ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA KHUYẾN NÔNG & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
----------
TÀI LIỆU TẬP HUẤN
MÔN: ĐÀO TẠO CÁN BỘ TẬP HUẤN
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI KỲ NHÔNG
GVHD:
BIÊN SOẠN:
LỚP:
ThS NGUYỄN TIẾN DŨNG
NHÓM 03
KHUYẾN NÔNG 48
Huế, tháng 06 năm 2017
1
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay Nhu cầu lương thực cho tiêu dùng của thế giới ngày càng tăng, tuy nhiên chăn nuôi
gia súc và gia cầm phát triển cần lượng ngũ cốc sử dụng làm thức ăn chăn nuôi ngày càng
nhiều đã ảnh hưởng đến an ninh lương thực của toàn cầu.
Với những mô hình chăn nuôi hiện nay ở nước ta gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là yếu tố khí
hậu ảnh hưởng rất lớn đến việc chăn nuôi.Để phù hợp với từng vùng với những điều khiện
khí hậu khác nhau thì tìm ra những vật nuôi phù hợp vời từng vùng đó. Ở Việt Nam trong
những năm gần đây ở nhiều tỉnh đã quan tâm và thực hiện mô hình nuôi kỳ nhông đã đem lại
hiệu quả kinh tế rất cao cho bà con.
Kỳ nhông là một loại bò sát còn được gọi là nhông, với những tập tính của nó rất phù hợp với
những vùng đất cát, đặc biệt như vùng đất cát dọc ven biển miền Trung nước ta. Tuy nhiên
đây là vật nuôi còn mới mẻ, chưa được phổ biến và nhân rộng ở nhiều địa phương nên người
nông dân còn mơ hồ, chưa nắm rõ về cách thức chăm sóc. Do vậy, tài liệu phổ biến kiến thức
và kỹ thuật chăn nuôi kỳ nhông trở thành nhu cầu cần thiết cho mọi miền đất nước.
“Tài liệu tập huấn kỹ thuật chăn nuôi kỳ nhông” nhóm chúng tôi biên soạn, được tổng
hợp và đúc kết từ những tài liệu nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành. Đây là tài liệu tập
huấn chuyên môn cho các khuyến nông viên và những hộ nông dân có nhu cầu khai thác tối
đa tiềm năng của chăn nuôi kỳ nhông để đảm bảo phát triển bền vững và đạt hiệu quả kinh tế
cao.
Tài liệu tập huấn có 2 phần chính: nội dung bài giảng và đề cương giảng dạy.
Phần 1: Nội dung bài giảng gồm 2 chương được tập trung vào các nội dung:
- Khái quát về chăn nuôi bò thịt
- Bài giảng kỹ thuật chăn nuôi bò thịt.
Phần 2: Đề cương bài giảng là những gợi ý để các khuyến nông viên sử dụng trong quá trình
xây dựng, phổ biến tài liệu tập huấn của mình cho học viên bao gồm:
- Khai mạc và xây dựng nội quy lớp học
- Đánh giá đầu vào và giới thiệu chương trình
- Hưỡng dẫn kỹ thuật chăn nuôi bò thịt
- Thu hoạch và tổng kết
Cuốn “Tài liệu tập huấn kỹ thuật chăn nuôi kỳ nhông” đã được viết đơn giản phù hợp cho
các đối tượng sử dụng. Mặc dù đã rất cố gắng, tài liệu tập huấn này vẫn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý đọc giả và các
bạn đồng nghiệp.
Biên soạn
Nhóm 03
2
MỤC LỤC
Contents
3
PHẦN I: KỸ THUẬT CHĂN NUÔI KỲ NHÔNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHĂN NUÔI KỲ NHÔNG
1.1 Tình hình chăn nuôi kỳ nhông tại Việt Nam
Khác với các nước trên thế giới Việt Nam biết đến với việc nuôi kỳ nhông là rất chậm, thông
thường người dân biết đến với con kỳ nhông chỉ là một loại chỉ có ở thiên nhiên không thể
nuôi được. Kỳ nhông có ở rất nhiều nơi ở Việt Nam như Bình Thuận,Quãng Ngãi….Kỳ
nhông sống tập trung ở những nới có nhiều đất cát nhu ở các vùng biển.
Trước đây vài ba mươi năm, nếu có ai bàn đến việc nuôi kỳ nhông, chắc sẽ bị mọi người
chung quanh cực lực phản đối, không chừng có người còn mạnh miệng chê bai là…điên rồ.
Ở Việt Nam kỳ nhông còn được gọi là dông, còn ở Nghệ Tĩnh gọi là nhông với mỗi vùng
miền khác nhau thì kỳ nhông được gọi với những cái tên cũng khác nhau, như vậy càng làm
tăng tính thú vị cho con vật này. Chỉ những dân cư ở vùng có kỳ nhông sinh sống mới biết
nhiều về con kỳ nhông. Còn dân cư ở nơi khác, nhiều người chỉ nghe tên, chứ chưa thấy tận
mắt hình thù con kỳ nhông như thế nào. Dân cư ở trong vùng có kỳ nhông sinh sống thì liệt
chúng vào loại có hại cho nhà nông cần phải được tận diệt, bài trừ, như họ thường xuyên bài
trừ chuột bọ, ruồi muỗi, kiến mối vậy. Sở dĩ nhà nông thù ghét con kỳ nhông vì chúng ưa tìm
đến các vùng nương rẫy trồng các thứ đậu mè, dưa, bắp và các ruộng mạ để tìm ăn sạch
những hạt giống vừa nảy mầm cho đến những cây con mới lên cao khỏi mặt đất độ năm bảy
phân, mười lăm phân... Do đó, ngay từ những ngày đầu bắt tay vào việc cày bừa, cuốc xới
dọn đất gieo trồng bắp đậu... nông dân đã lo đến việc diệt kỳ nhông bằng đủ mọi cách. Có
nhà còn mướn người ngoài săn bắt với tiền công tính từng con, từng chục hoặc cân kí lô theo
giá cả hai bên thỏa thuận trước...
Ngày xưa thì vậy, nhưng nay việc nuôi kỳ nhông là việc nên làm, là nghề mới dễ làm giàu. Vì
thịt kỳ nhông ngày nay rất có giá và có thị trường tiêu thụ mạnh. Thịt kỳ nhông đắt gấp mấy
lần thịt heo, thịt bò và không dễ hễ có tiền là mua được! Trong tương lai, thịt kỳ nhông có thể
sẽ là nguồn thực phẩm quý để nuôi sống con người.
Được biết, hiện nay trên thế giới, nhiều nước đã trở nên giàu có với việc nuôi các loài côn
trùng như dế, bò cạp và nhiều loại côn trùng hoang dã khác để làm thực phẩm nuôi sống con
người. Theo tổ chức Lương Thực của Liên Hiệp Quốc (FAO) hiện nay nhiều nước trên thế
giới đã xác nhận có khoảng 1.400 giống côn trùng có đủ phẩm chất có thể dùng làm thực
phẩm nuôi sống con người. Chính tổ chức FAO cũng khuyến cáo mọi người sống trên hành
tinh này nên tập làm quen dần đến việc sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ côn trùng này.
Sự lo xa như vậy thiết nghĩ không phải là vô bổ. Vì như ta đã biết, nguồn thực phẩm thủy sản
nuôi sống chúng ta từ trước đến nay đang càng ngày càng bị cạn kiệt dần do nạn khai thác
đánh bắt bừa bãi của một số đông người hám lợi trong thời gian gần đây. Thế nhưng, tuy các
giống côn trùng hội đủ phẩm chất bể dùng làm thực phẩm nuôi sống chúng ta thì nhiều,
nhưng trữ lượng có sẵn của chúng trong thiên nhiên chắc chắn cũng có hạn, không thể đáp
ứng được một cách đầy đủ nhu cầu đòi hỏi càng ngày càng cao của nhân loại, nhất là trong
giai đoạn nàỳ.
4
Thịt Kỳ nhông với hàm lượng đạm cao, giúp bồi bổ sức khỏe đặc biệt là cho người ốm, phụ
nữ mới sinh con,...Đặt biệt hơn, món ăn này là món nhậu đặc sản của quý ông, giúp tăng
cường sức khỏe và sinh lực, để tìm ra một con kỳ nhông rất khó. Khi phát hiện hang nhông,
người thợ săn bắt đầu cuốc những nhát đầu tiên để tìm ngách đi của chúng.
Sau khi thấy ngách, họ sẽ đưa nhánh dương liễu luồn theo ngách để khỏi bị mất dấu. Đào đến
đâu thì luồn cây đến đó, cho đến tận nơi ẩn nấp của kỳ nhông, rồi thò tay vào hang để bắt.
Thịt kỳ nhông trắng, mềm và thơm, sau khi hơ qua lửa nóng rất dễ dàng đánh vẩy, cũng như
chế biến được rất nhiều món: chiên giòn, xé trộn gỏi, xào lăn, xào sả ớt… Thịt kỳ nhông
thơm, ngon, nhiều dưỡng chất. Người ta thường chế biến kỳ nhông thành các món như gỏi,
nấu canh, nướng muối, hầm thuốc bắc hay nấu cháo.
Mỗi kg nhông rừng có giá bán từ vài trăm ngàn đồng, đây là món nhậu ưa chuộng của nhiều
hàng quán đất Quảng.
Kỳ nhông sinh sản không cao, môi trường sống dần bị thu hẹp nên số lượng ngày một khan
hiếm.
Giá bán con giống là 450.000 đồng/kg, giá bán thịt là 350.000 đồng/kg nhưng hiện nay đang
khan hiếm con giống cung cấp cho người nuôi trong và ngoài thành phố, số con bán thịt cho
các nhà hàng, quán ăn cũng không có hàng để cung cấp, do nhu cầu của người tiêu dùng đòi
hỏi sản phẩm mới, lạ, ngon miệng.
Kỳ nhông ngoài làm món ăn ngon thì nó cũng được xem là một loại thú cưng được rất rất
nhiều người yêu thích đặc biệt là các bạn trẻ. Hà Nội là thành phố mà được nhiều bạn trẻ
nuôi kỳ nhông để làm cảnh họ xem kỳ nhông như là một người bạn. Nhiều bạn dã thành lập
những nhóm người chơi con vật này. Hàng tháng, các bạn thường có các buổi “offline” tại
một quán cafe đặc trưng của club (câu lạc bộ), để vừa uống cafe vừa ngắm loài bò sát “dễ
thương”...
Nhiều quán cafe, club độc đáo đang trở thành điểm đến của giới trẻ Hà thành. Một cảm giác
“khác lạ”, mới mẻ khi đến những không gian hoang dã, ấn tượng là điều mà nhiều người
thích thú và hướng tới. Nghe các bạn trẻ “rỉ” tai nhau về quán cafe lạ, pha chút “rùng rợn”
khiến nhiều người cảm thấy tò mò, hứng thú và quyết tìm đến để trải nghiệm.
Nằm sâu trong ngõ của đường Âu Cơ, quán cafe Pet Club khá nổi bật với hình ảnh một chú
bò sát trong chuồng kính, mắt “ngó nghiêng” nhìn ra đường. Đây chính là con kỳ nhông Nam
Mỹ (hay còn gọi là rồng Nam Mỹ), một loài bò sát chỉ sống ở các vùng sa mạc. Vào quán,
chúng ta có cảm giác được gần với thiên nhiên hoang dã bởi cách bài trí cũng như những con
vật ở đây tạo nên sự hiếu kỳ và mạo hiểm. Nơi này chính là điểm hẹn của những bạn trẻ yêu
động vật. Đến đây, các bạn có thể vừa nhâm nhi ly cafe, vừa ngắm và vuốt ve những con thú
mà mình yêu thích dù thoạt nhìn không phải ai cũng dám đến gần chúng, như các loài kỳ
nhông, thằn lằn, bọ cạp, rắn,....
5
Con kỳ nhông “vàng” Nam Mỹ có giá 3000 USD được thả ở quán cho mọi người chiêm ngưỡng
1.2 Giới thiệu về kỳ nhông
Tên gọi: Tên Việt Nam gọi là nhông, nhông có nhiều giống, nhông vùng đất gọi là nhông cát
benly.
Nhông cát (Leiolepis belliana Gray) tên khác là dông cát, nhông biển, nhông cát sử nữ sinh...
là một loài bò sát giống thằn lằn. Thân hơi dẹt, chân mảnh, lưng nhẵn bóng, có vảy nhỏ, bụng
màu nhạt có vảy lớn hơn. Đuôi dài, thon nhọn. Da có màu sắc biến đổi tùy lúc. Nhông cát có
loại to gọi là nhông thềm và loại nhỏ bằng ngón tay là nhông que. Nhông con được gọi là
nhông cắc ké.
Nhông cát chỉ có ở các tỉnh miền Trung và là đặc sản từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Loài này
sống ở những cồn cát dọc bờ.
Tầm quan trọng của Kỳ Nhông
Là một nghề mới đầy triển vọng
Lợi ích kinh tế cao
Giá trị dinh dưỡng cao
Ứng dụng trong y học
Vóc dáng:
Giống nhông này có đặc điểm là có các đốm nhỏ trên lưng không liền nhau để tạo ra một
mạng lưới hoặc những đường dọc và dọc theo hông có các vệt lớn màu đen, cam.
Giá trị và thị trường:
Ở Việt Nam, đến nay các nhà khoa học đã tìm ra và xác định được ít nhất 19 loài côn trùng
có thể dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh, đặc biệt là loài bọ cạp. Theo PGS -TS. Lê
Xuân Huệ - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật: "Nếu chế biến nọc bọ cạp thành dạng bột
hoặc đem ngâm với rượu sẽ có tác dụng trị được rất nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh liên
quan tới thần kinh, bán thân bất toại (vì trong nọc của bọ cạp có các chất chống độc). Ngoài
việc bào chế thành thuốc, cũng có thể ngâm bọ cạp với cồn, thêm một ít dầu nóng có thể
chữa các bệnh sưng tấy, trẹo xương, viêm khớp, các vết bầm tím do ngã, bỏng nước sôi...
6
(tương đương với mật gấu), nhưng giá rẻ hơn nhiều hoặc ngâm với rượu tạo ra một loại rượu
bổ quý hiếm...
Hiện nay, thịt kỳ nhông đang là món "đặc sản" được các nhà hàng, quán nhậu tiêu thụ rất
mạnh.
1.3 Tập tính sinh hoạt và môi trường sống
Loài bò sát rất đẹp này thường ra khỏi hang để sưởi ấm vào buổi sáng để điều hoà nhiệt độ
cơ thể (chúng thuộc loài máu lạnh), tìm thức ăn và gây ấn tượng đối với các con cái xung
quanh cả ngày, rồi rút vô hang vào xế chiều, đóng cửa hang lại bằng cát.
Kỳ nhông sống và làm tổ trên đất cát, từ khi còn nhỏ cho tới khi thành phẩm khoảng 8-10
tháng. Kỳ nhông ăn lá cây, rau quả, nụ hoa quả và chồi cây, ngoài ra chúng còn ăn trứng bọ
cánh cứng, bướm và các côn trùng khác như sâu, giun. . . uống nước it, phân không đáng kể,
môi trường sống tự nhiên không có dịch bệnh, ít tốn công chăm sóc. Đặc biệt, chúng leo trèo
rất giỏi và có thể nhảy.
Quy luật hoạt động của kỳ nhông cát
* Hoạt động theo mùa: Kỳ nhông thường hoạt động vào mùa nắng ấm, từ tháng 4 đến tháng
10. Lúc đó điều kiện nhiệt độ không khí thường 27-38 oC, nhiệt độ mặt đất 27-39oC và độ ẩm
30-80%. Kỳ nhông ngừng hoạt động hoàn toàn vào những ngày mưa. Thậm chí khi có giông
hay trời âm u là chúng tìm đường trú ẩn. Không bao giờ thấy kỳ nhông hoạt động vào lúc trời
mưa hay mưa vừa tạnh.
Kỳ nhông không chịu được nhiệt độ lạnh. Khi nhiệt độ ngoài trời xuống 24-25 oC và độ
ẩm lên trên 90% là chúng đã tìm đường đi trú. Mùa trú đông của kỳ nhông cát thường là
tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Vào thời kỳ này, nhiệt độ ngoài trời xuống dưới 25 oC và
độ ẩm có lúc cao tới 85-90 oC. Kỳ nhông lấp cửa hang và nằm lì trong hang. Tới mùa
xuân khi nắng ấm về nhiệt độ lên cao dần, kỳ nhông mới chui ra khỏi hang để kiếm ăn.
* Hoạt động ngày, đêm: Kỳ nhông hoạt động vào ban ngày, buổi sáng chúng ra khỏi hang lúc
8-9 giờ, tới 13 giờ, 13 giờ 30 trưa thì chúng lại vào hang. Kỳ nhông rất cảnh giác, nó không
bao giờ nhảy ngay lên mặt đất. Nó thường thò đầu ra khỏi hang nghe ngóng rất kỹ, có khi tới
5, 10 phút sau đó mới chui ra. Lúc này nó phơi nắng, đó là đặc điểm của loài bò sát. Chúng
phải tăng cường tích nhiệt dưới ánh sáng mặt trời. Một lúc sau nó mới đi kiếm ăn.
Thời gian hoạt động của kỳ nhông không nhiều, trung bình một ngày chúng chỉ chui ra khỏi
hang 4-5 giờ đồng hồ để đi kiếm ăn. Thời gian còn lại chúng nằm yên trong hang để tiết kiệm
năng lượng.
1.4 Sinh trưởng và phát triển
Đặc điểm: Kỳ nhông gần giống con tắc kè, da hồng đỏ, trên lưng có lớp gai chạy dọc theo
xương sống. Nuôi khoảng 8 - 10 tháng thì bán thịt, đạt trọng lượng 13 – 15 con/kg, thịt
nhông trắng như thịt gà.
Nhông trưởng thành đạt 6 tháng tuổi, sinh sản rất nhanh, thời gian mang thai 10 ngày, một
lần đẻ từ 3 – 6 trứng, 45 ngày sau trứng nở ra dông con, tiếp tục nuôi thêm 1 tháng nữa là có
thể bán giống.
7
Trong chăn nuôi nhân tạo, trứng kỳ nhông sau khi đẻ ra phải có đủ độ ẩm mới nở ra con.
Thực tế cho thấy, trứng đẻ dưới đất thì nở ra con, còn những trứng đẻ ở trên sàn thì chết khô
do thiếu ẩm.
Kỳ nhông dễ nuôi, ít bệnh tật, tỷ lệ nuôi sống 95% trong khi chi phí đầu tư thấp, ít tốn công
chăm sóc hơn các loài vật khác nên hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt chúng leo trèo rất giỏi và
có thể nhảy xa cả mét từ cành cây này sang cành cây khác.
Kỳ nhông nói riêng và côn trùng nói chung như bọ xít, bọ cạp, bọ hung, sâu đục thân, kiến,
dế mèn... là những loại côn trùng phổ biến trên các loại cây trồng, chỉ cần nghe tên thôi cũng
làm cho nhiều người "ghê sợ". Thế nhưng, trong những nghiên cứu mới đây, các nhà khoa
học đã phát hiện ra rằng côn trùng có rất nhiều tác dụng bổ ích đối với con người, đặc biệt có
thể sử dụng chúng như những món ăn thuộc hàng "đặc sản" với những tác dụng như "cải lão
hoàn đồng"..
Tương tự, một số loài khác cũng có thể chế biến thành những món ăn ngon như món dế mèn
pha áu trừng, sâu chít ngâm rượu, bột vỏ xác ve sầu, bọ hung hại rễ cây nướng. Đặc biệt nhất
là món trứng kiến với tác dụng "cái lão hoàn đồng" (giữ da đẹp, người trẻ lâu). Từ trứng kiến
có thể chế biến thành các món ăn độc đáo như xôi trứng kiến, bánh kim cương, mướp đắng
xào trứng kiến...
8
CHƯƠNG II: NỘI DUNG TÀI LIỆU
2.1 Kỹ thuật làm chuồng, hố nuôi
Kỹ thuật xây chuồng trại cho kỳ nhông rất đơn giản, nhiều người còn ví chuồng nuôi kỳ
nhông như là một động cát tự nhiên thu nhỏ.
Trong tự nhiên Kỳ nhông tự đào hang và sống đơn độc, kín đáo ở những nơi yên tĩnh. Chúng
ta có thể tận dụng và tổ chức ngay chỗ nuôi tại các khu vực đó hoặc các sinh cảnh tương tự.
Điều quan trọng là phải cố định chúng trong một không gian nhất định. Vì vậy khu vực tổ
chức nuôi Kỳ nhông phải được xây tường kín xung quanh. Kỳ nhông là loài đào hang rất
khỏe, vì vậy độ sâu của móng tường là vấn đề quan trọng. Để tránh Kỳ nhông thoát ra ngoài
chúng ta làm móng tường sâu 1,2 – 1,5m. Nếu móng xây được thì tốt nhưng tốn kém. Có thể
sử dụng các tấm tôn phibrô xi măng và cắm sâu xuống cát 1m. Vit chặt các tấm đó lại với
nhau để nối vòng quanh khu nuôi. Như vậy Kỳ nhông sẽ không đào hang để ra ngoài được.
Bờ tường cũng phải cao để tránh Kỳ nhông trèo ra, do đó bờ tường cũng xây cao 1,2 m trở
lên. Một số nơi người nuôi chỉ xây cao 40 – 50 cm, phần còn lại là một tấm tôn cao 1m chạy
vòng quanh. Vì tôn nhẵn nên dông không thể trèo hay bò ra ngoài được.
Ta cũng có thể bố trí nuôi Kỳ nhông trên bãi cát hoang, các khu đất trồng cây bụi, kết hợp
nuôi Kỳ nhông trong các vườn cây. Tất nhiên khu nuôi phải được xây tường bao quanh.
Kỳ nhông rất thích có bóng mát nên trong khu nuôi nên có nhiều cây. Qua thực tế cây trứng
cá là cây nên trồng nhất. Cây trứng các mọc rất nhanh, chịu được nóng, được hạn, tán rộng,
cây cao vừa phải và quả của chúng lại là món khoái khẩu của dông. Ta không nên trồng quá
dày. Tán cây chỉ nên che 1/2 – 1/3 diên tích khu nuôi. Diện tích còn lại để cho kỳ nhông sưởi
nắng.
Cũng có khu vực rất khó trồng cây do đất nghèo kiệt hoặc quá khô hạn, cây trồng không lên
được hoặc lên rất chậm. Trong tường hợp này ta nên căng một số bạt để che nắng hoặc làm
giàn để phủ lá lên trên. Cũng có thể xếp các cành cây khô thành đống để Kỳ nhông đào hang
xuống chỗ đó. Đám cành lá này cũng là chỗ để Kỳ nhông con chạy trốn khi bị kỳ nhông lớn
đuổi. Như vậy Kỳ nhông vẫn có khu vực bóng mát nhân tạo.
Nếu nuôi trong khu nào có trồng khoai lang hoặc rau muống thì càng tốt, chúng vừa làm thức
ăn vừa làm bóng mát môi trường cho Kỳ nhông.
Trong khu nuôi cần bố trí nhiều chỗ cho Kỳ nhông ăn. Kỳ nhông tham ăn và thường tranh
giành lẫn nhau, Kỳ nhông lớn thường bắt nạt dông bé. Nếu ta bố trí nhiều chỗ đổ thức ăn thì
Kỳ nhông con cũng có thể ăn được. Nơi để thức ăn có thể là một miếng gỗ, một tấm nilon,
một mảng phibro xi măng vỡ hoặc mấy viên gạch gắn lại cho vuông và bằng phẳng,… Tùy
từng điều kiện mà chúng ta có cách bố trí cho kỳ nhông ăn cho hợp lý.
Kỳ nhông không đòi hỏi nhiều nước vì ngay trong thức ăn đã có đủ nước rồi. Tuy nhiên ta
vẫn nên bố trí dụng cụ đựng nước để cho Kỳ nhông uống. Ta cũng có thể dùng các loại chai
nhựa có khoan một lỗ thủng ở cổ chai, cho nước vào đầy chai và lộn ngược lại để trong một
chén miệng hẹp để hạn chế việc bốc hơi nước.
Vào mùa nắng, nên xịt nước vào chuồng vào mỗi buổi sáng để tạo độ ẩm và nhằm tạo thói
quen cho Kỳ nhông lên ăn khi trời mưa. Thông thường, Kỳ nhông chỉ lên kiếm ăn vào
khoảng 8 – 10 giờ sáng trong ngày.
9
Dùng gạch xây tường rào xung quanh cao 1.2m, bên trên có viền tôn láng 30cm để kỳ nhông
không bò được ra ngoài, dưới đáy chuồng đổ 1 lớp xi măng dày khoảng 2cm (để con kỳ
nhông không thể đào hang chui ra) nhưng phải đảm bảo không bị ứ nước khi trời mưa.
Sau đó, đổ lớp cát dày 1m lên đáy chuồng (loại cát có màu đỏ mà loài kỳ nhông ưa sống);
đắp gò, trồng cỏ tạo khoảng trống cho con dông chạy nhảy, đào hang. Do kỳ nhông thích
sống trong hang nên nó tự đào hang sâu 30cm để sống. Mùa mưa nó chui lên xuống liên tục,
mùa nắng trú ẩn ở dưới hang cho mát.
Chuồng nuôi phải cách xa khu dân cư, tránh sự rượt bắt của mèo và chuột cống. Trong khuôn
viên nuôi nên trồng vài cây trứng cá khi quả chín rụng xuống làm thức ăn cho kỳ nhông.
2.2 Giống
Nguồn giống
Có hai nguồn cung cấp giống: Bắt trong tự nhiên, loài này thường không đồng cỡ, có con to,
con bé khó nuôi. Loài giống nhân tạo trong hố nuôi, loài này đống cỡ, chăm sóc nuôi dễ hơn.
Giá dao động từ 50.000 – 100.000 đồng/kg loại 50 – 60 con, chọn những con kỳ nhông khỏe
mạnh, không bị thương tật, dị hình để nuôi.
Chọn giống
Giống đảm bảo tiêu chuẩn làm giống; trọng lượng kỳ nhông giống trung bình 5-6 con/1kg;
tuổi nhông giống từ 6-7 tháng tuổi; tỷ lệ đực cái 1 đực/4 con cái; tình trạng sức khỏe kỳ
nhông lúc tuyển chọn và thả giống tốt, kỳ nhông nhanh nhẹn, khỏe mạnh không có biểu hiện
bệnh lý.
2.3 Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn của kỳ nhông rất dễ kiếm, rẻ tiền và có thể tận dụng “cây nhà lá vườn” như quả cây
trứng cá, cỏ, lá, rau, bèo, thân cây, rễ cây, củ, quả, cào cào, châu chấu, giun đất, ấu trùng, sâu
bọ, gián, chuồn chuồn, dế, kiến ... Đặc biệt, cho ăn thêm giá đậu hoặc thái cây chuối, trộn với
cám đậu hoặc có thể bổ sung cám thực phẩm cho kỳ nhông ăn rất mau lớn. Ngoài ra, cần
phun nước vào những buổi sáng nhằm giữ độ ẩm cho đất cát, khi đó kỳ nhông sẽ phát triển
tốt hơn. Kỳ nhông vẫn có khả năng sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt nên có thể chỉ thả
giống ban đầu, còn sau đó hộ chăn nuôi tự gây giống để duy trì đàn.
2.3.1. Thức ăn có từ thực vật
Thức ăn xanh
Kỳ nhông thích ăn cỏ mềm và thân, lá cây còn non, mềm mại như cây mạ, lúa non, các loại
cây bắp, đậu mới nảy mầm hoặc cây đang thời kỳ còn non yếu nên thân lá con mềm. Kỳ
nhông cũng thích ăn rau lang, rau muống; lá và cây con các cây họ đậu; các loại cây cải còn
xanh non, và nhất là lứa cỏ tươi non đầu mùa mưa.
Nói chung, các loại cây cỏ Kỳ nhông đều ăn được. Chúng có thể ăn nhiều thứ trộn lẫn với
nhau, hoặc chỉ ăn một thứ cỏ, lá nào đó do chủ nuôi tới bữa cung cấp cho. Nhiêu người nuôi
chỉ cho ăn rau lang, rau muống không thôi, nhưng chúng vẫn ăn ngon miệng sống tốt và sinh
sản tốt.
Thức ăn từ củ quả
10
Kỳ nhông cũng thích ăn các thứ củ quả, chúng ăn được với số lượng nhiều thức ăn này,
nhưng không phải thứ nào cũng ăn được, chỉ ăn được củ quả mềm, chín rục mà thôi.
Các thứ nhiều chất bột đường như khoai lang ta, khoai lang tây, củ cải trắng, cà rốt… Cứng
chúng không ăn được nên khi nuôi phải băm hoặc cắt lát để cho chúng ăn được. Còn trái cây
như chuối, cà chua, dưa hấu, dưa leo,… dùng làm thức ăn rất tốt. Nhưng như chuối, cà chua
phải chín rục mới cho ăn, các thứ trái khác có vỏ dây như dưa leo, dưa hấu, bí, mướp,…phải
gọt vỏ trước khi cho vào chuồng và cắt phần ruột mềm ra để chúng ăn được.
Trong thức ăn củ quả chứa nhiều lượng nước, củ quả thường có mùi thơm nên kích thích sự
thèm ăn của con Kỳ nhông. Hằng ngày ta nên cho ăn nhiều củ quả vì trong củ, quả chứa
nhiều vitamin và chứa nhiều chất dinh dưỡng khác có lợi cho sự sinh trưởng của con Kỳ
nhông.
2.3.2. Thức ăn từ động vật
Ngoài thức ăn từ động thực vât ra thì con Kỳ nhông còn ăn các loại côn trùng và động vật
nhỏ có xương sống nữa. Loài thức ăn có nguồn gốc từ động vật có nhiều vitamin và khoáng
chất nên bổ sung một lượng dinh dưỡng rất lớn giúp Kỳ nhông sinh trưởng nhanh.
Kỳ nhông nuôi trong chuồng, ngoài ăn rau củ, quả rat a nên bổ sung loài thức ăn có nguồn
gốc từ động vật vào khẩu phần ăn của chúng, với tỷ lệ khoảng từ 5- 10 % là đủ. Với Kỳ
nhông sinh sản và con mới lớn, Kỳ nhông thịt trong giai đoạn vỗ béo cần cho ăn nhiều thức
ăn có nguồn gốc từ động vật để tiếp thu được nguồn dinh dưỡng nhiều hơn.
Có điều thức ăn này thường có giá đắt (như dế, đọp 3 – 4 con đã có giá một ngàn đồng) nên
chỉ cho ăn với mức rất hạn chế, thường vài ngày cho ăn một lần.
=> Điều cần ghi nhớ là nên chọn thức ăn tươi, mềm mại, còn non vì Kỳ nhông không ăn
được thức ăn cứng. Ngay chuối cũng phải là chuối chín rục, củ quả phải gọt bỏ phần vỏ cứng
vì chúng chỉ ăn được phần mêm.
2.3.3 Khẩu phần ăn của Kỳ nhông
Nuôi Kỳ nhông không tốn quá nhiều thức ăn, vì chúng ăn không nhiều. Mỗi ngày, người ta
ước tính chỉ cần 5kg thức ăn đủ nuôi 100 con. Trong đó rau, củ quả chiếm phần lớn. Do ăn ít
thức ăn nên để nuôi chúng đạt kết quả tốt ta nên chọn loại thức ăn có phẩm chất tốt.
2.3.4. Cách cho con Kỳ nhông ăn
Mặc dù biết Kỳ nhông có khả năng nhịn ăn cả tuần mà không chết, nhưng ta cũng nên cung
cấp đầy đủ khẩu phần ăn cho chúng mỗi ngày để chúng sống no đủ, cho ăn thường xuyên
chúng sẽ mau lớn.
Mặt khác, do bản tính của loài bò sát này có thói quen chỉ chịu chui ra từ hang để kiếm ăn
vào lúc mặt trời đã lên cao, thời tiết bên ngoài thực sự ấm áp, nên hằng ngày chờ 9 -10 giờ
mới cho chúng ăn.
Thức ăn không nên đổ dồn đống vào chuồng mà rải dều dọc theo tường rào để giúp từng con
tiếp cận với thức ăn dễ dàng,tránh trường hợp con đói, con no…để rồi sẽ có con ốm, con mập
bầy đàn lớn không đều. Cho chúng ăn vào giờ giấc nhất định để tạo thói quen ăn uống cho
chúng: Cứ đến giờ đó là cảm thấy đói và tự động ra khỏi hang để chạy đến bữa ăn.
Chú ý: nên cho ăn một lượng thức ăn vừa đủ trong ngày, nếu thiếu cho ăn thêm, chứ đừng để
thừa thãi vừa tốn kém vừa ô nhiễm môi trường sống của Kỳ nhông. Kỳ nhông chỉ ăn một
11
bữa một ngày, khi ăn chúng không ăn hung hục như trâu bò mà có nhở nhơ, không gấp gấp
nên bữa ăn thường kéo dài đến 3 -4 giờ.
Vào giờ chúng ăn ta nên tránh xa, vì bản tính cố hữu của loài này rất nhút nhát, hễ thấy bóng
từ xa, dù đó là chủ nuôi cũng nhớn nhác rủ nhau bỏ chạy.
2.3.5.Nhu cầu nước uống của Kỳ nhông
Nhu cầu nước uống của Kỳ nhông không cao, do hằng ngày chúng được ăn nhiều rau cỏ, củ
quả trong đó có chứa lượng nước khá nhiều.
Chỉ trong những tháng nắng hạn, thời tiết oi bức, Kỳ nhông mới uống thêm chút nước. Trong
chuồng nuôi nên đặt một số máng nước, hoặc đào mương rãnh để lúc nào cũng có sẵn nước
cho chúng uống. Nước uống của chúng phải là nước trong sạch, nước của người dùng như
nước mưa, nước máy, nước giếng.
2.4 Chăm sóc
Nuôi kỳ nhông không tốn nhiều công chăm sóc. Điều cần thiết chính là khâu bảo vệ,
phải ngăn chặn mọi ngã mà kỳ nhông có thể tẩu thoát. Phải xây kín hoặc giăng lưới cẩn
thận để tránh chúng lẻn đi. Khoảng cách giữa cây trong khu nuôi và bờ tường đạt ít nhất
là 3m. Kỳ nhông có thể leo lên cây và nhảy qua tường để ra ngoài.
Quá trình chọn lọc tự nhiên trên vùng khí hậu khốc liệt đã tạo ra con kỳ nhông có tính thích
ứng cao, vì thế mà chúng rất ít bị bệnh tật đe dọa. Tuy nhiên do nuôi nhiều và tập trung nên
chúng ta cần phải luôn chú ý đến những biểu hiện bệnh lý của con kỳ nhông. Hiện nay hiện
tượng kỳ nhông lớn cắn kỳ nhông bé là vấn đề hàng ngày. Ta phải tìm mọi cách để phòng
tránh.
Kẻ thù của kỳ nhông không phải là ít, ngoài chim diều hâu còn có chó, mèo, chuột. Để
chống mèo, chuột người ta thường giăng lưới nilon (loại lưới dùng để bắt cá) dọc theo
bờ tường và căng về phía trong khoảng 2m. Mèo và chuột rất sợ rơi vào loại lưới này vì
chúng không đi được. Phải thường xuyên theo dõi xử lý các trường hợp xảy ra. Giữ cho
môi trường nuôi kỳ nhông được yên tĩnh và bình an là cả một vấn đề quyết định, vì vậy
không thể lơ là.
2.5 Phòng trừ bệnh
2.6 Thu hoạch
12
PHẦN II: BÀI GIẢNG KỸ THUẬT NUÔI KỲ NHÔNG
1. Khai mạc và xây dựng nội quy, thành lập nhóm
Mục tiêu:
Mục tiêu của khai mạc
- Xóa đi không khí e ngại ban đầu.
- Học viên nắm được sự thiết thực của chương trình tập huấn đem lại.
Mục tiêu của xây dựng nôi quy, thành lập nhóm
- Tạo cơ hội cho học viên và tập huấn viên làm quen với nhau
- Thành lập nhóm và xây dựng nội quy khóa học
- Nắm rõ được thời gian, phạm vi và mục đích của chương trình đào tạo.
Vật liệu phục vụ đào tạo:
- Máy chiếu, tranh ảnh liên quan đến chương trình
- Băng rôn ghi tên chương trình tập huấn.
- Thiết bị âm thanh, ánh sáng: Đàn, micro, loa thùng, đèn,...
- Số phiếu, hộp phiếu để học viên bốc thăm chọn nhóm, ai cùng số phiếu thì thành lập
một nhóm (có 6 nhóm mỗi nhóm gồm 5 thành viên )
Thời lượng: 90 phút
Các bước thực hiện:
Khai mạc
- Đón tiếp học viên và giới thiệu giảng viên, thành phần tham dự.
- Giao lưu văn nghệ giữa giảng viên và học viên (Chương trình này diễn ra trong 20 phút,
có sự góp mặt của giảng viên và học viên)
- Một số khái quát về tầm quan trọng của nội dung sẽ tập huấn.
Xây dựng nội quy và thành lập nhóm
- Học viên tự xây dựng nội quy cho khóa học mà họ sẽ thực hiện (thống nhất thời gian
học trong ngày, trong tuần và trong khóa tập huấn, các quy định khác, chế độ thưởng,
phạt…) để tạo cơ hội cho các học viên giám sát và bảo vệ nội quy họ đề ra.
- Học viên bốc thăm chọn nhóm, ai cùng số phiếu sẽ thành 1 nhóm gồm 5 thành viên, cho
học viên 10 phút hỏi thăm nhau (tên, tuổi, gia đình, con cái, môn thể thao ưa thích, nơi
làm việc) và bầu ra nhóm trưởng.
- Sau đó cho một học viên (có thể là nhóm trưởng) trong nhóm lên trước lớp giới thiệu
nhóm (Tên nhóm, ý nghĩa tên nhóm và thông tin cơ bản của mỗi thành viên, mục tiêu và
nguyện vọng của nhóm sau khóa tập huấn) thời gian mỗi nhóm lên trình bày là 10 phút.
Ban tổ chức nhận xét và chấm điểm cho các nhóm, nhóm nào trình bày lưu loát, rõ ràng
và đầy đủ nhất thì ban tổ chức sẽ khen thưởng cho nhóm đó.
- Phân phát áo tập huấn và thẻ học viên cho mọi người.
- Ban tổ chức sẽ xuống địa điểm từng nhóm hỏi han, rút ngắn khoảng cách giữa ban tổ
chức và các nhóm, làm cho không khí khóa học bớt căng thẳng, cho mọi người thân
thiện với nhau hơn.
Ghi chú dành cho giảng viên:
- Xóa đi không khí e ngại ban đầu.
- Tạo cơ hội cho học viên và tập huấn viên làm quen với nhau
- Thu thập các thông tin cá nhân để xây dựng mối quan hệ với các thành viên trong lớp
- Thu thập mong đợi của học viên để sử dụng đánh giá kết thúc khóa học.
13
14
2. Kiểm tra đầu khóa và khái quát chương trình tập huấn
Mục tiêu
Mục tiêu của kiểm tra đầu vào:
- Đánh giá mức độ hiểu biết của học viên về nội dung sẽ tập huấn.
- Đánh giá kiến thức của học viên đầu khóa tập huấn để tập huấn viên có những điều
chỉnh về nội dung và phương pháp nếu cần thiết để tránh tình trạng tập huấn viên giới
thiệu những nội dung mà học viên đã biết trước đó.
- Dùng so sánh với bài kiểm tra cuối khóa để đánh giá sự tiến bộ của học viên.
Mục tiêu của khái quát chương trình tập huấn
- Học viên năm rõ về hiệu quả của chương trình tập huấn đem lại
- Phổ biến cho học viên nắm được nội dung cơ bản của chương trình tâp huấn
Vật liệu phục vụ đào tạo
- 35 sách bài giảng tập huấn cho mỗi giảng viên và học viên, sử dụng máy chiếu, tranh
ảnh là phương tiện giới thiệu chương trình, cho học viên xem 1 vài video thực tế về sự
thành công của chương trình trước đó.
- 30 tờ giấy trắc nghiệm kiểm tra đầu khóa
- 35 tập vở và 35 cây bút bi cho giảng viên và học viên để họ ghi chép.
- 6 tờ giấy A0 và 6 cây bút lông cho học viên thảo luận nhóm.
Thời lượng: 100 phút
Các bước thực hiện
Kiểm tra đầu khóa
- Kiểm tra đầu khóa có thể tiến hành sau buổi khai giảng, trước khi bắt đầu tập huấn nội
dung chính. Nội dung bài kiểm tra không nên quá phức tạp, bao gồm câu hỏi thực tế để
đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ cũng như mong muốn của học viên.
- Viết câu hỏi dưới dạng trắc nghiệm xen câu hỏi mở (phần trả lời ngắn gọn) cho từng học
viên làm trong 15 phút. Ban tổ chức kiểm tra và nhận xét bài làm của học viên.
Giới thiệu chương trình
- Giảng viên dùng máy chiếu, tài liệu tập huấn để giới thiệu khái quát chương trình tập
huấn cho học viên nắm cơ bản, biết thế nào là kỹ thuật cơ bản trong chăn nuôi kỳ nhông
vì đây là loại vật nuôi còn lạ đối với người nông dân. Khái quát chương trình tập huấn
bao gồm các phần:
+ Tình hình chăn nuôi kỳ nhông trên thế giới
+ Tình hình chăn nuôi kỳ nhông tại Việt Nam
+ Giới thiệu về con kỳ nhông
+ Tập tính và quy luật hoạt động của kỳ nhông
+ Quá trình sinh trưởng và phát triển của kỳ nhông
- Giảng viên trình bày vai trò và ý nghĩa của chăn nuôi kỳ nhông, những thuận lợi và hạn
chế của chăn nuôi kỳ nhông ở nước ta.
- Sau đó, giảng viên cho học viên thảo luận nhóm trong 10 phút về lợi thế và hạn chế của
chăn nuôi kỳ nhông ở địa phương mình.
- Mỗi nhóm lên trình bày bài thảo luận vào giấy A0 trong 10 phút. Sau đó, giảng viên
đứng lên nhận xét từng nhóm và trình bày lại khái quát tình hình của địa phương và
trình bày những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đó đến chăn nuôi kỳ nhông ở địa
phương cho học viên nắm rõ.
- Giảng viên trình bày hiệu quả của việc nuôi bò thịt đem lại cho người dân bằng những
thước phim tư liệu chân thực, những hình ảnh thực tế,...
15
Ghi chú cho giảng viên:
- Cần phải có đánh giá học viên một cách chính xác
- Phổ biến tổng quan chăn nuôi kỳ nhông cho học viên nắm được cơ bản
16
Hướng dẫn cho nông dân kỹ thuật làm chuồng, hố nuôi kỳ nhông
Mục tiêu:
Cuối tiết học, học viên có thể:
- Biết được kỹ thuật làm chuồng, hố nuôi kỳ nhông một cách phù hợp và hiệu quả
- Biết và tận dụng được các vật dụng có sẵn ở địa phương
Vật liệu phục vụ đào tạo
- Tài liệu kỹ thuật xây dựng chuồng trại chăn nuôi kỳ nhông
- Mô hình chuồng, hố , bản vẽ chi tiết các mẫu chuồng hố nuôi phù hợp
- Các vật liệu nhỏ phục vụ việc xây dựng mô hình chuồng, hố như: que tre, dây buộc, băng
dính, dao, kéo,...
- Máy chiếu, loa, tranh ảnh minh họa
- Phấn, bảng
Thời lượng: 90 phút
Các bước thực hiện
1. Giảng viên hướng dẫn các bước xây dựng chuồng, hố từ khâu chọn đất làm chuồng, hố đến
khâu các thông số lập chuồng hố hợp lý bằng máy chiếu, tài liệu liên quan cho học viên nắm
rõ.
2. Giảng viên đưa ra những mô hình chuồng, hố thu nhỏ cho học viên quan sát và nêu ra những
thông số kỹ thuật chi tiết của mô hình đó.
3. Học viên thảo luận nhóm làm một mô hình chuồng, hố nuôi trong 30 phút. Sau đó giới thiệu
mô hình cho toàn thể lớp, giảng viên theo dõi và nhận xét từng mô hình của nhóm. Giảng viên
sẽ khen thưởng mô hình nào hợp lý và đẹp mắt nhất.
4. Cuối buổi học, giảng viên ôn lại những kiến thức mà học viên đã được truyền đạt trong ngày
hôm nay.
Ghi chú dành cho giảng viên
- Phải thường xuyên theo dõi các học viên xem có gì chưa rõ, có các câu hỏi về kỹ thuật làm
chuồng, hố để giải đáp thắc mắt ngay lúc đó.
- Đặc biệt chú ý đến các học viên lớn tuổi, các học viên đó có thể mắt sẽ mờ, tai nghe không
được rõ và không thể theo dõi buổi học một cách trọn vẹn nên cán bộ phải sắp xếp các học viên
đó ngồi phía trước
- Sử dụng tất cả các phương pháp như: trình chiếu, hình ảnh, thuyết trình, thực hành để các học
viên tiện trong việc theo dõi cũng như các học viên không biết chữ cũng có thể theo dõi được.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. :96/tin-chi-tiet/Huong-dan-nuoi-dong-ky-nhong-1101.html
2. />4.
5.
6.
7.
723.html
/> />o/?thamso=chitiet_tintuc&id=271
/> />
8.
18
PHỤ LỤC
I.
II.
KẾ HOẠCH TẬP HUẤN
Tên khóa học: Khóa tập huấn kỹ thuật chăn nuôi kỳ nhông cho nông dân
Thời gian: Từ ngày 5 tháng 5 năm 2018 - ngày 8 tháng 5 năm 2018
Địa điểm: Hội trường UBND xã Tam Thăng, Thành phố Tam Kỳ, Tỉnh
Quảng Nam
Số lượng học viên: 30 người
MỤC TIÊU: Nhằm cho bà con nông dân biết được những kỹ thuật trong
chăn nuôi bò để sau khi học xong khóa tập huấn bà con có thể chăm sóc
đàn bò của mình có hiệu quả và thành công hơn.
NỘI DUNG VÀ KẾ HOẠCH TẬP HUẤN
Thời gian
Nội dung
7h30-9h
1. Khai mạc và
9h10-10h50
2. Kiểm tra đầu
NGÀY THỨ NHẤT
Giới thiệu giảng viên
và học viên, xây
xây dựng nội
dựng nôi quy
quy, thành lập
nhóm
khóa và khái
quát chương
trình tập huấn
13h30-15h
3. Giới thiệu
giống và công
tác chọn giống
15h10-16h40
4. Hướng dẫn xây
dựng chuồng
trại
7h30-9h30
5. Phổ biến kỹ
thuật nuôi
dưỡng bò
9h40-11h
Phương pháp
6. Phòng bệnh và
chăm sóc sức
khỏe cho bò
Đánh giá học viên và
giới thiệu chương
trình tập huấn
Thuyết trình và
truyền đạt kiến thức
Thuyết trình và
Hướng dẫn
NGÀY THỨ 2
Thuyết trình và phổ
biến kỹ thuật
Thuyết trình và phổ
biến kỹ thuật
Vật liệu
Tập huấn
viên
Số thứ tự,
hộp đựng số
Ban tổ chức
và giảng viên
Bài đánh giá
trắc nghiệm,
tài liệu tập
huấn, bút
vở,...
Máy chiếu,
tài liệu, giáo
trình tập
huấn
Máy chiếu,
mô hình
chuồng trại
Ban tổ chức
và
Giảng viên
Máy chiếu,
tài liệu và
giáo trình
tập huấn,
giấy A0, bút
lông
Máy chiếu,
tài liệu và
giáo trình
tập huấn,
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
19
13h30-14h20
7. Thức ăn và dinh
dưỡng
14h30-16h
8. Hướng dẫn kỹ
thuật vỗ béo
cho bò và bê
16h10-17h
9. Hướng dẫn kỹ
năng giết mổ và
đánh giá chất
lượng thịt
7h30-12h30
13h30-17h30
Thuyết trình và phổ
biến kỹ thuật
Thuyết trình và
truyền đạt kỹ năng
Thuyết trình, lập kế
hoachjcho chuyến đi
thực tế
giấy A0, bút
lông
Máy chiếu,
tài liệu và
giáo trình
tập huấn ,
mẫu vật
thực tế
Máy chiếu,
tài liệu và
giáo trình
tập huấn
Máy chiếu,
tài liệu và
giáo trình
tập huấn
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
NGÀY THỨ 3
10. Thăm quan thực
Hướng dẫn thực tế
tế
11. Thu hoạch và
tổng kết
Tài liệu kỹ
Ban tổ chức
thuật, Giấy và giảng viên
A0, bút lông
Thuyết trình, học
Giấy, bút
Ban tổ chức
viên viết báo cáo, ban
và giảng viên
tổ chức tổng kết khoa
tập huấn
20