Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

BÀI PHẢN BIỆN ĐỀ TÀI: HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (131.3 KB, 7 trang )

BÀI PHẢN BIỆN
ĐỀ TÀI: HỢP ĐỒNG MƯỢN TÀI SẢN
A. Nhận xét chung
I. Hình thức
1. Ưu điểm
- Tuân theo đúng yêu cầu của giảng viên về hình thức: chữ cỡ 14, Font
Times New Roman; giãn dòng Single, có canh Paragrahp 6pt; lề trên 2,5 cm - lề
dưới 2,5 cm - lề trái 3 cm - lề phải 2 cm.
- Có phân chia các đề mục rõ ràng để tiện theo dõi.
2. Nhược điểm
- Không có phần mục lục để người đọc có thể nắm được nội dung toàn
bài.
- Còn sai chính tả. (vd: “sữa chữa”)
- Danh mục tài liệu tham khảo còn sơ sài. Không ghi cụ thể tên tác giả,
năm xuất bản của tài liệu tham khảo.
II. Nội dung
1. Phần lý luận
Ưu điểm:
- Trình bày được nội dung lý thuyết về hợp đồng cho mượn tài sản theo
thứ tự các điều luật trong Bộ Luật Dân sự 2005 để tiện theo dõi, đối chiếu.
- Có xen kẽ ví dụ minh họa.
Nhược điểm:
- Cách nghiên cứu phần lý luận chung không thống nhất. Khi nghiên cứu
phần lý luận về quyền và nghĩa vụ của bên mượn tài sản thì không có ví dụ minh
họa. Chỉ có ví dụ minh họa cho phần quyền và nghĩa vụ của bên cho mượn tài
sản. Điều này làm nội dung bài viết không cân đối.
- Mỗi phần lý luận đều có ví dụ, nhưng các ví dụ chưa phân tích rõ các
quyền và nghĩa vụ các bên, chưa nêu được hậu quả pháp lý nếu không thực hiện
nghĩa vụ. Do đó, việc nghiên cứu tình huống cụ thể bị dàn trải và không sâu sắc,
rất khó để người đọc hiểu kỹ và nắm vấn đề.
- Phần nghiên cứu riêng về quyền và nghĩa vụ của các bên của nhóm có


thể hiểu là phân tích kỹ các điều khoản của Bộ Luật Dân sự 2005 về hợp đồng
mượn tài sản để hiểu rõ hơn quy định của pháp luật về vấn đề này. Việc mở

1


hướng nghiên cứu sâu sang một khía cạnh cụ thể của vấn đề hợp đồng mượn tài
sản là không có. Vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn cuộc sống: cho mượn
tài sản là những việc làm mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc
sống sinh hoạt, đây là tập quán tốt đẹp của nhân dân ta. Việc này dẫn đến thực tế
là hợp đồng cho mượn tài sản thường mang hình thức hợp đồng miệng, nảy sinh
khoảng cách khá lớn giữa các quy định của luật pháp với thực tế. Nội dung này
dường như nhóm 6 đã để một khoảng trống rất lớn không đề cập đến.
2. Phần tình huống cụ thể:
Việc sử dụng nhiều tình huống cụ thể làm bài viết rất phong phú nhưng
cũng sẽ dễ gặp nhược điểm là không thể tập trung phân tích chi tiết và nghiên
cứu thấu đáo khía cạnh pháp lý của mỗi tình huống được.
B. Phần phản biện nội dung chi tiết
I/ Lý luận chung:
1. Hợp đồng mượn tài sản là gì?
“Đối với hợp đồng này thì hiệu lực của nó phụ thuộc vào thời điểm thực
tế mà hai bên thực hiện nghĩa vụ với nhau.”
Phản biện: Hiệu lực của hợp đồng mượn tài sản chỉ phát sinh từ khi bên
cho mượn giao tài sản cho bên mượn, chứ không phải là khi hai bên thực hiện
nghĩa vụ với nhau.
Ngoài ra “thực hiện nghĩa vụ” còn có hai vấn đề như sau:
Một là trong hợp đồng mượn tài sản thì bên cho mượn xuất phát từ tính
chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau nên chuyển giao tài sản cho bên mượn sử dụng
mà không nhằm mục đích thu lợi từ tài sản cho mượn. Bên cho mượn không có
nghĩa vụ phải cho mượn cho dù bên cho mượn đã đồng ý tham gia hợp đồng đi

nữa, nên “hai bên thực hiện nghĩa vụ” là không chính xác.
Hai là hợp đồng mượn tài sản có hiệu lực khi bên cho mượn giao tài sản
cho bên mượn, bên mượn khi nhận tài sản không có nghĩa vụ phải thực hiện yêu
cầu phải làm một hay nhiều việc hay trả thù lao cho bên cho mượn,… Tóm lại là
bên mượn không có nghĩa vụ gì ngay tại thời điểm hợp đồng cho mượn có hiệu
lực, bên mượn chỉ có nghĩa vụ sử dụng cẩn thận, bồi thường khi hư hỏng, mất
mát, trả lại tài sản trong tình trạng ban đầu khi hết hạn hợp đồng hoặc mục dích
mượn đã đạt được.
Qua hai vấn đề trên, ta chỉ ra rằng hợp đồng cho mượn là hợp đồng thực
tế, có hiệu lực khi bên cho mượn chuyển giao tài sản cho bên mượn. Sử dụng
cụm từ “hai bên thực hiện nghĩa vụ với nhau” là chưa chính xác.
2. Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản.

2


“Tất cả những vật không tiêu hao đều có thể là đối tượng của hợp đồng
mượn tài sản.” ( Điều 513 BLDS 2005)
Phản biện: Ngoài là vật không tiêu hao theo Điều 178 BLDS 2005 thì đối
tượng của hợp đồng mượn tài sản phải thỏa mãn điều kiện là vật đặc định theo
Điều 179 BLDS 2005. Vì khi hết hạn hợp đồng hoặc do mục đích mượn đã đạt
được thì bên mượn có nghĩa vụ phải trả lại chính tài sản đã mượn, với trạng thái
như lúc nhận tài sản. Để có thể trả lại chính vật đã mượn, thì vật đó phải có
những đặc điểm riêng biệt để có thể phân biệt được với những vật khác, nên đòi
hỏi đối tượng của hợp đồng mượn tài sản vừa là vật không tiêu hao vừa là vật
đặc định.
II/ Nghiên cứu riêng
1. Quyền và nghĩa vụ thực tế của bên mượn tài sản
- Theo giải thích của nhóm 6 thì hợp đồng cho mượn tài sản là dạng hợp
đồng không phải đền bù vậy khoản 5 Điều 514 quy định bồi thường thiệt hại nếu

làm hư hỏng, mất mát tài sản có mâu thuẫn không. Giải thích?
- Trong hợp đồng cho mượn tài sản có sự dịch chuyển quyền sở hữu tài
sản ko? Nếu có là gì? Nếu không giải thích?
- Tình huống 1 của quyền bên mượn tài sản, theo nhóm ai đúng ai sai,
nhóm không giải thích rõ vấn đề.
- Ở mục 3 “Không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên của
tài sản mượn”: Tại sao nhóm đem phần thuê tài sản vào? Giải thích?
2. Quyền và nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản
- Nhóm 6 viết: “Điều luật này có quy định đối với những khuyết tật có thể
thấy được, bên cho mượn không cần thông báo, bên mượn coi như đã biết hoặc
phải biết.” Tuy nhiên, khoản 3 Điều 516 BLDS cụ thể như sau: Bên cho mượn
tài sản có nghĩa vụ “Bồi thường thiệt hại cho bên mượn, nếu biết tài sản có
khuyết tật mà không báo cho bên mượn biết dẫn đến gây thiệt hại cho bên
mượn, trừ những khuyết tật mà bên mượn biết hoặc phải biết”. Như vậy cách
hiểu của nhóm 6 là chưa chính xác.
III. Tình huống ứng dụng
3.1. Tình huống 1
Tình huống này phân tích hậu quả pháp lý trong trường hợp tài sản mượn
không thuộc sở hữu của bên cho mượn. Nhóm 6 đi đúng hướng khi tách rõ hai
quan hệ dân sự: anh Kha – anh Dự và anh Kha – chị Hoa.
Quan điểm của nhóm 6 sau đây là hợp lý: Trong quan hệ dân sự giữa anh
Kha và anh Dự, anh Kha vi phạm nghĩa vụ của bên mượn tài sản theo khoản 2
Điều 514 BLDS “không được cho người khác mượn lại nếu không có sự đồng ý
của bên cho mượn” khi cho chị Hoa mượn xe máy của anh Dự. Do đó, theo
3


khoản 4 Điều 514 BLDS, anh Kha phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
anh Dự.
Anh Dự là bên cho mượn tài sản có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

đối với tài sản do người mượn là anh Kha gây ra theo khoản 3 Điều 517 BLDS.
Trong thời hạn hai năm, kể từ ngày xảy ra việc mất chiếc xe máy, nếu anh Kha
vẫn không bồi thường cho anh Dự thì anh Dự có quyền khởi kiện anh Kha tại
Toà án nhân dân và yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại (Điều 607 Bộ luật
Dân sự năm 2005).
Tuy nhiên, nhóm 6 cho rằng việc anh Kha cho chị Hoa mượn xe máy là
hợp đồng dân sự có hiệu lực và chị Hoa phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
cho anh Kha là không hợp lý.
Hợp đồng dân sự giữa anh Kha và chị Hoa có hiệu lực không? Theo Điều
122 BLDS về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch, giao dịch dân sự này vô hiệu
do mục đích và nội dung giao kết vi phạm khoản 2 Điều 514 BLDS, anh Kha
không có quyền định đoạt tài sản, là quyền thuộc về chủ sở hữu, lại giao kết dân
sự với chị Hoa. (Những người không phải chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định
đoạt tài sản khi được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc cho phép.)
Điều 137 BLDS 2005, khoản 1 qui định giao dịch dân sự vô hiệu không
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ
thời điểm xác lập. Khoản 2 cũng qui định khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các
bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Vậy anh Kha có quyền yêu cầu chị Hoa khôi phục lại tình trạng ban đầu. Ở đây,
chị Hoa đã làm mất xe máy, không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả
bằng tiền cho anh Kha. Đáng lưu ý là anh Kha không phải chủ sở hữu tài sản,
vậy chị Hoa có đưa số tiền hoàn trả này cho anh Kha được không? Nghĩa vụ
hoàn trả khác với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Trong nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại người có hành vi trái pháp luật đã xâm hại đến tài sản. Người gây thiệt hại
phải bồi thường giá trị tài sản mà mình đã xâm hại.
Mặt khác, nhóm 6 không phân tích tình huống đưa ra: chị Hoa hứa khi có
tiền sẽ trả cho anh Dự nhưng chị chỉ có trách nhiệm bồi thường một nửa giá trị
chiếc xe, anh Kha phải chịu một nửa còn lại. Chị Hoa đã dựa trên cơ sở nào?
Đúng hay sai?
Nhóm 3 đưa ra ý kiến đề xuất như sau:

Theo Điều 189 BLDS thì chị Hoa là người chiếm hữu, sử dụng tài sản
của người khác mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, chị Hoa không
biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật.
Điều 599 BLDS và Khoản 1 và 2 Điều 600 BLDS qui định người chiếm
hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại tài sản cho
chủ sở hữu của nó, nếu vật đặc định bị mất thì phải đền bù bằng tiền.

4


Chị Hoa xác định phải trả tiền đền bù cho anh Dự là đúng.
Theo Điều 616 BLDS 2005 trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì
những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi
thừơng của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ
lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường
thiệt hại theo phần bằng nhau.
Ở đây, chị Hoa xác định anh Kha và chị cùng có lỗi khi để mất tài sản của
anh Dự nên phải chia nhau mỗi người chịu một nữa số tiền bồi thường giá trị xe
là đúng.
3.2. Tình huống 3
Tình huống nêu ra chưa cụ thể, chỉ nói là cho mượn đất và hết thời gian
thì A đòi lại đất và cả cây lâu năm trên đất mà không nói rõ khi mượn đất B
được làm gì trên mảnh đất đó cũng như thỏa thuận trong hợp đồng khi trả đất
nên việc giải quyết khó đưa ra cụ thể.
Tình huống trên là mượn đất có thời hạn nên khi hết thời gian đó A hoàn
toàn có quyền đòi lại đất của mình và nghĩa vụ của B là chỉ phải trả lại đất cho
A. Còn việc A đòi cả tài sản trên mảnh đất tức là cây lâu năm của B là không có
căn cứ. Bởi tài sản trên mảnh đất của A nhưng tài sản đó thuộc quyền sở hữu của
B. Qua đó tôi đưa ra biện pháp giải quyết nếu trong hợp đồng không có thỏa
thuận trước như sau:

Đất cứ trả bình thường còn về số cây lâu năm (vì là cây lâu năm nhưng
không nói rõ là cây ăn quả hay cây lấy gỗ... và cũng không nói rõ thời gian cây
được bao lâu nên hướng giải quyết sẽ khó khăn)
- B sẽ làm hợp đồng thuê mảnh đất đó để tiếp tục sản xuất.
- B sẽ tiếp tục sản xuất và trả hoa hồng cho A.
- Đưa ra tòa án giải quyết nếu không thỏa thuận được.
3.3. Tình huống 4
- Đồng tình với cách giải quyết tình huống 4 của nhóm 6 khi xác định bản
chất đây là hợp đồng cho mượn tài sản. Từ đó các bạn dẫn các quy định về
quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan để giải quyết tình huống là hoàn toàn
hợp lý.
- Việc nhóm 6 xác định tất cả lỗi thuộc về người mượn xe là chưa đúng.
Dựa vào dữ kiện “sau đó tụi em để 2 chiếc xe trước cửa trung tâm (không có
người giữ xe), được một lúc bạn rủ em sang quán nước bên cạnh uống nước...”.
Nếu không sang quán nước bên cạnh theo lời rủ của người bạn có lẽ sẽ không
tạo điều kiện cho kẻ gian trộm xe. Người bạn cũng có lỗi trong trường hợp này.

5


Như vậy giải quyết tình huống còn phải dựa theo Ðiều 617 Bộ Luật Dân
sự: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi: “Khi
người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ
phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại
xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải
bồi thường.”
- Nhóm 6 cũng chưa làm rõ yêu cầu đặt ra từ tình huống: mức tiền mà
bố mẹ bạn em đưa ra bắt em bồi thường đã hợp lý chưa và em có được
thêm thời gian để chuẩn bị số tiền này không?
+ Về mức tiền: Dựa vào giá mới của chiếc xe khoảng hơn 15 triệu thì việc

bố mẹ người bạn đòi bồi thường 10 triệu là không hợp lý. Vì lỗi là của 2 bên và
số tiền bồi thường phải dựa trên giá trị còn lại của chiếc xe (sau khi trừ khấu
hao).
+ Về thời gian: Không nên thỏa thuận nữa mà nên kiện ra tòa (vì bố mẹ
người bạn đã một mực quy lỗi, mức tiền và ra thời hạn chót). Việc kiện tụng sẽ
có thêm thời gian để chuẩn bị số tiền bồi thường vì trong quá trình thưa kiện,
bạn có quyền kháng cáo các bản án sơ thẩm, phúc thẩm với thời gian tương đối
dài.

6


PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC - TỔ PHẢN BIỆN
HỌ TÊN

PHÂN CÔNG phản biện - thuyết trình

Tổ 1 - Viết Bài phản biện cho Bài nghiên cứu của nhóm 6 (HỢP ĐỒNG CHO MƯỢN TS)
Nguyễn Minh Huỳnh Ngọc
(Tổ trưởng)

Đánh giá tổng quát (về phần trình bày, bố cục)
Đề nghị đề cương khác hợp lý, đầy đủ hơn
Review bài phản biện

Trần Quang Trung

Nhận xét phần I/1 & I/2

Hứa Ngọc Hiền


Nhận xét phần I/3

Đinh Thị Mỹ Hà

Nhận xét phần II/1

Trần Thị Thảo Nguyên

Nhận xét phần II/2

Lê Bảo Ngọc

Nhận xét phần Tình huống 1

Nguyễn Phương Ngọc

Nhận xét phần Tình huống 2

Trần Khánh Duy

Nhận xét phần Tình huống 3

Lê Bảo Ân

Nhận xét phần Tình huống 4

7




×