Tải bản đầy đủ (.doc) (67 trang)

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac Lênin

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (396.37 KB, 67 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
Bài 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
I. Khái niệm triết học
- Theo nghĩa gốc Hán, triết là trí, bao gồm cả sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng, đạo lý.
- Theo nghĩa gốc Hy Lạp, triết có nghĩa là yêu mến sự thông thái.
- Từ thế kỷ VItcn cho đến thế kỷ XVIII loài người đã quan niệm triết học là khoa học của
mọi khoa học, là khoa học đứng trên mọi khoa học. Bởi thế, bất cứ ai thông thạo bất cứ môn
khoa học nào cũng được gọi là nhà hiền triết hoặc nhà thông thái. Người ta đã xem đối tượng
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của triết học là bao gồm mọi đối tượng,
phương pháp và đặc điểm của mọi khoa học cụ thể.
- Thế kỷ XIX, người đầu tiên tách triết học ra khỏi các khoa học cụ thể khá thành công
nhưng trên lập trường duy tâm khách quan là G.V.F. Hêghen. Người hoàn thành sự nghiệp đó là
C.Mác và Ph.Ăng ghen.
- Theo quan điểm mác-xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là khoa
học về những biện pháp chung nhất, những nguyên tắc chung nhất, những con đường chung
nhất của sự vận động và phát triển của thế giới.
- Khái niệm triết học dù ở phương Đông hay phương Tây, dù có biến đổi theo lịch sử
nhưng bao giờ cũng bao gồm hai yếu tố: Một là yếu tố nhận thức, tức sự hiểu biết của con người
về thế giới, sự giải thích thế giới hiện thực bằng hệ thống tư duy. Hai là yếu tố nhận định, tức sự
đánh giá, nhận xét về mặt đạo lý và thái độ hành động đối xử của con người đối với thế giới.
- Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có những đặc điểm riêng:
+ Nó là một trong những hình thái ý thức cổ xưa nhất và quan trọng nhất. Vai trò của triết
học ngày càng tăng lên cùng với quá trình phát triển của tri thức nhân loại. Cùng với đạo đức,
nghệ thuật, triết học mãi mãi tồn tại với xã hội loài người.
+ Khác với các hình thái ý thức xã hội khác, triết học nghiên cứu thế giới trong một chỉnh
thể, nhận thức bản chất của thế giới, vạch ra những nguyên nhân của sự phát triển. Triết học
nghiên cứu những nguyên lý, những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của thế
giới. Tức không có lĩnh vực nào mà triết học không nghiên cứu. Nhưng ở tất cả mọi lĩnh vực,
triết học chỉ nghiên cứu cái chung nhất, chỉ ra bản chất của nó chứ không nghiên cứu cụ thể như
các khoa học cụ thể.
+ Là một trong những hình thái ý thức xã hội, nhưng triết học cố gắng đưa ra một quan


niệm chỉnh thể về thế giới, về các quá trình vật chất và tinh thần, về những mối liên hệ tác động
của các quá trình đó, về nhận thức và con đường cải biến thế giới.
II. Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học nghiên cứu hàng loạt các vấn đề chung của thế giới, nhưng vấn đề cơ bản của
triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (giữa tồn tại và tư duy, hay giữa tự
nhiên và tinh thần).
Nó là vấn đề cơ bản của triết học bởi lẽ, trong thế giới có vô vàn sự vật, hiện tượng,
nhưng chung quy lại chúng chỉ phân thành hai loại: hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên) và hiện
tượng ý thức (tư duy, tinh thần). Mặt khác, từ phương Đông sang phương Tây, từ cổ đại đến hiện
đại tất cả các trường phái triết học trước khi nghiên cứu các vấn đề chung khác, bao giờ cũng
nghiên cứu và giải quyết vấn đề mối liên hệ giữa vật chất và ý thức trước tiên. Việc giải quyết
vấn đề này là cơ sở nền tảng cho việc giải quyết những vấn đề khác của triết học. Nói cách khác
việc giải quyết nó là giải quyết về thế giới quan và phương pháp luận của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất giải quyết về thế giới quan. Tất cả
các nhà triết học đều phải trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau,
1


cái nào quyết định cái nào? Tùy theo câu trả lời của các nhà triết học, mà các học thuyết triết học
đã chia thành hai trào lưu chính Duy Vật và Duy Tâm.
Các nhà triết học Duy Vật khẳng định vật chất có trước và quyết định đối với ý thức. Ý
thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người. Chủ nghĩa duy vật trong tiến trình phát
triển từ cổ đại đến hiện đại đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau: cổ đại, tầm thường, cơ học,
máy móc... nói chung là duy vật siêu hình, và duy vật biện chứng.
Ngược lại, các nhà triết học Duy Tâm lại khẳng định ý thức có trước và quyết định đối
với vật chất. Trong tiến trình phát triển của mình, chủ nghĩa duy tâm cũng đã trãi qua nhiều hình
thức khác nhau: duy cảm chủ quan, duy lý, nhị nguyên, duy thức, duy ngã... nói chung là duy
tâm chủ quan và duy tâm khách quan.
Mặt thứ hai giải quyết về vấn đề nhận thức luận: tất cả các nhà triết học đều phải trả lời
câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không? Tùy theo câu trả lời của các nhà triết

học mà các triết thuyết đã chia thành hai phái: Khả tri luận gồm các nhà triết học trả lời con
người có khả năng nhận thức thế giới. Thông thường họ là các nhà triết học duy vật và các nhà
triết học duy tâm chủ quan. Bất khả tri luận gồm các nhà triết học trả lời con người không có khả
năng nhận thức thế giới. Thông thường họ là các nhà triết học duy tâm khách quan.
Trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, lịch sử triết học chỉ ra Triết học có hai
nguồn gốc: Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy vật là mối liên hệ của nó với các thành tựu
của các khoa học cụ thể. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các
giai cấp tiến bộ, cách mạng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Nguồn gốc nhận thức của
chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với các đấng siêu nhiên, hoặc tuyệt đối hóa một hay một
số yếu tố nào đó của ý thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với
các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ, giai cấp thống trị đang trên đà tan rã trong từng
giai đoạn phát triển của lịch sử.
III. Hai phương pháp cơ bản trong triết học
Xuất phát từ bản chất của triết học, khi giải quyết vấn đề cơ bản bản chất của thế giới có
vận động và phát triển không, nếu có thì do những nguyên nhân và theo những xu hướng nào,
mà trong triết học đã có hai phương pháp cơ bản biện chứng và siêu hình. Hai phương pháp này
đối lập nhau về cách nhìn nhận thế giới.
Phương pháp biện chứng xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc
lẫn nhau, và luôn vận động, và luôn phát triển. Trong sự phát triển của mình, phương pháp biện
chứng đã có những hình thức khác nhau là: Biện chứng cổ đại, biện chứng duy tâm, biện chứng
duy vật.
Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong mối liên hệ cô lập tách biệt lẫn nhau, hoặc
không vận động, hoặc không phát triển, hoặc vận động và phát triển theo chu kỳ khép kín. Trong
sự phát triển của mình, phương pháp siêu hình cũng có các hình thức khác nhau: siêu hình duy
tâm, siêu hình duy vật.
Tóm lại, trong sự phát triển của triết học, với tư cách là một khoa học, trong nó luôn diễn
ra cuộc đấu tranh giữa duy vật với duy tâm, giữa vô thần với hữu thần, giữa biện chứng với siêu
hình. Các cuộc đấu tranh ấy chính là đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học. Tuy nhiên, triết
học phương Tây thường tập trung giải quyết các vấn đề thuộc về thế giới quan, trong khi đó triết
học phương Đông lại nặng về vấn đề nhân sinh quan: Triết học Trung Quốc tập trung về vấn đề

đạo đức, chính trị - xã hội; Triết học Ấn Độ nặng về giải quyết các vấn đề thuộc về đời sống tâm
linh. Triết học phương Đông tính chiến đấu giữa duy vật với duy tâm, giữa biện chứng với siêu
hình, giữa vô thần với hữu thần mờ nhạt hơn so với triết học phương Tây.
2


IV. Đại cương lịch sử triết học phương Tây
4.1. Triết học Hy Lạp và La Mã (trước thế kỷ V)
Sự phát triển của triết học La-mã và Hy-lạp cổ đại được chia thành ba thời kỳ:
- Thời kỳ tiền Socrate: Trước thế kỷ IV tcn với các trường phái triết học tiêu biểu là Milê,
Pitago, Hêraclit, Êlê... Thời kỳ này các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà khoa học tự nhiên.
Vấn đề được các nhà triết học quan tâm hàng đầu là vấn đề bản thể luận.
- Thời kỳ Socrate: Từ thế kỷ IV tcn đến thế kỷ III tcn, đây là thời kỳ cực thịnh của triết
học Hy-La, với các triết gia nổi tiếng Socrat, Platon, Aristote, Democrite và vấn đề mà họ quan
tâm trong triết học của mình là vấn đề con người.
- Thời kỳ Hy Lạp hoá: Đây là thời kỳ Hy Lạp bị La Mã chinh phục về lãnh thổ, nhưng La
Mã lại bị Hy Lạp khuất phục bởi những giá trị của nề văn hoá rực rỡ của Hy Lạp cổ đại. Giai
đoạn này các nhà triết học lãng tránh những vấn đề trung tâm của triết học, mà chìm đắm với
những suy tư về định mệnh, chìm đắm trong đời sống tình cảm và ham muốn... nó báo hiệu cho
sự suy tàn của triết học Hy-La.
Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại có các đặc điểm sau:
- Là sự kết tinh những gi tinh tuý nhất của nhận thức tổng hợp nhân loại từ cộng sản
nguyên thuỷ đến chiếm hữu nô lệ ở phương Tây, nó dung chứa hầu hết các vấn đề cơ bản của thế
giới quan, dù chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc, nhưng vô cùng phong phú và đa
dạng.
- Con người là vấn đề trung tâm của triết học, nhưng chỉ là con người cá thể. Giá trị thẩm
định con người mới chỉ chủ yếu là đạo đức, giáo tiếp và nhận thức.
- Tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai là một trong các đặc điểm nổi trội của triết
học Hy-La cổ đại.
4.2. Triết học Tây Âu thời trung cổ (tk V-XV):

Sự hình thành của triết học Tây Âu trung cổ không tách rời những ảnh hưởng của triết
học Cơ đốc giáo từ thế kỷ II đến thế kỷ IV (với các triết gia tiêu biểu là Téc-tu-liêng, Au-guytxtanh). Triết học kinh viện là điểm nổi bật của triết học Tây Âu thời trung cổ và nó chịu ảnh
hưởng sâu sắc của triết học Platon, Arixtote.
Sự phát triển của triết học Tây Âu thời trung cổ có thể chia thành ba thời kỳ: Thời sơ khai
(IX-XII với các triết gia Giăng-Scốt, A-sen-me-de-Khan-to-be-ry, An-bê-la), Thời hưng thịnh
(XII-XIII với các triết gia An-be-lơ-Grăng, Tô-mát-Đa-canh), Thời suy tàn (XIV-XV với các triết
gia Rô-giê-Bê-cơn, Đôn-xcốt, Ốc-Cam).
Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời Trung cổ là:
- Là tiếng đồng vọng của tôn giáo, là sự biện minh của thần học. Đây là thời kỳ triết học
phục tùng thần học và phục vụ tôn giáo, trên thực tế triết học đã là đầy tớ của thần học và tôn
giáo.
- Trung tâm của triết học Tây Âu thời trung cổ là mối quan hệ giữa niềm tin và tri thức:
Triết lý thuần tuý, tư biện bị vấp chắn bởi các chân lý đời thường; Triết lý kinh viện bị nan giải
khi lấy niềm tin làm tiền đề giải quyết các mối quan hệ riêng - chung; Đức tin đã không thể giải
thích được tại sao con người luôn tư duy bằng khái niệm trong khi thế giới hiện thực chỉ tồn tại
các sự vật cụ thể đơn nhất.
- Cuộc đấu tranh của triết học trên vấn đề cơ bản được biểu hiện qua xung đột giữa chủ
nghĩa duy danh và chủ nghĩa duy thực. Các nhà triết học duy danh khẳng định cái riêng có trước
3


quyết định caí chung. Các nhà triết học duy thực lại khẳng định cái chung có trước quyết định cái
riêng.
- Con người trong triết học Tây Âu thời Trung cổ chỉ là những sinh linh nhỏ bé, tội
nghiệp, thụ động, trĩu nặng tội tông truyền, phải ăn năn sám hối trong kiếp làm người.
4.3. Triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng (tk XV-XVI):
Đây là thời kỳ giai cấp tư sản ra đời và lớn mạnh, họ gương cao ngọn cờ duy vật và vô
thần cùng nông dân đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến ở phương Tây. Các nhà triết học tiêu biểu
thời kỳ này là: Ni-cô-lai-Cô-péc-ních, Bờ-ru-nô, Ga-li-lê. Triết học Tây Âu thời phục hưng vì thế
có các đặc điểm:

- Là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội.
Do giương cao chủ nghĩa duy vật và vô thần mà nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đã bị giáo hội sát hại,
bắt bớ, cầm tù.
- Phiếm thần và tự nhiên thần là biểu hiện của sự thoả hiệp với triết học duy tâm hữu thần
và cũng là tính hai mặt của các nhà triết học duy vật Tây Âu thời kỳ phục hưng.
- Con người trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng là thước đo vẻ đẹp cường tráng của
thân thể, sự tinh anh của trí tuệ và chỉ biết thờ phụng, chiêm ngưỡng chính bản thân mình, với
một khát vọng cháy bỏng về tự do.
- Chủ nghĩa nhân văn kiểu chủ nghĩa xã hội không tưởng là một trong những đặc điểm
nổi bật của triết học Tây Âu thời phục hưng.
4.4. Triết học Tây Âu thời cận đại (tk XVII-XVIII):
Đây là thời kỳ khai sinh các dân tộc tư sản, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay
thế cho phương thức sản xuất phong kiến ở Tây Âu. Sự phát triển về kinh tế và xã hội cùng với
sự phát minh vĩ đại trong khoa học tự nhiên đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của
chủ nghĩa duy vật siêu hình ở Tây Âu cận đại. Sự trỗi dậy của triết học duy tâm chủ quan bất khả
tri Anh chỉ là tiếng kêu thất thanh, giãy chết trước sự lớn mạnh như vũ bão của triết học duy vật
Pháp. Những triết gia tiêu biểu của thời kỳ này là: Phờ-răng-xít-Bê-cơn, Tô-mát-Hốp-bơ, GiônLốc-cơ, Béc-cơ-ly, Đa-vít-Hi-um, Rơ-nê-Đề-các, Pát-can, Mông-téc-ky-ơ, Vôn-te, Giăng-giắcRút-xô, Đi-đơ-rô, Hôn-bách, Spi-nô-gia, Lép-ních... Đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời
cận đại là:
- Giai cấp tư sản tiếp tục gương cao ngọn cờ duy vật và vô thần trong cuộc đấu tranh để
thiết lập trật tự tư bản chủ nghĩa và giải phóng con người. Những quan niệm xã hội tiến bộ của
chủ nghĩa duy vật trở thành cơ sở lý luận cho việc bác bỏ thần học và tôn giáo. Con người đã trở
thành niềm kiêu hãnh của thời đại. Nhưng con người mới chỉ được đề cập ở khía cạnh cá thể,
những bức bách được khẳng định về năng lực và giải phóng ở tính sinh vật, nhận thức và nhu
cầu tình cảm, còn mặt bản chất xã hội ít được đề cập đến.
- Triết học duy vật Tây Âu thời cận đại phát triển trong quan hệ gắn bó chặt chẽ với khoa
học. Việc phân định nhà triết học và khoa học tự nhiên nhiều trường hợp chỉ có ý nghĩa tương
đối.
- Triết học duy vật Tây Âu thời cận đại chịu ảnh hưởng nặng nề sự thống tri của phương
pháp siêu hình.
- Triết học duy vật Tây Âu thời cận đại là triết học duy vật không triệt để, họ thường duy

vật khi bàn về các hiện tượng tự nhiên, nhưng duy tâm khi giải quyết các vấn đề xã hội.
- Triết học Tây Âu thời cận đại đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhận thức luận và phương
pháp luận. Trong nhận thức luận họ thường đề cao một trong hai giai đoạn của quá trình nhận
4


thức cảm tính hay lý tính nên không thấy được tính biện chứng, thống nhất của quá trình nhận
thức. Về mặt phương pháp thì lại tuyệt đối hoá một trong hai phương pháp nhận thức diễn dịch
hay quy nạp do chủ thể mà không do đối tượng và mục đích nghiên cứu quyết định.
- Cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học trong thời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa hai
đường lối triết học Béccơly và Điđơrô.
4.5. Triết học cổ điển Đức (tk XVIII-XIX):
Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của triết học phương Tây, có ảnh hưởng sâu rộng và to
lớn đến triết học hiện đại. Nó phản ánh sinh động tính độc lập tương đối của ý thức triết học với
tồn tại xã hội: Khuynh hướng phát triển tư bản chủ nghĩa ở Đức lúc này đang bị chế độ phong
kiến quan liêu, chuyên chế cản trở. Thực trạng của đất nước và sự ảnh hưởng của các nước Pháp,
Ý, Anh đã làm thức tỉnh bộ phận cấp tiến giai cấp tư sản và lực lượng tiến bộ Đức, họ công khai
phản bác, chống lại sự trì trệ, bảo thủ của xã hội phong kiến Đức, đồng thời phản ánh nguyện
vọng của các giai tầng trong xã hội, đòi phát triển đất nước Đức theo mô hình của các quốc gia
lân cận. Các triết gia tiêu biểu của triết học cổ điển Đức gồm có: Hai-đơ, Lơ-sing, Sin-lơ, Gớt,
Căng-tơ, Phích-tơ, Sê-ling, Hê-ghen, Phơ-bách.
Triết học cổ điển Đức có các đặc điểm sau:
- Là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX. Thế giới quan và ý thức hệ này mang tính hai mặt, vừa chống lại, vừa thoả hiệp với giai cấp
phong kiến Đức, nó mang tính bảo thủ, cải lương về chính trị-xã hội, mâu thuẫn với tính cách
mạng và khoa học.
- Đặc biệt đề cao vai trò vị trí tích cực của con người. Các nhà triết học cổ điển Đức đã
khẳng định con người là chủ thể, là kết quả, là sản phẩm của hoạt động tự nó, cho nó, vì nó;
Thực tiễn cao hơn lý luận; Lịch sử chỉ là phương thức tồn tại của con người; Cá nhân có thể làm
chủ được vận mệnh của mình; Và cao hơn là tư tưởng về con người mang bản chất xã hội. Tuy

nhiên, họ lại sùng bái tuyệt đối hoá vai trò của lý tính, của tư duy. Biến tư duy của con người
thành một thực thể độc lập với đời sống thực của nó, thực thể tinh thần tối cao làm căn nguyên
để giải thích cho tất cả mọi cái, mọi hiện tượng đang hiện tồn.
- Dù là biện chứng duy tâm, nhưng các nhà triết học cổ điển Đức, lần đầu tiên đã làm cho
phép biện chứng tồn tại với tư cách là một phương pháp nhận thức tự giác có tính đồng kết, được
biểu hiện chặt chẽ qua hệ thống các khái niệm, phạm trù. Nó là một trong các cơ sở tiền đề lý
luận của triết học Mác.
- Cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học ở thời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối
triết học Hêghen và Phơbách.
4.6. Triết học hiện đại thế kỷ XIX đến nay:
Thời kỳ này, kể từ 1848 với sự ra đời của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, khai sinh
CNCSKH vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại, đấu tranh bảo vệ quyền lợi và lợi ích
cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thì đây cũng là thời kỳ ra đời của hàng trăm trường
phái triết học tư sản hiện đại chống lại triết học Mác-Lênin.
Triết học Mác-Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng cách mạng và khoa học nhất của tư
duy triết học nhân loại. Các trường phái triết học tư sản hiện đại thì đang bằng cách này hay cách
khác làm sống lại các trường phái triết học duy tâm trong lịch sử. Thậm chí họ sử dụng các thành
tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm cố chứng minh cho sự vĩnh hằng của các đấng
siêu nhiên.
4.7 Các cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học trong lịch sử:
5


a) Thời cổ đại, tiêu biểu là sự đối lập giữa hai đường lối Đê-mô-crit và Pla-tôn:
Đê-mô-crit (460-370 tcn) là học trò của Lơ-xip, người phát triển học thuyết nguyên tử
của Lơ-xíp lên trình độ mới. Ông có bộ óc bách khoa đầu tiên trong số những người Hy-Lạp, tri
thức uyên bác của ông đã khiến nhiều nhà tư tưởng về sau phải kinh ngạc. Ông là nhà văn, nhà
toán học, nhà vật lý học, nhà tâm lý học, nhà sinh vật học, mỹ học, ngôn ngữ học, âm nhạc và
nhà kỹ thuật.
Về triết học, ông là nhà duy vật lớn nhất thời cổ đại, đã cầm đầu cuộc đấu tranh chống

chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, xây dựng nên Đường lối Đê-mô-crít. Ông coi nguyên tử là bản
nguyên của thế giới. Nguyên tử là vật chất nhỏ nhất, không nhìn thấy được, không thể phân chia,
không màu, không mùi, không vị, không âm thanh, không nóng lên, không lạnh đi, không khô,
không ướt... chúng đồng nhất về chất, nhưng khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế. Tính
muôn vẻ của vạn vật được quyết định bởi hình thức cấu tạo, trật tự sắp xếp và tư thế của các
nguyên tử khi chúng kết hợp với nhau. Nguyên tử tự mình vận động mãi về mọi phía, chúng xô
đi đẩy lại lẫn nhau làm nên những cơn lốc nguyên tử và cuốn theo những nguyên tử ngày càng
mới. Vận động vì thế không tách rời vật chất, vận động là vận dộng tự thân của nguyên tử, vĩnh
viễn, theo nhiều hướng tạo thành những cơn lốc nguyên tử.
Đê-mô-crit thừa nhận tính nhân quả và quy luật của các hiện tượng tự nhiên, chống lại
mục đích luận duy tâm. Ông thừa nhận vai trò của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, coi
cảm giác là bước đầu của tri thức. Ông cũng đã thấy được mối quan hệ biện chứng giữa nhận
thức cảm tính và nhận thức lý tính “lý tính lấy những dẫn chứng cho nó trong cảm giác”. Ông là
người đầu tiên định nghĩa các khái niệm, là người sáng lập môn Lôgíc học quy nạp.
Ông quan niệm linh hồn được tạo bởi từ nguyên tử, thần thánh là do con người tạo ra.
Ông tích cực tham gia cuộc đấu tranh chính trị chống bọn quân chủ chủ nô, bảo vệ cho chế độ
dân chủ chủ nô. Cong lao lịch sử của ông là ở chỗ, ông và các môn đệ của ông đã kiên trì quan
điểm duy vật về tự nhiên, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
Pla-tôn (427-347 tcn) là nhà triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ đại. Ông là
môn đệ của Xô-crát, ủng hộ quân chủ chủ nô, chống lại nền dân chủ chủ nô. Ông thành lập ở
Aten một viện hàn lâm - trường đại học đầu tiên ở châu Âu - chống lại triết học duy vật của Đêmô-crít.
Pla-tôn cho rằng bản nguyên của thế giới là ý niệm tuyệt đối. Vạn vật và vũ trụ chỉ là cái
bóng của khái niệm do ý niệm tuyệt đối tạo ra. Đối tượng của nhận thức là ý niệm, nhận thức ý
niệm mới cho ta tri thức chân thực, chân lý. Ông phủ nhận nhận thức cảm tính vì nó chỉ là những
hình bóng của các sự vật. Ông quan niệm thể xác của con người chỉ là nơi trú ngụ của linh hồn,
con linh hồn là tác phẩm của linh hồn vũ trụ. Ông cũng cho rằng chỉ có một số ít người ưu tú là
có đạo đức, còn đại bộ phận nhân dân là không có đạo đức. Các học thuyết trong hệ thống triết
học duy tâm khách quan của ông về sau được phát triển thành triết học “Pla-tôn mới” với khẩu
hiệu “Hãy trở về với Pla-tôn”.
b) Thời Trung Cổ, cuộc đấu tranh tiêu biểu diễn ra giữa triết học của Tô-mát-đa-canh

(duy thực) với Đôn-xcốt (duy danh) là hai nhà triết học kinh viện. Ngoài ra, chống lại chủ nghĩa
kinh viện có triết học của Rô-giê-Bê-cơn.
Tô-mát-đa-canh (1225-1274), ông sinh ra ở Ý và là nhà thần học của đạo Thiên Chúa.
Trong triết học, ông là nhà triết học kinh viện nổi tiếng theo lập trường duy thực ôn hoà, có phần
thoả hiệp với duy danh có lợi cho thần học, ông có mưu đồ làm cho triết học của Ari-xtốt thích
hợp với giáo lý của đạo Thiên Chúa, biến triết học của mình thành cơ sở giáo lý của nhà thờ.
6


Theo Tô-mat-đa-canh, đối tượng của triết học là “chân lý của lý trí”, đối tượng của thần
học là “lòng tin tôn giáo”. Thượng Đế là khách thể cuối cùng của cả triết học và thần học, là
nguồn gốc của mọi chân lý. Vì thế không có sự đối lập căn bản giữa thần học và triết học. Nhưng
vì bản thân là nhà thần học nên ông đã hạ thấp vai trò của triết học, coi triết học là kẻ tôi tớ của
thần học, phụ thuộc bởi thần học. Ông cũng quan niệm, mọi sự hoàn thiện của thế giới sự vật là
là do trí thông minh của Thượng Đế quyết định và đều trải qua sự hợp lý hoá của Thượng Đế. Về
xã hội, ông ra sức tuyên truyền cho vai trò thống trị của nhà thờ đối với xã hội công dân. Ông
chống đối sự bình đẳng xã hội.
Đôn-Xcốt (1265-1308), ông sinh trưởng ở Anh, có tín ngưỡng dòng Phơ-răng-xít, là nhà
triết học duy danh nổi tiếng thế kỷ XIII.
Theo Đôn-Xcốt, đối tượng của thần học là Thượng Đế, đối tượng của triết học là tồn tại
(hiện thực khách quan-giới tự nhiên, vật chất). Lý trí con người thấp hơn niềm tin tôn giáo, nó
không nhận thức được bản chất Thượng Đế, vì Thượng Đế là hình thức thuần tuý phi vật chất.
Theo ông, tinh thần là hình thức của thân thể con người, gắn với thân thể từ khi con người mới
sinh ra và do Thượng Đế ban phát. Tinh thần có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức, nhưng
vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức. Cái thống trị mọi dạng hoạt động của con người là
ý chí chứ không phải lý trí, ở Thượng Đế ý chí là hoàn toàn tự do.
Rô-giê-Bê-cơn (khoảng1214-1294), ông sinh ở Anh, là một trong những người đề xướng
ra khoa học thực nghiệm thời kỳ mới. Triết học của ông đống vai trò quan trọng trong đấu tranh
chống triết học kinh viện trước ông.
Dù vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Pla-tôn và Ô-guyt-xtanh, nhưng Bê-Cơn đã phê

phán một cách gay gắt và cay độc tính chất vô dụng của phương pháp kinh viện tách rời cuộc
sống. Theo ông, có bốn điều trở ngại đối với chân lý:
- Một là sự sùng bái, quy phục trước cái uy tín không có cơ sở và không xứng đáng.
- Hai là thói quen lâu đời với những quan niệm đã rõ ràng.
- Ba là tính chất vô căn cứ của các nhà bác học đối với điều ngu dốt của mình dưới cái
mặt nạ của sự thông thái hư ảo.
- Cuối cùng ông rút ra ba nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lý trí và kinh nghiệm: Uy tín
mà thiếu sự chứng minh là uy tín thiếu sót, những lập luận mà chưa kiểm tra các kết luận bằng
con đường chứng minh và thực nghiệm thì chưa thể phân biệt giữa nguỵ biện và chứng minh;
cao hơn mọi tri thức và nghệ thuật suy lý là việc biết tạo ra kinh nghiệm và khoa học, đó là bà
chúa của mọi khoa học. Ông coi kinh nghiệm như là tiêu chuẩn của chân lý, thước đo của lý
luận. Trong học thuyết của mình, ông lên tiếng chống Giáo Hoàng một cách gay gắt nhưng
không chống tôn giáo nói chung. Ông tuyên bố sự phụ thuộc của triết học vào lòng tin, nhưng
với ông chưa xuất hiện sự mầu nhiệm thiêng liêng của lòng tin, mà chỉ xuất hiện sức mạnh của
triết học và tri thức khoa học.
c) Thời kỳ Phục hưng (XV-XVI) Thời kỳ này có các nhà khoa học đồng thời là nhà triết
học nổi tiếng như Cô-pec-ních, Bru-nô... mà tư tưởng của của họ đã giáng những đòn rất nặng
vào tôn giáo và nhà thờ, bác bỏ quan điểm của kinh thánh đạo Cơ đốc và Thượng đế sáng tạo ra
vũ trụ. Mặt khác, hầu hết các nhà tư tưởng giai đoạn này (còn có Ga-li-lê, Ku-Zan, Mo-rơ...) đều
lẫn lộn các yếu tố duy vật và duy tâm và có tính chất phiếm thần.
d) Thời cận đại (XVII-XVIII) Cùng với việc diễn ra các cuộc cách mạng tư sản có quy mô
toàn châu Âu, đây cũng là thời kỳ phát triển cao của các khoa học toán, lý, hoá, sinh, kinh tế,
7


nhất là vật lý cơ học nó làm tiền đề cho sự ra đời của triết học mới với nhiều đại biểu tiêu biểu
như:
F.Bê-cơn (Anh 1561-1626) đặt nền móng cho sự phát triển của CNDV cơ học máy móc.
Hốp-xơ (Anh 1588-1679) kế tục và hệ thống hoá triết học của Bê-cơn đồng thời là người
sáng tạo ra hệ thống đầu tiên của CNDVSH trong lịch sử.

Đê-các-tơ (duy tâm Pháp 1596-1654) là một trong những người sáng lập nền khoa học và
triết học chống tôn giáo và chủ nghĩa kinh viện.
Xpi-nô-da (duy vật Hà Lan 1632-1677) mà những tư tưởng duy vật và vô thần của ông đã
có ảnh hưởng sâu sắc đến các duy vật Pháp ở thế kỷ XVIII.
Lốc-cơ (Nhị nguyên 1632-1704) đã sản sinh ra hai người học trò nổi tiếng của CNDT
Anh và CNDV Pháp ở thế kỷ XVIII.
Cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học thời kỳ này là giữa hai đường lối triết học Beccơly
và Điđờrô:
Bec-cơ-ly (DTCQBKT Anh 1684-1753), triết học của ông là mẫu mực và là một trong
những nguồn gốc của các lý thuyết triết học tư sản duy tâm chủ quan cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX. Trong triết học của ông "vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp của cảm giác", tồn
tại có nghĩa là được cảm biết. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan của ông đã dẫn ông đến chủ nghĩa
duy ngã, phủ nhận mọi tồn tại khách quan, kể cả con người, chỉ trừ chủ thể đang nhận thức, loại
trừ "cái tôi" mà thôi. Đồng thời, ông ta cũng thừa nhận Thượng đế là một chủ thể tồn tại vĩnh cửu
và luôn đưa vào trong ý thức những chủ thể riêng lẻ nội dung của cảm giác. Triết học của ông là
phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đã giành được chính quyền, nhưng rất sợ những tư
tương tiến bộ, cách mạng.
Đi-đơ-rô (DV Pháp 1713-1784), người khai sáng ra CNDV Pháp và là kẻ thù của chế độ
chuyên chế phong kiến và nhà thờ. Ông thừa nhậ vật chất tồn tại vĩnh viễn và khách quan ngoài
ý thức con người. Sự phong phú đa dạng của sự vật và hiện tượng chỉ là những hình thức khác
nhau của tồn tại vật chất do các phân tử cấu thành. Vật chất là thực thể duy nhất, nguyên nhân
tồn tại của nó nằm ngay trong bản thân nó. Vận động của giới tự nhiên là vĩnh cửu. Con người
cũng như các sinh vật khác đều có lịch sử hình thành của mình mà không hề có bất cứ một nguồn
gốc thần thánh nào. Ông xuất phát từ cảm giác luận khách quan và bác bỏ kiên quyết cảm giác
luận chủ quan của Béccơly. Về xã hội, ông chống đối quyết liệt chế độ chuyên chế và tán thành
chế độ quân chủ lập hiến và hy vọng xuất hiện một vị "quốc vương có giáo dục" để xây dựng
một nhà nước lý tính. Đạo đức duy lợi của Điđơrô đối lập với đạo đức tôn giáo phong kiến.
e) Thời kỳ cổ điển Đức (XVIII-đầu XIX) với cuộc đấu tranh về tư tưởng triết học giữa
Cant (1724-1804) và Hêghen (1770-1831) với Phơ-bách (1804-1872), họ đồng thời là những tiền
đề trực tiếp của triết học Mác-Lênin.

Cant: Thế giới vật tự nó chỉ là các hiện tượng phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức do
lý tính của ta tạo ra. Nhưng cảm giác và tri thức không cung cấp cho ta sự hiểu biết gì về thế giới
vật tự nó. Triết học của Cant là sự thiết lập sự thả hiệp dung hòa hai đường lối triết học duy vật
và duy tâm.
Hêghen: Phương pháp biện chứng là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự
phát triển. Nhưng hệ thống triết học của ông là duy tâm khách quan, là sự biện hộ cho tôn giáo.
Về xã hội, ông đứng trên lập trường của chủ nghĩa sôvanh, đề cao dân tộc Đức, miệt thị các dân
tộc khác.
8


Phơbách: là người có công trong việc khôi phục vị trí xứng đáng của chủ nghĩa duy vật.
Ông phê phán triết học Hêghen, chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung. Triết học của
ông mang tính nhân bản cao, nhưng lại rơi vào chủ nghĩa tự nhiên khi xem xét mọi hiện tượng
thuộc về con người và xã hội. Chủ nghĩa nhân đạo của ông về tình thương giữa con người là chủ
nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm.
f) Thời kỳ hiện đại (Giữa cuối thế kỷ XIX đến nay), là cuộc đấu tranh rất quyết liêt giữa
triết học Mác-Lênin với hơn 120 trường phái khác nhau của triết học tư sản hiện đại. Về xã hội,
đây là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.
V. KHÍA LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
1. Thời cổ đại:
Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại là những nôi triết học sớm và lớn nhất của nhân loại. Hai
quốc gia cổ đại chiếm lĩnh hầu hết lãnh thổ hai phần Bắc và Nam dãy Hymalaya. Tại đây các
khoa học toán học, vật lý học, hóa học, thiên văn học, y học đã phát triển sớm và sớm đạt đến
trình độ cao. Thuyết Âm dương gia của Trung Quốc và tư tưởng triết học trong Upanishadd của
Ấn Độ đã sớm đạt đến trình độ siêu việt của tư duy. Nhìn chung triết học Phương Đông là sự đan
xen giữa duy tâm với duy vật, biện chứng với siêu hình, vô thần với hữu thần, nên cuộc đấu
tranh của triết học là mờ nhạt, song không kém phần quyết liệt. Mặt khác, triết học Phương Đông
chủ yếu bàn về nhân sinh quan, nên cuộc đấu tranh của triết học chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực đời
sống chính trị-xã hội-đạo đức.

Ở Ấn Độ: Giải thoát luận là khuynh hướng nổi trội. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của triết
học ở thời kỳ này là rất quyết liệt: Đã hình thành hai hệ thống triết học: Hệ thống chính thống
(tuân thủ Upanishadd), Hệ thống không chính thống (không tuân thủ nghiêm ngặt với
Upanishadd); Có sự đối lập giữa nhất nguyên duy vật, vô thần (Lôkayata) với nhất nguyên duy
tâm, hữu thần (Vedanta); Có sự đối lập giữa chủ trương phân chia xã hội thành đẳng cấp một
cách nghiệt ngã (Balamôn) với chủ trương một xã hội bình đẳng, bác ái, không phân chia đẳng
cấp (Buddaha).
Ở Trung Quốc: Đạo đức, chính trị-xã hội là những vấn đề nổi lên hàng đầu. Tính quyết
liệt của cuộc đấu tranh trong triết học biểu hiện rõ ử các khía cạnh: Đã tồn tại sự đối lập giữa hai
đường lối triết học Duy vật, vô thần (Âm dương, Ngũ hành, Đạo gia thời sơ kỳ) với Duy tâm,
hữu thần (Số luận, Dịch truyện, Nho gia); Tồn tại sự đối lập giữa chủ trương một xã hội có tôn
ty, trật tự, thứ bậc rõ ràng (Nho gia) với chủ trương một xã hội, con người tự do, tự tại theo cái
bản nhiên không can thiệp lẫn nhau (Đạo giao); Tồn tại sự đối lập giữa chủ trương bình đẳng trên
cơ sở phân chia xã hội thành đẳng cấp, coi thường phụ nữ, coi thường nhân dân lao động, coi
thường lao động chân tay, bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị (Nho gia) với chủ trương bình
đẳng, bác ái, không phân chia đẳng cấp, bảo vệ lợi ích cho nhân dân lao động (Mặc gia).
2. Thời Trung cổ đến cận đại: Phương Đông gần như im lìm trong "đêm trường Trung
cổ". Đây là thời kỳ chủ nghĩa duy tâm tôn giáo (Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi
giáo) giữ địa vị độc tôn trong đời sống văn hóa tinh thần Phương Đông. Lịch sử Phương Đông
hình như đã tồn tại một phương thức sản xuất châu Á, không lấy sự phát triển của lực lượng sản
xuất làm động lực lịch sử, mà vấn đề dân tộc và văn hóa dân tộc mới là động lực chính.
3. Thời hiện đại: Đây là thời kỳ thức tỉnh của các dân tộc Phương Đông và đồng thời là
thời kỳ du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin vào các dân tộc Phương Đông với những sắc thái
riêng. Các dân tộc Phương Đông phát triển lên chủ nghĩa xã hội theo những cách riêng mang
đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
9


BÀI 2: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
I/ Những tiền đề ra đời của triết học Mác

1.1. Tiền đề về kinh tế - xã hội
Sự xuất hiện của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung được chuẩn bị trước
hết ở sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Triết học Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch
sử triết học.
Vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển khá cao, bộc lộ rõ
các mâu thuẫn vốn có của nó. Suy cho cùng các mâu thuẫn đó đều do mâu thuẫn ngày càng trở
nên gay gắt quyết liệt giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn quyết liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp
công nhân. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản đang từ tự phát chuyển
thành tự giác. Nhiều cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn và thời gian kéo dài của công nhân đã nổ ra
ở các nước tư bản. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của công nhân và
nhân dân lao động ở Anh, Pháp, Đức. Phong trào công nhân dù phát triển mạnh nhưng các cuộc
đấu tranh, khởi nghĩa của họ cuối cùng đều thất bại trước sự đàn áp của giái cấp tư sản, do họ
chưa có một lý luận cách mạng khoa học dẫn đường.
Nghiên cứu phong trào công nhân ở Tây Âu, Mác và Ăng ghen đã chỉ ra vai trò lịch sử
toàn thế giới của giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản, tạo ra chủ nghĩa
xã hội trên phậm vi toàn thế giới. Hai ông đã sáng tạo ra học thuyết khoa học dẫn dắt phong trào
công nhân đi tới tự giác trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình chống các giai cấp phản cách
mạng mà trực tiếp là giai cấp tư sản.
1.2. Tiền đề về khoa học tự nhiên
Triết học Mác ra đời không tách rời với các thành tựu của các khoa học tự nhiên. Từ thế
kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX các khoa học tự nhiên đã rất phát triển, về mặt phương pháp nó đã
dần dần chuyển từ siêu hình máy móc sang biện chứng. Trong những thành tựu đó, nổi bật là ba
phát minh lớn của khoa học tự nhiên đàu thế kỷ XIX, nó đã đóng vai trò quan trọng trong xây
dựng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng. Đó là:
Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của nhà vật lý học người Đức Rô-bét-Maye, nói lên mối liên hệ của các hình thức vận động khác nhau của giới tự nhiên;
Học thuyết tế bào của các nhà khoa học Gô-ri-an-nhi-nốp (Nga), Puc-kin (Tiệp), Sơ-lâyđen và Sa-van-nơ (Đức) đã giải thích quá trình phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của thế giới sinh học;
Thuyết tiến hóa của Đác-Uyn đã chứng minh tính biện chứng trong sự phát triển phong
phú đa dạng của các giống loài trong thế giới tự nhiên hữu sinh.

Khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên, hai ông đã phát triển, cụ thể hóa các vấn
đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
1.3. Tiền đề về lý luận
Triết học Mác xuất hiện không chỉ gắn với điều kiện kinh tế xã hội, thành tựu của các
khoa học tự nhiên, mà còn gắn với toàn bộ đời sống xã hội, không tách rời với nền văn minh
nhân loại. Nền văn minh đó được thể hiện trực tiếp ở những trào lưu tư tưởng và lý luận ở châu
Âu thế kỷ XIX: Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Anh và Pháp, mà tiêu biểu là Xanh-ximông, Phu-ri-ê, Ô-oen. Kinh tế chính trị học Anh với các đại biểu tiêu biểu là A-đam-Xmít, Ricác-đô. Triết học cổ điển Đức với các đại biểu Phích-tơ, Sê-linh, Căng-tơ, Hê-ghen, Phơ-bách.
Chú trọng nghiên cứu chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán, hai ông đã thấy được một
cách duy vật biện chứng về đời sống xã hội, nó tác động mạnh đến việc chuyển lập trường nhân
10


đạo chung chung sang nhân đạo cộng sản, và giúp hai ông dự báo sự phát triển của xã hội tương
lai - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Tập trung nghiên cứu kinh tế chính trị học Anh và tình cảnh của giai cấp công nhân trong
xã hội tư bản, hai ông nhận thức được rằng, lao động sản xuất của con người là cơ sở kinh tế của
những mâu thuẫn giai cấp. Nó là điểm xuất phát để hai ông khắc phục tính chất duy tâm về xã
hội trong chủ nghĩa duy vật trước Mác, đưa ra hệ thống quan niệm duy vật của chủ nghĩa duy vật
biện chứng về xã hội.
Hai ông đã tiếp thu, kế thừa, cải biến phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen để sáng tạo
ra phép biện chứng duy vật đồng thời phê phán kịch liệt chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen về “ý
niệm tuyệt đối”. Phê phán những thiếu sót trong triết học duy vật nhân bản của Phơ-bách, hai
ông đã có bước chuyển quan trọng từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật. Phép
biện chứng của Hê-ghen và chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách, như hai ông thừa nhận là một trong
những tiền đề lý luận trực tiếp của triết học Mác.
1.4. Vai trò của Mác và Ăng-ghen
C.Mác (1818-1983), Ph.Ăng-ghen (1820-1995) quê hương của họ ở vùng sông Ranh,
giáp biên giới Pháp - Đức. Thời trẻ hai ông chưa gặp nhau, họ đến với chủ nghĩa cộng sản bằng
hai con đường độc lập với nhau. Cả hai đều uyên bác bác học về nhiều lĩnh vực, đều có tấm lòng
nhân hậu, đều chịu ảnh hưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp và cũng từng lãnh đạo các “câu

lạc bộ Hê-ghen trẻ”. Khi trưởng thành, hai ông đã tự nguyện từ bỏ lập trường của giai cấp mình,
đấu tranh bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Từ sự khái quát, kế thừa
và phát huy những thành tựu khoa học của văn minh nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây,
từ sự lăn lộn trong phong trào công nhân Tây Âu giữa thế kỷ XIX hai ông đã sáng tạo ra chủ
nghĩa Mác hướng dẫn sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân thế giới đi đến thắng lợi cuối
cùng.
Hai ông đã sáng lập Quốc tế I (1864-1876) và Quốc tế II (1887-1914) giai đoạn 18871895 để giáo dục, tổ chức, rèn luyện phong trào công nhân đấu tranh chống lại các trào lưu cải
lương, cơ hội, tả khuynh, hữu khuynh, vô chính phủ và xét lại trong phong trào công nhân và
cộng sản quốc tế. Về triết học, hai ông đã viết “Hệ tư tưởng Đức”, “Lút-vich-Phơ-bách sự cáo
chung của triết học cổ điển Đức”, “Phép biện chứng của tự nhiên”, “Chống Đuy-Rinh” v.v... sáng
tạo ra phép biện chứng duy vật đánh dấu bước phát triển mới, tạo ra bước ngoặt cách mạng trong
lịch sử triết học.
Tóm lại, triết học Mác ra đời không là ngẫu nhiên, mà là một tất yếu hợp quy luật. Nó là
sự khái quát những giá trị của lịch sử nhân loại mang tính thời đại, tạo ra bước ngoặt vĩ đại
trong lịch sử triết học.
II. Bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác và Ph.Ăng-ghen thực
hiện. Sự phát triển triết học Mác của V.I.Lênin.
2.1) Bản chất và ý nghĩa của bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác
và Ph.Ăng-ghen thực hiện
Cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng về tự nhiên và về xã
hội. Phép biện chứng duy vật là vũ khí tinh thần sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu
tranh để xác lập và xây dựng xã hội mới. Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học
Mác nói riêng là bước ngoắt cách mạng quan trọng trong lịch sử tư tưởng xã hội nói chung, trong
triết học nói riêng. Bản chất và ý nghĩa của nó được thể hiện:
- Lần đầu tiên trong lịch sử, triết học Mác đã chỉ ra vai trò quyết định của thực tiễn, trước
hết là thực tiễn sản xuất trong sự phát triển của triết học và khoa học. Thực tiễn là nguồn gốc,
động lực, mục đích và là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý khoa học. C.Mác chỉ rõ:
11



“Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song, vấn đề là cải
tạo thế giới”1. Dĩ nhiên, khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn, hai ông không hề coi nhẹ vai trò của
lý luận.
- Hai ông đã kế thừa và phát triển hoàn chỉnh ở hình thức cao của chủ nghĩa duy vật là
chủ nghĩa duy vật biện chứng, hoàn chỉnh phép biện chứng ở hình thức cao là biện chứng duy
vật. Trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là gắn liền, thống nhất với nhau.
Nhờ thế, hai ông đã đuổi chủ nghĩa duy tâm ra khỏi hang ổ cuối cùng của nó là các vấn đề thuộc
lĩnh vức xã hội.
- Bước ngoặt quan trọng nhất của triết học Mác là phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch
sử. Quan niệm đó chỉ rõ sự vận động và phát triển của xã hội cũng có và tuân thủ những quy luật
khách quan của nó. Bác bỏ những quan niệm duy tâm thần bí, hai ông khẳng định tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử.
- Triết học Mác đã làm biến đổi căn bản tính chất, đối tượng của triết học và quan hệ của
nó với các khoa học cụ thể. Triết học Mác không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với các khoa học
cụ thể, đồng thời nó có ý nghĩa là thế giới quan và phương pháp luận định hướng phát triển cho
các khoa học cụ thể cùng hướng tới mục tiêu cải tạo tự nhiên và xã hội.
2.2) Sự bảo vệ và phát triển triết học Mác của V.I.Lênin
Lênin (1870-1924) lập tờ “Tia lửa”, giải tán Quốc tế II, thành lập Quốc tế III (1919-1943)
và với nhiều tác phẩm triết học sâu sắc “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”,
“Bút ký triết học”, “Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu” v.v... Lênin đã trung thành đấu
tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác trong đó có triết học Mác. Giai đoạn lịch sử mới chủ nghĩa tư bản
chuyển thành chủ nghĩa đế quốc chủ nghĩa Mác, triết học Mác gắn liền với tên tuổi của Lênin.
Từ 1919, chủ nghĩa Mác, triết học Mác trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin và triết học Mác-Lênin.
Lênin là người đầu tiên làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực trên đất nước rộng
lớn có diện tích chiếm 1/5 diện tích địa cầu với dân số trên 220 triệu người.
Trong khi đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, Lênin đã phát triển sáng tạo và toàn diện các
mặt của triết học Mác như chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng, lý luận nhận thức v.v... Từ Lênin,
tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác, nhưng vận dụng sáng tạo và phát triển duy nhất đúng
triết học Mác trong thời đại mới là “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã
xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn

khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ
không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”2.
PHẦN I: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ THẾ GIỚI
BÀI 1: PHẠM TRÙ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, rộng nhất và khái quát nhất phản ánh
những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến của các sự vật và hiện tượng
thuộc một lĩnh vực nhất định.
Mỗi trường phái triết học khác nhau có quan niệm khác nhau về phạm trù: Phái duy thực
coi phạm trù là những bản chất ý niệm, tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người.
Phái duy danh cho rằng phạm trù chỉ là những từ trống rỗng không biểu hiện một cái gì cả. Cant
và chủ nghĩa Cant cho rằng phạm trù không phản ánh hiện thực mà là hình thức nhận biết vốn có
sẵn của tư duy, có trước mọi kinh nghiệm, không phụ thuộc kinh nghiệm, được lý trí con người
đưa vào tự nhiên.
1
2

C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1995 - Tập 3 - Tr 12.
V.I. Lênin toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1974, Trang 232.
12


Phép biện chứng duy vật (Triết học Mác-Lênin) quan niệm phạm trù không là cái có sẵn
trong bản thân con người một cách bẩm sinh. Các phạm trù có nguồn gốc từ trong thực tiễn,
được hình thành qua sự khái quát hóa, trừu tượng hóa của tư duy lý luận và ngày càng được bổ
sung thêm những phạm trù mới. Phạm trù là kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cải
tạo thực tiễn, nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dù
hình thức tồn tại của chúng là chủ quan. Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chịu sự
chi phối của thế giới khách quan nên các phạm trù cũng như phạm trù triết học luôn được bổ
sung bằng những phạm trù mới.
Mỗi khoa học cụ thể đều có phạm trù riêng của mình. Phạm trù triết học khác phạm trù

của các khoa học cụ thể ở chỗ nó là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những
thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực. Trong các
phạm trù cơ bản của triết học thì phạm trù vật chất và ý thức là phạm trù cơ bản nhất.
I/ Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất
1.1. Phạm trù vật chất
Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản nền tảng của chủ nghĩa duy vật.
Nó chứa đựng nội dung thế giới quan và phương pháp luận rất khái quát và sâu sắc. Các triết
thuyết duy vật trước Mác, tuy siêu hình nhưng vật chất luôn được coi là thực thể, cơ sở đầu tiên,
bất biến của các sự vật và hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Nó có ý nghĩa to lớn
trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm và các biến tướng của nó.
Do đặc điểm lịch sử mà thời C.Mác, Ph.Ăng-ghen hai ông không định nghĩa vật chất.
Trước yêu cầu của lịch sử mới, trên cơ sử phân tích một cách sâu sắc cuộc cách mạng trong khoa
học tự nhiên và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm cùng các biến thể của nó mà đặc biệt là đấu
tranh trực tiếp chống chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin đã nêu ra một định nghĩa toàn diện,
sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực
tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp
lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”3.
Trong định nghĩa này, Lênin đã phân tích rõ: Không thể hiểu vật chất như các khái niệm
vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống thường ngày, mà phải
hiểu vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, tức phạm trù rộng nhất và khái quát nhất của
thế giới.
“Tính thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” là dấu hiệu cơ bản,
bản chất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.
Lênin cũng đã khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức
bằng cách chỉ ra thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, nó tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác.
Lênin cũng khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới, bởi thực tại khách
quan biểu hiện thông qua các dạng cụ thể, mà con người bằng cảm giác có thể chụp lại, chép lại
và phản ánh. Vật chất như vậy là nguồn gốc, nội dung khách quan của ý thức.
Bằng cách định nghĩa đặc biệt, định nghĩa vật chất thông qua quan hệ với cảm giác,

Lênin đã không tách rời vật chất với ý thức mà đặt chúng trong mối quan hệ quy định ràng buộc
lẫn nhau.
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết học
trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nó chống lại các quan niệm duy tâm về phạm
trù vật chất; Đấu tranh khắc phục triệt để tính trực quan, siêu hình, máy móc cùng các biến tướng
của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà khoa học tự nhiên và triết gia tư sản hiện đại;
3

V.I. Lênin toàn tập, Tập 18, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1980, Trang 151.
13


Định nghĩa vật chât của Lênin khẳng định thế giới này chỉ duy nhất là thế giới vật chất, vật chất
là vô cùng, vô tận, vận động và phát triển không ngừng đã cổ vũ, khích lệ các nhà khoa học đi
sâu nghiên cứu thế giới vật chất để ngày càng tìm ra nhiều dạng mới, thuộc tính mới của vật
chất.
1.2. Vật chất và vận động
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là bao gồm mọi sự biến đổi nói chung của vật chất,
nó bao gồm mọi thay đổi trong vũ trụ, kể từ những sự thay đổi vị trí đơn giản đến tư duy. Vận
động là phương thức tồn tại của vật chất. Ăng-ghen nói: ”Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất,
tức được hiểu là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao
gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kê từ sự thay đổi vị trí đơn giản
cho đến tư duy”4.
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Vật chất tồn tại bằng vận động, thông qua vận động để biểu hiện sự tồn tại của mình.
Không có vật chất không vận động, cũng như không có vận động nào không là vận động của vật
chất.
Vận động của vật chất là khách quan. Mọi vận động đều có nguyên nhân tự thân của nó
là sự tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình... ngay bên trong bản thân sự vật.
Do vậy, các dạng vật chất chỉ được nhận thức thông qua vận động của chúng. Một vật thể nào đó

mà không vận động thì không có gì để nói cả.
Vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt. Vận động là thuộc tính cố hữu
của vật chất nên vận động cũng không do ai sáng tạo ra và cũng không thể bị tiêu diệt.
Các hình thức của vận động
Cho đến nay loài người đã biết đến năm dạng vận động cơ bản của vật chất là: Vận động
cơ học, tức sự thay đổi vị trí của các vật thể trong không gian.
Vận động vật lý, bao gồm trong đó cả vận động cơ học, nhưng đặc trưng của nó là vận
động của các hạt cơ bản, của các quá trình nhiệt, điện, quang, từ, trường v.v.
Vận động hóa học, bao gồm trong đó cả vận động vật lý, nhưng đặc trưng của nó là vận
động của các nguyên tử, là vận động phân giải và hóa hợp của các chất.
Vận động sinh học, bao gồm cả vận động hóa học nhưng đặc trưng là vận động của cơ
thể sống, là sự trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường.
Vận động xã hội, bao gồm trong nó cả vận động sinh học, nhưng đặc trưng của nó là vận
động biến đổi xã hội, là sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội.
Tuy có sự khác nhau về chất, nhưng giữa các hình thức vận động luôn có sự liên hệ, tác
động, chuyển hóa qua lại lẫn nhau. Sự phân biệt khác nhau giữa các hình thức vận động là nhờ
hình thức vận động đặc trưng nhất của nó.
Vận động và đứng im
Thế giới vật chất không chỉ ở trong quá trình vận động. Triết học Mác -Lênin chỉ ra vận
động của vật chất là tuyệt đối, nhưng cũng thừa nhận tính đứng im tương đối và tạm thời của vật
chất. Chính nhờ sự đứng im tương đối và tạm thời của vật chất mà thế giới vật chất được phân
hóa thành các sự vật hiện tượng phong phú và đa dạng. Nói đứng im tương đối vì vật chất chỉ
đứng im trong một mối liên hệ nhất định và vận động trong những mối liên hệ khác. Nói vật chất
đứng im tạm thời vì nó chỉ đứng im trong một thời gian nhất định khi nó chưa tích lũy đủ về
lượng. Như vậy, đứng im tương đối và tạm thời của vật chất là sự vận động trong thăng bằng, là
sự đứng im có điều kiện.
1.3. Không gian và thời gian
4

Ph. Ăng-ghen : Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1974 - Tr 92

14


Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính chung vốn có
của mọi dạng vật chất.
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính như cùng tồn tại
và tách biệt, có kết cấu quãng tính. Không gian của vật chất có ba chiều và cả ba chiều đều vô
tận. Không gian của vật thể là hữu hạn.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính độ lâu của sự phát
triển, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật, các trạng thái khác nhau của thế giới vật chất.
Thời gian của vật chất chỉ có một chiều từ quá khứ đên hiện tại, đến tương lai và thời gian của
vật chất cũng là vô tận. Thời gian của mọi vật thể là hữu hạn.
Lênin nói: “Thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận
động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”5.
1.4. Tính thống nhất của thế giới
Thế giới thống nhất ở tính vật chất, nó biểu hiện: vật chất là cơ sở thực thể duy nhất, phổ
biến, tồn tại vĩnh viễn và vô tận ở tất cả các hình thức đa dạng phong phú của thê giới; Mọi sự
liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố dẫn đến sự vận động và phát triển của vạn vật chính do
sự thống nhất vật chất của thế giới. Vật chất cũng như các dạng cụ thể của vật chất chỉ tồn tại và
vận động trong không gian và thời gian. Nguyên tắc thống nhất tính vật chất của thế giới gắn liền
với nguyên tắc vận động và phát triển.
II- Ý thức.
2.1. Nguồn gốc của ý thức
Ý thức có hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
a. Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức chính là bộ não người. Nói cách khác, ý thức là thuộc tính
phản ánh của bộ óc người.
Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Phản ánh là năng lực lưu lại, giữ lại,
tái hiện lại những đặc điểm của một hệ thống vật chất này trong một hệ thống vật chất khác và
ngược lại. Phản ánh của vật chất phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Phản ánh ý

thức là phản ánh cao nhất.
Mọi dạng vật chất đều phản ánh, nhưng chỉ phản ánh ở bộ óc người mới là ý thức. Oc
người là dạng vật chất có tổ chức cao nhất, nó có cấu tạo từ 15 tỷ đên 17 tỷ nơron thần kinh. Ý
thức không tách rời khỏi sự hoạt động của bộ não người. Ý thức phản ánh thế giới khách quan,
nhưng diễn ra trong quá trình hoạt động thần kinh của bộ não người. Trẻ sơ sinh chưa có ý thức.
Người bị điên, bị bệnh đao nặng là không có ý thức.
b) Nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn
ngữ.
Lao động là hoạt động đặc thù của con người. Nhờ lao động mà vượn người cổ đại đã
biến thành người, làm cho con người khác so với tất cả các loài động vật khác. Trong lao động
con người biết sử dụng và chế tạo công cụ lao động. Lao động của con người là lao động có định
hướng, tác động vào thế giới vì mục đích và nhu cầu của con người. Chính thông qua lao động,
bộ não người được hình thành, phát triển ngày càng hoàn thiện. Qua đó mà tư duy của con người
cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện.
Lao động, mà trước hết là lao động sản xuất là hình thức cơ bản đầu tiên của hoạt động
thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội của con người, nó cũng là cơ sở của việc hình thành và phát
triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ hình thành và phát triên bắt nguồn từ lao động và phát triển cùng lao
5

Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 18 - Nxb tiến bộ, Matxcơva - Tr 209
15


động, lúc đầu là nhu cầu cần thông báo cho nhau những thông tin gì đó. Về sau ngôn ngữ trở
thành phương tiện lưu giữ, truyền tải thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngôn ngữ là hệ
thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, vừa là phương tiện để con người giao tiếp,
đồng thời là phương tiện để con người tổng kết các hoạt động thực tiên giữa các thế hệ người
trong lịch sử.
Ăng-ghen nói: ”Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích

thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của loài vật thành bộ não của con người, tâm lý động
vật thành ý thức”6.
2.2. Bản chất của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm các yếu tố khác nhau như tri thức, xúc cảm, tình
cảm và ý chí trong đó tri thức là yếu tố quan trọng nhất.
Từ nguồn gốc tự nhiên, thì ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của bộ óc người. Trước hết,
như vậy bản chất của ý thức là phản ánh. Tức ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giớí khách
quan trong bộ óc người.
Phản ánh tâm lý động vật cũng là phản ánh thế giới khách quan nhưng là sự phản ánh bản
năng. Phản ánh ý thức ngay từ đầu đã do nhu cầu cải biến thế giới theo mục đích của con người
thông qua hoạt động thực tiễn, vì thế nó mang bản chất sáng tạo. Sáng tạo của ý thức nằm trong
khuôn khổ của quy luật phản ánh. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của một quá trình đồng thời
xảy ra trong bộ não người.
Từ nguồn gốc xã hội, thì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan một cách chủ động và
tích cực. Con người thông qua hoạt động thực tiễn có mục đích, tác động vào thế giới khách
quan buộc chúng phải bộc lộ những đặc tính, kết cấu và quy luật vận động để phản ánh và nhận
thức. Khi đã nhận thức được bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng thì con người vận
dụng tri thức đó vào cải biến thế giới khách quan vì mục đích và nhu cầu của con người. Ý thức
như thế là mang bản chất xã hội.
Tóm lại: Bản chất của ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não
người thông qua hoạt động thực tiễn. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan được sáng tạo trong bộ óc người thông qua hoạt động thực tiễn.
III. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
3.1. Tính quyết định của vật chất đối với ý thức
Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. Trong đời sống xã hội, điều
đó được biểu hiện là tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Tính quyết định đó được biểu hiện ở
vật chất là nguồn gốc, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn, thước đo kiểm tra tính chân lý của ý
thức.
Nhưng nếu chỉ thấy tính quyết định của vật chất mà không thấy vai trò của ý thức thì sẽ
mắc phải những sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.

3.2. Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất theo hai hướng: Khi ý thức phản ánh đúng,
phản ánh một cách khoa học những quy luật khách quan của sự vận động khách quan của vật
chất, thì ý thức có tác dụng tích cực là một động lực của sự vận động và phát triển của vật chất.
Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc những quy luật khách quan của sự vận
động khách quan của vật chất, thì ý thức có tác dụng tiêu cực làm cản trở hoặc phá vỡ sự vận
động và phát triển của vật chất.
Trong đời sống hiện thực, ý thức muốn tác động trở lại đối với đời sống vật chất thì phải
chính bằng lực lượng vật chất, tức phải thâm nhập vào con người, được con người tổ chức thực
6

Ph. Ăng-ghen: Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1974 - Tr 257.
16


hiện trong thực tiễn. Mác nói: “Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phán
bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận
cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 7. Lênin cũng chỉ ra:
“Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”8.
Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức sẽ tránh cho chúng ta những
căn bệnh chủ quan duy ý chí trong hoạt động thực tiễn, chống thái độ trông chờ, ỷ lại vào điều
kiện vật chất, không phát huy sức mạnh của trí tuệ tinh thần con người trong quá trình cải biến
thế giới.
BÀI 2: CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Phép biện chứng ra đời từ thời cổ đại. Trong lịch sử triết học đã có ba hình thức cơ bản về
phép biện chứng: Phép biện chứng ngây thơ, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ gữa thế giới quan duy vật và phương
pháp luận biện chứng, bao hàm nội dung hết sức phong phú bởi đối tượng phản ánh của nó là thế
giới vật chất vô cùng vô tận. Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển có ý nghĩa khái quát nhất. Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng ... là môn khoa học về những

quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư
duy”9.
Nguyên lý có ý nghĩa như các tiên đề trong các khoa học cụ thể. Nó là cái không phải
chứng minh mà phải chấp nhận và tuân thủ nghiêm nghặt nó. Nếu không tuân thủ sẽ dẫn đến sai
lầm cả trong nhận thức lẫn hành động.
I. NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1. Nội dung của nguyên lý
Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới, bao giờ cũng tồn tại trong mối liên hệ
phổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại cô lập, riêng lẻ,
không liên hệ.
2. Phân tích nội dung của nguyên lý
Quan niệm của các nhà triết học duy tâm nếu có thừa nhận có mối liên hệ, thì mối liên hệ
đó do các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định.
Quan niệm của các nhà triết học duy vật siêu hình coi sự vật, hiện tượng tồn tại tách rời
nhau, nếu có mối liên hệ thì là những mối liên hệ ngẫu nhiên, hoặc không xét hết các khía cạnh
của mối liên hệ.
Phép biện chứng duy vật quan niệm các sự vật hiện tượng trong thế giới dù muôn hình
muôn vẻ nhưng không tồn tại cô lập tách biệt mà chúng là một thể thống nhất, tác động lẫn nhau,
ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau.
Mối liên hệ này diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên mọi quan hệ giữa các yếu tố, các thuộc
tính, các quá trình.... làm nên bản thân sự vật hiện tượng và giữa các sự vật hiện tượng với nhau.
Mối liên hệ này là khách quan, nó bắt nguồn từ tính thống nhất của thế giới.
Thế giới là phong phú, đa dạng và nhiều vẻ, vì thế mọi sự phân loại mối liên hệ đều chỉ
có ý nghĩa tương đối, vì một mối liên hệ nào đó cụ thể thì chỉ là một hình thức, một bộ phận, một
mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói chung. Tuy nhiên, sự phân loại mối liên hệ là cần thiết
trong việc quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng không giống nhau.
Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”10.
7

C. Mác - Ph. Ăng-ghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1995 - Tập 1 - Tr 580.

V.I. Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 6 - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva 1975 - Tr 30.
9
C. Mác - Ph. Ăng-ghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1994 - Tập 20 - Tr 201.
10
Ph. Ăng-ghen - Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1963 - Tr 32.
17
8


3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nắm vững nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trong nhận thức cũng như trong hành động
thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh giá sự vật hiện tượng và thế giới,
nhất là các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội. Khi số mối liên hệ được xét đến càng nhiều thì kết luận
về sự vật hiện tượng càng chính xác.
II. NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
1. Nội dung của nguyên lý
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới trong quá trình vận động của mình, dù có
chấp nhận những bước lùi nhưng cuối cùng vẫn đạt được sự phát triển. Không có sự vật hiện
tượng nào là không phát triển.
2. Phân tích nội dung nguyên lý
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với nguyên lý
về sự phát triển. Hai nguyên lý này thống nhất với nhau bởi liên hệ là vận động, không vận động
không có sự phát triển nào cả.
Khái niệm vận động là chỉ mọi biến đổi nói chung. Khái niệm phát triển là chỉ những vận
động đi lên, cái mới ra đời cao hơn, tiến bộ hơn cái cũ. Sự phát triển diễn ra theo nhiều chiều
hướng, đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện.
Sự phát triển và đổi mới là hiện tượng khách quan diễn ra không ngừng trong vũ trụ. Nó
diễn ra trên mọi lĩnh vực và trên mọi mối liên hệ. Nguồn gốc của phát triển là sự đấu tranh và
thống nhất giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng. Sự phát triển không
phải bao giờ cũng diễn ra thẳng tắp, xét từng sự vật hiện tượng cụ thể, riêng lẻ thì có những vận

động tuần hoàn, đi lên hoặc đi xuống, nhưng xét trong quá trình dài và phạm vi rộng thì vận
động đi lên là khuynh hướng thống trị.
Quan điểm biện chứng xem xét thế giới như là một quá trình tiến lên thông qua những
bước nhảy vọt, cái cũ mất đi cái mới ra đời, sự đấu tranh của các mặt đối lập ngay trong bản thân
sự vật hiện tượng là nguồn gốc của sự phát triển. Lênin nói: “Lôgích biện chứng đòi hỏi phải
xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự vận động, trong sự biến đổi của nó”11
Đối lập với phép biện chứng, quan điểm duy tâm nếu thừa nhận có sự phát triển thì sự
phát triển đó bị lệ thuộc bởi các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định. Các quan điểm siêu
hình lại hoặc phủ nhận phát triển tuyệt đối hóa tính ổn định của sự vật hiện tượng, hoặc xem sự
phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, hoặc sự lặp đi lặp lại đơn thuần về chất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nắm vững nguyên lý về sự phát triển cần có quan điểm phát triển khi xem xét đánh giá
sự vật hiện tượng, phải ủng hộ cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, nhìn nhận sự vật hiện
tượng một cách trực quan tĩnh tại.
Nắm vững hai nguyên lý đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh giá sự vật
hiện tượng, đồng thời với việc đặt sự vật trong nhiều mối liên hệ thì cũng phải có quan điểm lịch
sử cụ thể, quan điểm phát triển trong đánh giá xem xét.
BÀI 3: CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Cặp phạm trù cái Riêng - cái Chung
1.1. Các khái niệm
a) Cái Riêng: Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng hoặc
một quá trình riêng lẻ nhất định. Chẳng hạn: một người, một ngôi sao, một con sông, một lớp
học...
11

V.I. Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 29 - Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1980 - Tr 364.
18


b) Cái Chung: Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc

tính, những mối liên hệ giống nhau ở nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ. Chẳng hạn
vận động, mâu thuẫn, đồng hóa, dị hóa, hô hấp...
c) Cái đơn nhất (Đặc thù): Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét,
những mặt, những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự
vật, hiện tượng khác.
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Phái duy thực quan niệm cái chung tồn tại độc lập không phụ thuộc vào cái riêng và sinh
ra cái riêng. Cái chung tồn tại vĩnh viễn không biến đổi còn cái riêng chỉ tồn tại tạm thời và mất
đi (tiêu biểu là Platôn). Ngược lại phái duy danh lại cho rằng chỉ cái riêng tồn tại thực sự, còn cái
chung chỉ là tên gọi do lý trí đặt ra chứ không phản ánh một cái gì hiện thực.
Quan niệm của phép biện chứng duy vật cho rằng: Cái riêng và cái chung tồn tại một
cách khách quan và luôn quan hệ lẫn nhau. Không có riêng, chung tồn tại thuần túy không liên
hệ.
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện. Cái riêng chỉ tồn
tại trong mối liên hệ với cái chung. Chẳng hạn, vận động chỉ biểu hiện thông qua các hình thức
vận động cụ thể. Trong sản xuất, bất cứ nước nào cũng phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất
phải luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Cái riêng là cái toàn thể phong phú hơn cái chung, vì ngoài những mặt những thuộc
tính... gia nhập vào cái chung, nó còn những cái đơn nhất. Cái chung là cái bộ phận nhưng sâu
sắc, bản chất hơn cái riêng. Bởi nó phản ánh những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ bên
trong, tất nhiên, ổn định, phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại. Cái chung bởi thế thường gắn
với bản chất quy định phương hướng tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Cái đơn nhất và cái chung là những phạm trù cùng loại nên trong những mối liên hệ nhất
định chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau. Sở dĩ có điều này là do trong hiện thực, cái mới không
bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà xuất hiện ở dạng cá biệt, đơn nhất rồi theo quy luật
phát triển, hoàn thiện thành cái chung. Trong khi đó cái cũ từ là cái chung ngày càng biến dần
thành cái đơn nhất.
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần phải biết phát hiện cái chung và
vận dụng cái chung để cải tạo cái riêng. Nhưng muốn phát hiện cái chung phải xuất phát từ

những cái riêng cụ thể.
Khi vận dụng cái chung vào cái riêng, phải biết cá biệt hóa cái chung cho phù hợp với
những đặc điểm của cái riêng. Không áp đặt một cách nguyên xi cái chung cho mọi cái riêng.
Cần biết tạo điều kiện thuận lợi cho những cái đơn nhất có lợi chuyển hóa thành cái
chung, ngược lại phải tạo điều kiện cho những cái chung lỗi thời không là điều mong muốn của
ta biến thành cái đơn nhất.
Trong thực tiễn, khi vận dụng cặp phạm trù cái riêng và cái chung nếu tuyệt đối hóa vai
trò của cái chung mà hạ thấp vai trò của cái riêng sẽ dẫn đến chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn,
máy móc (hữu khuynh). Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của cái riêng mà hạ thấp vai trò của
cái chung sẽ dẫn đến tư tưởng địa phương chủ nghĩa, tập thể phường hội, chủ nghĩa cá nhân (tả
khuynh).
2. Cặp phạm trù Nguyên nhân - Kết quả
2.1. Các khái niệm

19


Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu
tố... trong sự vật, hiện tượng hay giữa sự vật, hiện tượng với nhau gây ra một sự biến đổi nhất
định.
Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn
nhau của các mặt, các yếu tố ... trong một sự vật hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng với
nhau.
Ví dụ: Sự tự quay xung quanh mình và quay xung quanh mặt trời của quả đất là nguyên
nhân dẫn đến kết quả có ngày, đêm, bốn mùa.
Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện: Nguyên cớ là khái niệm dùng để chỉ
những gì xảy ra trước kết quả, không sinh ra kết quả, có liên quan không bản chất với kết quả và
nằm ngoài sự vật, hiện tượng. Điều kiện là khái niệm dùng để chỉ sự tổng hợp những hiện tượng
không phụ thuộc vào nguyên nhân, không tham gia vào kết quả, nhưng để có kết quả thì không
thể thiếu nó.

Mối quan hệ nhân - quả là khách quan của bản thân sự vật, hiện tượng. Nó tồn tại không
lệ thuộc vào ý muốn của con người. Nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng vì
thế nó cũng không thể đồng nhất với khả năng tiên đoán. Ngược lại, Chủ nghĩa duy tâm lại cho
rằng nó bị lực lượng siêu nhiên, hoặc ý thức của con người quyết định (Công giáo, Hium).
Mối quan hệ nhân - quả là phổ biến trong tồn tại của sự vật, hiện tượng và thế giới
(nguyên tắc quyết định luận). Chủ nghĩa duy tâm hiện đang phủ nhận nguyên tắc này và thay thế
vào đó nguyên tắc vô định luận, cho rằng có hiện tượng không có nguyên nhân. Đây là vấn đề
đang được tranh luận sôi nổi trong các hiện tượng vi mô.
Mối quan hệ nhân - quả là một tất yếu. Tức có những kết quả muốn ra đời phải có những
điều kiện nhất định (hoàn cảnh). Nhưng trong những hoàn cảnh nhất định, với một nguyên nhân
nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định. Chẳng hạn vật trong chân không luôn rơi ở vận tốc
9,8m/s2. Nước ở áp suất 1 átmốtphe luôn sôi ở nhiệt độ 100 0C v.v. Tính tất yếu của quan hệ nhân
- quả cần được hiểu: Nếu nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả
do nguyên nhân gây nên càng ít khác nhau bấy nhiêu.
2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. Nguyên nhân luôn là cái có trước kết quả, sản sinh
ra trước kết quả. Kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động.
Nhưng mối quan hệ nhân - quả phải bao gồm đồng thời cả hai quan hệ thứ tự và sản sinh. Mối
quan hệ liên tục về thời gian mà thiếu quan hệ sản sinh như ngày - đêm và bốn mùa không là
quan hệ nhân- quả. S = π.R2 là công thức tính diện tích hình tròn nhưng giữa S và R không là
quan hệ nhân - quả.
Một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc hoàn cảnh, cũng như
một kết quả có thể được gây nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nếu các nguyên nhân tác
động lên sự vật, hiện tượng theo cùng một hướng chúng sẽ cùng gây nên ảnh hưởng cùng chiều
với sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu các nguyên nhân tác động lên sự vật, hiện tượng theo
các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu lẫn nhau, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụng
của nhau.
Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có thể
phân chia nguyên nhân thành các loại sau: Nguyên nhân chủ yếu là những nguyên nhân mà thiếu
nó thì không thể xảy ra kết quả. Nguyên nhân thứ yếu là những nguyên nhân mà sự có mặt của

2

Số này đọc là giây.

0
2

Số này đọc là bình phương
20


nó chỉ quyết định những đặc điểm nhất thời, không ổn định, cá biệt của sự vật, hiện tượng.
Nguyên nhân bên trong là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố của cùng một sự vật,
hiện tượng gây ra những biến đổi nhất định. Nguyên nhân bên trong bao giờ cũng quyết định sự
hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Nguyên nhân bên ngoài là sự tác động lẫn
nhau giữa những sự vật, hiện tượng khác nhau gây nên những biến đổi thích hợp trong những sự
vật, hiện tượng ấy. Nguyên nhân bên ngoài chỉ phát huy tác dụng của mình thông qua những
nguyên nhân bên trong. Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân xuất hiện và tác động
độc lập với ý thức của con người. Nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân xuất hiện và tác
động phụ thuộc vào ý thức của con người. Nếu hoạt động của con người phù hợp với quan hệ
nhân - quả khách quan thì sẽ đẩy nhanh sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng và thế giới. Ngược
lại, nếu hoạt động của con người không phù hợp với nguyên nhân khách quan thì nó kìm hãm sự
biến đổi ấy.
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không thụ động đối với nguyên nhân mà nó
có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với nguyên nhân. Chẳng hạn, khi nhấn một khối gỗ vào
một chậu nước đầy sẽ làm cho nước trong chậu tràn ra. Đến lượt nó, chính do nước tràn ra ngoài
mà lực đẩy của nó đối với khối gỗ bị giảm đi.
- Trong chuỗi vô tận của thế giới vật chất, không có nguyên nhân nào được xem là
nguyên nhân đầu tiên, cũng như không có kết quả nào được xem là kết quả cuối cùng. Tuy nhiên,
nguyên nhân và kết quả là những khái niệm có ý nghĩa tương đối. Nó đúng khi được áp dụng vào

một trường hợp riêng biệt nhất định. Nói chung một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là
nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác có thể là kết quả và ngược lại. Một hiện tượng nào đó
được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong những mối quan hệ xác định, cụ thể.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong của nó. Mối
quan hệ nhân - quả là khách quan nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của sự vật, hiện tượng trong
chính thế giới sự vật, hiện tượng chứ không thể tìm ở ngoài nó.
Phải tìm nguyên nhân của sự vật, hiện tượng trong những mặt, những yếu tố, những mối
liên hệ đã xảy ra trước sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng.
Cần phải biết phân loại các loại nguyên nhân, phân tích tỷ mỷ và thận trọng từng nguyên
nhân để có biện pháp xử lý đúng đắn. Khi muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng nào đó thì phải
loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó. Muốn cho sự vật, hiện tượng xuất hiện cần tạo ra những nguyên
nhân và các điều kiện để nguyên nhân sinh ra nó phát huy tác dụng. Khi sử dụng nguyên nhân
tác động cho sự vật, hiện tượng xuất hiện cần tập trung trước hết vào các nguyên nhân chủ yếu
và nguyên nhân bên trong. Trong lĩnh vực xã hội, khi muốn đẩy nhanh (kìm hãm hoặc loại trừ)
sự biến đổi của một hiện tượng xã hội nào đó cần phải làm cho nguyên nhân chủ quan tác động
cùng chiều (lệch hoặc ngược chiều) với sự vận động của mối quan hệ nhân - quả khách quan.
Kết quả không tồn tại một cách thụ động trước nguyên nhân, cần phải biết khai thác vận
dụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và tiếp tục thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát
triển.
3. Cặp phạm trù Nội dung - Hình thức
3.1. Các khái niệm
Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ tất cả những mặt, những yếu tố...và
những quá trình do sự tác động lẫn nhau giữa chúng gây nên trong các sự vật, hiện tượng.
Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật,
hiện tượng, là cách thức tổ chức, là kết cấu của nội dung.
21


Ví dụ: Con ngưòi xét về nội dung là toàn bộ những mặt, những quá trình diễn ra trong nó

như đồng hóa, dị hóa, hoạt động của hệ cơ, hệ thần kinh... Xét về hình thức là kết cấu của cơ thể,
cách thức tổ chức sắp xếp các bộ phận trong cơ thể. Hoặc một cuốn sách thì xét về nội dung là
cuốn sách đó nói lên điều gì, nêu lên những tư tưởng, những vấn đề nào của cuộc sống... Xét về
hình thức là bố cục của tác phẩm, các hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, phong cách và bút pháp
mà tác phẩm đã sử dụng để diễn đạt nội dung.
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có hình thức bề ngoài của nó, nhưng hình thức mà
phép duy vật biện chứng nói đến trong cặp phạm trù này chủ yếu không là cái hình thức bên
ngoài ấy, mà là cái hình thức bên trong của sự vật, hiện tượng, tức là cơ cấu bên trong của nội
dung.
3.2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức bao giờ cũng là một thể thống nhất gắn bó nhau. Không một hình
thức nào không chứa đựng một nội dung nhất định. Không có một nội dung nào lại không tồn tại
trong một hình thức nhất định. Khi khẳng định như vậy không có nghĩa là nội dung bao giờ cũng
chỉ được thể hiện trong một hình thức nhất định và một hình thức bao giờ cũng chỉ biểu hiện một
nội dung nhất định. Trong thực tế một nội dung có thể tồn tại trong nhiều hình thức, ngược lại
một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung.
Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức. Sự vận động và phát triển của sự vật,
hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ nội dung. Khi nội dung biến đổi thì hình thức của nó cũng
biến đổi theo cho phù hợp với nội dung, nhưng sự biến đổi của hình thức thường diễn ra chậm
hơn.
Chịu sự quyết định của nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối của nó. Khi
hình thức phù hợp với nội dung thì nó mở đường và thúc đẩy nội dung phát triển. Khi không phù
hợp với nội dung, hình thức sẽ cản trở và kìm hãm sự phát triển của nội dung. Ví dụ như mối
quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ở nước ta trong giai đoạn 1975 1986 và giai đoạn 1986 - nay.
3.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn không được tách rời nội dung với
hình thức hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó của sự vật, hiện tượng.
Trong hoạt động thực tiễn cải biến xã hội cần phải biết sử dụng mọi hình thức có thể có
(mới cũng như cũ) để phục vụ cho những nhiệm vụ cụ thể đạt hiệu quả cao. Cần tránh hai thái
cực: hoặc chỉ bám những hình thức cũ, chỉ muốn làm theo kiểu cũ sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ;

hoặc phủ nhận vai trò của cái cũ trong hoàn cảnh mới, thay đổi hình thức cũ một cách tùy tiện,
không có căn cứ sẽ dẫn đến chủ quan, nóng vội.
Khi xét đoán sự vật, hiện tượng cần căn cứ vào nội dung, cũng như muốn làm biến đổi sự
vật, hiện tượng thì trước hết phải tác động để thay đổi nội dung của nó. Đồng thời phải luôn theo
dõi, tạo điều kiện sao cho hình thức của sự vật, hiện tượng phù hợp hay không phù hợp cần thiết
với nội dung đang biến đổi của nó nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó theo yêu cầu
của hoạt động thực tiễn.
4. Cặp phạm trù Bản chất - Hiện tượng
4.1. Các khái niệm
Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những thuộc tính, những
mối liên hệ tất nhiên hợp thành một thể thống nhất hữu cơ bên trong, quy định sự vận động và
phát triển của sự vật, hiện tượng.
Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những mối liên hệ biểu hiện ra
bên ngoài của một bản chất nhất định.
22


Ví dụ: Bản chất con người là tổng hợp tất cả các mối quan hệ (xã hội, sinh học, tâm lý)
quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của con người. Hiện tượng là tất cả những
mặt, những hành vi bộc lộ ra bên ngoài của con người.
Như vậy, bản chất là mặt bên trong, tương đối ổn định của hiện thực khách quan. Hiện
tượng là mặt bên ngoài, luôn di động biến đổi, là hình thức biểu hiện của bản chất.
Bản chất gắn bó chặt chẽ với cái chung. Tuy nhiên không phải cái chung nào cũng là bản
chất. Chỉ những cái chung tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng mới
là bản chất.
Bản chất đồng thời là cái có tính quy luật, bởi nói đến bản chất là nói đến tổ hợp những
quy luật quyết định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Bản chất và quy luật là
những phạm trù cùng bậc nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất nhau. Quy luật là mối liên hệ
tất nhiên, phổ biến, lặp đi lặp lại và ổn định giữa các sự vật, hiện tượng và giữa các mặt của
chúng. Bản chất là tổng hợp các mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở trong sự vật, hiện

tượng. Bản chất như vậy là phạm trù rộng hơn, phong phú hơn quy luật.
4.2. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
Khác với chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng duy vật khẳng định, bản chất và hiện
tượng là tồn tại khách quan. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng bản chất không tồn tại hiện thực, còn
hiện tượng dù có tồn tại hiện thực thì chỉ là những phức hợp của cảm giác, chỉ tồn tại trong con
người. Người duy tâm khách quan nếu thừa nhận có bản chất tồn tại thì đó là cái tinh thần thuần
túy.
Bản chất và hiện tượng không những tồn tại khách quan mà còn luôn ở trong mối quan hệ
hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau. Mỗi sự vật hiện tượng đều là cái thống nhất giữa bản chất và
hiện tượng: Bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện tượng, hiện tượng bao giờ cũng là sự bộc lộ
của bản chất; Không có bản chất và hiện tượng tồn tại thuần túy không quan hệ nhau; Bất kỳ bản
chất nào cũng bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, bất kỳ hiện tượng nào cũng là bộc lộ của
bản chất ở những mức độ nào đó, tức về nguyên tắc hiện tượng luôn phù hợp với bản chất và
ngược lại. Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi, khi bản chất mất đi thì hiện tượng
cũng mất đi.
Ngoài tính thống nhất ấy, giữa bản chất và hiện tượng cũng có tính mâu thuẫn: Bản chất
là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài; Bản chất là cái tương đối ổn định, hiện tượng là cái
linh hoạt luôn biến đổi; Trên thực tế không phải bao giờ cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa bản
chất với hiện tượng; Bản chất là cái biến đổi chậm, hiện tượng là cái biến đổi nhanh; Bản chất là
cái sâu sắc, hiện tượng là cái phong phú hơn.
4.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong bản thân sự vật, hiện tượng,
quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, còn hiện tượng là cái biểu hiện bên
ngoài, không ổn định của sự vật, hiện tượng, nên khi nhận thức sự vật, hiện tượng không được
dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu vào bản chất, nắm được bản chất và vạch ra được bản chất
của sự vật, hiện tượng.
Vì bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan nên không tìm bản chất ở ngoài sự vật, hiện
tượng cũng như không tìm nó ngoài thế giới hiện thực, mà tìm và phát hiện bản chất ngay trong
bản thân sự vật, hiện tượng.
Vì bản bản chất và hiện tượng về nguyên tắc là thống nhất nên muốn phát hiện bản chất

phải nghiên cứu, phân tích hiện tượng một cách cặn kẽ, khoa học, loại bỏ các hiện tượng giả để
hiểu đúng bản chất của sự vật, hiện tượng.
5. Cặp phạm trù Tất nhiên - Ngẫu nhiên
23


5.1. Các khái niệm
Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do bản chất, do những nguyên nhân bên
trong của sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như
chính nó chứ không thể khác.
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái không do bản chất và mối liên hệ bên
trong quyết định, mà do ngẫu hợp những hoàn cảnh bên ngoài quyết định. Do đó, có thể xuất
hiện hoặc không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này cũng có thể xuất hiện thế khác.
Bóc lột là tất nhiên trong quan hệ giữa tư bản và công nhân, nhưng bóc lột thông qua sản
xuất loại hàng hóa gì là do quyết định của nhà tư bản, là ngẫu nhiên.
Cái chung và tất nhiên giống nhau ở chỗ chúng tương đối ổn định và mang tính bản chất.
Nhưng cái chung và cái tất nhiên rất khác nhau: Cái chung chỉ là những thuộc tính giống nhau ở
nhiều sự vật riêng lẻ. Trong khi đó cái tất nhiên là cái được quyết định bởi bản chất nội tại, bởi
quy luật bên trong của sự vật, hiện tượng. Vì thế có cái chung là tất nhiên, cũng có cái chung là
ngẫu nhiên. Chẳng hạn biết chế tạo công cụ và có ngôn ngữ là cái chung đồng thời là tất nhiên
trong quan hệ giữa người với người, nhưng những người cùng học một chuyên ngành, cùng
trong một khóa và cùng quê là cái chung ngẫu nhiên. Như vậy tất nhiên là cái chung, nhưng
không phải cái chung nào cũng là tất nhiên.
Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân của nó. Nhưng tất nhiên gắn liền với
nguyên nhân cơ bản, nội tại của sự vật, hiện tượng; còn ngẫu là kết quả tác động của một số
nguyên nhân bên ngoài.
Cả tất nhiên và cái ngẫu nhiên đều tuân thủ quy luật, nhưng chúng khác nhau ở chỗ tất
nhiên tuân thủ những quy luật mà trong đó mối quan hệ nhân - quả của nó là đơn trị (một nguyên
nhân chỉ có một kết quả), còn ngẫu nhiên tuân theo những quy luật mà trong đó mối quan hệ
nhân - quả của nó là đa trị ( một nguyên nhân có nhiều kết quả).

Các nhà triết học duy tâm phủ nhận tính tất nhiên và chỉ thừa nhận có ngẫu nhiên trong tự
nhên. Các nhà xã hội học trước C.Mác phủ nhận cái tất nhiên trong lĩnh vực xã hội và coi lịch sử
loài người là hỗn tạp những ngẫu nhiên và là kết quả của sự tùy tiện của con người. Các nhà triết
học duy vật trước C.Mác đại đa số thừa nhận sự tồn tại khách quan của tất nhiên nhưng không
thống nhất trong thừa nhận tính khách quan của ngẫu nhiên, cũng có người cho rằng trong tự
nhiên chỉ có ngẫu nhiên; Một số khác tuy thừa nhận tính khách quan của tất nhiên và ngẫu nhiên
nhưng xem chúng là rời nhau, không liên hệ với nhau.
5.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ tất nhiên - ngẫu nhiên của sự vật, hiện
tượng là tồn tại khách quan. Cả hai đều có vai trò quan trọng của nó đối với sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng: Cái tất nhiên chi phối sự vận động và phát triển, cái ngẫu nhiên có
thể làm cho sự vận động và phát triển ấy diễn ra nhanh hơn hoặc chậm hơn.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại một cách thuần túy và biệt lập, mà tồn tại trong sự
thống nhất hữu cơ với nhau và là sự thống nhất của các mặt đối lập: Tất nhiên bao giờ cũng vạch
cho mình đường đi xuyên qua vô số các ngẫu nhiên, ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất
nhiên đồng thời là cái bổ sung cho tất nhiên.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn không thay đổi, mà ranh giới giữa chúng
chỉ là tương đối: Trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hóa cho nhau; Cùng một
hiện tượng nhất định nhưng ở trong mối quan hệ này là tất nhiên, ở mối quan hệ khác là ngẫu
nhiên. Dĩ nhiên, để ngẫu nhiên chuyển hóa thành tất nhiên bao giờ cũng kèm theo điều kiện.
5.3. Ý nghĩa phương pháp luận
24


Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải căn cứ vào cái tất nhiên mà
vạch phương hướng chứ không dựa vào ngẫu nhiên. Tuy nhiên, không được bỏ qua ngẫu nhiên
mà phải có những phương án dự phòng cho các trường hợp cái ngẫu nhiên bất ngờ xuất hiện.
Muốn nhận thức tất nhiên thì phải biết phát hiện nó thông qua các ngẫu nhiên, bởi lẽ cái
tất nhiên luôn ẩn náu sau các ngẫu nhiên. Đồng thời phải ngăn ngừa những ngẫu nhiên bất lợi, sử
dụng các ngẫu nhiên có lợi cho hoạt động của con người.

Biết tạo những điều kiện thuận lợi để các ngẫu nhiên có lợi chuyển hóa thành cái tất
nhiên và ngược lại. Tuy nhiên, nếu thoát ly những điều kiện để chuyển hóa sẽ rơi vào chủ quan,
duy ý chí.
Cũng phải thấy rằng, không phải mọi cái chung đều là cái tất nhiên, nên việc phát hiện ra
cái chung mới chỉ là một bước trên con đường đến cái tất nhiên mà thôi.
6. Cặp phạm trù Khả năng - Hiện thực
6.1. Các khái niệm
Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ cái hiện chưa có, chưa tới nhưng sẽ tới, sẽ có
khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực là phạm trù triết học dùng để chỉ những cái hiện đang
có, hiện đang tồn tại thật sự.
Phạm trù vật chất chỉ bao gồm những gì tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức. Phạm
trù hiện thực bao gồm tất cả những gì đang tồn tại, tức bao gồm cả cái tồn tại khách quan (vật
chất), và cái tồn tại chủ quan (ý thức). Chính thế, khi cần thiết ta dùng hiện thực khách quan để
chỉ vật chất, hiện thực chủ quan để chỉ ý thức. Lênin viết: “Cho rằng cả tư tưởng lẫn vật chất đều
là hiện thực, nghĩa là đều tồn tại, thì điều đó là đúng. Nhưng gọi tư tưởng là có tính vật chất, thì
tức là bước một bước sai lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm”12.
Hiện thực như vậy khác với hiện thực lâu nay ta thường quan niệm là toàn bộ thực tại
khách quan đang vận động (tự nhiên và xã hội).
Không thể so sánh phạm trù vật chất và phạm trù hiện thực cái nào rộng hơn. Bởi lẽ, các
cặp phạm trù vật chất - ý thức và khả năng - hiện thực phản ánh những mặt khác nhau của thế
giới chúng ta đang sống.
Khả năng là một dạng tồn tại đặc biệt: Cái sự vật, hiện tượng nói đến trong khả năng là
chưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng thì tồn tại.Chẳng hạn ta đang là sinh viên thì ta là cán bộ
là chưa tồn tại nhưng khả năng xuất hiện ta là cán bộ thì đang tồn tại.
Không được nhầm lẫn khả năng với hiện thực. Khả năng là cái hiện chưa có, chưa tới.
Hiện thực là cái hiện đã có, đã tới. Tiền đề và điều kiện của một cái gì đó đều là những cái hiện
đang tồn tại thực sự (hiện thực) trên cơ sở đó xuất hiện cái mới, nó không phải là khả năng.
Khả năng và ngẫu nhiên khá gần nhau nhưng là những phạm trù khác nhau. Khả năng là
cái hiện chưa có nhưng sẽ có, sẽ tới, sẽ xảy ra khi có điều kiện. Nó là cái chỉ được thực hiện (chỉ
biến thành hiện thực trong tương lai), là kết quả phát triển của một chuỗi nhân quả trực tiếp.

Trong khi đó ngẫu nhiên là cái khi có điều kiện nó có thể xảy ra, có thể không xảy ra, khi xảy ra
nó có thể thế này cũng có thể thế khác. Ngẫu nhiên là cái được thực hiện, nó không chỉ xảy ra
trong tương lai mà xảy ra cả trong hiện tại, là kết quả ngẫu hợp của nhiều chuỗi nhân quả có
hướng khác nhau.
Tất cả mọi khả năng đều tồn tại thực sự do hiện thực sinh ra, nó hình thành và lớn lên
trong lòng bản thân hiện thực. Theo nghĩa đó, mọi khả năng đều là Khả năng thực tế . Tuy nhiên,
có thể phân loại một số khả năng như sau: Khả năng thực tế là khả năng do mối liên hệ tất nhiên
quyết định, nó xuất hiện từ bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng và có điều kiện để trở thành
hiện thực. Khả năng hình thức là khả năng do mối liên hệ ngẫu nhiên, do sự kết hợp của những
12

V.I Lênin toàn tập - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva - 1980 - Tập 18 - Tr 300.
25


×