Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

Tiếp cận tiểu thuyết Marc Levy từ đặc trưng của văn học giải trí

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (981.6 KB, 102 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
----------------

NGUYỄN THANH THÚY

TIẾP CẬN TIỂU THUYẾT MARC LEVY TỪ
ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN HỌC GIẢI TRÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Hà Nội, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
----------------

NGUYỄN THANH THÚY

TIẾP CẬN TIỂU THUYẾT MARC LEVY TỪ
ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN HỌC GIẢI TRÍ
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số

: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ HẢI PHƢƠNG



Hà Nội, 2017


Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn
Thị Hải Phương – người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo trong tổ Lí luận văn học đã tạo điều kiện
thuận lời cho em trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và hoàn thiện đề tài.
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thanh Thúy


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 5
5. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 6
6. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 6
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ “VĂN HỌC GIẢI TRÍ” VÀ TIỂU
THUYẾT CỦA MARC LEVY....................................................................... 7
1.1. Khái quát về “văn học giải trí” ............................................................... 7

1.1.1. Khái niệm “văn học giải trí” ................................................................... 7
1.1.2. Đặc trưng của “văn học giải trí” ........................................................... 14
1.2. Khái quát về tiểu thuyết của Marc Levy. ............................................ 19
1.2.1. Tiểu thuyết Marc Levy trong dòng chảy tiểu thuyết tình cảm của Pháp .... 19
1.2.2. Hành trình sáng tác của Marc Levy. ..................................................... 23
1.2.3. Quan niệm sáng tác của Marc Levy ...................................................... 25
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 30
CHƢƠNG 2. TÍNH GIẢI TRÍ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MARC
LEVY NHÌN TỪ MÔ TUÝP CHỦ ĐỀ VÀ NHÂN VẬT .......................... 31
2.1. Mô tuýp chủ đề. ...................................................................................... 31
2.1.1. Những câu chuyện tình yêu lãng mạn ngọt ngào mang đậm màu sắc
“ngôn tình”. ..................................................................................................... 31
2.1.2 Những quan hệ tình dục nóng bỏng, táo bạo. ........................................ 37
2.2. Mô tuýp nhân vật. .................................................................................. 46
2.2.1. Những “mỹ nữ” trẻ trung, quyến rũ. ..................................................... 47


2.2.2. Những “soái ca” lãng mạn, ấm áp. ........................................................ 56
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 63
CHƢƠNG 3. TÍNH GIẢI TRÍ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MARC
LEVY NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN, KHÔNG
GIAN VÀ NGÔN NGỮ ................................................................................ 65
3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện. .............................................................. 65
3.1.1. Xây dựng kiểu “cốt truyện phiêu lưu” .................................................. 65
3.1.2. Sự “tái sinh” của một nhân vật trong nhiều tiểu thuyết ........................ 69
3.1.3. Sử dụng mô tuýp “happy ending” – mô tuýp quen thuộc của những
truyện cổ tích lãng mạn. .................................................................................. 70
3.2. Nghệ thuật xây dựng không gian. ......................................................... 72
3.2.1. Không gian thiên nhiên nên thơ, trữ tình như những miền cổ tích. ...... 72
3.2.2. Không gian mang đậm màu sắc mộng ảo, hoang đường ...................... 75

3.3. Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ, giọng điệu. ........................................ 80
3.3.1. Ngôn ngữ nhẹ nhàng, đầy chất thơ. ...................................................... 80
3.3.2. Sự lồng ghép vào tác phẩm những bức thư ngọt ngào, lãng mạn ......... 83
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 88
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 93


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tính giải trí là một trong những đặc trưng quan trọng của văn học. Tính
giải trí đã xuất hiện từ trong văn học dân gian, tồn tại song hành cùng các đặc
trưng khác trong suốt chặng đường phát triển của lịch sử văn học. Trước đây,
trong nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu, phê bình chưa quan tâm đúng
mức tới đặc trưng này, mà chỉ chủ yếu tập trung tới những chức năng nhận
thức, thẩm mỹ, giáo dục... của văn học. Tuy nhiên hiện nay, khi công nghệ
thông tin và truyền thông báo chí phát triển, văn học trở thành một “loại hàng
hóa đặc biệt”, một “món ăn tinh thần” phục vụ cho đời sống tinh thần của độc
giả, đặc trưng giải trí của văn học đã được quan tâm, chú ý hơn cả về phương
diện sáng tác và tiếp nhận. Ở nhiều nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ…
văn học giải trí được xem như là “hạt cơ bản” có sức thu hút, vẫy gọi mọi nỗ
lực sáng tạo của văn nghệ sĩ. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, văn học
giải trí (còn được coi là văn thị trường, văn học mạng) nhận được sự quan tâm
của các nhà văn, đặc biệt là các tác giả trẻ và đông đảo bạn đọc. Rất nhiều cây
bút nổi tiếng từ sáng tác văn học giải trí. Những cuốn tự truyện, hồi kí, tản
văn xuất hiện nhiều, gắn liền với những tên tuổi như Ploy Ngọc Bích, Huyền
Chíp, Gào… Bên cạnh đó, văn học giải trí nước ngoài cũng đặc biệt được
quan tâm, văn học dịch “bùng nổ” với rất nhiều tác phẩm ngôn tình Trung
Quốc, manga Nhật Bản, truyện giả tưởng Anh, Mỹ… Trong số các tác phẩm
văn học giải trí nước ngoài, tiểu thuyết của Marc Levy luôn được bạn đọc

quan tâm, yêu thích.
Một trong những tác giả văn học giải trí, văn học tình cảm Pháp đương
đại được yêu thích nhất ở Việt Nam là Marc Levy. Được mệnh danh là
“người kể chuyện cổ tích” trong thế giới hiện đại, các câu chuyện của ông hấp
dẫn bạn đọc bởi sự nhẹ nhàng, tinh tế, lãng mạn mà không sáo rỗng nhàm

1


chán, có đa dạng đề tài và đặc biệt mỗi câu chuyện là một bài ca về tình yêu,
về vẻ đẹp của sự sống, là những bài học về tình người. Những đặc trưng nổi
bật của văn học giải trí cùng chất lãng mạn Pháp hòa quyện trong tiểu thuyết
Marc Levy tạo nên một sức hấp dẫn đặc biệt, thu hút mọi đối tượng độc giả.
Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu tiểu thuyết của Marc Levy từ những đặc
trưng của văn học giải trí, trước hết để có cái nhìn khái quát nhất về đặc trưng
tiểu thuyết Marc Levy đặt trong nền tảng là đặc trưng của văn học giải trí.
Đồng thời, nghiên cứu sẽ lí giải được sức hấp dẫn của tiểu thuyết Marc Levy
đối với độc giả, rút ra những giá trị tốt đẹp đáng học hỏi từ quan niệm, phong
cách sáng tác của ông. Bên cạnh đó, nghiên cứu về tiểu thuyết của Marc Levy
từ những đặc trưng của văn học giải trí sẽ là một đóng góp mới mẻ cho
nghiên cứu văn học lãng mạn Pháp đương đại ở Việt Nam, đồng thời làm đa
dạng thêm những nghiên cứu về văn học giải trí.
2. Lịch sử vấn đề
Marc Levy là nhà văn đương đại Pháp, có tầm ảnh hưởng tương đối lớn
so với các tác giả văn học giải trí. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu, chúng tôi nhận
thấy, tuy có số lượng tác phẩm được xuất bản nhiều và được dịch ra hơn ba
mươi thứ tiếng trên thế giới nhưng các tác phẩm của ông chưa được quan tâm
đánh giá, nghiên cứu từ các nhà phê bình Pháp, hay trong các công trình
nghiên cứu văn học ở Pháp cũng như Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác, tư tưởng,
quan điểm sáng tác văn học cũng như giá trị tác phẩm của tiểu thuyết gia này

chủ yếu được đề cập trên các phương tiện truyền thông, báo chí chứ chưa
được nghiên cứu như một đối tượng văn học trong các công trình mang tính
khoa học chính thống.
Một vài năm gần đây trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam cũng đã
có một số bài báo, tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ nghiên
cứu về tác phẩm của Marc Levy. Nhiều nhà báo đã đưa ra cái nhìn tổng quát

2


nhất về tiểu thuyết của Marc Levy cũng như phong cách sáng tác, đặc điểm
văn chương của ông.
Về ngôn ngữ tiểu thuyết Marc Levy, Trần Trung Sáng trên báo điện tử
danang.vn đã nhận định: “Ông kể những câu chuyện của mình bằng một ngôn
ngữ mộc mạc, và mong muốn tất cả bạn đọc đều hiểu được chúng.”
Về đặc điểm chung về tiểu thuyết của ông, Tiểu Quyên của báo Người
Lao Động đã nhận định: “Marc Levy được độc giả gọi là “nhà văn của tình
yêu”. Hầu hết các tác phẩm của ông đều là những câu chuyện tình yêu lãng
mạn, cảm động, dìu dịu vẻ đẹp và mênh mông cảm xúc. Trí tưởng tượng kỳ
diệu của nhà văn đưa người đọc vào những điều bí ẩn, cùng khám phá, huyền
ảo và thăng trầm theo những bước nghĩ suy của nhân vật. Giọng văn mượt
mà, tinh tế và duyên dáng của Marc Levy nhẹ nhàng dẫn dắt người đọc đến
với cảm xúc khi mãnh liệt, đau đớn; khi lãng mạn, nồng nàn trong tình yêu
của các nhân vật. Những câu chuyện tình yêu của Marc Levy đẹp đến huyền
diệu, bất chấp không gian - thời gian; tình yêu có thể vĩnh cửu từ kiếp này
sang kiếp khác.”
Về đề tài của tiểu thuyết Marc Levy, trong một bài tổng hợp lại cuộc
tọa đàm Tại sao văn học tình cảm Pháp hấp dẫn bạn đọc thảo luận tại Trung
tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (l’Espace) vào tháng 7/2016 nhận được sự quan
tâm của nhiều độc giả yêu văn học, các phóng viên đã đưa ra nhận định: “Tác

phẩm tình cảm của Marc Levy kết hợp với đề tài đa dạng như trở về tuổi thơ,
đề tài chiến tranh (trong tác phẩm Những đứa con của tự do, Nếu được làm
lại), tình bạn, chủ đề nhân quyền (Chuyện chàng nàng)…”
Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về tiểu thuyết của Marc
Levy từ những vấn đề về nội dung và nghệ thuật như Tiểu thuyết Marc Levy,
Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Lan Phương (2011), chuyên ngành Lí luận văn
học, Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc Gia Hà Nội, đã tìm hiểu tiểu thuyết

3


Marc Levy một cách hệ thống, tổng hợp và chi tiết các yếu tố nổi bật về nội
dung và nghệ thuật qua các tiểu thuyết của ông đã được xuất bản tại Việt
Nam. Tác giả đã khái quát về nội dung đề tài, cảm hứng chủ đạo và về nghệ
thuật tiểu thuyết Marc Levy.
Yếu tố kỳ ảo là đề tài thu hút nhiều nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về tiểu
thuyết Marc Levy. Trong khóa luận tốt nghiệp Yếu tố kỳ ảo trong Kiếp Sau và
Nếu em không phải một giấc mơ của Marc Levy, Cao Như Ngọc (ngành Ngữ
Văn, khoa Sư phạm trường ĐH Cần Thơ) đã nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong
hai tiểu thuyết đầu tay làm nên tên tuổi của Marc Levy, đưa ra đặc điểm của
các yếu tố kì ảo và vai trò của nó trong tiểu thuyết của ông. Luận văn thạc sỹ
Cái kì ảo trong tiểu thuyết Marc Levy của Nguyễn Thị Lệ (chuyên ngành Văn
học nước ngoài, khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội) đã khái quát yếu tố
kỳ ảo trong nghệ thuật sáng tác tiểu thuyết của Marc Levy qua ba tiểu thuyết
Nếu em không phải một giấc mơ, Kiếp sau và Bảy ngày cho mãi mãi qua các
phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ.
Ngoài ra, còn có một số công trình luận văn thạc sỹ như Khảo sát đặc
điểm và phương thức trần thuật trong tiểu thuyết Marc Levy của Nguyễn Việt
Phương Dung (Trường Đại học KHXH&NV Đại học Quốc gia TP HCM),
Nghệ thuật xây dựng tác phẩm của Marc Levy qua tiểu thuyết “Những đứa

con của tự do” của Nguyễn Thị Anh Ngọc (Khoa Ngữ văn, Đại học Văn
Hiến)… nghiên cứu sâu về một khía cạnh nội dung, nghệ thuật trong sáng tác
của Marc Levy.
Từ những bài viết, công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các
phóng viên, các nhà nghiên cứu văn học đã có sự quan tâm tới văn học giải trí
và tác giả Marc Levy. Tuy vậy, những nghiên cứu trên mới bước đầu khai
thác, tìm hiểu một số đặc điểm của tiểu thuyết Marc Levy từ đặc trưng thể
loại tiểu thuyết, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về tác phẩm của

4


ông đặt trong dòng chảy của văn học giải trí, từ những đặc trưng của văn học
giải trí. Vì những lí do trên chúng tôi nhận thấy sự cần thiết của việc phát
triển việc nhìn nhận, đánh giá giá trị của tiểu thuyết Marc Levy từ đặc trưng
của văn học giải trí thành một đề tài độc lập, để có góc nhìn toàn diện về sáng
tác Marc Levy cũng như những đặc trưng của văn học giải trí, lí giải được sức
hấp dẫn của tiểu thuyết Marc Levy so với tiểu thuyết của các tác giả khác
trong dòng chảy văn học giải trí đương đại.
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Luận văn Tiếp cận tiểu thuyết Marc Levy từ đặc trưng của văn học
giải trí hướng tới nhiệm vụ tìm hiểu đặc trưng tiểu thuyết của Marc Levy từ
những đặc trưng của văn học giải trí, thông qua việc nghiên cứu một số
phương diện cụ thể như mô tuýp chủ đề - nhân vật, kết cấu tổ chức sự kiện,
nghệ thuật xây dựng không gian và ngôn ngữ.
Luận văn tập trung khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu của Marc Levy
đã được xuất bản và đón đọc rộng rãi ở Việt Nam, cụ thể là : Nếu em không
phải một giấc mơ (1999), Bảy ngày cho mãi mãi (2003), Kiếp sau (2004),
Gặp lại (2005), Bạn tôi Tình tôi (2006), Mọi điều ta chưa nói (2008), Chuyến
du hành kỳ lạ của ngài Daldry (2011), Chuyện chàng nàng (2015).

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận, phân tích các tác phẩm của Marc Levy qua bản
dịch tiếng Việt để làm rõ tiểu thuyết của ông từ những đặc trưng của văn học
giải trí, chúng tôi thực hiện luận văn bằng các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp: Người viết vận dụng kĩ năng phân
tích các dẫn chứng cụ thể từ tiểu thuyết Marc Levy để đi đến những tiểu kết
các chương và kết luận tổng hợp có tính thuyết phục.
Phương pháp hệ thống cấu trúc và phương pháp thống kê: Giúp luận
văn đạt được tính hệ thống, tránh sự vụn vặt không cần thiết.

5


Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh các đặc trưng của tiểu thuyết
Marc Levy với một số tiểu thuyết của tác giả Pháp và Trung Quốc nhìn từ đặc
trưng văn học giải trí.
Ngoài ra, chúng tôi vận dụng lý thuyết Phê bình nữ quyền, Phê bình
văn hóa để tìm hiểu, làm rõ các vấn đề tiểu thuyết Marc Levy.
5. Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn cho thấy cái nhìn khái quát về khái niệm “văn học
giải trí”, sự vận động phát triển và đặc trưng của văn học giải trí so với những
khuynh hướng, những dòng văn học khác.
Thứ hai, luận văn làm rõ sự biểu hiện của đặc trưng của văn học giải trí
trong sáng tác tiểu thuyết Marc Levy qua các phương diện quan điểm sáng
tác, nội dung và nghệ thuật như xây dựng mô tuýp chủ đề, mô tuýp nhân vật,
kết cấu, ngôn ngữ… Đồng thời luận văn cũng cho thấy dấu ấn cá nhân của tác
giả khi vận dụng đặc trưng văn học giải trí trong sáng tác tiểu thuyết.
Đây là những đóng góp mới trong tiếp cận, nghiên cứu về tiểu thuyết
của Marc Levy nói riêng và sáng tác của các tác giả văn học giải trí nói
chung, có khả năng cho thấy những đặc điểm quan trọng trong thế giới nghệ

thuật đồng thời định nghĩa phong cách nghệ thuật của tác giả trong một dòng
chảy văn học xuyên suốt.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tư liệu tham khảo, mục lục, luận văn
cấu tạo gồm ba chương:
Chƣơng 1: Khái quát “văn học giải trí” và tiểu thuyết của Marc Levy
Chƣơng 2: Tính giải trí trong tiểu thuyết của Marc Levy nhìn từ mô tuýp
chủ đề và nhân vật
Chƣơng 3: Tính giải trí trong tiểu thuyết của Marc Levy nhìn từ nghệ
thuật tổ chức cốt truyện, không gian và ngôn ngữ.

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ “VĂN HỌC GIẢI TRÍ” VÀ
TIỂU THUYẾT CỦA MARC LEVY
1.1 . Khái quát về “văn học giải trí”
1.1.1. Khái niệm “văn học giải trí”
Đặc trưng giải trí của văn học đã xuất hiện từ lâu và tồn tại song song
cùng những đặc trưng khác của văn học. Giải trí vốn là một nhu cầu của mọi
lứa tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội. Xã hội càng phát triển hiện đại thì nhu cầu
giải trí càng lớn. Để đáp ứng nhu cầu này có rất nhiều phương tiện như trò
chơi điện tử, điện ảnh, lễ hội… đặc biệt là văn học. “Từ lâu ngoài việc khẳng
định vai trò của văn học nhân dân ta cũng cho rằng văn học còn là phương
tiện “giải trí”, “giải khuây”, “tiêu sầu”, “tiêu khiển”... Vì thế khi có chút thời
gian nhàn rỗi hoặc sau khi làm việc mệt mỏi, con người thường tìm đến văn
học để giải khuây” [40, 39]. Đặc trưng giải trí của văn học ra đời từ trong văn
học dân gian. Văn học dân gian của nhân loại luôn tiềm tàng những tiếng cười

sảng khoái, hồn nhiên, lành mạnh giúp cho con người lao động bớt đi những
mệt mỏi. Từ đó cho tới nay, văn học bao giờ cũng đem đến cho con người sự
thư giãn qua các hình tượng nghệ thuật khó quên như nhân vật anh hề, thằng
hề ở phương Tây, chú Tễu, chú cuội, những Mẹ Đốp – Lý Trưởng ở Việt
Nam... Những câu chuyện tiếu lâm bên cạnh ý nghĩa giáo dục bao giờ cũng
mang lại cho người đọc, người nghe tiếng cười sảng khoái. Những câu tục
ngữ, những câu đố tục giảng thanh, đố thanh giảng tục... thường gợi lên
những liên tưởng thú vị về bản năng giới, về hoạt động tính giao của con
người cũng dễ dàng đi vào tâm thế tiếp nhận bình dân. Những câu ca dao mô
tả phong cảnh thiên nhiên giao hoà với niềm vui lao động và con người hiện

7


lên tươi tắn, giàu sức sống. Trong quá trình phát triển, đến thời kì Trung đại,
văn học mang đậm đặc trưng giáo huấn, nhận thức và “văn dĩ ngôn chí – thơ
dĩ tải đạo” trở thành chuẩn mực sáng tác của văn thân nho sĩ Trung Hoa và
các nước chịu ảnh hưởng từ văn học – văn hóa Trung Hoa. Văn học trung đại
đề cao tính chất trang nghiêm, mực thước, tính giải trí do đó không thể hiện
bằng những hình thức ồn ào, sôi động mà nghiêng về phần trầm lắng, yên ả.
Không kể đến phát ngôn “Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được
một vài trống canh” quá đỗi khiêm nhường của Nguyễn Du, tự nhận mình
sáng tác Truyện Kiều chỉ để giải trí cho khuây khỏa tâm hồn trước thực tại
nhiều ngang trái, đẳng cấp của thơ ca trung đại nằm ở “thần cú”, “nhãn tự”.
Đó như là một kiểu giải trí cao cấp, mang đậm cốt cách cổ điển của văn hoá
Đông phương nhưng lại hạn chế ở tính dân chủ và khả năng phổ cập rộng rãi.
Tới cuối thế kỷ XVII, XVIII, tiểu thuyết Minh Thanh ở Trung Quốc, văn thơ
Nôm ở Việt Nam phát triển, được đông đảo nhân dân lao động yêu thích,
nhưng triều đình cùng các văn sĩ coi đó là văn chương “tà dâm, ô uế”. Ở
phương Tây, thời Trung cổ, văn học mang tính chất giáo huấn, răn đe. Cho tới

thời Phục Hưng, văn học nghệ thuật phát triển như một cuộc cách mạng, đặc
trưng giải trí được đề cao, vượt mọi khuôn khổ. Kịch, tiểu thuyết lãng mạn
phát triển, tập trung vào chủ đề tình yêu và sự giải phóng con người một cách
dân chủ. Hiện nay, đặc trưng giải trí của văn học vẫn tồn tại và phát triển song
song cùng những đặc trưng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ… của văn học,
thậm chí còn có sự phát triển mạnh hơn. Văn học trở thành hàng hóa và tập
trung vào nhu cầu của người đọc hơn, cụ thể là nhu cầu giải trí.
Về bản chất, các đặc trưng của văn học không tách rời các giá trị chân
thiện mĩ nên các chức năng của văn học có mối liên hệ ràng buộc với nhau.
Các tác phẩm dù được viết với mục đích giáo huấn, tuyên truyền, ngợi ca…
thì tác giả vẫn tìm tòi, đưa chất giải trí vào để tác phẩm trở nên hấp dẫn, phổ

8


biến hơn. Có thể thấy, tính giải trí là một đặc trưng quan trọng của văn học,
đã ra đời và tồn tại từ lâu trong các tác phẩm văn học qua các thời kì. Nhưng,
các tác phẩm có tính giải trí như ca dao dân ca, thơ Nôm ở Việt Nam, tiểu
thuyết Minh Thanh ở Trung Quốc hay văn học Heian ở Nhật Bản, văn học
Phục Hưng ở phương Tây vẫn chưa lấy giải trí làm mục đích hàng đầu để
biểu hiện, sáng tác. Mục đích biểu đạt của văn học lúc đó vẫn là giáo huấn,
lên án, đấu tranh.
“Văn học giải trí” mà chúng tôi lấy làm đối tượng nghiên cứu trong
luận văn này là một khuynh hướng văn học đặt yếu tố giải trí làm yếu tố hàng
đầu trong sáng tác. Mục đích sáng tác của những tác giả “văn học giải trí” là
hướng đến nhu cầu giải trí của độc giả, họ viết những chủ đề được quan tâm
nhiều trong cuộc sống thường nhật. Đó là khuynh hướng văn học xuất hiện
trong thời đại “thị trường hóa”, văn học là một mặt hàng các tác giả phải luôn
tìm tòi những yếu tố giật gân, câu khách, đánh vào tâm lí ưa thích cái mới của
người đọc để khiến tác phẩm được nhiều độc giả ưa thích, tìm mua.

Về khái niệm “văn học giải trí”, hiện nay vẫn chưa có một giới thuyết
cụ thể và đầy đủ để lí giải văn học giải trí là gì. Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận
thấy khái niệm và tính chất của văn học giải trí có nhiều nét tương đồng với
văn học mạng, “văn học ngoại biên”, văn học đại chúng, văn học thị trường.
Nghiên cứu văn học trên thế giới đã có rất nhiều ý kiến khác nhau để khái
quát về văn học đại chúng, văn học thị trường.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, văn học đại chúng như một hình thức
văn học đối lập với văn học thuần túy, nhắm vào độc giả là quần chúng, bình
dân. Văn học đại chúng “còn gọi là văn học thông tục. Bộ phận văn học giải
trí và giáo huấn được in với số lượng lớn, phổ biến từ cuối thế kỷ XIX và nhất
là thế kỷ XX... Cơ sở tư tưởng của văn học đại chúng là chủ nghĩa thực dụng.
Cơ sở xã hội của văn học đại chúng là chính sách nhượng bộ đối với lớp thị

9


dân tầm thường: dùng phương tiện sản xuất hàng loạt để nuôi dưỡng tâm lý
tiêu dùng, làm nguội lạnh tính công dân tích cực của quần chúng. Văn học đại
chúng không có quan hệ trực tiếp với lịch sử văn học như là nghệ thuật ngôn
từ, nhưng nó là một thành tố của quá trình văn học thế kỷ XIX – XX... Điểm
mấu chốt của văn học đại chúng là làm cho người ta được can dự vào văn hóa
hiện đại dưới dạng lược gọn, nó đưa ra một thế phẩm cho sự thỏa thuận thẩm
mĩ. Thi pháp của nó là rập khuôn nhất là cách tả chân dung và tâm lý nhân vật,
ở vần thơ và cốt truyện...” [58, 607]. Cũng trong nghiên cứu của Nguyễn Nam
Trân, “Từ điển Kôjien của Nhật định nghĩa văn học đại chúng như một hình
thức đối lập với văn học thuần túy và nhắm quần chúng độc giả bình dân”.
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã dùng khái niệm “văn học thông
tục” hay “tục văn học” để chỉ bộ phận văn học có tính bình dân, đại chúng,
đối lập với bộ phận văn học chính thống bác học.
Với những nghiên cứu văn học châu Âu, châu Mỹ, có nhiều quan điểm

khác nhau về văn học giải trí. Nhà phê bình người Mỹ Clemen Greenberg cho
rằng văn học đại chúng là sản phẩm của xã hội đại chúng mới. Trong quá
trình công nghiệp hóa, một lượng lớn người nông thôn nhập cư vào thành thị,
hình thành lớp cư dân mới của đô thị với những đòi hỏi thị hiếu thích hợp.
Loại văn học tinh hoa, bác học rõ ràng là không phù hợp với lớp công chúng
này. Để đáp ứng nhu cầu của xã hội đại chúng hóa, một loại hình sáng tác văn
học mới hình thành, gọi là văn học thông tục. Người nghệ sĩ với sự nhạy cảm,
đã sáng tạo ra loại hình văn học nghệ thuật đại chúng để thỏa mãn thị hiếu,
nhằm thay thế loại hình văn học nghệ thuật tinh hoa, vốn xa lạ với họ. Wright
Macdonald cho rằng đặc trưng rõ ràng nhất của văn học đại chúng là có một
lượng lớn công chúng trực tiếp, sự thưởng thức của công chúng là mục đích
sản sinh của các tác phẩm. Văn học đại chúng là một loại thương phẩm phi cá
tính bởi mục đích chủ yếu của nó là nhằm đem lại lợi nhuận tối đa. Nếu văn

10


học dân gian là tinh thần của nhân dân lao động thì văn học đại chúng được
hình thành thông qua các quy trình công đoạn. Người ta thường lấy các công
đoạn làm phim của Hollyood để dẫn chứng cho tính phi cá tính của tác phẩm
nghệ thuật đại chúng được làm bởi nhiều khâu đoạn, do các nhân viên kỹ
thuật thực hiện. Nghệ thuật đại chúng nói chung, văn học đại chúng nói riêng
vì thế phù hợp với thị hiếu, tình cảm, trình độ thẩm mỹ mức độ thấp của đa số
công chúng. Văn học thị trường theo họ là cả một dòng văn học không chỉ có
những cuốn sách bán chạy, mà còn gồm cả vô số những cuốn bán không chạy
nhưng học theo lối viết đơn giản của những cuốn bán chạy, phục vụ thị hiếu
của độc giả bình dân.
Còn ở Việt Nam, PGS. TS Trần Đình Sử đã nhận định về văn học trung
tâm và văn học ngoại biên như sau: “Mọi sáng tác văn học ở trung tâm đều
bắt nguồn từ ngoại biên. Kinh Thi là một ví dụ. Ban đầu là dân ca của các

nước trên lãnh thổ Trung Hoa cổ đại, qua sự san định, chỉnh lí, sắp xếp của
Khổng Tử mà sau này trở thành Kinh. Khi đang đi du thuyết các nước, Nho
gia vốn cũng chỉ là một trong mười học phái thuộc ngoại biên, phải đến đời
Hán mới độc tôn nho thuật, trở thành trung tâm. Nhưng đến thời Ngụy Tấn thì
huyền học nổi lên thành trung tâm, nho học ra ngoại biên. Đến đời Minh
Thanh nho học lại vào trung tâm, nhưng đến thời Ngũ Tứ lại bị đẩy ra ngoại
biên. Tiểu thuyết Trung Quốc ban đầu cũng là thể loại ngoại biên, không có vị
trí nào trong hệ thống phân loại của văn học chính thống Trung Quốc. Mãi
đến cuối thế kỉ XIX, với khẩu hiệu “Tiểu thuyết cứu nước” của Lương Khải
Siêu do ảnh hưởng từ Nhật Bản, và đầu thế kỷ XX với cách mạng văn hóa
thời Ngũ Tứ, được Hồ Thích, Lỗ Tấn, Trịnh Chấn Đạc nghiên cứu tiểu thuyết
mới chuyển thành thể loại trung tâm. Như vậy văn học ngoại biên là nguyên
sinh, văn học trung tâm là thứ sinh do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quy
định. Văn học cách mạng Việt Nam trước 1945 chỉ là ngoại biên, sau cách

11


mạng tháng Tám liền trở thành chủ lưu, trung tâm. Trung tâm ngoại biên luôn
đổi chỗ cho nhau trong thực tế” [50] . Văn học là một hình thái ý thức xã hội
thẩm mỹ, nó phản ánh hiện thực và chịu tác động của sự thay đổi của xã hội.
Văn học giải trí, hay văn học ngoại biên cần được nhìn nhận và đánh giá một
cách đúng đắn, khách quan để nhận thấy được hết giá trị của nó. Còn theo
PGS Nguyễn Đăng Điệp, khái niệm văn học thị trường “chưa phải là một
thuật ngữ khoa học chặt chẽ. Nhưng chúng ta có thể sử dụng nó để định danh
(một cách tương đối) về một khuynh hướng văn học, một bộ phận văn học đã
và đang hình thành ngày càng mạnh mẽ trong đời sống văn học đương đại.
Văn học thị trường, hiểu một cách ngắn gọn là văn học hướng đến những lợi
ích thương mại, đặt lợi ích thương mại và chức năng giải trí làm tiêu chí hàng
đầu”, “nó được hiểu như là văn học trong cơ chế thị trường, văn học giải trí,

văn học thương mại hay có khi được hiểu là văn học đại chúng, văn học bình
dân…” [39]. Có rất nhiều hội thảo đã được mở ra đề nghiên cứu về vấn đề
văn học giải trí, văn học thị trường như hội thảo “Thị trường văn học và Văn
học thị trường: Lí luận và thực tiễn”, “Sáng tác văn học Việt Nam thời kỳ Đổi
mới - Thực trạng và triển vọng”…
Tựu chung lại, văn học giải trí là khuynh hướng văn học đưa đặc trưng
giải trí của văn học làm cái biểu đạt, lấy đại chúng bình dân làm đối tượng
phục vụ, lấy tính giải trí, thư giãn làm mục tiêu hướng đến. Các tác phẩm văn
học giải trí tương đối phụ thuộc vào số lượng tiêu thụ.
Về quá trình phát triển của văn học giải trí trong thời hiện đại, ở Trung
Quốc, vào những năm 80 của thế kỉ XX, văn học linglei bắt đầu bùng nổ và
trở thành một trào lưu lớn cho đến nay. Linglei phiên âm Hán Việt là “lánh
loại”, với nghĩa là “một loại khác, một dạng khác”. Văn học Linglei là dòng
văn học khác biệt, phá phách, bỏ đi tất cả những khuôn mẫu của dòng văn học
chính thống trước đây. Trong giai đoạn hiện nay, các tác giả trẻ sáng tác trong

12


dòng văn học linglei hầu hết đều là nữ, nên các khái niệm “văn học linglei”,
“tiểu thuyết linglei” thường gắn với “văn chương mỹ nữ”, “mỹ nữ linglei”,
các sáng tác từ đó cũng mang đậm sắc tình, tính nữ.
Ở Việt Nam, đặc trưng giải trí của văn học cho tới cuối thế kỷ XIX bắt
đầu phát triển trong thơ ca và văn xuôi, khi tính đại chúng và thế sự trở thành
đề tài được quan tâm. Tới thế kỷ XX, “tiểu thuyết của Thế Lữ, Phạm Cao
Củng vào loại trinh thám; tiểu thuyết Phú Đức vào loại võ hiệp; tiểu thuyết
của Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Lan Khai vào loại lịch sử; tiểu
thuyết của Song An, Khái Hưng, Nhất Linh vào loại diễm tình; tiểu thuyết của
Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương vào loại xã hội” [45, 156]. Tựu chung lại,
dưới sự phát triển của truyền thông và báo chí, từ lâu văn học đã trở thành

một mặt hàng và sáng tác văn học trở thành một nghề. Sau những biến động
của lịch sử (các cuộc chiến tranh vũ trang, đấu tranh chính trị…), văn học đòi
lại cái quyền tự do của nó, không phải đeo trên mình một trọng trách nào khác
ngoài mục đích tạo ra những giá trị thẩm mỹ. Khi cuộc sống ổn định và phát
triển trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin, con người sống trong nhịp
sống nhanh, gấp gáp sẽ lựa chọn những yếu tố nghệ thuật giải trí để giải tỏa
căng thẳng. Với tất cả sự thay đổi của xã hội, nhu cầu của bạn đọc và tư duy
sáng tạo văn học của tác giả cũng thay đổi. Theo nghiên cứu của Phó Giáo sư,
Tiến sĩ Võ Văn Nhơn và Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Thúy về sự phát triển
của văn học giải trí đương đại tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt
Nam nói chung, trong vài năm gần đây, từ “văn học thị trường” – chỉ các tác
phẩm nặng tính giải trí – xuất hiện thường xuyên. Các tác phẩm theo dòng
này trở thành xu hướng và luôn nằm trong danh sách bán chạy.
Ở Nhật Bản, bàn về sự phát triển của văn học giải trí trong thời hiện
đại, “Kikuchi Kan (trích dẫn trong Taishuu bungakuron, Luận về văn học đại
chúng của Ozaki Hotsuki, 1965) nhận định rằng trong khi văn học thuần túy

13


là cái mà nhà văn viết theo ý mình, văn học đại chúng viết theo thị hiếu của
người đọc. Tada Michitarô (trong Taishuu bungaku no kanôsei, Khả năng của
văn học đại chúng, 1971) cho rằng trong một thời đại mà khoa học, kỹ thuật
hiện đại bước những bước dài khủng khiếp, nền văn học này là một hình thức
biểu hiện cần thiết để truyền bá, luân lưu những huyền thoại của đại chúng”.
Hiện nay, văn học giải trí phát triển mạnh ở tất cả các quốc gia. Môi
trường văn học giải trí có ưu thế lan tỏa, dễ tạo nên sự nổi tiếng đã khuyến
khích nhiều tác giả thuộc dòng văn chương bác học, văn chương thuần túy thử
sức mình. Cũng có tác giả sáng tác văn học đơn thuần nhằm mục đích giải trí
nhưng nhờ tài năng nghệ sĩ, giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm đã biến nó trở

thành một tác phẩm giàu giá trị. Với tất cả những lợi thế của mình, chức năng
giải trí của văn học và sự thể hiện của nó qua dòng văn học giải trí đã và đang
được đông đảo độc giả Việt Nam nói riêng và độc giả Thế giới nói chung đón
nhận.
1.1.2. Đặc trưng của “văn học giải trí”
Văn học giải trí mang những đặc trưng riêng, do đối tượng, mục đích
hướng tới khác biệt so với những khuynh hướng văn học khác.
Mục đích sáng tác của dòng văn học giải trí hướng về độc giả, mang
tính chất thị trường, câu khách. Nội dung của những sáng tác này thường gần
gũi, đơn giản dễ hiểu, nhưng vẫn chứa đựng những thông điệp về cuộc sống,
nhân tình thế thái. Văn học giải trí viết về cuộc sống đời thường, trình bày
đơn giản, hướng đến người đọc rộng lớn và có tính chất giải trí. “Tiểu thuyết
của đại chúng không thiên trọng về lối phô diễn cầu kỳ. Tánh chất, giá trị của
nó là giản dị, đẹp và thật: dùng rất ít lời văn mà tả nên bức tranh linh hoạt đầy
thi vị. Đó là yếu tố của đại chúng văn học… Tiểu thuyết đại chúng không vị
nghệ thuật mà vị nhân sinh. Vị nghệ thuật là chú trọng ở lời văn. Vị nhân sinh
là chú trọng ở hứng thú. Đại chúng là hạng người lao khổ, cả ngày vất vả với

14


sống còn. Một khi được thảnh thơi mó đến quyển tiểu thuyết họ không cần gì
hơn được tìm trong ấy một vài hứng thú, để qua những giờ nhàn rỗi vô vị”
[45, 156]. Đề tài thường thấy trong văn học giải trí là tình yêu, những câu
chuyện trinh thám, kinh dị, bí ẩn… Đó đều là những đề tài có tính giải trí cao,
gay cấn, hấp dẫn, phù hợp với mọi độ tuổi và trình độ của độc giả. Sự tiếp cận
các bình diện thẩm mĩ khác nhau sẽ hình thành nên mục đích sáng tác khác
nhau của các chức năng văn học. Một cách tương đối có thể thấy các chức
năng giáo dục, nhận thức thiên về cái cao cả, cái anh hùng, cái trác tuyệt,
chức năng thẩm mĩ thiên về cái đẹp... Trong khi đó, quan sát thực tiễn đời

sống văn nghệ đương đại, sự lựa chọn của các tác giả khi thực hiện chức năng
giải trí là cái hài, cái bình dị, cái đời thường hàng ngày tưởng như rất nhỏ nhặt
trong cuộc sống. Chính vì vậy mà văn học giải trí cũng có tính lan tỏa cao hơn
văn học hàn lâm, bác học.
Văn học giải trí phát triển mạnh ở thành thị và liên quan mật thiết đến
sự phát triển của báo chí, truyền thông, mạng internet. Khi báo chí, truyền
thông phát triển, văn học dễ dàng đến với độc giả hơn, nó trở thành một loại
hàng hóa, người đọc có quyền tác động vào nó. Vì thế, văn học giải trí có tính
thời sự, nắm bắt nhanh nhạy với những vấn đề cuộc sống, nhu cầu của bạn
đọc. Bên cạnh những đề tài quen thuộc như tình yêu, cuộc sống hôn nhân, gia
đình… văn học giải trí đa dạng đề tài trước những vấn đề đang được tranh
luận, quan tâm nhiều trong xã hội. Khi cuộc sống đơn điệu, con người thấy
nhàm chán và cần cảm giác mạnh, văn học giải trí lập tức đánh vào tính tò
mò, thích phiêu lưu tưởng tượng, thích đắm mình vào những tình huống li kì,
rùng rợn, thích trải nghiệm những cảm giác hồi hộp, sợ hãi của người đọc và
cho ra đời các dạng truyện trinh thám, hình sự, truyện phiêu lưu mạo hiểm.
Khi tình yêu bị chi phối bởi quá nhiều lo lắng cơm áo gạo tiền, người đọc
thèm khát những câu chuyện tình yêu như cổ tích, và tiểu thuyết “ngôn tình”

15


ra đời. Khi thế giới có cái nhìn cảm thông hơn, tự do hơn về người đồng tính,
lập tức tiểu thuyết về tình yêu đồng tính nở rộ.
Ngoài ra, báo chí, truyền thông, internet là nơi để quảng bá cho văn học
giải trí, là cầu nối đưa văn học giải trí đến với độc giả một cách nhanh nhất,
rộng rãi nhất. Các tác giả đưa trực tiếp tác phẩm của mình lên các trang mạng
xã hội cá nhân (Facebook, Blog…) hay những trang web văn học trực tuyến.
Độc giả có thể theo dõi được các tác phẩm một cách nhanh nhất, thuận tiện
nhất.

Về thể loại, văn học giải trí gồm tiểu thuyết, truyện tranh, thi ca bình
dân, kịch bản phim truyền hình,… trong đó phát triển nhất là thể loại tiểu
thuyết. Bàn về thể loại tiểu thuyết của văn học giải trí, có nhiều ý kiến nghiên
cứu khác nhau của các nước.
Ở Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX đã có một số nhà văn, nhà
nghiên cứu văn học bàn về tiểu thuyết đại chúng và văn học đại chúng. Nhà
phê bình Kiều Thanh Quế (1914-1947) cho rằng: “Tiểu thuyết đại chúng hiện
có mấy loại: 1. Trinh thám tiểu thuyết, 2. Lịch sử tiểu thuyết, 3. Võ hiệp tiểu
thuyết, 4. Diễm tình tiểu thuyết, 5. Phiêu lưu tiểu thuyết, 6. Giáo dục tiểu
thuyết, 7. Xã hội tiểu thuyết” [45, 156]. Nhà phê bình cũng cho biết thêm
những loại tiểu thuyết vừa kể trên ở Âu Mỹ đều có đủ, đặc biệt là ở nước
Anh. Những ý kiến của Kiều Thanh Quế cho thấy sự ảnh hưởng của tiểu
thuyết đại chúng phương Tây đến nền tiểu thuyết Việt Nam. Và có lẽ Kiều
Thanh Quế đã tiếp nhận được các đánh giá phẩm bình của các nhà nghiên cứu
phê bình phương Tây để vận dụng vào trường hợp Việt Nam.
Nguyễn Nam Trân trong Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, chương
Văn học đại chúng Nhật Bản hiện đại cho biết văn học đại chúng gồm các thể
loại tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết trinh thám (người Nhật gọi là tantei tức
“thám trinh”, suiri hay suy lý, deduction), tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết

16


tình cảm có tính chất gia đình hay yếu tố khôi hài. Nguyễn Nam Trân đã khảo
sát văn học đại chúng Nhật Bản ở các thể loại: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết
tân thời, tiểu thuyết trinh thám và suy luận, tiểu thuyết khoa học giả tưởng.
Trong quan niệm của ông, văn học đại chúng có nghĩa định lượng hơn định
tính, nhằm chỉ một lớp người khá thuần nhất về mặt văn hóa, không có đặc
tính gai cấp và hầu như cấu thành bởi lớp người trung lưu, chiếm đa số trong
xã hội Nhật giai đoạn kỹ nghệ hóa. Thực tế hiện nay, thể loại tiểu thuyết tình

cảm và manga là hai thể loại phát triển nhất trong dòng văn học giải trí Nhật
Bản. Đặc biệt, những sáng tác trong dòng văn học Heian của Nhật Bản từ thế
kỉ X đã ghi dấu ấn và định hướng cho văn học Nhật Bản sau này, đó là một
dòng văn học sắc tình và nữ tính, đề cao cái đẹp và tình cảm, đặc biệt là tình
yêu nam nữ. Dù là dòng văn học cung đình của giới thượng lưu, nhưng như
Kawabata đã đánh giá: “Thời kì Heian đã đặt nền móng cho truyền thống vẻ
đẹp Nhật Bản, và trong suốt tám thế kỉ đã ảnh hưởng đến truyền thống văn
học Nhật Bản, xác định tính chất của nó”. Cho đến nay những sáng tác thơ và
tiểu thuyết Nhật Bản vẫn luôn mang đậm chủ đề tình cảm, văn phong lãng
mạn, nhẹ nhàng yểu điệu.
Văn học giải trí ở Trung Quốc được chia thành: dân ca, ca dao, truyền
thuyết, truyện cười, câu đố, khúc, các loại tiểu thuyết thông tục, giảng sử,
thoại bản, v.v… Thời hiện đại, văn học giải trí Trung Quốc nổi bật nhất là văn
học Linglei. Những tiểu thuyết trong dòng văn học này còn mang đậm yếu tố
tự truyện (autobiography). Những cuốn tiểu thuyết linglei thưởng mang chủ
để tình yêu, mô tuýp ngôn tình thành thị, giống như một câu truyện cổ tích Lọ
Lem thời hiện đại. Có thể kể ra những tên tuổi quen thuộc với bạn đọc Việt
Nam như tác giả Miên Miên, An Ni Bảo Bối, Cố Mạn, Tào Đình, Diệp Lạc
Vô Tâm, Tân Di Ổ…

17


Tiểu thuyết tình cảm lãng mạn, truyện trinh thám, kinh dị, truyện tranh
được ưa chuộng tại phương Tây. Đặc biệt, những tác phẩm văn học giải trí tại
phương Tây thường xuyên được chuyển thể thành phim và có doanh thu
phòng vé rất cao (những bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết như Me before
you, P/s: I love you, Fifty Shades, Eat Pray Love, The Twilight saga…)
Ngôn từ được sử dụng trong văn học giải trí nói chung là ngôn ngữ
đơn nghĩa, dễ hiểu. Với đối tượng là độc giả mọi lứa tuổi, mọi trình độ học

vấn và văn hóa; với mục đích là giải trí, ngôn từ được sử dụng trong sáng tác
văn học giải trí là ngôn từ phổ thông, đơn nghĩa dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Với thể
loại chính là thể thoại tiểu thuyết, ngôn từ của tác phẩm văn học giải trí có đặc
điểm là “được tái tạo trong trạng thái có nhiều tiếng nói khác nhau sống
động”. Ngôn ngữ trữ tình của thơ ca hay nghiêm trang, sùng cổ, tôn kính của
sử thi hay ngôn ngữ đời sống thường nhật đều được vận dụng, kết hợp trong
một chỉnh thể tiểu thuyết.
Chủ đề chính của văn học giải trí là chủ đề về tình yêu đôi lứa. Văn
học hiện thực, văn học cách mạng, văn học lãng mạn đều có những tác phẩm
xuất sắc về chủ đề tình yêu. Nhưng với những dòng văn học kể trên, chủ đề
tình yêu được sử dụng để truyền đạt những nội dung, ý nghĩa mang đặc trưng
giáo huấn, thẩm mỹ, nhận thức. Tình yêu trong đó được khoác những lớp áo
lý tưởng, gò ép trong những khuôn khổ của thời đại. Văn học giải trí viết về
tình yêu như chính bản thể của nó, với những câu chuyện thường nhật bình dị,
mang tính chất giải trí cao, ai cũng có thể đọc và thấy câu chuyện tình của
mình trong đó. Những yêu thương, hờn dỗi, ghen tuông, đau lòng, chia ly…
đều được thể hiện trong tiểu thuyết giải trí.
Văn học giải trí là một thành tố của sự phát triển văn học. Môi trường
văn học giải trí có ưu thế lan tỏa, dễ tạo nên cầu nối giữa tác giả với bạn đọc,
đã khuyến khích nhiều tác giả thuộc dòng văn chương bác học sử dụng

18


phương thức của văn học giải trí để sáng tác. Cũng có tác giả viết văn chương
đại chúng nhưng nhờ tài năng, tác phẩm của họ chạm đến ngưỡng văn chương
bác học, hàn lâm.
1.2. Khái quát về tiểu thuyết của Marc Levy.
1.2.1. Tiểu thuyết Marc Levy trong dòng chảy tiểu thuyết tình cảm của
Pháp

Theo những nghiên cứu về lịch sử văn học tình cảm, chúng tôi thấy văn
học lãng mạn đã ra đời từ lâu. Xuất xứ rất xa của tiểu loại ra đời từ khoảng
thế kỷ XV, XVI, với những sáng tác của một nhà văn Bồ Đào Nha. Cho tới
khoảng thế kỷ XVIII, khi thị dân phát triển, nhu cầu đọc văn hóa phẩm của thị
dân lớn, thị trường sách trở thành đối tượng được quan tâm của những người
kiếm tiền.
Cũng theo nhiều nghiên cứu về văn học phương Tây, cuối thế kỷ XVIII
là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tình cảm (Sentimentalisme), là
thời kỳ tiền lãng mạn, được coi là tiền thân của chủ nghĩa lãng mạn Pháp sẽ
phát triển mạnh mẽ và thống trị văn đàn Pháp trong ba thập niên đầu của thế
kỷ XIX. Những tên tuổi nổi tiếng của chủ nghĩa tình cảm như Bernadin de
Saint Pierre với Paul và Virginie thể hiện khát vọng về một chốn ẩn cư giữa
thiên nhiên và tình yêu; J. J. Rousseau với nhiều tiểu luận, tiểu thuyết, đặc
biệt là tác phẩm La Nouvelle Héloise chống tinh thần luân lý cứng nhắc, cổ
vũ cho tự do, say sưa mô tả niềm đam mê của tình yêu cá nhân, vẻ đẹp của
tình yêu trong thiên nhiên, tràn đầy cảm xúc âm nhạc và thơ ca, vượt ra khỏi
rào chắn của tôn ti đẳng cấp. Rousseau là người tiên phong của chủ nghĩa tình
cảm. Tư tưởng của ông là nguồn cảm hứng cho thế hệ lãng mạn tiếp theo. Sự
ra đời của chủ nghĩa lãng mạn Pháp với những đặc trưng về nội dung và nghệ
thuật mang đậm tính trữ tình, lãng mạn, tự do đã giải phóng các nhà văn và cả
độc giả. Từ thế kỷ XIX cho đến nay, văn học tình cảm lãng mạn Pháp đã có

19


nhiều thay đổi, phát triển và có sức ảnh hưởng lớn đến nền văn học thế giới.
Trong dòng chảy lịch sử văn học tình cảm lãng mạn Pháp, có vô vàn cái tên
nổi tiếng, những người đi tiên phong, người kế thừa và phát triển. Những nhà
tiên phong như Jean Jacques Rousseau (1712-1778), De Stael (1766-1817,
nhà văn nữ của thời kỳ tiền lãng mạn, một trong những người đầu tiên đã đưa

ra những yếu tố lý thuyết về văn học lãng mạn, về “cái tôi” trong văn chương
với các tác phẩm tiêu biểu như Về nước Ðức, Về văn học), Benadin de Saint
Pierre (1737-1814, tác giả của Paul và Virginie, một tiểu thuyết đánh dấu
những đổi mới đầu tiên về cảm hứng tình yêu, cảm hứng thiên nhiên và phong
vị ngoại lai, là những nét đặc thù của văn học lãng mạn).
Khi văn học lãng mạn phát triển, không thể bỏ qua những tên tuổi
như Chateaubriand (1768-1848), là người đã thể hiện những đề tài đặc thù của
chủ nghĩa lãng mạn như tôn giáo, tình yêu, phong vị exotique, sự cô đơn của
cái tôi cá nhân trong nhiều tác phẩm như Atala, René, Les Martyrs, Tinh anh
của đạo cơ đốc (Le Génie du Christianisme)... Alfred de Musset (1810-1857)
nổi tiếng với Chùm thơ đêm, Tâm sự đứa con thời đại, Lorrenzaccio. Tác
phẩm của ông nhấn mạnh tính nội tâm trong thơ, nỗi đau trong tâm tình lãng
mạn, nỗi cô đơn trong khát vọng lãng mạn muốn nổi loạn chống lại những cái
ác trong cuộc đời, vươn đến cái đẹp và sự hoàn thiện. Ông là bước nối ban
đầu từ khuynh hướng lãng mạn tiêu cực sang khuynh hướng lãng mạn tích
cực. Mérimée (1803-1870) là tác giả của nhiều truyện ngắn có nghệ thuật văn
xuôi trong sáng, điêu luyện, đậm đà phong vị exotique phối hợp với maàu sắc
lịch sử. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Colomba, Carmen.
Những tên tuổi vô cùng quen thuộc với độc giả Việt Nam và toàn thế
giới như Alexandre Dumas cha (1802-1870) nổi tiếng với tác phẩm Ba chàng
ngự lâm (Les trois mousquetaires) và con trai ông, Alexandre Dumas con
(1824-1895) với tiểu thuyết tình cảm nổi tiếng Trà Hoa Nữ (La Dame aux

20


×