẹp bên ngoài
và bên trong của người phụ nữ, tố cáo xã hội phong kiến cướp đi quyền tự
quyết và tự chủ của người phụ nữ. Họ không có quyền quyết định hạnh phúc
của bản thân mình, không có quyền chọn chồng hay cuộc sống của mình.
- Tuy nhiên dù cuộc sống long đong lận đận thì họ vẫn giữ được tấm lòng
son sắt thủy chung và luôn chân thành trong tình yêu
-
1. Phần 1
- Nỗi cô đơn lẻ loi của người chinh phụ
4 câu thơ đầu:
. - Tả tâm trạng qua hành động: người chinh phụ đi ra đi vào, cuốn lên buông
xuống tấm rèm nhiều lần:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Đó là hành động lặp đi lặp lại, không có mục đích rõ ràng, thể hiện
tâm trạng nặng nề, tù túng, ngóng trông.
• - Nàng ngón chờ chim thước (chim khách) báo tin lành, báo tin có người
phương xa trở về nhưng chim khách lại “chẳng mách tin”.Nỗi ngóng trông
tin tức trong vô vọng.
8 câu thơ tiếp:
•
- Đèn là vật tả nỗi cô đơn, thường được dùng trong ca dao và thơ cổ. Nó thể hiện
sự mong ngóng tin tức của người chồng, mong có người chia sẻ nỗi cô đơn.
Câu hỏi tu từ : hỏi “đèn” chính là tự hỏi lòng mình.
- Câu hỏi được đặt ra sau đó lại tự trả lời. Đèn có biết cũng bằng không biết, bởi
nó không biết nói, cũng chẳng thể an ủi nàng. Chỉ có riêng nàng trong nỗi cô
đơn bi thiết không nói nên lời mà nói cũng chả nói được với ai.
- Nỗi sầu muộn nhớ nhung của người chinh phụ đã nan tỏa, thấm đượm cả vào
cảnh vật, cảnh vật như thấu hiểu lòng người:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa”
+ Tiếng gà “eo óc” giường như là vô cùng nhức nhối, báo hiệu một ngày nữa đã
qua, nỗi buồn cứ chuyển tiếp từ ngày này sang ngày khác.
+ Cây hòe “phất phơ rủ bóng”: sự ủ rũ, không có sức sống.
+ Thời gian: dường như được kéo ra ra, một “khắc giờ” mà đằng đẵng như một
năm và nỗi sầu muộn ấy cứ “dằng dặc” trải dài ra không gian mênh mông
4 câu cuối:
- Ngóng tin tức, nhìn cảnh vật đều không thể thoát khổi nỗi sầu muộn, nàng đã có
những hành động mong muốn quên đi nỗi sầu để có thể cho tâm trạng được
thanh thản:
“ Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.”
Đó là những thú vui tao nhã nhưng nó không giúp nàng xua đi nỗi buồn .Từ
“gượng” xuất hiện 3 lần nhấn mạnh sự miễn cưỡng, gượng gạo, chán chường
của nàng.
Phần 2: Nỗi lòng của người chinh phụ
•
- Tâm trạng của người chinh phụ được thể hiện trực tiếp:
“Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”
+ “Gió đông”, “non Yên”: hình ảnh ước lệ, khátvọng gửi nỗi lòng theo ngọn gió
đông tới nơi chồng đang chinh chiến.
+ Người chinh phụ bắt gặp ngọn gió đông, trong nàng loé lên một nguồn hi
vọng. Nàng van nài cả gió đông để gửi thương nhớ tới nơi chồng “Lòng này
gửi gió đông…non Yên”. Câu hỏi ở đầu cùng việc sử dụng nhiều từ trang
trọng: có tiện, nghìn vàng, xin thể hiện sự nhún mình, sự năn nỉ ngọn gió.
Kết luận:
1. Nội dung
Đoạn trích miêu tả những sắc thái và cungbậc khác nhau của nỗi cô đơn,
buồn khổ củangười chinh phụ khao khát được sống trong tìnhyêu và trong
hạnh phúc lứa đôi, qua đó cũng thểhiện được sự oán ghét, lên án chiến tranh
phinghĩa của tác phẩm.
2. Nghệ thuật
- Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật
- Miêu tả qua hành động, thiên nhiên
- Miêu tả qua việc sử dụng những từ ngữ có giá trị như từ láy, động từ mạnh,...
- Sử dụng thể thơ song thất lục bát có nhạc điệu dồi dào, phù hợp với việc diễn
tả tâm trạng có âm điệu oán trách, than vãn, sầu muộn.
- Sử dụng câu hỏi tu từ và phép ẩn dụ
- Sử dụng biện pháp “tả cảnh ngụ tình”.
Trao duyên
Phần một: 12 câu thơ đầu
-
Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bén duyên với chàng Kim thay mình
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
–
2 câu thơ đầu thể hiện hành động nhờ vả của Kiều:
“cậy” -> thể hiện sự nhờ vả của Kiều, Kiều không dùng từ nhờ mà lại dùng từ
“cậy” bởi vì nó thể hiện một thái độ như cầu xin, và nặng hơn nó như ép Thúy
Vân phải buộc lòng nghe theo
+ “chịu” chính là nhận lời nhưng ở đây dường như là ép buộc
Là phận chị nhưng Kiều lại nói với em ngồi lên cho chị lạy rồi chị thưa
chuyện -> thể hiện một thái độ nhờ vả rất chân thành
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
- Nàng tiếp tục kể về cuộc tình của mình và chàng Kim
-
-
Chuyện tình của hai người vẫn còn đang ở giữa chừng chưa đi đâu về đâu
cả
Bây giờ “keo loan chắp mối tơ thừa” cho em, chị se duyên kết tóc mong em
có thể tiếp tục mối lương duyên này
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gio bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
- Kể từ khi Kiều gặp chàng Kim rồi đến khi thề nguyền bên nhau. Nhưng
sự đời oan trái sóng gió bất ngờ ập đến, hai chữ tình hiếu được đặt lên bàn
cân. Mà nàng thì không thể vẹn cả hai chữ được
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Dù chị thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
- Thúy Vân vẫn còn trẻ thôi thì em hãy giúp chị làm tròn chữ tình
-
- Dẫu cho thân chị có tan nát thì vẫn còn thơm lây sự hi sinh của em
-> Cách nhờ cậy của kiều cũng rất khôn khéo hợp tình nên Vân chắc chắn
không thể không chấp nhận. Từ chuyện sóng gió gia đình Kiều hi sinh vì gia
đình và bây giờ đến Vân hi sinh chấp nhận thay chị chăm sóc cho chàng
Kim
-
Phần 2: Kiều trao lại kỉ vật và dặn dò em
-
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên”
-
- Kỉ vật là “chiếc vành với bức tờ mây” Kiều trao lại cho Vân nhưng
nàng vẫn không chấp nhận được sự thật. Nàng ích kỉ trao duyên cho em
nhưng muốn vật kia là vật của chung
-
- Kiều bán thân trao duyên nhưng trong thâm tâm đã nghĩ đến cái chết,
mong hai người mai này hạnh phúc thì đừng quên người mệnh bạc này
“Mai sau dù có bao giờ
-
Đót lò hương ấy so tơ phím này
-
Trông ra ngọn cỏ lá cây
-
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”
–
-
–
-
Mai này “đốt lò hương ấy so tơ phim này”
->
hạnh
phúc
thì
hãy
nhớ
đến
Kiều
Kiều hơn một lần nghĩ đến cái chết, “thấy hiu hiu gió” thì hay chị về
“Hồn cò mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan”
- Kiều không thể quên được ân tình của mình. Nàng muốn trở về với tình
yêu bằng linh hồn bất tử. => Khát vọng tình yêu và hạnh phúc không nguôi
trong
lòng
Kiều.
=> Kiều trao kỉ vật cho em mà lòng Kiều thổn thức, não nề, nuối tiếc, đau
xót. Tâm trạng đau đớn, vò xé, đang nói chuyện với Thuý Vân nhưng dường
như nàng đang thảm thiết với nỗi đau riêng trong tâm hồn mình.
Phần 3: 8 câu thơ cuối
-
Lời đọc thoại nội tâm và tâm trạng đau đớn của Thúy Kiều:
“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần đấy thôi”
–
Nỗi đau đớn được thể hiện qua những thành ngữ “trâm gãy bình tan, phận bạc
như vôi, nước chảy hoa trôi”
-> thể hiện sự tan vở dở dang
- Kiều đau khổ vô cùng khi tình yêu dang dở, ngắn ngủi.
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
– Nàng gọi Kim trọng là lang quân có nghĩa là chồng, trong thâm tâm Kiều
đã coi Kim Trọng là chồng từ lâu
-> Đoạn thơ thể hiện sự day dứt cảm thấy tội lỗi của Thúy Kiều, xen lẫn là
tâm trạng đau đớn khi mất đi người yêu